Giải thế tục hóa: Khái niệm và sự kiện (từ góc độ Xã hội học)

Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 – 2019  
3
NGUYỄN XUÂN NGHĨA*  
GIẢI THẾ TỤC HÓA: KHÁI NIỆM VÀ SỰ KIỆN  
(từ góc độ Xã hội học)  
Tóm tắt: Khởi đầu bởi P. Berger, khái niệm giải thế tục hóa  
(desecularization) bắt đầu được giới khoa học xã hội sử dụng  
rộng rãi từ cuối thế kỷ XX. Dần dần, khái niệm này được hiệu  
chỉnh, phát triển để mô tả một khía cạnh của tôn giáo trong xã  
hội hiện đại. Bài viết nêu quá trình giải thế tục ở một số nước  
Phương Tây, Đông Âu, Trung Quốc và đặc biệt ở Nga, cho thấy  
quá trình thế tục hóa và giải thế tục hóa, mặc dù đối nghịch,  
nhưng đồng thời cùng xảy ra. Nhìn tổng quát, có hai mô hình  
giải thế tục hóa: từ trên xuống hoặc từ dưới lên. Và như P.  
Berger đã nêu, nghiên cứu mối tương quan biện chứng giữa quá  
trình thế tục hóa và giải thế tục hóa là một chức năng của xã hội  
học tôn giáo hiện đại.  
Từ khóa: Tôn giáo; xã hội hiện đại; thế tục hóa; giải thế tục hóa.  
Dẫn nhập  
Một trong những đối tượng nghiên cứu của xã hội học tôn giáo là  
mối tương quan giữa xã hội hiện đại và tôn giáo mà một chủ đề đã làm  
tốn nhiều giấy mực từ những năm 1970 cho đến hiện nay là quá trình  
thế tục hóa - được hiểu như là quá trình qua đó vai trò xã hội của tôn  
giáo giảm sút, hoặc còn hơn thế nữa có tác giả khẳng định là đang đi  
đến sự tàn lụi.  
Thế nhưng, từ cuối thế kỷ XX, cuốn sách mang tựa đề Giải thế tục  
hóa: Một cái nhìn toàn cầu1, Peter Berger đã đưa ra khái niệm giải thế  
tục (desecularization) để nói đến những biểu hiện rất đa dạng của sự trỗi  
dậy của tôn giáo trên thế giới trong khoảng thời gian vài thập niên trở  
lại đây. Cũng cần nhắc lại, P. Berger chính là một trong những cột trụ  
* Khoa Xã hội học, Đại học Mở Tp. Hồ Chí Minh.  
Ngày nhận bài: 3/01/2019; Ngày biên tập: 14/01/2019; Ngày duyệt đăng: 25/01/2019.  
4
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
của lý thuyết thế tục hóa và là người trong thập niên 1960 đã đưa ra  
nhận định: “Vào thế kỷ XXI, các tín đồ tôn giáo có thể chỉ còn được tìm  
thấy trong các nhóm tôn giáo nhỏ, họ túm tụm sống với nhau để kháng  
cự lại một nền văn hóa thế tục mang tính toàn cầu”2. Thế nhưng, cũng  
chính Berger vào những năm cuối thế kỷ XX đã nhận định lại: “Ý  
tưởng cho rằng chúng ta đang sống trong một thế giới tục hóa là sai  
lầm. Thế giới ngày nay, với một vài ngoại lệ, vẫn mang tính tôn giáo dữ  
dội như trong quá khứ, và ở một vài nơi còn phát triển hơn. Điều này có  
nghĩa là toàn bộ lý thuyết mà các nhà sử học và khoa học xã hội dán  
nhãn là “lý thuyết thế tục hóa”, chủ yếu là một sai lầm”3. Nhà xã hội  
học Rodney Stark còn dùng lời lẽ mạnh bạo hơn: “Sau hơn ba thế kỷ  
của những lời tiên tri hoàn toàn sai lầm và xuyên tạc về hiện tại và cả  
quá khứ, xem ra đây là thời điểm đưa chủ nghĩa thế tục hóa ra nghĩa  
trang và thì thầm “Hãy an nghỉ bình yên”4. Samuel Huntington - tác giả  
của Sự va chạm giữa các nền văn minh và sự tái lập trật tự thế giới, đã  
nhận định: “Những năm cuối của thế kỷ XX đã chứng kiến sự trỗi dậy  
mang tính toàn cầu của các tôn giáo trên khắp thế giới”5.  
Tuy nhiên cũng cần lưu ý, theo P. Berger lý thuyết thế tục hóa  
không hoàn toàn sai. Đến năm 2014, ông cho ra đời cuốn sách Nhiều  
bàn thờ của tính hiện đại - Hướng tới một hệ hình mới cho tôn giáo  
trong thời đại đa nguyên6, trong đó ông thừa nhận: “… Bây giờ tôi đã  
sẵn sàng thừa nhận rằng các nhà lý thuyết về thế tục hóa không hoàn  
toàn sai như tôi nghĩ trước đây”7. Theo ông, trong thời đại đa nguyên,  
tồn tại nhiều thế giới quan khác nhau, lý thuyết thế tục hóa phù hợp  
với một số địa phương hơn những nơi khác trên thế giới. Nó giải thích  
được việc giảm sút vai trò xã hội của tôn giáo ở Tây Âu và ở giới trí  
thức chịu ảnh hưởng phương Tây. Đây cũng là quan điểm của nhiều  
nhà xã hội học tôn giáo, như J. Casanova,v.v…  
Ở Việt Nam, khái niệm giải thế tục được một số tác giả sử dụng,  
nhưng chưa đưa ra định nghĩa thao tác rõ ràng8. Những nghiên cứu  
đầu tiên đề cập đến khái niệm này tương đối trực tiếp và hệ thống - có  
thể hiện trên tiêu đề của nghiên cứu - là của Nguyễn Xuân Nghĩa9.  
Tuy nhiên, vào thời điểm trên tác giả chưa tiếp cận được những tư liệu  
mới và đặc biệt là quan điểm của Y. Karpov10. Bài viết này, qua việc  
Nguyễn Xuân Nghĩa. Giải thế tục hóa: Khái niệm và sự kiện  
…
5
nghiên cứu tài liệu, nhằm tiếp tục làm rõ khái niệm giải thế tục hóa từ  
quan điểm ban đầu của Peter Berger cho đến quan điểm của  
Vyacheslav Karpov và đồng thời muốn tìm hiểu trong thực tiễn, khái  
niệm này đã được hiểu như thế nào trong việc áp dụng một số chính  
sách có liên quan đến tôn giáo ở một số nước.  
1. Từ hệ hình thế tục hóa đến các chiều cạnh của khái niệm giải  
thế tục  
1.1. Khái niệm giải thế tục hóa từ P. Berger đến V. Karpov  
Như đã trình bày ở trên, P. Berger là người đầu tiên sử dụng từ  
“giải thế tục” trong cuốn sách xuất bản năm 1999, tuy nhiên ông  
không đưa ra một định nghĩa về thuật ngữ này, mà chỉ muốn nói đến  
sự tồn tại dai dẳng hay một quá trình trỗi dậy có tính toàn cầu của các  
tôn giáo. Sau này, trong một bài viết ngắn ông cũng xác định lại “Lần  
đầu khi dùng thuật ngữ “giải thế tục hóa”, tôi đơn giản muốn nói đến  
sự tiếp tục hiện diện của tôn giáo trong thế giới hiện đại. Việc sử dụng  
thuật ngữ như vậy ít tính hệ thống”11. Và chính ông cũng thừa nhận  
sau này Vyacheslav Karpov làm sâu sắc hơn khái niệm này. V.  
Karpov đã đưa ra một khung khái niệm và cố gắng thao tác hóa khái  
niệm giải thế tục mà bài viết này sẽ trình bày chi tiết sau. Ở đây, có  
thể nói ngắn gọn, giải thế tục hóa được hiểu như là một tranh luận,  
một phản ứng và là việc đẩy lùi những hình thức và những cấu trúc  
thế tục, thế tục hóa và duy thế tục (secular, secularized and secularist  
structures), hay “giải thế tục hóa là một quá trình chống lại thế tục  
hóa, qua đó tôn giáo khẳng định lại vai trò xã hội như là phản ứng với  
quá trình thế tục hóa có trước hay đang cùng xảy ra”12.  
Đưa ra một lý thuyết về giải thế tục hóa, không có nghĩa là phủ  
nhận tất cả các luận đề của lý thuyết thế tục hóa và cũng không phải là  
quá trình giải thế tục hóa sẽ thay thế toàn bộ các chiều kích của quá  
trình thế tục hóa, mà theo P. Berger, nghiên cứu giải thế tục hóa như  
là hiện tượng chống lại thế tục hóa (counter-secularization) cần phải  
nhận biết sự hiện diện các lực và các khuynh hướng thế tục hóa. Cho  
nên sự phát triển lý thuyết về hiện tượng giải thế tục hóa chỉ có thể  
nếu làm rõ được những luận điểm chính của lý thuyết thế tục hóa vốn  
đã gây nhiều tranh cãi.  
6
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
Chủ đề thế tục hóa và những nhân tố cấu thành quá trình này là vấn  
đề gây tranh luận từ lâu, từ quan điểm của Max Weber gắn quá trình  
thế tục hóa với quá trình duy lý hóa bắt đầu từ thời Khai Minh ở châu  
Âu. Và rất nhiều tác giả đã bàn đến khái niệm này, trong đó J.  
Casanova đã đưa ra quan niệm cho rằng thế tục hóa bao gồm ba quá  
trình: a) quá trình phân biệt hóa các định chế xã hội khỏi những chuẩn  
mực tôn giáo; b) sự suy giảm các niềm tin và thực hành tôn giáo và c)  
quá trình riêng tư hóa (privatization) tôn giáo – xem tôn giáo là vấn đề  
riêng tư của cá nhân và đẩy tôn giáo ra khỏi không gian công cộng13.  
E. Durkheim đề cao quá trình phân biệt hóa định chế (différentiation  
institutionnelle)14; P. Berger nhấn mạnh khía cạnh đa nguyên trong  
quá trình thế tục hóa15, v.v...  
Ta thấy các quan điểm giải thích về quá trình thế tục hóa rất khác  
nhau, rất phân tán, tuy nhiên từ thập niên 1980 vẫn có một số đặc  
trưng chung bao gồm những niềm tin và thực hành mà các nhà  
nghiên cứu trong một lĩnh vực cụ thể, ở đây là tôn giáo, đều ít nhiều  
đồng ý và hình thành một hệ hình (paradigm), như thuật ngữ của T.  
Kuhn.  
1.2. So sánh quá trình giải thế tục hóa với hệ hình thế tục hóa  
gồm các chiều cạnh16  
1.2.1. Hệ hình thế tục hóa và các chiều cạnh  
Yếu tố chính yếu đầu tiên gắn liền với hệ hình thế tục hóa là sự duy  
lý hóa (rationalisation), một khái niệm quan trọng của thời hiện đại và  
có vai trò rất lớn trong tư tưởng của M. Weber. Trong xã hội hiện đại  
với sự phân công lao động xã hội, do vai trò càng lớn mạnh của các  
định hướng khoa học – kỹ thuật, các tổ chức xã hội và ứng xử của con  
người càng ngày càng duy lý hóa. Từ đó, tôn giáo không còn đảm  
trách những chức năng tiềm ẩn nữa, như trước đây (y tế, giáo dục,  
hành chính...) mà quay về với chức năng chính yếu của mình: đáp ứng  
những nhu cầu tâm linh của con người, hay nói theo ngôn ngữ của P.  
Bourdieu, sản xuất ra những “sản phẩm của cứu độ” (biens de salut).  
Tinh thần duy lý không chỉ thể hiện trong sự phân công giữa các định  
chế xã hội mà còn cả trong tổ chức, sinh hoạt, hoạt động của các tôn  
giáo (ví dụ vấn đề đào tạo tu sĩ, vai trò của tín đồ...)  
Nguyễn Xuân Nghĩa. Giải thế tục hóa: Khái niệm và sự kiện  
…
7
Yếu tố thứ hai, hạt nhân của hệ hình, là quá trình phân biệt hóa  
định chế (différentiation institutionnelle), mà E. Durkheim đã mô tả.  
Đây là quá trình không còn một định chế quy chiếu duy nhất, bao  
trùm trong xã hội mà các định chế xã hội có tính tự chủ, có những qui  
tắc vận hành riêng. Từ đó, như ta đã thấy, khoa học, văn chương, nghệ  
thuật... bắt đầu tách ra khỏi các quy định của tôn giáo.  
Yếu tố thứ ba mà một số tác giả như P. Berger đã nhấn mạnh là quá  
trình đa dạng hóa, đa nguyên hóa (pluralisation) các nguồn cung ứng  
về tôn giáo. Yếu tố này đặt lại vấn đề con đường duy nhất về giải thoát,  
nhấn mạnh tính tương đối của các tôn giáo và cả quan hệ giữa cá nhân  
và tôn giáo. Nhưng sự đa nguyên này không nhất thiết dẫn đến sự giảm  
sút của tôn giáo, mà có thể đem lại sức sống mới cho các tôn giáo như  
bối cảnh sinh động của các tôn giáo ở Mỹ là một điển hình.  
Luckmann nhấn mạnh yếu tố thứ tư, đó là sự “riêng tư hóa”  
(privatisation), cá thể hóa (individualisation) tôn giáo17. Chính quá trình  
phân biệt hóa định chế và duy lý hóa đã dẫn đến việc xem tôn giáo như  
là việc riêng tư của cá nhân. Từ đó tôn giáo mang tính chủ quan, xuất  
phát từ cảm nghiệm và chịu sự diễn giải, chọn lựa của cá nhân. Trên  
bình diện vĩ mô, được hiểu là tôn giáo bị đẩy ra khỏi không gian công  
cộng. Và cũng vậy, quá trình này có thể làm giảm vai trò xã hội của  
tôn giáo định chế, nhưng mặt khác do chọn lựa của chính cá nhân nên  
cảm thức tôn giáo mang tính tích cực, ý thức và sâu sắc hơn.  
Một yếu tố khác của hệ hình thế tục hóa là quá trình “trần tục hóa”  
(mondanisation) - là quá trình mà một xã hội quay lưng lại với những  
bận tâm tinh thần và chỉ băn khoăn với những vấn đề vật chất, với  
hưởng thụ, như Weber đã đề cập trong “Nền đạo đức Tin lành và tinh  
thần của chủ nghĩa tư bản”. Nhưng quá trình này còn được hiểu là tôn  
giáo đi vào xã hội với hình thức trần tục. Vì vậy tác động của quá  
trình này đối với tôn giáo là hai chiều; số lượng tu sĩ, thực hành tôn  
giáo giảm sút, nhất là ở môi trường thành thị. Nhưng mặt khác, các  
tôn giáo lại “hội nhập văn hóa” vào các nền văn hóa bản địa, tạo nên  
một sự cuốn hút mới, như quá trình hiện đại hóa Phật giáo một thời  
trước đây ở miền Nam, hay quá trình hội nhập văn hóa của Công giáo  
từ những năm 1965, xuất phát từ Công đồng Vatican II.  
8
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
Các yếu tố trên của hệ hình thế tục hóa vừa độc lập, vừa bổ sung  
cho nhau, nhưng chúng không nhất thiết diễn biến theo cùng hướng và  
cùng mức độ tác động. Trong một xã hội nhất định, các yếu tố này tuỳ  
thuộc bối cảnh địa lý, lịch sử, chính trị và văn hóa trong đó định vị tôn  
giáo mà ta muốn nghiên cứu.  
1.2.2. Giải thế tục hóa theo quan điểm của V. Karpov  
Theo Karpov, giải thế tục hóa là một “quá trình chống lại thế tục  
hóa (counter-secularization) qua đó tôn giáo tái khẳng định ảnh hưởng  
ở cấp độ xã hội của mình nhằm chống lại những quá trình thế tục hóa  
đã có hay đang cùng xảy ra”18. Quá trình này biểu hiện như là sự phối  
hợp của một vài hay tất cả các chiều cạnh sau đây:  
Sự xích lại gần giữa những định chế thế tục hóa và những chuẩn  
mực tôn giáo, trên bình diện chính thức và phi chính thức.  
Sự trỗi dậy của niềm tin và thực hành tôn giáo.  
Sự trở lại của tôn giáo trên không gian công cộng (“giải riêng tư  
hóa”, (de-privatization)).  
Sự hồi sinh của nội dung tôn giáo trong nhiều tiểu hệ thống văn hóa  
như nghệ thuật, triết học, văn chương.  
Và, những thay đổi có liên quan đến tôn giáo trên các thể nền  
(substratum) của xã hội (biến đổi dân số do yếu tố tôn giáo – ví như  
một số cộng đồng tôn giáo có tỷ lệ sinh cao hơn mức trung bình của  
xã hội; biến đổi về không gian thể lý do xác định lại ranh giới theo  
yếu tố tôn giáo, xây cất các công trình tôn giáo; xuất hiện sản phẩm  
vật chất có liên quan đến tôn giáo trên thị trường).  
V. Karpov đã phê bình định nghĩa của J. Casanova đã không đề cập  
đến khía cạnh văn hóa, mặc dù trong tác phẩm của ông, Casanova có  
đề cập đến. Thật ra, ngay từ đầu, khi đưa ra định nghĩa về thế tục hóa,  
P. Berger đã đề cập đến quá trình thế tục hóa trên bình diện cấu trúc  
xã hội và văn hóa. Cụ thể hơn, “Thế tục hóa… ảnh hưởng lên toàn bộ  
đời sống văn hóa và ý thể (ideation) và có thể được quan sát trong việc  
giảm sút nội dung tôn giáo trong nghệ thuật, triết học và văn chương  
và quan trọng nhất trong sự vươn lên của khoa học như là một viễn  
cảnh độc lập, hoàn toàn thế tục về thế giới”19.  
Nguyễn Xuân Nghĩa. Giải thế tục hóa: Khái niệm và sự kiện  
…
9
V. Karpov còn có đóng góp phương pháp luận về khái niệm này.  
Ông cho thấy khi đưa ra các chứng cứ về quá trình thế tục hóa hay giải  
thế tục hóa, các tác giả thường đưa ra các chứng cứ trên cấp độ xã hội  
(societal level) (còn gọi là dữ liệu vĩ mô (macro data)) và các chứng  
cứ ở cấp độ của một giai đoạn dài của lịch sử hay của nền văn minh,  
mang tính toàn cầu mà Karpov gọi là “siêu dữ liệu” (“mega data”).  
Ông nhận xét các tác giả đưa ra các chứng cứ về thế tục hóa chỉ cho  
thấy số liệu trong vài thế kỷ gần đây. Và ông đặt vấn đề, biến chuyển  
của tôn giáo trong lịch sử của con người là thế nào? Đi theo đường  
thẳng hay theo chu kỳ (như quan điềm của O. Spengler, xem biến  
chuyển xã hội như đời người có sinh ra, phát triển, lão hóa và tàn lụi)  
hoặc theo chuyển động con lắc (như quan điểm của P. Sorokin: các xã  
hội phải ứng phó với các thách đố, phải thay đổi giữa hai cực giá trị  
như “tinh thần” và “vật chất”)?  
Một đóng góp khác, dựa trên các tác nhân chủ xướng và các người  
hoạt động tích cực, Karpov đã đưa ra sự phân loại về mô hình: giải thế  
tục hóa từ dưới lên (bottom up, “from below”) hay là từ trên xuống  
(top down, “from above”). Giải thế tục hóa từ dưới lên, khi quá trình  
bắt đầu từ nhu cầu của quần chúng ở cơ sở và giải thế tục hóa từ trên  
xuống khi các tác nhân của quá trình bao gồm cả giới tinh hoa thế tục  
và tôn giáo (secular and religious elite). Hai mô hình này phải được  
xem như là “loại hình lý tưởng” (ideal types) trong quan điểm của M.  
Weber. Trong thực tế, các trường hợp cụ thể nằm đâu đó giữa hai cực  
trên và bao gồm cả các khuynh hướng theo hai hướng đối nghịch20  
1.2.3. So sánh quá trình thế tục hóa và giải thế tục hóa  
Nếu hiểu quá trình giải thế tục hóa như là phản kháng lại thế tục  
hóa (counter-secularization), theo quan điểm của P. Berger hay là như  
là một tranh luận, một phản ứng và là việc đẩy lùi những hình thức và  
những cấu trúc thế tục, thế tục hóa và duy thế tục (secular, secularized  
and secularist structures) như quan điểm của Y. Karpov, ta thấy ngược  
lại chiều cạnh duy lý hóa, trong những thập niên gần đây xuất hiện các  
phong trào tôn giáo mới nhấn mạnh khía cạnh cảm xúc trong thực  
hành tôn giáo. Ngược lại (hay đúng hơn cùng tồn tại) với chiều cạnh  
riêng tư hóa, cá thể hóa là khuynh hướng cộng cộng hóa  
10  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
(publicization) vai trò xã hội của tôn giáo như quan điểm của J.  
Habermas. Đối nghịch chiều cạnh trần tục hóa (mondalisation) – được  
hiểu chỉ quan tâm đến nhu cầu vật chất, ta lại thấy xuất hiện nhiều trào  
lưu tâm linh, nhấn mạnh việc khắc khoải, ưu tư của con người trong  
quan hệ với thực thể siêu tự nhiên. Quá trình phân biệt hóa đã phân  
tách các định chế khác trong xã hội ra khỏi tôn giáo, thế mà trong mô  
hình giải thế tục ở Nga hiện nay (trình bày ở mục 3), chính trị và tôn  
giáo lại bắt tay nhau để giữ thế độc tôn và như vậy cũng đối nghịch  
luôn với khuynh hướng đa nguyên hóa của quá trình thế tục hóa.  
Bảng 1: So sánh các chiều cạnh của quá trình thế tục hóa và  
giải thế tục hóa  
Thế tục hóa  
Giải thế tục hóa  
- Duy lý hóa  
- Nhấn mạnh khía cạnh tình  
cảm, cảm xúc  
- Cấu kết giữa định chế  
chính trị và tôn giáo (ví dụ,  
trong mô hình giải thế tục  
hóa ở Nga)  
- Phân biệt hóa định chế  
- Đa nguyên hóa  
- Độc tôn tôn giáo gắn với  
tộc người ((trong mô hình  
giải thế tục hóa ở Nga)  
- Riêng tư hóa, cá thể hóa  
- Công cộng hóa vai trò xã  
hội của tôn giáo  
- Trần tục hóa: bận tâm  
vật chất  
- Trở lại của các hình thức  
tâm linh  
Nguồn: Nguyễn Xuân Nghĩa tổng hợp  
2. Hiện tượng giải thế tục hóa ở một số nước trên thế giới  
Hiện tượng giải thế tục hóa được hiểu như là sự hồi sinh, trỗi dậy  
của tôn giáo không chỉ biểu lộ rõ ràng ở các nước Đông Âu trước đây,  
mà là hiện tương trên toàn thế giới. Tuy nhiên, hiện tượng giải thế tục  
Nguyễn Xuân Nghĩa. Giải thế tục hóa: Khái niệm và sự kiện  
…
11  
ở Nga và các nước Đông Âu cung cấp những dữ liệu mới về một mô  
hình cần được chú ý.  
2.1. Ở một số nước Phương Tây  
Khi đề cập đến hiện tượng giải thế tục hóa tôn giáo, P. Berger đề  
cập trước hết về sự phát triển của phong trào tôn giáo toàn thủ  
(fundamentalism) trong Islam-giáo và trong các hệ phái thuộc khuynh  
hướng Tin Lành như phái Evangêlit hay phái Ngũ Tuần  
(pentecostalism, hay còn gọi là Phong trào Ngũ Tuần - Pentecostal  
Movement).  
2.1.1. Ở Mỹ  
Các hệ phái của Ngũ Tuần phát triển mạnh từ năm 1960 ở Mỹ, sau  
đó phát triển ra nhiều châu lục và cùng với các phái Evangêlit, tạo ra  
cánh hữu trong nền chính trị của nước Mỹ. Đến năm 2011, theo  
nghiên cứu của Diễn Đàn Pew (Pew Forum), trên thế giới 279 triệu là  
tín đồ thuộc hệ phái này. Trong thời gian gần đây, Ngũ Tuần phát  
triển mạnh ở các nước phương Nam: Vùng Hạ Sahara, châu Phi chiếm  
44% tổng số tín đồ, châu Mỹ Latinh: 37% và châu Á và châu Thái  
Bình Dương: 16%21.  
Giải thế tục hóa không những được hiểu tôn giáo tồn tại và phát  
triển mà còn là sự công nhận vai trò xã hội của tôn giáo trong không  
gian công cộng22.  
Do hoàn cảnh lịch sử, những người di dân từ châu Âu tới Mỹ trước  
đây thường là những người bị kỳ thị, phân biệt đối xử về giai cấp, về  
tôn giáo, cho nên Hiến pháp của Mỹ có những điều khoản bảo vệ  
quyền tự do tôn giáo và ngăn chặn sự phân biệt đối xử về tôn giáo.  
Nghiên cứu của Finke và Stark cho thấy việc đi nhà thờ ở Mỹ từ năm  
1776 đến năm 2000 đã gia tăng từ 17% lên 62%. Hai ông cũng cho  
thấy từ thế kỷ XX đến đầu những thập niên thế kỷ XXI, sự thực hành  
tôn giáo truyền thống xem ra giảm đi, nhưng theo hai ông là do những  
hình thức tâm linh khác xuất hiện và tôn giáo mang một cảm thức cá  
nhân nhiều hơn23.  
Chúng ta cũng biết, các biểu tượng tôn giáo hiện diện rõ ràng trong  
không gian công cộng Mỹ: trong bài quốc ca, trên đồng đô-la, trên các  
12  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
cơ sở công quyền như tòa án… Hơn thế nữa, nhà nước Mỹ chấp nhận  
cho các tổ chức tôn giáo tham gia cạnh tranh trong các hợp đồng của  
chính quyền nhằm cung cấp các dịch vụ xã hội qua tổ chức White  
House Office of Faith - Based and Community Initiatives/ OFBCI  
(tạm dịch: Văn phòng Nhà trắng về Sáng kiến Cộng đồng và Dựa trên  
Niềm tin) do tổng thống G. Bush lập ra năm 2001. Dưới thời tổng  
thống Obama, tổ chức này đổi thành White House Office of Faith -  
Based and Neighborhood Partnerships.  
Về mặt luật pháp, không chỉ ở Hiến Pháp, nước Mỹ còn có đạo luật  
Quyền công dân (Civil Rights Act) năm 1964 cấm phân biệt chủng  
tộc, giới tính và tôn giáo nơi công cộng. Vì vậy, nhiều người lao động  
lên tiếng đòi được thể hiện quyền tự do tôn giáo ở nơi làm việc. Trong  
thực tế, qui định này được một số xí nghiệp áp dụng, nếu nó không  
cản trở hoạt động bình thường của xí nghiệp và không gia tăng chi phí  
sản xuất.  
2.1.2. Trường hợp Cộng hòa Pháp  
Nước Pháp theo nguyên tắc thể chế thế tục trung lập (principe de  
laïcité), tách biệt lĩnh vực chính trị và lĩnh vực tôn giáo. Với nguyên  
tắc phân tách quyền lực chính trị với các tổ chức tôn giáo, nhà nước  
phải trung lập với tất cả tôn giáo, hệ tư tưởng. Đồng thời nguyên tắc  
này bảo đảm tự do lương tâm thể hiện qua tự do hành đạo, đòi hỏi nhà  
nước không đặt một quan điểm nào trên một quan điểm khác và xác  
định những quan điểm tinh thần hay triết lý là thuộc lĩnh vực ý thức  
của cá nhân. Chính vì nguyên tắc thế tục này mà Quốc hội Pháp năm  
2004 thông qua một đạo luật có điều khoản trong các trường công,  
cấm mang các dấu hiệu hay cách ăn mặc của học sinh biểu hiện lộ liễu  
việc thuộc về một tôn giáo. Đây là một ví dụ trong vô vàn ví dụ cho  
thấy nguyên tắc thế tục của Pháp muốn hạn chế ảnh hưởng của tôn  
giáo trong các định chế công.  
Nhưng mặt khác, việc áp dụng nguyên tắc thế tục này qua thời gian  
với thực tiễn tại Pháp đã cho thấy có những thích ứng. Ví dụ, mặc dù  
“Nhà nước Cộng hòa không thừa nhận, không trả lương, không tài trợ  
cho bất kỳ tôn giáo nào” (Điều 2, Luật 1905), nhưng thực tế cho thấy  
phức tạp hơn. Luật ngày 31/12/1959, còn gọi là Luật Debré (lấy tên  
Nguyễn Xuân Nghĩa. Giải thế tục hóa: Khái niệm và sự kiện  
…
13  
Bộ trưởng Michel Debré) chấp nhận cho các cơ sở giáo dục tư (90% là  
thuộc Công giáo) được nhà nước Pháp tài trợ, vì nhà nước nhận thấy  
sự đóng góp vì lợi ích chung của các trường tư thuộc tôn giáo.  
Ngoài ra, Nhà nước tài trợ phần nào cho việc xây dựng các cơ sở  
thực hành tôn giáo (chỉ riêng ở Ile de France từ năm 1905 đến nay có  
1.800 địa điểm được xây dựng). Vì tôn trọng nguyên tắc tự do thực  
hành tôn giáo, nhà nước Pháp chấp nhận công tác tuyên úy (aumonier)  
của tôn giáo trong trường công, bệnh viện, nhà tù, v.v... (Điều 2, Luật  
1905). Về truyền thông đại chúng, theo Nghị định ngày 16/9/1994,  
Kênh France 2 (kênh truyền hình của nhà nước) được giao nhiệm vụ  
phát chương trình tôn giáo vào sáng Chủ nhật dành cho những tôn  
giáo chính đang thực hành tại Pháp. Ngoài ra, lãnh đạo nhiều tổ chức  
tôn giáo tham gia Hội đồng Tư vấn cho các Khoa học về Sự sống và  
Sức khỏe (Conseil consultatif d’Ethique pour les Sciences de la Vie et  
de la Santé), được thành lập vào năm 1983.  
Hơn thế nữa, ở nước Pháp hiện nay, người ta nhân danh tự do  
lương tâm, tự do biểu đạt để đòi được công khai biểu lộ tôn giáo của  
mình, điều mà trước đây hầu như không tồn tại. Chính vì vậy, Báo cáo  
Stasi do Tổng thống Chirac đặt hàng vào năm 2003 với Ủy ban Suy  
nghĩ về việc Áp dụng Nguyên tắc Thế tục trong Nhà nước Cộng hòa  
Pháp, đã viết: “Trong khuôn khổ thế tục, các chọn lựa tâm linh và tôn  
giáo thuộc về tự do cá nhân. Điều đó không vì vậy mà có nghĩa những  
vấn đề này bị giới hạn vào bên trong lương tâm, “bị riêng tư hóa” và  
bị từ chối mọi chiều kích xã hội hoặc khả năng biểu đạt nơi công  
cộng. Nguyên tắc thế tục phân biệt sự tự do biểu đạt tâm linh và tôn  
giáo trong không gian công, hợp pháp và chủ yếu ở các tranh luận dân  
chủ, khác với sự chi phối bắt buộc của tôn giáo trên không gian công,  
điều này là không chính đáng. Đại diện của các chọn lựa tâm linh khác  
nhau đều có cơ sở tham gia tranh luận công cộng với tư cách là các  
thành tố của xã hội”24  
2.2. Islam giáo  
Nếu hiểu giải thế tục hóa như là hiện tượng tôn giáo vẫn tồn tại và  
phát triển trong xã hội hiện đại như quan điểm của P. Berger, thì sự  
gia tăng tín đồ Islam giáo là một minh họa cho luận điểm này.  
14  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
Suốt bốn thập niên qua, Kitô giáo (bao gồm Công giáo, Tin Lành,  
Chính thống giáo…) có số tín đồ nhiều nhất thế giới. Năm 2010, Kitô  
giáo gồm 2,2 tỷ người, chiếm 31% trên tổng số 6,9 tỷ người trên thế  
giới; Islam giáo (bao gồm cả phái chính Sun-nít, Shi-ít) đứng thứ hai  
với 1,6 tín đồ chiếm 23% dân số thế giới. Tuy nhiên đến năm 2050,  
dân số thế giới ước tính khoảng 9,3 tỷ người, tín đồ Kitô giáo sẽ là 2,9  
tỷ chiếm 31% dân số thế giới và Islam giáo với 2,8 tỷ người chiếm  
30% dân số thế giới. Trong khoảng thời gian 2010-2050, Kitô giáo chỉ  
gia tăng khoảng 35%, trong khi tỷ lệ gia tăng của Islam giáo là 73%.  
Đến năm 2070, tỷ lệ tín đồ của Kitô giáo và Islam giáo bằng nhau (#  
32,3%) và sau đó Islam- giáo sẽ vượt lên. Tín đồ Islam giáo gia tăng  
là do số con trung bình của gia đình Islam giáo cao (3,1 con/phụ nữ)  
và dân số trẻ. Trong sự phát triển của Islam giáo, có sự gia tăng của  
các phái Islam giáo cực đoan, với chủ trương chống đối lại quá trình  
hiện đại hóa, đòi phục hồi lại vai trò lãnh đạo toàn diện của tôn giáo  
trong xã hội.  
2.3. Trung Quốc  
Trung Quốc là quốc gia có chính sách kiềm hãm tôn giáo với  
những biện pháp kiểm soát chặt chẽ. F. Yang đã chia ra bốn giai đoạn  
trong các chính sách của nhà nước đối với tổ chức tôn giáo: (1) Giai  
đoạn 1949-1957, Nhà nước loại bỏ tất cả các tôn giáo và chỉ chọn năm  
tôn giáo qua các hội “yêu nước”; (2) 1957-1966: Chuyển đổi xã hội  
chủ nghĩa đối với các tổ chức tôn giáo yêu nước; (3) 1966-1979: tất cả  
mọi địa điểm tôn giáo đều bị đóng cửa và tất cả tôn giáo đều bị cấm;  
(4) 1979 đến nay, có sự bao dung hạn chế đối một số nhóm tôn giáo  
và điều tiết qua pháp luật25. Trước đây, ông Chu Ân Lai rất tự tin,  
từng nói với các tín đồ tôn giáo: “Chúng tôi nghĩ rằng niềm tin của  
bạn không đúng sự thật và sai, do đó, nếu chúng tôi đúng, mọi người  
sẽ từ chối niềm tin của các bạn, và giáo hội của bạn sẽ tan rã”26. Trong  
cuộc Cách mạng Văn hóa của Trung Quốc, đã đưa ra khẩu hiệu  
“nhiệm vụ của Đảng Cộng sản là tiêu diệt tất cả các tôn giáo”27. Điều  
này đưa đến kết quả: “Trong khoảng 10 năm của cuộc Đại cách mạng  
văn hóa, công tác tôn giáo của Đảng Cộng sản Trung Quốc và Nhà  
nước Trung Quốc hoàn toàn bị xóa bỏ. Bộ Mặt trận Thống nhất và các  
Nguyễn Xuân Nghĩa. Giải thế tục hóa: Khái niệm và sự kiện  
…
15  
bộ, ban, ngành làm công tác tôn giáo bị đả kích, đập phá một cách tàn  
khốc; nhiều cán bộ bị bức hại thảm thương. Các cơ sở thờ tự của tôn  
giáo trong cả nước bị đóng cửa; quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của  
quần chúng nhân dân bị tước đoạt; mọi hoạt động tôn giáo công khai  
đều bị đình chỉ”28. Nhưng sau đó, nhà nước Trung Quốc đã sửa sai và  
đưa ra nghị quyết tháng 6 năm 1981: “Cần tiếp tục quán triệt thực hiện  
chính sách tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Kiên trì bốn nguyên tắc cơ bản  
đồng thời không bắt tín đồ tôn giáo bỏ tôn giáo, tín ngưỡng của họ;  
tuy nhiên cần yêu cầu tín đồ tôn giáo không tuyên truyền phản đối chủ  
nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Mao Trạch Đông; yêu cầu tôn giáo không  
can dự vào chính trị và giáo dục”29.  
Như trình bày ở trên, nhìn chung, Trung Quốc có chủ trương kiểm  
soát và điều tiết tôn giáo rất nghiêm nhặt. Thế nhưng hiện nay, theo các  
số liệu mới nhất (2010) của nhà nước Trung Quốc có hơn 100 triệu tín  
đồ của các tôn giáo, trong đó có khoảng 18 triệu tín đồ Islam giáo thuộc  
mười dân tộc thiểu số, Công giáo có khoảng 4 triệu tín đồ, Tin Lành 10  
triệu tín đồ; tín đồ của Phật giáo, Lão giáo không thấy đưa ra con số  
ước tính30. Trung tâm Nghiên cứu Pew đưa ra ước tính trong báo cáo  
Global Religious Landscape in 2010: ở Trung Quốc, trên tổng số dân  
hơn 1,3 tỷ người, có 21.9% tin vào các tôn giáo dân gian (folk  
religions), 18.2% là tín đồ đạo Phật, 5.1% tín đồ Kitô giáo (trong đó đạo  
Tin Lành chiếm 2/3, Công giáo 1/3), 1.8% tín đồ Islam giáo, 0.8%  
thuộc cáo tôn giáo khác, và 52.2% dân số không có tôn giáo31.  
Tuy nhiên, theo một số tác giả, số lượng tín đồ các tôn giáo trong thực  
tế cao hơn con số nhà nước Trung Quốc đưa ra. Ví dụ, theo Fenggang  
Yang, khoảng 4 đến 5 triệu người Trung Quốc theo Công giáo thuộc thị  
trường đỏ (red market) - tức là thuộc giáo hội được nhà nước thừa nhận,  
nhưng trong tổng số tín đồ Công giáo có “khoảng 2/3 thuộc thị trường  
đen của tôn giáo”32 - tức thuộc giáo hội không được nhà nước thừa  
nhận. Và nhìn chung, khoảng 100 triệu tín đồ tham gia thị trường đỏ  
của các tôn giáo (ý nói những tôn giáo được nhà nước công nhận), thì  
khoảng từ 100 triệu đến 200 triệu người dân Trung Quốc tham gia “thị  
trường xám” (theo Yang là những tôn giáo, giáo phái không bị nhà  
nước Trung Quốc cấm đoán, cũng không được thừa nhận chính thức).  
16  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
Một điểm khác cần lưu ý, trong mô hình lý thuyết của Fenggang  
Yang, theo sách lược đáp ứng nhu cầu tâm linh của người dân, ngoài  
việc khôi phục lại Khổng giáo, nhà nước tạo cơ hội cho Phật giáo và  
Đạo giáo phát triển một mặt là để thỏa mãn nhu cầu của quần chúng  
và mặt khác nhằm tăng đối trọng với sự phát triển của các phái Tin  
Lành và Công giáo33.  
2.4. Giải thế tục hóa ở một số nước Đông Âu và Nga  
2.4.1. Ở một số nước Đông Âu  
Quá trình thế tục hóa cưỡng bức (forced secularization) ở các nước  
Đông Âu trước đây là một hiện tượng không bình thường, do đó, sau  
các biến cố những năm 1989-1991, tỷ lệ các tổ chức tôn giáo đăng ký  
với chính quyền gia tăng: Ở Nga, năm 1990 có 19 tổ chức tôn giáo  
đăng ký, số liệu này lên 54 tổ chức vào năm 1996; ở Ba Lan, từ 37 tổ  
chức, lên 152 (1999) và 160 (2005); ở Hungary: từ 35 tổ chức tôn giáo  
(1990) lên 135 tổ chức vào năm 200234. Và tỷ lệ người dân tự xác  
định mình là tín đồ tôn giáo gia tăng (xem số liệu ở Bảng 2).  
Bảng 2: Tỷ lệ % số người tự xác nhận là có tôn giáo ở một số  
nước Đông Âu (1990-2005)  
1990 (1)*  
1999 (2)*  
2005 (3)  
94,6  
- Ba lan  
91  
73  
47  
32  
34  
60  
52  
54  
46  
92  
81  
74  
74  
71  
65  
60  
58  
55  
- Rumani  
93,4  
- Lithuania  
- Bungari  
- Lettonia = Latvia  
- Slovenia  
- Nga  
63,6  
72,6  
73,6  
- Hungary  
- Tiệp Khắc (trước  
đây)  
- Estonia  
19  
33  
36  
27  
- Đông Đức (trước  
đây)  
Nguyễn Xuân Nghĩa. Giải thế tục hóa: Khái niệm và sự kiện  
…
17  
* Nguồn (1) + (2): Yves Lambert, “Des changements dans  
l’évolution religieuse de l’Europe et de la Russie”, Revue de  
Sociologie Francaise, Vol. 45, No 2, 2004(3): World Values Survey,  
2005-2008. Nguyễn Xuân Nghĩa xử lý số liệu. Những ô không có số  
liệu là do không có điều tra.  
Nhìn chung ở các nước Đông Âu, trong giai đoạn 1990-2005, tỷ lệ  
số người tự xác nhận có tôn giáo đều gia tăng, chỉ có ngoại lệ là vùng  
Đông Đức cũ. Một trong các lý do giải thích, từ khi thống nhất, theo  
luật pháp của Cộng hòa Liên bang Đức, người có tôn giáo phải đóng  
thuế, do đó một số tín đồ ở Đông Đức đã không tự nhận có tôn giáo,  
để tránh nghĩa vụ đóng thuế này.  
Ở Nga, theo nghiên cứu của G. Evans, K. Northmore-Ball (2012),  
trong giai đoạn 1993-2007, tỷ lệ tín đồ Chính Thống giáo đi nhà thờ  
thường xuyên không tăng (trên dưới 10% tùy năm), nhưng số tín đồ  
thỉnh thoảng đi nhà thờ gia tăng từ 63% lên 71%; tỷ lệ những người  
không bao giờ đi nhà thờ giảm từ 25% xuống 19%35.  
Tình hình tôn giáo ở Nga sau những năm 1990 cung cấp nhiều  
thông tin hỗ trợ việc thao tác hóa khái niệm giải thế tục, do đó chúng  
tôi sẽ đi vào chi tiết hơn.  
2.4.2. Mô hình giải thế tục hóa “từ trên xuống” ở Nga (“from  
above” desecularization)  
Nhiều nghiên cứu về tình hình tôn giáo ở Nga sau sự sụp đổ của  
khối Đông Âu đã giúp đi đến một khung lý thuyết về giải thế tục hóa.  
Tuy nhiên, những nghiên cứu trên cũng cho thấy giải thế tục hóa là  
một quá trình không nhất quán và có thể có nhiều mâu thuẫn, nhưng  
dù sao chúng cũng cho thấy những nét chính của một mô hình giải thế  
tục hóa từ trên xuống36.  
Một đặc trưng của giải thế tục hóa ở Nga là tính quyết liệt và xảy ra  
nhanh chóng, trên một số lĩnh vực chủ chốt của xã hội.  
Trước hết là sự xích lại gần nhau giữa những định chế thế tục trước  
đây và những chuẩn mực tôn giáo. Dù có nhiều tranh luận, nhưng từ  
năm 2012, văn hóa tinh thần của các tôn giáo truyền thống được giảng  
dạy trong các trường công ở Nga, chấp nhận sự hiện diện càng ngày  
18  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
càng rõ rệt của các biểu tượng tôn giáo, các nghi lễ, các giáo sĩ trong  
lực lượng vũ trang (các tuyên úy Chính Thống giáo), trong bệnh viện,  
nhà tù và các định chế giáo dục cao cấp. Hiện tượng này đi đôi với  
việc quay trở lại của tôn giáo trong không gian công cộng. Nhiều nghi  
lễ tôn giáo với sự tham dự của các viên chức cao cấp của nhà nước  
được truyền hình trên các kênh công cộng. Hàng giáo sĩ tham gia các  
tranh luận về những vấn đề pháp luật, xã hội, và đạo đức. Những điều  
này đã đưa đến nhận định: “Ngày nay, ở Nga, chính sự vô tôn giáo,  
chứ không phải tôn giáo đang trở thành cái riêng tư và bị đẩy ra khỏi  
không gian công cộng”37. Một thay đổi lớn khác, đại bộ phận dân Nga  
tự nhận là theo Chính Thống giáo, số người không tín ngưỡng hay vô  
thần trở thành thiểu số nhỏ. Và xuất hiện hiện tượng căn tính dân tộc  
gắn với căn tính tôn giáo (ethno-religious identities): người Nga xem  
mình là tín đồ Chính Thống giáo; các dân tộc ít người ở vùng có  
người theo Islam giáo tự xem mình là tín đồ Islam. Cái mà các nhà  
nghiên cứu gọi là ethnodoxy là hệ tư tưởng bình dân muốn trộn lẫn  
tính tộc người của một nhóm với tôn giáo đang thống trị ở nhóm tộc  
người này và xem những người thuộc tôn giáo khác như là những tộc  
người khác và nguy hiểm hơn, hệ tư tưởng đòi hỏi những đặc quyền  
cho tôn giáo (thống trị) của họ. Thêm vào đó, những thay đổi về cảnh  
quan xã hội, về văn hóa vật chất do việc xây dựng lại các cơ sở tôn  
giáo, với việc trả lại các tài sản của tổ chức tôn giáo38.  
Nhưng mặt khác, cũng trong những lĩnh vực chính yếu của tôn  
giáo, những thay đổi về giải thế tục hóa lại rất hạn chế, khó nhận ra,  
đó là lĩnh vực niềm tin và thực hành tôn giáo. Lấy ví dụ, thông thường  
những nghiên cứu cho thấy những người theo Kitô giáo có tỷ lệ sinh  
cao và tỷ lệ phá thai thấp, nhưng trong trường hợp của Nga, mặc dù có  
hiện tượng ồ ạt trở lại Chính Thống giáo, nhưng tỷ lệ phá thai vẫn rất  
cao: gấp ba lần so với các nước phương Tây, và cao hơn Trung Quốc.  
Theo số liệu năm 2001, tỷ lệ phá thai ở Nga chỉ đứng sau ba nước là  
Cuba, Romania và Việt Nam39; Năm 2017, tỷ lệ phá thai ở 1.000 phụ  
nữ thuộc lứa tuổi 15-39 là 37.28 %, thuộc loại cao nhất ở châu Âu,  
trong khi tỷ lệ này rất thấp ở các nước thuộc khối Đông Âu trước đây  
nhưng có đa phần cư dân là Công giáo, như Ba Lan chỉ là 0.14%;  
Croatia: 4.34%40. Các chuẩn mực tôn giáo xem ra không ảnh hưởng ở  
Nguyễn Xuân Nghĩa. Giải thế tục hóa: Khái niệm và sự kiện  
…
19  
nước Nga vì tỷ lệ sinh vẫn thấp và tử vong cao do tật nghiện rượu ở  
nam giới. Tuy nhiên trên lĩnh vực truyền thông về tôn giáo, mặc dù  
chưa có nghiên cứu hệ thống, nhưng qua quan sát trên phim ảnh hay ở  
các nhà sách đã cho thấy có một sự phát triển mạnh mẽ.  
Trên bình diện thực hành tôn giáo, số lượng tín đồ Chính Thống  
giáo Nga từ 31% năm 1991 đã lên tới 72% vào năm 2008, nhưng tỷ lệ  
đi nhà thờ chỉ từ 2% lên 7%, do đó Diễn đàn Pew đã gọi hiện tượng  
này là “Người Nga trở lại đạo, nhưng không đi nhà thờ”. Về niềm tin  
vào Chúa, cũng khoảng thời gian trên, tăng từ 38% lên 56%, tin vào  
có đời sống sau khi chết: từ 33% xuống 32%...41.  
Như vậy, hiện tượng giải thế tục ở một số nước Đông Âu trước đây  
mà điển hình là ở Nga là không nhất quán và có mâu thuẫn. Làm thế  
nào để giải thích sự kiện: trong một số lĩnh vực, quá trình giải thế tục  
hóa xảy ra quyết liệt, nhanh chóng, nhưng ở một số lĩnh vực khác lại  
trì trệ, ngưng đọng?  
Giải thế tục hóa từ trên xuống42  
Quá trình giải thế tục hóa xảy ra nhanh chóng trong một số lĩnh vực,  
định chế ở Nga là do những quyết định từ trên xuống, do những quyết  
định chính trị, do các nghị quyết, sắc lệnh triển khai các quyết định  
chính trị. Như việc du nhập trở lại của tôn giáo trong định chế giáo dục  
và những định chế khác, chấp nhận sự trở lại của tôn giáo trong lĩnh  
vực công cộng; tuyên truyền chủ nghĩa dân tộc mang tính tôn giáo.  
Giải thế tục hóa từ trên xuống là một liên minh giữa nhà nước thế  
tục, tầng lớp lãnh đạo tinh hoa trong tôn giáo và sự đồng thuận của  
quần chúng.  
Trên lĩnh vực niềm tin và thực hành tôn giáo, đây là bình diện vi  
mô, bình diện của ý thức và quyết định của cá nhân và lĩnh vực này đã  
bị ảnh hưởng lâu dài của quá trình thế tục hóa dưới chế độ Xô Viết.  
Sự tham gia thực hành thấp sẽ không tạo điều kiện cho sự hình thành  
những tổ chức hỗ trợ và củng cố niềm tin.  
Nguồn gốc của mô hình Nga  
Quá trình giải thế tục ở Nga chủ yếu là từ bên trên, do thiếu những  
tiền đề của quá trình giải thế tục hóa từ bên dưới, vốn đòi hỏi những  
20  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
điều kiện như tham gia các hoạt động tôn giáo ở mức độ cao, có những  
đoàn thể cấp cơ sở, các hội thiện nguyện, có khả năng tiếp cận được  
những nguồn lực vật chất và chính trị và có khả năng đưa ra những tầm  
nhìn. Những nghiên cứu ở Nga, như của các tác giả C. Marsh, V.  
Karlov, cho thấy trong giai đoạn chuyển đổi thiếu những điều kiện này.  
Như đã trình bày, mức độ thực hành tôn giáo của các tín đồ Chính  
Thống giáo ở Nga thấp. Mức độ tham gia thấp cản trở sự hình thành các  
cộng đồng, các hiệp hội tự nguyện có thể đấu tranh đòi hỏi một quá  
trình giải thế tục hóa từ bên dưới. Hơn nữa bối cảnh kinh tế, chính trị  
cũng không hỗ trợ quá trình này, vì việc xây lại các cơ sở tôn giáo, các  
trường học do các tổ chức tôn giáo thành lập đòi hỏi phải có nguồn lực  
kinh tế lớn. Sau Perestroika (cải tổ) mười năm, khi kinh tế Nga bắt đầu  
phát triển, thì quá trình giải thế tục từ trên xuống đã củng cố, ổn định,  
và hơn thế nữa lợi ích phe nhóm đã cản trở những sáng kiến giải thế tục  
hóa từ bên dưới. Thêm vào đó, quá trình dân chủ hóa sau mười năm đầu  
ở Nga đã chậm lại kể từ khi ông Putin lên nắm chính quyền.  
Một điều kiện thiếu sót quan trọng khác là thiếu tầm nhìn và kiến  
thức của các tổ chức tôn giáo để xây dựng một quá trình giải thế tục  
hóa từ dưới lên. Ý tưởng về những cộng đoàn như là những hiệp hội  
tự nguyện tự quản xem ra hoàn toàn xa lạ với Chính Thống giáo thời  
sau năm 1991. Nhà nghiên cứu Karpov đã kể lại câu chuyện những  
người bạn theo Chính Thống giáo đang ở Nga của ông rất ngạc nhiên  
khi biết rằng những cộng đoàn Chính Thống giáo ở Mỹ là những cộng  
đoàn tự quản, và cho biết một vị giám mục Chính Thống giáo Nga  
không thể có quan niệm là không nên kiểm soát sở hữu của một linh  
mục tại giáo xứ43.  
Vì thiếu những điều kiện trên nên quần chúng Nga xem ra dễ ủng  
hộ những sáng kiến giải thế tục hóa từ trên xuống và họ tin tưởng rằng  
Chính Thống giáo sẽ lấp đầy khoảng trống giá trị được để lại sau năm  
1991.  
Điều kiện cho quá trình thế tục hóa từ bên trên  
Những điều kiện này bao gồm quyền lợi của giới tinh hoa chính trị  
và tôn giáo, tầm nhìn của họ về quá trình giải thế tục hóa và kiểm soát  
những tài nguyên cần thiết cho việc thực hiện.  
Nguyễn Xuân Nghĩa. Giải thế tục hóa: Khái niệm và sự kiện  
…
21  
Tầm nhìn và quyền lợi của giới tinh hoa tôn giáo chính thức (có  
nghĩa là Chính Thống giáo được nhà nước thừa nhận sau giai đoạn  
chuyển tiếp và sau Luật về tự do lương tâm và các hiệp hội tôn giáo  
năm 1997, thường được xem là các tôn giáo “truyền thống”, chính  
thống): Tầng lớp tinh hoa chính trị này được hiểu bao gồm tầng lớp  
lãnh đạo bên trên của Tòa Thượng phụ Moscow của Giáo hội Chính  
Thống giáo Nga và các hiệp hội Islam giáo được thừa nhận.  
Trong giai đoạn đầu của chuyển đổi, quần chúng rất thích thú với  
sự trỗi dậy của các tôn giáo và những giới hạn về đa dạng tôn giáo  
thấp do (ngoài các tôn giáo nêu trên) xuất hiện nhiều hệ phái Tin Lành  
và các tổ chức truyền giáo từ nước ngoài, tạo nên một sự cạnh tranh.  
Trước tình huống này, các lãnh đạo các tôn giáo chính thức có hai khả  
năng chọn lựa: trước hết là đi cùng làn sóng giải thế tục hóa từ bên  
dưới đang hình thành và cố gắng giữ quyền lãnh đạo. Trong chọn lựa  
này, các tôn giáo truyền thống có lợi thế có được truyền thống lịch sử  
và văn hóa lâu đời, mang tính “bản địa” và tồn tại ở những nhóm tộc  
người lớn. Tuy nhiên, cũng có thể có các nguy cơ, đó là phải kế thừa  
một truyền thống đổ vỡ, phải cạnh tranh với hệ phái tôn giáo rất năng  
động, có kỹ năng phát triển từ bên dưới, có nguy cơ bị phong trào giải  
thế tục hóa từ bên dưới tràn ngập. Khả năng chọn lựa thứ hai xem ra  
an toàn hơn - ủng hộ quá trình giải thế tục hóa từ bên trên của tầng lớp  
lãnh đạo chính trị. Như vậy, vẫn giữ được quyền lãnh đạo, tránh được  
sự cạnh tranh bên ngoài và cả bên trong. Đây là sách lược chọn lựa  
của tầng lớp lãnh đạo tôn giáo truyền thống ở Nga.  
Giới lãnh đạo Islam giáo chính thức lại càng không thích thú với  
mô hình tổ chức tự quản vì Islam giáo chính thức ở Nga là hình thức  
kiểm soát tập trung qua Hội đồng các Safi. Hình thức kiểm soát này  
cũng đi ngược với bản chất của Islam giáo. Hơn nữa, tính chính đáng  
của Islam giáo Nga là không tách rời khỏi Nhà nước Nga.  
Các giới lãnh đạo tôn giáo chính thức ở Nga nhìn về quá trình giải  
thế tục hóa như thế nào? Lãnh đạo các tôn giáo thiểu số chấp nhận vị  
thế của họ trong tương quan với Giáo hội Chính Thống giáo. Riêng  
giới lãnh đạo Chính Thống giáo vẫn ước mơ về một Chính Thống giáo  
tiền Cách mạng (năm 1917), là thời hoàng kim và người ta đã gọi  
22  
Nghiên cứu Tôn giáo. Số 1 - 2019  
“Nước Nga thánh thiêng” (“Holy Russia”). Mặt khác, hơn 70 năm  
dưới chế độ Xô Viết, Chính Thống giáo Nga cắt đứt khỏi trào lưu thần  
học của Chính Thống giáo trên thế giới - trào lưu này, điển hình là  
Trường phái Paris với các tác phẩm của Paul Evdokimov, Nikolai  
Afanasiev và Alexander Schmemann, chủ trương một niềm tin tôn  
giáo mang tính phổ quát, không gắn liền với một nhà nước - dân tộc  
(nation-state) cụ thể nào, không gắn với một văn hóa tộc người nào, và  
nhất là đề cao vai trò quan trọng của giáo dân, của cộng đồng những  
tín đồ. Những quan điểm này gắn liền với việc xem các cộng đoàn tôn  
giáo như những hiệp hội thiện nguyện, khá phổ biến ở Giáo hội Chính  
Thống giáo ở Mỹ. Nhưng ở Nga, người ta nhìn quan điểm này với sự  
nghi ngờ và thù nghịch.  
Về nguồn lực của giới lãnh đạo tôn giáo chính thức này: họ có hai  
nguồn lực chính: nguồn lực về văn hóa và tổ chức. Chính Thống giáo  
và các nhóm Islam giáo là những tôn giáo lâu đời ở Nga mà những tôn  
giáo mới đến không thể có được và thứ đến là những tổ chức độc  
quyền được nhà nước công nhận. Nhưng đồng thời, giới lãnh đạo này  
cũng có những hạn chế là những nguồn lực vật chất và kỹ năng tổ  
chức. Hai nguồn lực cuối cùng này nằm trong tay giới tinh hoa thế tục  
đang lãnh đạo đất nước, do đó hoàn toàn lôgic khi giới tinh hoa lãnh  
đạo tôn giáo ủng hộ những đối trọng thế tục của họ trong quá trình  
giải thế tục hóa từ trên xuống.  
Tầm nhìn và lợi ích của giới tinh hoa thế tục  
Giới tinh hoa thế tục ở đây được hiểu là những người thuộc đỉnh  
chóp đang lãnh đạo về chính trị và kinh tế (cả lĩnh vực công và tư) của  
Nhà nước Nga. Giáo hội Chính Thống giáo Nga không nhận hỗ trợ tài  
chính trực tiếp từ Nhà nước mà từ các tổ chức hay các quỹ có sự kiểm  
soát của nhà nước. Ví dụ, Vladimir Yakunin được xem là nhà trung  
gian giữa Nhà nước và Giáo hội Chính Thống giáo Nga, là bạn thân  
của Tổng thống V. Putin. Yakunin đứng đầu Tập đoàn Đường sắt Nga  
và Quỹ Thánh Andrew44.  
Giới tinh hoa thế tục này có đủ nguồn lực chính trị, kinh tế và  
quản trị để thực hiện quá trình giải thế tục được giới tinh hoa tôn  
giáo ủng hộ.  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 29 trang baolam 18920 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giải thế tục hóa: Khái niệm và sự kiện (từ góc độ Xã hội học)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfgiai_the_tuc_hoa_khai_niem_va_su_kien_tu_goc_do_xa_hoi_hoc.pdf