Tài liệu hướng dẫn thực hành (Dành cho cán bộ xã hội cấp cơ sở): Tham vấn căn bản

BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH  
(Dành cho cán bộ xã hội cấp cơ sở)  
THAM VẤN CĂN BẢN  
Hà Nội, năm 2016  
THAM VẤLỜI MỞ ĐẦU  
Trong khoảng mười năm lại đây, tốc độ phát triển kinh tế - xã hội quá nhanh  
ở Việt nam đã kéo theo những thay đổi và xáo trộn tâm lí của nhiều người,  
làm tăng cao nhu cầu về dịch vụ tham vấn tâm lí. Điều này thể hiện ở sự ra  
đời và phát triển đa dạng của nhiều trung tâm tham vấn, phòng tham vấn tại  
các cộng đồng, bệnh viện và các trường học với các dịch vụ trợ giúp tâm lí  
khác nhau.  
Tài liệu Tham vấn cơ bản này được trình bày trong 4 phần, trong đó 2 phần  
đầu làm rõ tính chất lý thuyết của tham vấn thực hành. Về mặt lý luận, tài liệu  
cung cấp cho các cán bộ xã hội những kiến thức cơ bản nhất về tham vấn.  
Trong đó, tập trung làm rõ các khái niệm như: Trợ giúp, hướng dẫn, tư vấn,  
tham vấn và trị liệu tâm lí, cũng như mục tiêu, nhiệm vụ; nắm được thế nào  
là vấn đề của thân chủ và các cơ chế phòng vệ. Tài liệu cũng giúp người học  
nâng cao kiến thức về các kỹ năng tham vấn cơ bản và quá trình thực hiện các  
bước trong tham vấn cá nhân.  
Để giúp các cán bộ xã hội nâng cao khả năng thực hành nghề trợ giúp, phần  
III hướng dẫn sử dụng một số kĩ năng tham vấn căn bản, như: Kỹ năng lắng  
nghe, kỹ năng phản hồi, kỹ năng hỏi, kỹ năng thấu cảm và kỹ năng cung cấp  
thông tin. Đây là những kỹ năng giao tiếp tối thiểu mà một người trợ giúp  
trong ngành công tác xã hội cần phải nắm được để có thể thực hiện đươc  
một ca tham vấn về những vấn đề thông thường của cuộc sống (không liên  
quan đến các rối loạn tâm lý). Với các thân chủ có rối loạn tâm lý, như bị trầm  
cảm, lo hãi, hay tăng động giảm chú ý… , cán bộ xã hội cần đưa họ đến các  
bệnh viện tâm thần, các trung tâm tư vấn để được giúp đỡ một cách chuyên  
nghiệp. Quy trình tham vấn được giới thiệu trong phẩn IV. Trong đó, chỉ ra các  
bước cần thực hiện trong một ca tham vấn với những ví dụ cụ thể để người  
đọc có thể hình dung các bước phải trải qua trong quy trình giúp đỡ. Điều này  
thường không được các nhà tham vấn ở Việt nam quan tâm.  
2
THAM VẤN CĂN BẢN  
Xét trong hoàn cảnh thực hành trợ giúp tâm lý ở Việt Nam hiện nay, việc ra đời  
của các tài liệu, giáo trình liên quan đến ngành công tác xã hội là hết sức cần  
thiết. Nó không chỉ cung cấp kiến thức, kỹ năng cho cán bộ công tác xã hội,  
mà có còn có ích cho sinh viên ngành Tâm lý học, Công tác xã hội, Tâm thần  
học và Giáo dục học.  
Chúng tôi hi vọng sẽ nhận được nhiều sự đóng góp để tài liệu được hoàn  
thiện hơn.  
Tác giả  
3
MỤC LỤC  
LỜI MỞ ĐẦU  
2
6
6
6
7
7
8
9
PHẦN 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CỦA THAM VẤN TÂM LÝ  
I. Các khái niệm  
1. Trợ giúp  
2. Hướng dẫn  
3. Tham vấn  
4. Trị liệu  
5. Tư vấn  
II. Mục tiêu, nhiệm vụ tham vấn  
1. Mục tiêu tham vấn.  
11  
11  
11  
2. Nhiệm vụ tham vấn  
III. Nguyên tắc đạo đức trong tham vấn  
1. Giữ bí mật  
12  
12  
13  
13  
13  
2.Tôn trọng thân chủ  
3.Không gắn mình vào mối quan hệ cá nhân với thân chủ  
4. Bảo vệ phúc lợi của thân chủ  
IV.Tham vấn nhóm và tham vấn gia đình  
1.Tham vấn nhóm  
14  
14  
15  
2. Tham vấn gia đình  
PHẦN 2: THÂN CHỦ VÀ NGƯỜI THAM VẤN  
I.Thân chủ và Nan đề tham vấn  
1. Thân chủ  
18  
18  
18  
19  
21  
21  
21  
2.Vấn đề của thân chủ  
II. Nhà tham vấn và các phẩm chất nghề nghiệp  
1.Nhà tham vấn  
2.Các phẩm chất nghề nghiệp của người tham vấn  
PHẦN 3: KỸ NĂNG THAM VẤN  
I.Kỹ năng lắng nghe  
24  
25  
25  
26  
26  
1.Khái niệm lắng nghe  
2.Các biểu hiện của kĩ năng lắng nghe  
3. Bài tập kiểm nghiệm về khả năng lắng nghe  
II.Kỹ năng hỏi  
27  
27  
27  
30  
1.Khái niệm hỏi  
2.Các loại câu hỏi  
3.Thực hành kỹ năng hỏi  
4
THAM VẤN CĂN BẢN  
IV. Kỹ năng phản hồi  
31  
31  
32  
35  
1.Khái niệm về phản hồi  
2. Các loại phản hồi  
3. Thực hành kĩ năng phản hồi  
V. Kỹ năng thấu hiểu  
36  
36  
36  
37  
1. Khái niệm thấu hiểu  
2. Các mức độ biểu hiện thấu hiểu  
3. Thực hành kĩ năng thấu hiểu  
VI. Kỹ năng cung cấp thông tin  
39  
39  
40  
40  
1. Khái niệm cung cấp thông tin  
2.Yêu cầu của kỹ năng cung cấp thông tin  
3. Thực hành kĩ năng cung cấp thông tin  
PHẦN 4: HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH QUÁ TRÌNH THAM VẤN  
1.Xây dựng quan hệ giữa nhân viên xã hội và thân chủ  
2. Thu thập thông tin và xác định vấn đề  
2.1. Thu thập thông tin  
44  
44  
46  
46  
48  
50  
51  
51  
52  
53  
53  
54  
55  
2.2. Nguồn thông tin thu thập  
2.3. Xác định vấn đề  
3. Lựa chọn giải pháp và xây dựng kế hoạch thực hiện  
3.1.Liệt kê các giải pháp có thể thực hiện  
3.2.Phân tích thuận lợi/bất lợi trong mỗi giải pháp  
3.3.Xây dựng kế hoạch thực hiện  
4. Thực hiện giải quyết vấn đề  
5. Đánh giá kết thúc  
6. Theo dõi sau khi kết thúc  
PHỤ LỤC  
56  
5
PHẦN  
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG  
CỦA THAM VẤN TÂM LÝ  
Một số người có những tư chất “bẩm sinh” để làm tham vấn. Một số khác không thể trở  
thành người tham vấn tốt dù đã qua nhiều khóa đào tạo. Hầu hết chúng ta đang ở đâu đó  
giữa những người này. Chúng ta bắt đầu tham vấn với vô số thói quen tốt và xấu. Vì vậy  
chúng ta phải được đào tạo và thường xuyên nghiên cứu các nguyên tắc chung mà một  
người tham vấn cần phải làm và có lẽ quan trọng hơn là những gì không nên làm trong  
tham vấn.1  
Phần này trình bày các vấn đề chung của tham vấn tâm lý dưới góc độ của một ngành  
khoa học ứng dụng. Nội dung sẽ tập trung làm rõ sự khác nhau trong các hoạt động trợ  
giúp thông qua phân biệt các khái niệm, như: trợ giúp, hướng dẫn, tham vấn, trị liệu và  
tư vấn tâm lí. Phần này cũng làm rõ mục đích và nhiệm vụ của tham vấn; các nguyên tắc  
đạo đức trong hành nghề tham vấn. Tài liệu này được trình bày dưới góc độ tham vấn cá  
nhân, do đó việc giới thiệu sơ bộ về tham vấn nhóm và tham vấn gia đình là cần thiết.  
I. CÁC KHÁI NIỆM  
1. Trợ giúp  
Trợ giúp (Help) là một khái niệm chung nhất, chỉ sự giúp đỡ lẫn nhau trong các mối quan  
hệ giao tiếp thôngthường - ai đó giúp đỡ cho ai đó.  
Khái niệm trợ giúp bao hàm những công việc của người giúp đỡ không chuyên (non-  
professional helper) – sự giúp đỡ của tất cả mọi người, sự giúp đỡ bán chuyên nghiệp  
(paraprofessional helper) và chuyên nghiệp (professional helper). Hay nói cách khác, sự  
giúp đỡ không chuyên là người giúp đỡ không qua đào tạo. Trong khi đó, người trợ giúp  
1
Jill Taylor và Sheelagh Stewart - Tài liệu tập huấn, (Trích từ: Bạo lực tình dục và bạo lực gia đình: Những hỗ trợ,  
phục hồi và hành động ở Zimbabe)  
6
THAM VẤN CĂN BẢN  
bán chuyên nghiệp có thể được đào tạo, tập huấn ngắn hạn về các lĩnh vực trợ giúp,  
hoặc có kinh nghiệm từ mối quan hệ trợ giúp. Còn người trợ giúp chuyên nghiệp, họ  
được đào tạo sâu và chuyên biệt về những kiến thức, kỹ năng tâm lí, hành vi con người,  
kỹ năng giao tiếp và giải quyết các vấn đề theo chuyên ngành của họ, để có thể đáp  
ứng với đối tượng mà họ giúp đỡ về mặt tinh thần, như công việc của các nhà tâm lí  
học, người tham vấn, nhân viên công tác xã hội, nhà giáo dục, bác sĩ tâm thần...  
Đối với ngành công tác xã hội, mạng lưới các cộng tác viên, tình nguyện viên cấp xã  
đang làm việc trong lĩnh vực bảo vệ trẻ em, các cán bộ làm việc với các nạn nhân bị  
buôn bán, phụ nữ bị bạo hành hay các hoạt động dự án phát triển cộng đồng đã và  
đang được tập huấn theo hướng làm việc chuyên nghiệp về các kiến thức và kỹ năng  
trong ngành công tác xã hội để giúp các đối tượng đang gặp khó khăn tại cộng đồng.  
2. Hướng dẫn  
Hướng dẫn (guidance) được hiểu là một hoạt động cung cấp thông tin, cho lời khuyên  
theo chủ đề cụ thể được dẫn dắt từ người tham vấn (trong vai trò của một cố vấn).  
Người tham vấn trong vai trò hướng dẫn (có thể gọi là cố vấn), công việc của họ có một  
số đặc điểm sau:  
• Dẫn dắt, điều khiển buổi làm việc  
• Thảo luận tập trung vào một chủ đề, không quan tâm đến việc chuyển tải sự thấu  
cảm, chấp nhận tới thân chủ.  
• Cuộc trò chuyện chủ yếu cung cấp thông tin và đưa ra lời khuyên theo vấn đề  
được hỏi  
• Trọng tâm cuộc trò chuyện thường tập trung vào hiểu biết của người hướng dẫn  
•
Diễn ra trong thời gian ngắn  
• Mối quan hệ giữa người hướng dẫn và thân chủ không quyết định hiệu quả  
hướng dẫn. Mà, kiến thức, sự hiểu biết của người hướng dẫn về lĩnh vực thân chủ  
có nhu cầu trợ giúp mới là yếu tố quyết định.  
Người tham vấn trong vai trò hướng dẫn thường tạo điều kiện thuận lợi cho buổi thảo  
luận và ít nhấn mạnh đến“tính chất tham vấn”– không tập trung vào khía cạnh tâm lý  
của thân chủ và không tìm kiếm nguồn lực từ chính thân chủ, mà trọng tâm của cuộc  
trò chuyện là tập trung vào sự hiểu biết của người giúp đỡ (không phải người được  
giúp đỡ).  
3. Tham vấn  
Khái niệm tham vấn (Counseling) nói đến sự trợ giúp tâm lí, được hiểu là: “Sự áp dụng  
nguyên tắc tâm lí, sức khỏe tinh thần hay nguyên tắc về sự phát triển con người thông  
qua các chiến lược can thiệp một cách có hệ thống về nhận thức, xúc cảm, hành vi, tập  
trung vào sự phát triển cá nhân lành mạnh, phát triển nghề nghiệp cũng như vấn đề  
bệnh lý”(Hiệp hội tham vấn Hoa Kỳ, 1997).  
Trong điều kiện hoạt động tham vấn ở Việt Nam còn tự phát và ai cũng có thể tự cho  
mình là người tham vấn, khi họ muốn làm công việc trợ giúp người khác, thì một định  
7
THAM VẤN CĂN BẢN  
nghĩa về tham vấn có thể phát biểu với những lời giải thích kèm theo như sau: ” Tham  
vấn là một quá trình tương tác giữa người tham vấn (người có chuyên môn và kỹ năng  
tham vấn, có các phẩm chất đạo đức của nghề tham vấn và được pháp luật thừa nhận) với  
thân chủ (còn gọi là thân chủ - người đang có vấn đề khó khăn về tâm lí muốn được giúp  
đỡ). Thông qua các kỹ năng trao đổi và chia sẻ tâm tình (dựa trên các nguyên tắc đạo đức  
và mối quan hệ mang tính nghề nghiệp), thân chủ hiểu và chấp nhận thực tế của mình, tự  
tìm lấy tiềm năng bản thân để giải quyết vấn đề của chính mình2 . Thuật ngữ tham vấn mô  
tả chính xác bản chất của nghề trợ giúp là giúp người khác đang có khó khăn tâm lí mà  
không hướng họ theo ý mình.  
Triết lý của nghề tham vấn là giúp thân chủ nhìn vấn đề như nó vốn có, giúp thân chủ  
tự giải quyết vấn đề của mình. Hay: Một nghề giúp người khác giúp đỡ chính họ! Người  
tham vấn là người soi sáng vấn đề, cung cấp thông tin, giải tỏa các xúc cảm gây ảnh  
hưởng tiêu cực đến các quyết định của thân chủ, chứ không hướng thân chủ theo ý của  
nhà tham vấn hay quyết định hộ vấn đề cho thân chủ.  
4. Trị liệu  
Trị liệu tâm lí chỉ là cách thức, phương pháp tác động của nhà tâm lí học, người tham  
vấn, nhà tâm thần học hay một nhân viên công tác xã hội được chứng nhận để hành  
nghề trợ giúp tâm lí. Trị liệu (Psychotherapy) nhằm mục đích thay đổi suy nghĩ, cảm xúc  
và hành vi của thân chủ từ kém thích nghi sang thích nghi hơn (trong tài liệu này khái  
niệm trị liệu được hiểu là trị liệu tâm lí).  
Mặc dù thuốc có thể được dùng kết hợp trong trị liệu tâm lí và là thành phần quan trọng  
nếu thân chủ bị bệnh thực thể, nhưng thuốc không thể được coi là thành phần của trị  
liệu tâm lí, bởi trị liệu tâm lí thực sự phụ thuộc vào việc thân chủ sử dụng những trải  
nghiệm tâm lí của mình để mang lại những thay đổi như mong đợi, chứ không phải là  
thuốc.  
Hiện nay, thuật ngữ tham vấn và trị liệu tâm lí được trình bày một cách gần như tương  
đồng trong các tài liệu về lý thuyết và thực hành trợ giúp tâm lý. Nhiều chuyên gia trợ  
giúp hàng đầu trên thế giới cho rằng tham vấn và trị liệu tâm lí được sử dụng như nhau,  
hoặc thay thế cho nhau (R. Richmon, C. Rogers, E. Neukrug…).  
Về trình độ thực hành, một người làm trị liệu tâm lí phải tốt nghiệp ở trình độ cao về  
ngành Tâm lí học, Tham vấn, Công tác xã hội, hoặc Tâm thần học và làm việc trong lĩnh  
vực sức khoẻ tâm thần hoặc thực hành ở các cơ sở tư nhân về tham vấn hôn nhân và  
gia đình.  
Ranh giới về công việc giữa người làm tham vấn tham vấn và trị liệu thường thể hiện  
một cách không rõ nét trong một chuỗi công việc giúp đỡ. Với công việc trợ giúp tâm lý,  
công việc nhẹ nhất (là hướng dẫn) đến nặng nhất (là trị liệu), trong đó, tham vấn nằm  
ở bậc trung gian. Người làm tham vấn có thể hoạt động như một người hướng dẫn (cố  
vấn) hay như một nhà trị liệu. Điều này phụ thuộc vào mức độ được đào tạo và thực  
hành của họ.  
2
Trần Thị Minh Đức, Bàn về thuật ngữ Tư vấn, Tạp chí Đại học và Giáo dục chuyên nghiệp, 2000.  
8
THAM VẤN CĂN BẢN  
Công tác hướng dẫn, tham vấn và trị liệu tâm lí  
trong một chuỗi trợ giúp liên tiếp  
Hướng dẫn  
(Guidance)  
Tham vấn  
(Counseling)  
Trị liệu Tâm lí  
(Psychotherapy)  
- Vấn đề ngắn hạn  
<--->  
<--->  
<--->  
<--->  
<--->  
<--->  
- Vấn đề dài hạn  
- Thay đổi hành vi  
- Vấn đề bên ngoài  
- Ngay bây giờ, tại đây  
- Mang tính ngăn ngừa  
- Có ý thức  
- Cấu trúc lại nhân cách  
- Vấn đề bên trong  
- Bây giờ và sau đó  
- Mang tính hồi phục  
- Vô thức  
- Tập trung vào sự gợi ý của người  
trợ giúp  
- Tập trung phát triển khả năng  
thay đổi của thân chủ  
<--->  
Xét trong một chuỗi hoạt động trợ giúp liên tiếp cho thân chủ, khái niệm hướng dẫn  
liên quan đến sự lựa chọn giải pháp thích hợp cho một vấn đề, như chọn nghề, chọn  
trường, chọn môn học và thường gắn với môi trường học đường, gắn với giáo dục,  
hướng nghiệp. Công tác hướng dẫn thường cho lời khuyên hơn là giúp thân chủ tạo ra  
sự thay đổi bằng chính khả năng của họ.  
Trong phạm vi thực hành, nhà tham vấn hay nhân viên công tác xã hội (cá nhân hoặc  
nhóm) làm việc nhiều hơn với bộ phận dân cư tương đối mạnh khoẻ về tinh thần tại  
các trung tâm, dịch vụ trợ giúp con người trong cộng đồng. Còn nhà tâm lí học lâm  
sàng thì làm việc với bộ phận nhỏ dân số có rối nhiễu về tâm lí ở bệnh viện, họ làm việc  
cùng với các y tá, bác sĩ tâm thần.  
5. Tư vấn  
Khái niệm Tư vấn (Consultation) được hiểu rất khác nhau ở Việt Nam. Trong từ điển  
tiếng Việt, tư vấn được giải thích là: “Đóng góp ý kiến về những vấn đề được hỏi đến,  
nhưng không có quyền quyết định”3.  
Hiệp hội tham vấn Hoa Kỳ (1998) định nghĩa tư vấn là: Mối quan hệ giữa một người trợ  
giúp chuyên nghiệp và một người (nhóm người hoặc một chỉnh thể xã hội) cần được  
giúp đỡ, trong đó nhà tư vấn cung cấp sự giúp đỡ cho thân chủ trong việc xác định và  
giải quyết một vấn đề liên quan đến công việc hoặc người khác.  
Nhà tư vấn được thuê như một người huấn luyện, người cố vấn “Có tri thức và các kỹ  
năng chuyên môn để giúp giải quyết vấn đề cho người khác”. Có thể diễn giải định  
nghĩa tư vấn như sau: Tôi (nhà tư vấn) và bạn (người đang thực hành công việc trợ giúp)  
nói về vấn đề bạn đang quan tâm với mục đích giúp bạn tăng cường kiến thức, kỹ năng  
để bạn làm việc hiệu quả với thân chủ của mình.  
Như vậy, mục tiêu của tư vấn là cung cấp kiến thức, kỹ năng và thái độ cho người đang  
làm thực hành công việc trợ giúp, giúp cho cá nhân đó làm việc hiệu quả hơn; nhìn  
nhận xuyên suốt các vấn đề và mối quan tâm trong việc trợ giúp của mình cho thân  
chủ, cá nhân trở nên khách quan hơn, tự tin hơn và dần trở nên độc lập trong việc  
tham vấn của mình.  
3
Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2000.  
9
THAM VẤN CĂN BẢN  
Tư vấn cũng có thể dành riêng cho cá nhân hoặc nhóm thông qua hoạt động phát triển  
đội ngũ (như phát triển cán bộ tham vấn). Trong vai trò tư vấn, người tham vấn làm việc  
với các sinh viên tâm lý học hay công tác xã hội, người tham vấn và nhân viên công tác  
xã hội mới ra trường, các cán bộ xã hội, cộng tác viên công tác xã hội, giáo viên, nhà  
quản lý, hay phụ huynh học sinh để lắng nghe, và chia sẻ những quan tâm của họ về  
đối tượng mà họ đang giúp đỡ, trong nỗ lực tìm tòi những cách thức làm việc mới, hiệu  
quả hơn với đối tượng của họ.  
Phân tích trường hợp  
Một học sinh lớp 7 đã gây gổ đánh bạn trong lớp, không chuẩn bị bài trước khi đến trường.  
Trong tư cách là cộng tác viên, nhà trường đề nghị anh/chị gặp học sinh này để giúp đỡ.  
Hãy giải thích công việc của anh chị trong các vai trò dưới đây:  
1. Người hướng dẫn  
2. Nhà tham vấn  
3. Nhà trị liệu  
4. Nhà tư vấn (người giám sát hoạt động tham vấn ở cơ sở)  
- Giải thích trường hợp:  
Một nhà tham vấn có thể cùng lúc thực hiện nhiều vai trò khác nhau (đặc biệt khi làm  
việc trong lĩnh vực tham vấn học đường). Điều này phụ thuộc vào mức độ chuyện môn  
họ được đào tạo. Một nhà tham vấn lành nghề họ có thể thực hiện tất cả các vai trò trên.  
Với ví dụ nêu ra, ta sẽ thấy các cách thức họ làm việc rất khác nhau:  
Trong vai trò hướng dẫn, họ có thể gặp học sinh đó, gặp các bạn học cùng lớp, gặp giáo  
viên, gặp cha mẹ học sinh … để làm rõ vấn đề của học sinh này. Công việc của người  
hướng dẫn chủ yếu là cung cấp thông tin, đưa lời khuyên, giảng giải cho học sinh các  
chuẩn mực học đường v.v… Công tác hướng dẫn được thực hiện bởi bất cứ giáo viên  
nào trong trường.  
Trong vai trò tham vấn, họ chỉ gặp học sinh, làm rõ hành vi của học sinh trong mối quan  
hệ với nhận thức, xúc cảm… của học sinh đó; cân nhắc hành vi của học sinh trong mối  
quan hệ với những rối loạn tâm lý. Người làm công tác tham vấn có thể gặp nhưng  
người khác, như cha mẹ học sinh hay giáo viên để làm rõ vấn đề của học sinh, nhưng  
phải thông báo cho học sinh về các cuộc gặp gỡ này và cần nhận được sự đồng ý của  
học sinh. Cuộc tham vấn hướng đến việc cung cấp các kỹ năng xã hội cho học sinh. Tại  
học đường, nhiệm vụ của các người tham vấn là gặp tất cả học sinh theo các hình thức  
giúp khác nhau (làm việc cá nhân, làm việc nhóm nhỏ và nhóm lớn) với mục tiêu giúp  
các em phát triển các kỹ năng cá nhân, kỹ năng xã hội, học tập và hướng nghiệp.  
Trong vai trò trị triệu tâm lý, người tham vấn sẽ sử dụng trắc nghiệm để đánh giá học sinh,  
nếu họ nhận thấy học sinh này bị rối nhiễu tâm lý. Với những học sinh có rối nhiễu tâm lý  
(thường họ chỉ làm việc với học sinh có rối nhiễu tâm lý), như trầm cảm, lo âu, tăng động  
giảm chú ý… họ sẽ thảo luận cùng cha mẹ học sinh và gửi học sinh đến các bệnh viện  
tâm thần hoặc các cơ sở thăm khám tâm lý để có các nhà chuyên môn giúp đỡ.  
10  
THAM VẤN CĂN BẢN  
Trong vai trò tư vấn, nhà tham vấn (có tay nghề cao) sẽ chỉ gặp gỡ các giáo viên và cha  
mẹ học sinh. Công việc của họ chủ yếu là nâng cao kiến thức, kỹ năng cho những người  
giúp đỡ trực tiếp cho học sinh, để những người này làm việc tốt hơn với học sinh của  
mình.  
Ví dụ về các vị trí làm việc nêu trên chỉ dành cho các nhà tham vấn chuyên nghiệp ở các  
nước có nền khoa học về trợ giúp tâm lý phát triển. Xét riêng ở Việt Nam, các cán bộ xã  
hội, hay nhà tâm lý học làm việc ở trường học, hay làm việc ở cộng đồng, với mức độ  
đào tạo như hiện nay, khả năng làm việc của họ chỉ như người làm công tác hướng dẫn,  
hoặc như người làm tham vấn - với điều kiện họ được tập huấn về tham vấn một cách  
chuyên nghiệp. Tuy nhiên, các nhân viên công tác xã hội họ đang thực hiện tất cả các  
vị trí trên mà không lường được hết trách nhiệm và hậu quả trong công việc của mình!  
II. MỤC TIêU, NHIỆM VỤ THAM VẤN  
1. Mục tiêu tham vấn.  
Các cá nhân khi có nhu cầu trợ giúp tùy vào các mục tiêu họ đặt ra mà người tham vấn  
xác định các thức tiến hành và thời gian. Mục tiêu tham vấn luôn luôn được xác định từ  
thân chủ. Với một số thân chủ, sự trợ giúp đơn thuần chỉ là giải tỏa cảm xúc; nhưng với  
thân chủ khác, mục tiêu tham vấn không đơn thuần chỉ là giải tỏa cảm xúc, hay nhận  
biết vấn đề của mình, hoặc biết cách đưa ra các biện pháp đối phó; mà hơn thế, họ cần  
thay đổi hành vi. Do đó, người tham vấn phải dành nhiều thời gian và cân nhắc các các  
phương pháp tiếp cận để giúp thân chủ đạt được cả bốn mục tiêu tham vấn của họ.  
Các mục tiêu chính của tham vấn bao gồm:  
• Giúp thân chủ giảm bớt các cảm xúc tiêu cực.  
• Giúp thân chủ tăng thêm hiểu biết về bản thân và hoàn cảnh của họ. Giúp thân  
chủ biết chấp nhận vấn đề của mình như nó đang có.  
• Giúp thân chủ đưa ra các quyết định lành mạnh và có khả năng xử lí được vấn đề.  
• Hướng dẫn thân chủ thi hành các quyết định của họ và có khả năng dự phòng các  
tình huống tương tự xảy ra trong tương lai.  
2. Nhiệm vụ tham vấn  
Nhiệm vụ chung nhất của tham vấn là xác định vấn đề và nguyên nhân gây ra; chẩn  
đoán, đánh giá vấn đề và hướng dẫn thực hiện. Các nhiệm vụ cụ thể:  
• Làm thư giãn cảm xúc của thân chủ: Khi thân chủ bị căng thẳng bởi vấn đề, nhà  
tham vấn làm thư giãn cảm xúc của thân chủ bằng cách lắng nghe tích cực, có  
được sự ủng hộ và chấp nhận thái độ của thân chủ, hỗ trợ và giúp đỡ để thân chủ  
được giải tỏa cảm xúc. Các nhà tham vấn có thể thực hiện một hệ thống giúp đỡ  
liên quan đến các dịch vụ hỗ trợ về luật pháp, chính sách xã hội, y tế, giáo dục,  
hoặc cung cấp thông tin liên quan đến sự hưởng lợi của thân chủ.  
• Giúp thân chủ nhận diện được vấn đề, cải thiện những suy nghĩ tiêu cực không  
hợp lí: Nhà tham vấn thu thập thông tin, sàng lọc các nguyện vọng, nhu cầu của  
thân chủ; cung cấp thông tin để giảm thiểu những quan niệm lệch lạc, những  
suy nghĩ không đúng; giúp thân chủ xác định vấn đề quan trọng; giúp thân chủ  
11  
THAM VẤN CĂN BẢN  
chịu trách nhiệm trước vấn đề của mình và nhận biết tiềm năng cũng như hạn chế  
của mình.  
• Giúp thân chủ đưa ra các quyết định ưu tiên: Nhà tham vấn cùng thân chủ phân  
tích những khó khăn, tìm ra các giải pháp hành động và các giải pháp thay thế;  
giúp sàng lọc hậu quả của mỗi quyết định được đưa ra và thay thế các giải pháp để  
tìm ra được các giải pháp hiệu quả hơn. Nhà tham vấn hướng dẫn thân chủ đưa ra  
các quyết định hành động cụ thể và biết cách quản lí vấn đề.  
• Giúp thân chủ có kế hoạch thay đổi hành vi: Khi các giải pháp đã được lựa chọn,  
nhà tham vấn khuyến khích thực hiện các kế hoạch họ đề ra. Trang bị cho thân chủ  
các kĩ năng sống phù hợp để có thể thích nghi với hành vi hay điều kiện mới.  
Cuộc tham vấn được gọi là thành công khi thân chủ cảm thấy có thể đương đầu với vấn  
đề của mình mà không cần đến sự trợ giúp của người tham vấn hay lệ thuộc vào người  
khác.  
III. NGUyêN TắC ĐạO ĐứC TRONG THAM VẤN  
Đạo đức là những quy tắc quy định hành vi phải theo trong quan hệ giữa người với  
người, giữa cá nhân với xã hội, tùy theo thể chế chính trị xã hội mà các cá nhân sống  
trong đó.  
Đạo đức trong tham vấn là thước đo quyết định xem hành vi của nhà tham vấn trong  
quá trình tham vấn có đúng, có tốt; có làm hại đến thân chủ hay không. Các nguyên tắc  
đạo đức nghề nghiệp cung cấp sự hướng dẫn cho các nhân viên trong ngành trợ giúp,  
giúp làm rõ những trách nhiệm của họ với các thân chủ, với xã hội để mang lại sự yên  
tâm cho các cá nhân và xã hội và giúp các nhân viên duy trì tính chính trực nghề nghiệp  
và bảo vệ nghề nghiệp của mình. Dưới đây là một số nguyên tắc đạo đức cơ bản:  
1. Giữ bí mật  
Mỗi thân chủ đều có quyền được bảo vệ bí mật những thông tin thuộc về cá nhân. Vì  
vậy, thông tin của thân chủ nói ra phải được đảm bảo giữ bí mật và thân chủ có quyền  
trông đợi một mối quan hệ tin tưởng giữa thân chủ và người tham vấn dựa trên các  
chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.  
Tuy nhiên, việc giữ bí mật luôn có giới hạn. Người tham vấn cần cho thân chủ biết vể  
những giới hạn của việc giữa bí mật ngay khi bắt đầu thực hiện sự giúp đỡ, trong đó lưu  
ý về việc không giữ bí mật khi:  
- Thân chủ cho phép nói ra vấn đề của họ  
- Thân chủ có ý định tự hủy hoại bản thân và hủy hoại người khác,  
- Nhân viên công tác xã hội bị gọi ra tòa để hỏi về chính vấn đề đó.  
- Tham vấn cho thân chủ là người chưa thành niên (nhà tham vấn không giữ bí mật  
khi cha mẹ thân chủ muốn biết nội dung cuộc tham vấn).  
Việc giữ bí mật cho thân chủ thể hiện sự tôn trọng tính riêng tư, sự bảo vệ và ủng hộ  
thân chủ. Sự bảo mật khuyến khích thân chủ tin tưởng vào mối quan hệ tham vấn, do  
đó họ sẽ chia sẻ nhiều hơn vấn đề của mình.  
12  
THAM VẤN CĂN BẢN  
2.Tôn trọng thân chủ  
Tôn trọng trong tham vấn được hiểu là nhà tham vấn tin tưởng thân chủ như một con  
người có giá trị bất kể địa vị, đạo đức, hành vi, tình cảm tích cực hay tiêu cực của thân  
chủ. Tôn trọng là cho mọi người quyền là chính bản thân họ với các quan điểm, ý nghĩ  
và những cảm giác riêng của họ. Tôn trọng cũng đồng nghĩa với việc nhà tham vấn tin  
tưởng vào khả năng thay đổi của thân chủ từ chính năng lực của thân chủ. Mặt khác,  
người tham vấn không có ý để thân chủ lệ thuộc vào mình. Các thân chủ khi được  
tôn trọng họ sẽ được tiếp cận với các dịch vụ tham vấn mà không bị định kiến về con  
người, tính cách, tôn giáo hoặc lề thói.  
- Tin tưởng vào khả năng tự giải quyết của thân chủ  
Mỗi người đều có quyền lựa chọn và chịu trách nhiệm về các quyết định của mình.  
Vì vậy việc cho lời khuyên mang tính áp đặt cá nhân, hay làm hộ thân chủ sẽ không  
giúp thân chủ trưởng thành. C. Rogers cho rằng : “Thân chủ là chuyên gia giỏi nhất  
về lĩnh vực của họ”. Vì vậy thân chủ có khả năng cao nhất trong việc đưa ra các quyết  
định cho mình. Thái độ tin tưởng của người tham vấn và tăng cường năng lực cho  
thân chủ sẽ giúp thân chủ nhận ra giá trị riêng của bản thân, để chịu trách nhiệm lựa  
chọn việc tồn tại và phát triển của mình. Tuy nhiên, trong trường hợp thân chủ bị rối  
loạn tâm thần, suy nhược thần kinh và không làm chủ được hành vi của mình hoặc  
có xu hướng huỷ hoại bản thân hay người khác… thì nhà tham vấn, dưới sự hỗ trợ  
của người giám sát chuyên môn vẫn có thể chủ động đưa ra một vài hướng để giải  
quyết cùng với thân chủ.  
3. Không gắn mình vào mối quan hệ cá nhân với thân chủ  
Quan hệ tham vấn là quan hệ nghề nghiệp, vì vậy nhà tham vấn cần tránh mọi quan hệ  
ngoài công việc trợ giúp thân chủ. Các quan hệ hai chiều (bạn bè, người yêu, họ hàng...)  
với thân chủ có thể làm ảnh hưởng đến tính khách quan khi thực hành trợ giúp. Nhà  
tham vấn tránh hoặc kết thúc quan hệ tham vấn khi có các mối quan hệ nằm ngoài mối  
quan hệ tham vấn và có trách nhiệm báo cho những người có liên quan, tham khảo ý  
kiến của người giám sát và đồng nghiệp. Người tham vấn cần thường xuyên chú ý đến  
vấn đề luật pháp, quyền công dân và quyền con người của thân chủ.  
Vấn đề lợi dụng và quấy rối tình dục thân chủ và những người khác được đề cập một  
cách đặc biệt trong nguyên tắc người tham vấn không gắn mình vào mối quan hệ cá  
nhân với thân chủ.  
4. Bảo vệ phúc lợi của thân chủ  
Những quyền lợi cơ bản của thân chủ cần phải được tính đến đối với một dịch vụ tham  
vấn là: Có quyền biết về danh tính, bằng cấp chuyên môn, kinh nghiệm làm việc của nhà  
tham vấn và được lựa chọn người trợ giúp cho mình; được quyền biết về tiến trình và  
cách thức tiếp cận đối với vấn đề của thân chủ; được nhà tham vấn thông báo về những  
hạn chế và nguy cơ có thể xảy ra trong quá trình tham vấn; có quyền được biết về việc  
lưu trữ thông tin, ghi âm hay sự đảm bảo về bí mật về thông tin khi chia sẻ với nhân viên  
công tác xã hội và họ có quyền được thông báo trước trong trường hợp thông tin về họ  
buộc phải chia sẻ với những thân chủ khác và thân chủ có quyền tiếp tục hay từ chối  
dịch vụ tham vấn.  
13  
THAM VẤN CĂN BẢN  
IV.THAM VẤN NHóM VÀ THAM VẤN GIA ĐÌNH  
Cuốn tài liệu này tập trung vào các kiến thức và kỹ năng căn bản về tham vấn cá nhân.  
Vì vậy, phần trình bày về tham vấn nhóm và tham vấn gia đình chỉ giới thiệu một cách  
chung nhất về hai hình thức tham vấn này.  
1.Tham vấn nhóm  
Tham vấn nhóm là một hình thức hỗ trợ nhiều người có cùng vấn đề giống nhau, cần  
được giúp đỡ. Theo đó, các cá nhân sẽ được tăng cường nhận thực và cải thiện tình  
huống của mình.  
Tham vấn nhóm thường hướng tới một số mục đích sau:  
- Giúp các thành viên giải quyết các vấn đề và các mâu thuẫn trong cuộc sống của họ.  
- Giúp các thành viên phát triển sự tự nhận thức và có những thay đổi về nhận thức,  
cảm xúc;  
- Phát triển mối quan hệ hài hoà (trao, nhận những vấn đề tốt - xấu) giữa các thành  
viên trong nhóm, giữa các thành viên với người tham vấn nhằm mục đích tăng  
cường sự tham gia của họ trong nhóm.  
- Giáo dục các thành viên của nhóm để hoàn thiện bản thân.  
Tham vấn nhóm có một số ưu điểm nổi trội là: 1/ Tạo điều kiện để cá nhân có những tình  
cảm gắn bó, sự chấp nhận, có những cơ hội để hiểu người khác; cơ hội để quan sát, bắt  
chước và được khích lệvề mặt xã hội; cơ hội cho việc trải nghiệm những vấn đề chung  
của mọi người. Những điều này cho phép mỗi thân chủ trong bối cảnh nhóm sống lại  
những quan hệ tốt đẹp, vượt qua những cảm xúc tiêu cực, nhận diện lại nó và điều  
chỉnh. 2/ Bồi dưỡng ý thức hợp tác trong cộng đồng, tập thể ở thân chủ. 3/ Tạo ra những  
thay đổi về nhận thức, cách cư xử và sự phát triển tính cách của mỗi thân chủ và 4/ Hỗ  
trợ thân chủ trong việc ra quyết định và giải quyết vấn đề.  
Nhìn chung, tham vấn nhóm thích hợp cho những thân chủ có vấn đề tâm lí do nghiện  
các chất kích thích, do béo phì, những thân chủ có khủng hoảng lứa tuổi và khủng  
hoảng khác hoặc có stress và những chấn thương tâm thần. Tham vấn nhóm không  
thích hợp với một số người quá nhút nhát, tự ti; những người không có khả năng diễn  
đạt ngôn ngữ và sợ hãi khi giao tiếp.  
Một trong những yêu cầu cho sự thành công của tham vấn nhóm là người tham vấn  
phải biết cách điều hành nhóm. Cụ thể những thao tác dưới đây cần được thực hiện đối  
với một người tham vấn nhóm:  
- Nắm vững các giai đoạn phát triển của nhóm để có thể đưa ra những cách thức tác  
động phù hợp, hiệu quả với từng giai đoạn đó.  
- Lên kế hoạch trước cho mỗi buổi sinh hoạt nhóm: Hôm nay nhóm sẽ làm gì? Làm  
như thế nào? Và hiệu quả sẽ đạt được là gì?  
- Ghi lại bầu không khí tham vấn để đánh giá mức độ vấn đề và lựa chọn cách thức  
tác động.  
- Trước khi vào tham vấn phải thảo luận những quy định sinh hoạt dựa trên ý kiến số đông.  
14  
THAM VẤN CĂN BẢN  
- Duy trì kỉ luật, quy tắc chặt chẽ ngay từ đầu như đến đúng giờ, để đồ đạc đúng nơi  
quy định…  
- Mỗi nhóm tham vấn trung bình có từ 6 đến12 người  
- Tổ chức sinh hoạt vui chơi cũng là một hình thức trị liệu.  
Tham vấn nhóm được thực hiện theo một tiến trình nhất định, thường trải qua ba giai  
đoạn: thành lập nhóm, sinh hoạt nhóm (hay còn gọi là tham vấn nhóm) và giai đoạn  
cuối cùng là kết thúc tham vấn nhóm.  
Quá trình tham vấn nhóm đòi hỏi người tham vấn thành thục một số kỹ năng như:  
Kỹ năng điều hành nhóm, Kỹ năng lắng nghe tích cực, Kỹ năng đặt câu hỏi xoay vòng  
và kết nối, Kỹ năng ngăn cản, Kĩ năng trấn át và khích lệ, Kỹ năng tóm lược và tổng  
hợp.v.v…  
Tham vấn nhóm là cơ hội để thân chủ tái hoà nhập vào cuộc sống thực tế, nó cho phép  
thân chủ đương đầu với những người khác và đòi hỏi các thân chủ phải có sự hiểu biết  
và tôn trọng lẫn nhau trong nhóm.  
2. Tham vấn gia đình  
Tham vấn gia đình là một hoạt động trợ giúp các gia đình hài hoà trong những mối  
quan hệ, giúp các thành viên gia đình phát huy vai trò mới của họ và tạo nên sức mạnh  
của cả gia đình.  
Mục tiêu của tham vấn gia đình:  
- Giúp sắp xếp lại hệ thống tương tác trong gia đình nhằm tăng cường khả năng  
thích ứng của gia đình trước tác động của môi trường.  
- Giúp các thành viên trong gia đình thay đổi những cách ứng xử cố hữu để cải  
thiện bầu không khí bế tắc trong gia đình.  
- Giúp các thành viên trong gia đình nhận biết những tiềm năng mới và khai thác  
các tiềm năng đó để giải quyết, đối phó với căng thẳng, xung đột.  
Tham vấn gia đình đòi hỏi người tham vấn nắm vững về bầu không khí và trạng thái  
tâm lí của gia đình thân chủ, thông qua một số chỉ báo: Các thành viên trong gia đình  
có sự tin tưởng với nhau như thế nào? Họ đối lập nhau ở mức độ nào? Các thành viên  
trong gia đình có làm bận tâm lẫn nhau vì những vấn đề không chính đáng? Mức độ  
duy trì sự bền vững một cách mềm dẻo và có những ranh giới nhất định giữa các thành  
viên trong gia đình như thế nào? Tất cả những mối quan hệ trên có thể được nhà tham  
vấn phân tích thông qua cây phả hệ - Cây gia đình.  
Mục đích của việc giải thích cây gia đình là nhấn mạnh đến quan điểm coi các mối quan  
hệ trong gia đình thường ảnh hưởng tới cách nhận thức và hành vi ứng xử của mỗi cá  
nhân và có ảnh hưởng lớn đến sự trưởng thành của mỗi con người. Việc người tham  
vấn nắm rõ cây phả hệ sẽ giúp họ nắm được các mối quan hệ trong gia đình thân chủ,  
đặc biệt là các mối quan hệ của thân chủ với những người trong gia đình, qua đó có  
thể giúp thân chủ giải quyết hài hòa các mối quan hệ trong gia đình, làm giảm thiểu  
các xung đột trong gia đình.  
15  
THAM VẤN CĂN BẢN  
Cây gia đình (cây phả hệ)  
Bác  
Cô  
Dì  
Em  
12 t  
TC  
17t  
Nam  
- Li hôn  
- Li thân  
Nhìn vào cây gia đình trên, có thể thấy thân chủ (một thanh niên 17 tuổi) có những mối  
liên hệ xung đột với bố, em và ông nội. Trong gia đình, người mà cậu cảm thấy được  
quan tâm, yêu thương chỉ là mẹ. Việc nhà tham vấn trò chuyện cụ thể về những vấn đề  
xung đột của thân chủ với bố, em trai và ông nội của mình, cách thân chủ lý giải về các  
sự kiện liên quan đến những người này, cũng như sự bày tỏ những cảm xúc tiêu cực đi  
kèm… sẽ giúp thân chủ sáng rõ hơn về vấn đề của mình và giúp thân chủ tìm cách cải  
thiện các mối quan hệ trong gia đình.  
Ngoài những kỹ năng chung thường sử dụng trong tham vấn, như quan sát, lắng nghe,  
thấu hiểu, đặt câu hỏi khuyến khích, thách thức đối đầu, điều phối sự tham gia của các  
thành viên và kỹ năng giao nhiệm vụ cho các thành viên..., nhân viên công tác xã hội có  
thể sử dụng một số chiến lược cho sự tái cấu trúc gia đình, như: Cơ cấu lại vai trò của các  
thành viên, định hướng rõ ràng và giao nhiệm vụ, kỹ thuật làm mất cân bằng, hướng  
dẫn sử dụng mệnh đề “Tôi”khi trò chuyện; đặt câu hỏi xoay vòng.v.v…  
16  
THAM VẤN CĂN BẢN  
Tham vấn gia đình có một số ưu điểm: Giúp cho mỗi thành viên trong gia đình hiểu biết  
hơn về bản thân, về các thành viên khác và về những hành vi ứng xử trong mối tương  
quan với người khác, từ đó tạo ra sự thay đổi, cải thiện để môi trường gia đình trở nên  
lành mạnh, giảm nguy cơ duy trì và phát triển hành vi rối nhiễu. Tham vấn gia đình đặc  
biệt hữu dụng trong trị liệu cho trẻ em hay vợ/chồng mà nguyên nhân phát sinh và duy  
trì rối nhiễu là từ gia đình. Ngoài ra, tham vấn gia đình hiệu quả sẽ tạo được môi trường  
thuận lợi hơn cho thân chủ có thể nhanh chóng bình ổn và “lớn lên”.  
Nhược điểm của tham vấn gia đình: Không dễ thực hiện do trong thực tế không phải  
thành viên nào trong gia đình cũng sẵn sàng cho các cuộc tiếp xúc gia đình với người  
tham vấn về vấn đề của gia đình. Tham vấn gia đình đạt hiệu quả đòi hỏi người tham  
vấn nắm vững những đặc trưng tâm lý – xã hội trong các giai đoạn phát triển của đời  
sống gia đình. Ở mỗi giai đoạn này, người tham vấn nắm rõ các sắc thái chuyển đổi tình  
cảm của các thành viên và các mối quan hệ trong gia đình. Người tham vấn giúp các  
thành viên nhận thức rõ rằng bất kỳ kỹ thuật giao tiếp nào cũng phải mất một thời gian  
nhất định để có thể thích nghi với những lối ứng xử và trách nhiệm mới của các thành  
viên trong gia đình.  
17  
PHẦN  
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG  
CỦA THAM VẤN TÂM LÝ  
2
- Xin cảm ơn về những gì hôm nay – Cô thì thầm.  
- Cô không phải cám ơn gì tôi cả. Những gì đến với cô hôm nay là công trình của cô. Tôi  
có thể vỗ vào vai cô chỉ cảnh mặt trời đang lặn nhưng cô có thể không nhìn vì không có  
thời gian. Hoặc giả cô có thể ngoảnh lại và mải mê với cảnh đẹp bầu trời. Thế đấy! Việc cô  
ngắm nhìn mặt trời lặn là cô đang làm cho cô. Nếu cô quay lại ngắm nhìn, đó là vì cô đã  
chọn làm việc này… Điều tôi đã làm, điều người ta có thể làm là vỗ vào vai cô.  
Barry Neilkaufman  
I.THÂN CHỦ VÀ NAN ĐỀ THAM VẤN  
1. Thân chủ  
Thân chủ là một người/một nhóm người bình thường, người có vấn đề mất cân bằng,  
hoặc người có rối loạn tâm lí.  
Trong tham vấn chuyên nghiệp, một cá nhân trở thành thân chủ khi: 1/ Biết là mình có  
vấn đề và nhận biết được vấn đề của mình. 2/ Biết rằng mình không tự giải quyết được  
vấn đề đó. 3/ Chấp nhận nói ra vấn đề của mình một cách khách quan nhất để được sự  
giúp đỡ. 4/ Sẵn sàng đón nhận cách nhìn nhận mới và thay đổi hành vi, cách sống mới  
(nếu cần). 5/ Chấp nhận tốn kém thời gian, công sức hay tiền bạc cho việc giải quyết vấn  
đề của mình.  
18  
THAM VẤN CĂN BẢN  
Thực tế ở Việt Nam, các cán bộ xã hội, nhà tâm lý học làm việc với các thân chủ, trong  
số đó, không phải thân chủ nào cũng ý thức được vấn đề của mình và tự nguyện tìm  
kiếm sự trợ giúp. Ở cộng đồng, các nhân viên xã hội nghe ngóng, tìm kiếm trẻ em “có  
vấn đề” để giúp đỡ. Ở trường học, nhiều học sinh buộc phải gặp nhà tham vấn do vi  
phạm kỷ luật. Các cuộc tham vẫn đôi khi diễn ra trong không khí“bị ép buộc phải gặp  
nhà tham vấn”.  
Carl Rogers (1951), cho rằng, thân chủ là người tự chịu trách nhiệm, dù tìm đến một  
ai đó để nhờ giúp đỡ, song sự quyết định vẫn thuộc về chính thân chủ. Thân chủ là  
chuyên gia giỏi nhất về vấn đề của mình nên người tham vấn thường nhìn nhận thân  
chủ là người có giá trị; độc đáo; có hiểu biết và luôn muốn thay đổi với sự hỗ trợ của  
người tham vấn.  
Thông thường khi một người có vấn đề không tự giải quyết được mới cần đến sự trợ  
giúp của người khác. Trong tham vấn, thân chủ được nhìn nhận là một người chủ động,  
tích cực, làm chủ bản thân, tự quyết định vấn đề của bản thân với sự giúp đỡ của cán  
bộ tham vấn. Thân chủ là người duy nhất biết rõ về mình và vấn đề của mình, nhưng  
luôn tự hỏi phải làm gì bây giờ, đôi khi thân chủ rơi vào tình trạng hoang mang không  
ý thức được tâm trạng và hành vi của mình. Hoặc thân chủ biết phải làm gì nhưng dễ  
nản chí vì thấy nhiều chướng ngại phải vượt qua, hoặc thiếu tự tin về mình. Vì vậy họ  
cần đến sự giúp đỡ chuyên nghiệp để tự tin giải quyết vấn đề của mình. Sự tiến bộ của  
thân chủ luôn bắt đầu và kết thúc từ chính sự nỗ lực của thân chủ nên quá trình tham  
vấn phải đặt sự tin tưởng hoàn toàn vào thân chủ, chấp nhận toàn bộ con người thân  
chủ để thân chủ tìm ra đường đi và quyết định vấn đề của chính mình.  
2
Trong các ngành trợ giúp, ví dụ như ngành Công tác xã hội (đặc biệt là ở Việt Nam), đối  
tượng hưởng lợi là những người dễ bị tổn thương tâm lí, họ không tự vượt qua được  
các vấn đề của họ, do nghèo khó, bệnh tật… Những nhóm người thuộc diện “bảo trợ  
xã hội”, họ được hưởng miễn phí dịch vụ trợ giúp của xã hội. Vì vậy, khái niệm “ thân  
chủ” (người chủ) hay “ thân chủ “ (thượng đế) đối với nhóm người xin trợ giúp này đôi  
khi không thật sự phù hợp, vì dịch vụ trợ giúp cho họ hiện nay là miễn phí. Đôi khi  
người ta sử dụng khái niệm “Người xin trợ giúp”4, “Người nhận công tác xã hội”5 , hoặc  
gọi là“Đối tượng”, trong khi với các bác sĩ tâm thần, khái niêm“bệnh nhân”lại luôn được  
sử dụng. Trong tài liệu này, chúng tôi sử dụng thuật ngữ “Thân chủ”hoặc đối tượng để  
chỉ những người được trợ giúp tâm lí.  
2.Vấn đề của thân chủ  
Vấnn đề của thân chủ được hiểu là vấn đề nan giải của người có nhu cầu cần sự giúp  
đỡ của người làm tham vấn. Trong tham vấn, thuật ngữ “Nan đề” được hiểu là vấn đề  
khó khăn tâm lí. Với người có nan đề, nếu họ không tự giải quyết được, họ sẽ mất cân  
bằng về tâm lí, thậm chí kéo theo những rối loạn về hoạt động sinh lý và ứng xử rối loạn  
về hành vi xã hội. Với những rối loạn tâm lí phức tạp, sự trợ giúp cần mang tính nghề  
nghiệp với sự giúp đỡ của người tham vấn hoặc nhà tâm lí học lâm sàng chuyên nghiệp.  
Thông thường, các sự kiện gây ra nan đề làm xáo trộn cuộc sống cá nhân có thể là: Kinh  
tế bị sa sút đột ngột hoặc kéo dài vượt ngưỡng chịu đựng tâm lý và sức khỏe của cá  
nhân; những thất bại trong nghề nghiệp, học tập, sự bất lực trong tình cảm và sự kém  
4 Daigniault Michel (Nguyễn Phương Hoà & Lưu Song Hà dịch), Giáo trình mối quan hệ trợ giúp, Viện tâm lí học,  
2001.  
19  
THAM VẤN CĂN BẢN  
thích nghi; các áp lực xã hội liên quan đến môi trường sống, lối sống, văn hóa, tôn giáo;  
hay những cạnh tranh, chèn ép, kì thị... mà có thể cá nhân là nạn nhân, người chứng kiến  
hoặc cảm nhận mình là nạn nhân.  
Về phía cá nhân, những người có tính thụ động, những người không có tính chịu trách  
nhiệm, người thiếu nghị lực và kiến nghị trong hành động, hay dựa dẫm vào các quyết  
định của người khác hay những người làm việc ngẫu hứng, hành động thường không  
theo mục tiêu; người hay đổ lỗi, không cân bằng trong đời sống lí trí và tình cảm, người  
có các suy nghĩ, niềm tin tiêu cực về cuộc sống và về bản thân… sẽ dễ có nan đề hơn  
những người khác.  
Mặt khác, quan niệm có nan đề hay không là tùy thuộc vào cách nhìn nhận của mỗi cá  
nhân. Có những sự việc, hiện tượng đối với ai đó rất quan trọng, gây nên một sự bất ổn  
ở họ, vì vậy họ cần đến sự giúp đỡ của người tham vấn. Nhưng vẫn sự việc đó, đối với  
người khác “nó” không gây ra vấn đề gì và không làm họ bận tâm. Vì thế họ không cần  
đến một sự trợ giúp bên ngoài.  
Xét từ góc độ triệu chứng và đánh giá xã hội, có thể kể ra một số biểu hiện của nan đề  
cần sự trợ giúp về góc độ tâm lý, đó là:  
• Cá nhân luôn không hài lòng và thấy khó chịu vì mối quan hệ nào đó.  
• Cá nhân thấy buồn chán, lo âu, căng thẳng đau khổ, sợ hãi, những điều này lặp đi,  
lặp lại và ảnh hưởng đến hoạt động của thân chủ.  
• Cá nhân xuất hiện cá tính hiếm thấy và không có trong hành động tiền lệ.  
• Cá nhân nói nhiều trong một thời điểm và luôn cảm thấy không hài lòng.  
• Cá nhân nhận thức phi lí và thể hiện ở hành động mà người khác cho là không bình  
thường.  
•
Cá nhân thường có hành động gây bất bình với người xung quanh.  
• Cá nhân không thích nghi hoặc khó thích nghi, luôn hành động ảnh hưởng đến mục  
tiêu của mình và những người xung quanh.  
• Cá nhân luôn cảm thấy đau khổ, dằn vặt hay thất vọng với điều kiện, hoàn cảnh  
hiện tại của bản thân  
Khi cá nhân ý thức được nan đề của mình và với sự giúp đỡ chuyên môn, họ sẽ vượt qua  
được những khó khăn của bản thân, đương đầu được với thực tế gây ra rối nhiễu tâm lí.  
Trong thực tế, nhiều khi cá nhân không nhận ra được là mình đang có nan đề do thiếu  
hiểu biết, do không thừa nhận sự “không bình thường” nơi mình, hoặc do không muốn  
người ngoài biết những rắc rối của mình. Việc lưu giữ những cảm xúc căng thẳng sẽ làm  
xuất hiện những hành vi mang tính phòng vệ (hành vi tự bảo vệ), hoặc gây ra những  
hành vi chống đối mang tính huỷ hoại. Trong trường hợp nặng, cơ thể không còn khả  
năng chống đỡ sẽ bị rối loạn cả về thực thể và tâm lí.  
Phần trình bày một số biểu hiện về hành vi phòng vệ của cá nhân khi có những vấn đề  
căng thẳng dưới đây chỉ nhằm mục đích giúp các nhân viên công tác xã hội tăng cường  
hiểu biết về những mâu thuẫn giữa cái ý thức và vô thức trong biểu hiện tâm lý của con  
người, chúng đặc biệt xuất hiện khi có nan đề, mà không nhằm tới việc hướng dẫn thực  
hành về những cơ chế phòng vệ này.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 61 trang baolam 20740 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu hướng dẫn thực hành (Dành cho cán bộ xã hội cấp cơ sở): Tham vấn căn bản", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_huong_dan_thuc_hanh_danh_cho_can_bo_xa_hoi_cap_co_s.pdf