Giáo trình môn Công tác xã hội với trẻ em
BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH
GIÁO TRÌNH
MÔ ĐUN: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ EM
NGHỀ: CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG/TRUNG CẤP
Ban hành kèm theo Quyết định số:
/QĐ-… ngày…….tháng….năm .........
………… của……………………………….
Ninh Bình, năm 2018
TUYÊN BỐ BẢN QUYỀN
Tài liệu này thuộc loại sách giáo trình nên các nguồn thông tin có thể được
phép dùng nguyên bản hoặc trích dùng cho các mục đích về đào tạo và tham khảo.
Mọi mục đích khác mang tính lệch lạc hoặc sử dụng với mục đích kinh
doanh thiếu lành mạnh sẽ bị nghiêm cấm.
LỜI GIỚI THIỆU
Trẻ em là đối tượng đặc biệt, là thuật ngữ để chỉ một nhóm xã hội thuộc độ
tuổi trong giai đoạn đầu của sự phát triển con người. Đó là những người chưa
trưởng thành, còn non nớt về cả thể chất lẫn trí tuệ, dễ bị tổn thương .Về vị thế xã
hội, trẻ em là một nhóm xã hội ngày càng có khả năng hội nhập với tư cách là
những chủ thể tích cực, có ý thức, nhưng cũng là đối tượng cần được gia đình và
xã hội quan tâm bảo vệ, chăm sóc, giáo dục.
Giáo trình Công tác xã hội với trẻ em được biên soạn theo chương trình
dạy nghề Công tác xã hội gồm 4 bài:
Bài 1. Những vấn đề chung về sự phát triển và quyền trẻ em
Bài 2. Bảo vệ trẻ em khỏi xâm hại và sao nhãng
Bài 3.Vận dụng các nguyên tắc làm việc với trẻ em trong hoàn cảnh đặc
biệt
Bài 4. Tiến trình công tác xã hội với trẻ em
Giáo trình được biên soạn trên cơ sở tham khảo và sử dụng tài liệu của một số
giảng viên, nhà nghiên cứu về công tác xã hội với trẻ em ở Việt Nam và trên thế
giới. Giáo trình này đã được Hội đồng thẩm định xét duyệt.
Là giáo trình được biên soạn lần đầu tại Trường, do đó không tránh khỏi
những thiếu sót, chúng tôi mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các đồng
nghiệp và bạn đọc để giáo trình ngày càng hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Nhóm biên soạn
Đỗ Thị Thu Hằng
Phạm Thu Phương
MỤC LỤC
Bài 1. Những vấn đề chung về sự phát triển và quyền trẻ em
1.Sự phát triển tâm lý trẻ
2. Quyền tham gia của trẻ em và hệ thống chính sách liên quan đến trẻ em
Bài 2. Bảo vệ trẻ em khỏi xâm hại và sao nhãng
1. Tiến hành các hoạt động bảo vệ và chăm sóc trẻ em
2. .Tiến hành các phương thức can thiệp cộng đồng giúp đỡ toàn diện với trẻ
em trong hoàn cảnh đặc biệt khó khăn – trẻ em làm trái pháp luật
Bài 3. Vận dụng các nguyên tắc làm việc với trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt
1. Chấp nhận trẻ
2. Để trẻ tham gia giải quyết vấn đề
3. Thực hiện quyền tự quyết của thân chủ
4. Cá biệt hóa
5. Giữ bí mật
6.Ý thức về bản thân
7. Tạo mối quan hệ tốt đẹp giữa nhân viên xã hội và thân chủ
Thực hiện tiến trình công tác xã hội với trẻ em
1.Nhận thức
2. Đánh giá
3.Đặt câu hỏi
4.Lập luận
5. Lên kế hoạch
6. Can thiếp
7. Lượng giá
TÀI LIỆU THAM KHẢO
GIÁO TRÌNH MÔ ĐUN
Tên mô đun: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI TRẺ EM
Mã mô đun: MĐ 25
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun:
- Công tác xã hội với trẻ em là mô đun chuyên môn nghề quan trọng của
chương trình đào tạo nghề công tác xã hội liên quan tới hoạt động cung cấp dịch vụ
cho trẻ em.
- Là mô đun chuyên môn nghề bắt buộc
Mục tiêu của mô đun:
- Kiến thức
+ Nêu được khái niệm, đặc điểm tâm lý và nhu cầu của trẻ em.
+ Trình bày được quyền trẻ em trong pháp luật quốc tế và quốc gia.
+ Chăm sóc bảo vệ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
- Kỹ năng:
+ Phỏng vấn và đánh giá được những trẻ em trong hoàn cảnh đặc biệt
+ Thực hiện được kỹ năng giao tiếp với trẻ
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm:
Rèn luyện tính kiên trì, tỉ mỉ khi làm việc với trẻ em, quan tâm chăm sóc và
giành những gì tốt nhất cho trẻ em trên nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt đối
xử.
Nội dung của mô đun:
BÀI 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ SỰ PHÁT TRIỂN VÀ QUYỀN TRẺ EM
Mã bài: MĐ19 B01
Mục tiêu:
+ Nêu được sự phát triển tâm lý của trẻ em và những yếu tố ảnh hưởng đến
sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ em.
+ Nêu được đầy đủ các giai đoạn phát triển tâm lý trẻ em và những tổn
thương tâm lý khi không được đáp ứng nhu cầu
+Mô tả được về quyền trẻ em trong pháp luật quốc tế và Việt Nam
+ Nêu được trách nhiệm của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc thực
hiện quyền trẻ em.
+ Trình bày được hệ thống chính sách, dịch vụ dành cho trẻ em.
- Kỹ năng:
+ Vận dụng được sự hiểu biết tâm lý về trẻ để có cách ứng xử phù hợp, linh
hoạt
+ Xây dựng được kế hoạch chăm sóc bảo vệ trẻ em
+ Lập được kế hoach, kiểm tra, giám sát việc thực hiện quyền trẻ em
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm:
+ Rèn luyện tính chính xác khi tuyên truyền các quyền trẻ em, dành những
gì tốt đẹp nhất mà mình có cho trẻ em
+ Thực hiện sự tôn trọng và khích lệ sự tham gia của trẻ em
Nội dung chính:
1. 1. Những yếu tố ảnh hưởng đến sự hình thành và phát triển tâm lý
nhân cách của trẻ em
1.1.1. Yếu tố sinh học:Vai trò của bẩm sinh – di truyền
* Thế nào là bẩm sinh di truyền?
- Di truyền là sự tái tạo ở trẻ những thuộc tính sinh học có ở cha mẹ, là sự truyền
lại từ cha mẹ đến con cái những đặc điểm và những phẩm chất nhất định đã ghi lại
trong hệ thống gien.
Ví dụ: Người châu Âu da trắng, mắt xanh, người châu Phi da đen tóc xoăn thì con cái
của họ ngay khi sinh ra cũng giống bố mẹ…
Di truyền là những đặc trưng sinh học của cha mẹ truyền cho con cái không chỉ biểu
hiện một cách hiện hữu khi đứa bé sinh ra có thể có những mầm mống, tư chất sau một
thời gian mới bộc lộ: như hội hoạ, thơ ca, táon học…
- Bẩm sinh là những thuộc tính những đặc điểm sinh học có ngay khi đứa trẻ mới sinh
như màu tóc, da, thể trạng, hệ thần kinh…
*Vai trò của di truyền, bẩm sinh
- BSDT tạo ra sức sống trong bản chất tự nhiên của con người, tạo khả năng cho người đó
hoạt động có kết quả trong một số lĩnh vực hoạt động nhất định. Các nhà giáo dục cần phải
quan tâm đúng mức để phát huy hết các bản chất tự nhiên của học sinh. Ví dụ như người
có thanh quản tốt có thể trở thành ca sỹ; bàn tay khéo có thể trở thành nhà điêu khắc…
- BSDT tạo nên tiền đề vật chất (mầm mống) cho sự phát triển nhân cách, ảnh
hưởng lớn đến quá trình hình thành tài năng, xúc cảm. Ví dụ những đứa trẻ có gien
di truyền về một lĩnh vực hoạt động nào đó sẽ sớm bộc lộ thiên hướng về lĩnh vực
hoạt động đó.
- Những tư chất có sẵn trong cấu tạo của não, trong các cơ quan cảm giác, các cơ quan
vận động…là điều kiện để thực hiện có kết quả một hoạt động cụ thể
Nhà giáo dục cần phải quan tâm đúng mức để phát huy hết các bản chất tự
nhiên của con người. Sớm phát hiện, xác định rõ những tư chất của học sinh để có kể
hoạch chăm sóc bồi dưỡng kịp thời .
Lưu ý: Di truyền không thể quyết định những giới hạn tiến bộ của xã hội con người. Vì
vậy những đặc điểm sinh học có ảnh hưởng lớn đến quá trình hình thành tài năng, xúc
cảm, sức khoẻ của con người nhưng nó chỉ tạo tiền đề cho sự phát triển nhân cách.
1.1.2. Vai trò của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
*Khái niệm môi trường
Môi trường là hệ thống phức tạp những hoàn cảnh bên ngoài, kể cả điều kiện tự
nhiên và xã hội, có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến cuộc sống, hoạt động và phát
triển nhân cách.
*Phân loại môi trường
Có 2 loại môi trường: tự nhiên và xã hội
+ Môi trường tự nhiên: là điều kiện tự nhiên( khí hậu, đất, nước...), hệ sinh thái phục vụ
cho hoạt động học tập, lao động sản xuất, rèn luyện thể chất, vui chơi giải trí của con
người.
+ Môi trường xã hội: là điều kiện sống trong xã hội với các mối quan hệ giữa cá nhân
với nhau, giữa cá nhân với tập thể, xã hội.
Gia đình là môi trường đầu tiên của đứa trẻ, là nơi sinh ra và cũng là nơi giáo dục
đứa trẻ. Mức sống, trình độ học vấn, thói quen nếp sống của gia đình, mối quan hệ giữa
các thành viên trong gia đình có ảnh hưởng rất lớn đến đứa trẻ.
Tập thể học sinh cũng ảnh hưởng lớn đến sự phát triển nhân cách.
*Vai trò của môi trường
Tục ngữ Việt Nam có câu: “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”. Mạnh Tử nhà giáo dục
nổi tiếng của trung Hoa cổ đại đã khẳng định: “Nơi ở làm thay đổi tính nết, việc ăn
uống làm thay đổi cơ thể”. “Nơi” ở hiểu theo nghĩa rộng là môi trường quyết định đến
việc hình thành nhân cách của con người.
Mỗi một con người từ khi sinh ra đã phải sống trong một môi trường nhất định
có thể gặp thuận lợi hoặc khó khăn đối với quá trình phát triển.
Môi trường góp phần tạo nên mục đích, động cơ, phương tiện và điều kiện cho
hoạt động giao lưu của cá nhân, thông qua đó cá nhân chiếm lĩnh được kinh nghiệm xã
hội loài người để hình thành và hoàn thiện nhân cách của mình.
Ngay cả khi con người cùng sống chung trong môi trường nhưng nhân cách của
họ lại phát triển khác nhau.
Mức độ ảnh hưởng của môi trường đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
còn tuỳ thuộc vào lập trường, quan điểm, thái độ của cá nhân, tuỳ vào xu hướng, năng
lực của cá nhân tham gia cải biến môi trường. Như vậy, tác động của môi trường đối với
sự phát triển cá nhân có thể tốt, có thể xấu, có thể tích cực hoặc tiêu cực còn tuỳ thuộc
vào rất nhiều các yếu tố. Có khi con người sống trong một môi trường thấp kém nhưng
phẩm chất năng lực không bị hoen ố “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. C. Mác đã
khẳng định rằng: hoàn cảnh đã sáng tạo ra con người, trong một mức độ con người lại
sáng tạo ra hoàn cảnh.
Trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách cần đánh giá đúng mức vai trò
của môi trường, không nên tuyệt đối hoá vai trò của môi trường. Trong quá trình giáo dục
con người, cần gắn chặt từng bước giáo dục và học tập với thực tiễn cải tạo xã hội, phải
hướng học sinh vào việc hình thành định hướng giá trị, tạo điều kiện để các em tích cực
tham gia vào việc cải tạo và xây dựng môi trường. Đồng thời, trong giáo dục cần hình
thành ở học sinh những định hướng giá trị đúng đắn, xây dựng cho các em một bản
lĩnh vững vàng, tạo cho các em tham gia vào việc cải tạo và xây dựng môi trường
1.1.3. Vai trò chủ đạo của của nhân tố giáo dục
*. Khái niệm giáo dục
Giáo dục là quá trình tác động của nhân cách này đến nhân cách khác, là hoạt
động phối hợp thống nhất giữa nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm hình thành và
phát triển nhân cách theo những yêu cầu của xã hội. Đây là quá trình tác động có mục
đích, có nội dung, phương pháp, phương tiện, có tổ chức có kế hoạch giúp cho cá nhân
chiếm lĩnh được những kinh nghiệm, những giá trị của nhân loại.
Giáo dục bao gồm có giáo dục trong gia đình, giáo dục xã hội, giáo dục nhà
trường và tự giáo dục. Các loại giáo dục này có mối quan hệ với nhau.
*. Vai trò của giáo dục đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
Ngay từ thời kỳ Trung Hoa cổ đại, Khổng Tử (551 - 479 TCN) cũng có quan
niệm đánh giá về giáo dục “Viên ngọc không được mài dũa thì không thành đồ ngọc
dùng được. Con người không học thì không biết gì về đạo lý”, hoặc “Ăn no mặc ấm,
ngồi dưng không được giáo dục thì gần như cầm thú”. Bác Hồ cũng đã nói:
“Hiền, dữ đâu phải là tính sẵn
Phần nhiều do giáo dục mà nên”
Giáo dục giữ vai trò chủ đạo đối vớiquá trình hìnhthànhvà phát triểnnhâncáchthể hiện:
- Giáo dục không chỉ vạch ra chiều hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách, mà
còn tổ chức, dẫn dắt sự hình thành và phát triển nhân cách của học sinh theo chiều hướng
đó. Điều này được thể hiện thông qua mục tiêu đào tạo của nhà trường.
- Giáo dục có thể mang lại những tiến bộ mà các nhân tố di truyền, môi trường không thể
có được. Cho nên giáo dục không những thích ứng với các yếu tố BSDT, môi trường mà
còn có khả năng kìm hãm hoặc thúc đẩy các yếu tố đó theo một gia tốc phù hợp.
- Giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt đối với những người bị khuyết tật. Nó có thể bù
đắp những thiếu hụt do bệnh tật gây ra cho con người, phục hồi những chức năng đã mất,
giúp họ hoà nhập vào cuộc sống cộng đồng (ví dụ như nhà giáo Nguyễn Ngọc Ký...)
- Giáo dục có thể uốn nắn những phẩm chất tâm lý xấu và làm cho nó phát triển theo
chiều hướng mong muốn của xã hội.
- Giáo dục không chỉ thích ứng mà còn có thể đi trước hiện thực và thúc đẩy nó phát
triển. Đồng thời, sự phát triển tâm lý của trẻ chỉ có thể diễn ra một cách tốt đẹp trong
những điều kiện của sự dạy học và giáo dục.
Như vậy, giáo dục vạch ra đường hướng cho sự hình thành và phát triển nhân cách
của học sinh và thúc đẩy quá trình này theo đường hướng đó. Nhưng giáo dục không chỉ tác
động một chiều mà bao gồm cả hoạt động tích cực, đa dạng của người được giáo dục. Do
đó, để giáo dục giữ vai trò chủ đạo thì cần có sự kết hợp chặt chẽ giữa giáo dục và tự giáo
dục.
1.1 4. Vai trò quyết định trực tiếp của hoạt động cá nhân
a. Khái niệm hoạt động
Hoạt động là quá trình con người thực hiện mối quan hệ tác động qua lại với tự nhiên,
với xã hội, với người khác và với bản thân. Từ đó tạo ra sản phẩm cả về tự nhiên, xã hội và
về phí con người.
b. Vai trò của hoạt động cá nhân đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
- Thông qua hoạt động, con người chuyển hoá năng lực, phẩm chất tâm lý của bản
thân thành sản phẩm thực tế, tiếp thu nền văn hoá biến nền văn hoá của loài người thành vốn
riêng của mình
- Thông qua hoạt động con người tiếp thu nền văn hoá xã hội và biến nền văn hoá của loài
ngưòi thành vốn riêng của mình, vận dụng chúng vảo cuốc sống, làm cho nhân cách ngày
càng phát triển. Hoạt động giúp cho cá nhân hiện thực hoá những khả năng về tố chất thành
hiện thực, đồng thời là nguồn quan trọng cung cấp cho cá nhân những kinh nghiệm xã hội.
- Thông qua hoạt động con ngưòi có thể cải tạo những nét tâm lý và những nhân cách
đang bị suy thoái hoàn thiện chúng theo chuẩn mực đạo đức của xã hội.
- Quá trình giáo dục phải đi đến tự giáo dục tức là cá nhân phải có ý thức nỗ lực, có ý
chí quyết tâm khắc phục, vượt qua những khó khăn chủ quan và khách quan để thực hiện
việc rèn luyện, bồi dưỡng nhân cách theo một chương trình, kế hoạch
- Hoạt động của cá nhân quyết định trực tiếp đối với sự hình thành và phát triển nhân
cách. Muốn phát huy được vai trò của hoạt động cá nhân thì phải:
+Đưa học sinh vào những hoạt động đa dạng, coi hoạt động là phưong tiện giáo
dục cơ bản.
+ Tổ chức các hoạt động tích cực, sáng tạo của học sinh, thay đổi tính chất của
hoạt động làm phong phú nội dung, phương pháp và hình thức hoạt động để lôi cuốn học
sinh vào hoạt động.
+ Nhà giáo dục phải nắm được hoạt động chủ đạo ở từng thời ký nhất định để tổ chức
các hoạt động cho phù hợp với đặc điểm lứa tuổi
1.2. Các giai đoạn phát triển tâm lý trẻ em
1.2.1.CÁC LÝ THUYẾT PHÁT TRIỂN:
1.2.1.1.Quan điểm Tâm lý động học:
Thuyết Phân tâm học của Sigmund Freud (1856 – 1939):
Sigmund Freud là người đầu tiên trong lịch sử đặt nền móng cho quan điểm Tâm
lý động học. Ông cho rằng con người trưởng thành về mặt tâm lý theo các nguyên
tắc áp dụng phổ biến nhưng mỗi nhân cách của cá nhân được định hình bằng kinh
nghiệm trong một bối cảnh xã hội. Theo ông, kinh nghiệm đầu đời hình thành các
mẫu nhân cách kéo dài trong suốt cả cuộc đời.
Thuyết Phân tâm học của Freud về nhân cách tập trung vào 3 thành phần: xung
động bản năng, bản ngã và siêu ngã. Xung động bản năng là nguồn cung cấp các
xu thế nguyên thủy, có từ lúc mới sinh, nó là tác động ép buộc phải thỏa mãn các
nhu cầu của cơ thể. Bản ngã là thành phần nhân cách thực tế, duy lý, bắt đầu xuất
hiện trong năm đầu tiên của cuộc đời, để đáp lại thực tế của trẻ tuổi ẵm ngửa không
có được những gì mình muốn. Siêu ngã xuất hiện trong nhân cách phát triển khi trẻ
bắt đầu kết hợp nhu cầu của mình với tiêu chuẩn đúng sai của người lớn, khoảng từ
năm 3 – 4 tuổi.
CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ TÌNH DỤC
Giai đoạn
Độ tuổi
Mô tả
Nhu cầu tâm lý tình dục bằng miệng (bú),
hình thành sự quyến luyến với mẹ.
Trẻ được hối thúc phải kiểm soát bàng
quang và ruột, tạo ra sự xung đột giữa thôi
thúc sinh học và yêu cầu kiểm soát của xã
hội.
Miệng
0-1
Hậu môn
1-3
Năng lực tâm lý tình dục tập trung về cơ
quan sinh dục, thúc giục sự ham muốn bố
mẹ khác giới.
Tượng dương vật
Tiềm ẩn
3-6
“Thời gian yên tĩnh” mà năng lượng tình
dục được định hướng thành các hoạt động
được xã hội chấp nhận (ví dụ học tập).
6-12
Cơ quan sinh dục 12 trở lên Giai đoạn trưởng thành giới tính, nhu cầu
tâm lý tình dục được định hướng sang mối
quan hệ tình dục khác giới.
Freud cũng cho rằng sự phát triển của con người diễn ra trong các giai đoạn không
thay đổi về chuỗi, những giai đoạn này được gọi là giai đoạn phát triển tâm lý tình
dục. Mỗi giai đoạn đều mang tính độc đáo bằng sự phát triển khả năng nhận cảm
của một bộ phận hoặc một vùng nhạy cảm tình dục. Theo ông, sự phát triển tiếp
diễn tốt nhất khi nhu cầu tâm lý tình dục của trẻ trong từng giai đoạn (trong bảng
trên) được đáp ứng nhưng không thái quá.
Thuyết Tâm lý xã hội của Erik Erikson (1902 – 1994):
Trên nền tảng là thuyết Phân tâm học của Freud, Erikson đã phát triển nó và
nghiên cứu sự trưởng thành của con người trong suốt tuổi trưởng thành và tuổi già.
Trong thuyết của mình, Erikson cho rằng sự phát triển nhân cách được quyết định
bằng sự tương tác giữa kế hoạch trưởng thành bên trong và nhu cầu xã hội bên
ngoài. Ông cho rằng chu kỳ đời sống con người gồm 8 giai đoạn mà thứ tự cố định
về mặt sinh học
CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN TÂM LÝ XÃ HỘI
Giai đoạn tâm lý
Độ tuổi
0-1
Thử thách
xã hội
Tin cậy cơ bản so
với hoài nghi
Tự quản so với hổ
thẹn và hoài nghi
Sáng kiến so với
tội lỗi
Phát triển ý thức cho rằng thế giới là nơi
an toàn
Thừa nhận rằng con người là một người
độc lập có thể ra quyết định
Phát triển khả năng tự làm việc mới và
giải quyết
1-3
3-6
Chuyên cần so
với tự ti
6 đến tuổi Học hỏi kỹ năng làm việc với người
thanh niên khác
Nhận dạng so với
nhầm lẫn nhận
dạng
Tuổi thanh Phát triển ý thức lâu bền, kết hợp với cái
niên
tôi
Đầu tuổi
trưởng
thành
Thân mật so với
cô lập
Ràng buộc với người khác trong mối
quan hệ yêu đương
Giữa tuổi Góp phần với người nhỏ tuổi hơn, thông
Khả năng sinh sản
so với ngưng trệ
trưởng
qua việc nuôi con, chăm sóc con cái hoặc
công việc sản xuất khác
thành
Kết hợp so với
Về già
Xem cuộc sống đáng giá và hài lòng
thất vọng
Chuỗi giai đoạn trong lý thuyết của Erikson dựa trên nguyên tắc biểu sinh nghĩa là
mỗi sức mạnh tâm lý xã hội đều có thời gian uy lực của chính mình hoặc giai đoạn
có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Vì các giai đoạn kéo dài trong suốt quãng đời nên
cần cả đời mới có được tất cả sức mạnh tâm lý xã hội. Ngoài ra, Erikson cũng nhận
thấy rằng hành vi hiện tại và tương lai đều có nguồn gốc từ quá khứ vì các giai
đoạn sau đều được hình thành trên nền tảng trước đó.
Quan điểm Tâm lý động học nhấn mạnh rằng sự chuyển qua tuổi trưởng thành là
hết sức khó khăn vì con đường đầy rẫy vật cản. Kết quả phát triển phản ánh thái độ
và sự dễ chịu mà trẻ dùng để vượt qua thử thách trong đời sống. Khi trẻ vượt qua
rào cản ban đầu dễ dàng thì trẻ có khả năng giải quyết các rào cản sau này tốt hơn.
2.Quan điểm tập quen:
Thuyết Hành vi (John Waston và Skinner):
John Waston (1878 – 1958) là một trong những nhà tâm lý học đầu tiên ủng hộ
quan điểm cho rằng đầu óc của trẻ con là trang giấy trắng để viết kinh nghiệm vào.
Ông lập luận rằng tập quen sẽ quyết định đứa trẻ sau này sẽ ra sao, và nếu áp dụng
đúng kỹ thuật, ai cũng có thể học được mọi thứ. Nói cách khác, trong lý thuyết của
mình, Waston đã phát biểu rằng kinh nghiệm rất quan trọng trong việc quyết định
quá trình phát triển.
Sau Waston, Skinner (1904 – 1990) đã tiếp tục phát triển Thuyết Hành vi. Ông
nghiên cứu biến đổi điều kiện ngoại cảnh thực nghiệm, trong đó kết quả của một
hành vi quyết định liệu một hành vi có lặp lại trong tương lai hay không. Điều này
liên quan đến sự củng cố hoặc hình phạt mà người lớn áp dụng sau khi trẻ thực
hiện hành vi.
Củng cố là việc ban thưởng cho trẻ nhằm tăng khả năng lặp lại những hành vi (ví
dụ khen, cho kẹo, cho tiền,…). Củng cố tích cực là khi đáp lại hành vi tốt của trẻ
bằng một sự dễ chịu, tuy nhiên sự củng cố trở nên tiêu cực khi phần thưởng là việc
loại bỏ cho người khác những điều khó chịu (ví dụ nếu đứa trẻ đạt điểm cao thì trẻ
không phải rửa chén).
Hình phạt là kết quả làm giảm khả năng lặp lại hành vi của trẻ. Hình phạt kiềm chế
hành vi bằng cách tăng điều khó chịu hoặc giảm điều thích thú (ví dụ la mắng nếu
trẻ không dọn dẹp phòng hoặc không cho trẻ đi chơi nếu trẻ được điểm kém).
Thuyết tập quen xã hội của Albert Bandura (1918)
Biến đổi điều kiện ngoại cảnh là một trong những cách để con người tập quen, tuy
nhiên đó không phải là cách duy nhất. Con người đôi lúc tập quen không cần phần
thưởng hay hình phạt, mà chỉ đơn thuần bằng cách quan sát người khác quanh
mình, hay con gọi là bắt chước hoặc tập quen quan sát.
Hình thức bắt chước đơn giản nhất là con người quan sát và làm theo những gì mà
người khác làm, tuy nhiên không phải lúc nào cũng như vậy. Con người còn bắt
chước khi thấy hành vi của người nào đó được người khác tán thưởng thay vì bị
phạt – nghĩa là bắt chước một cách có chọn lọc, không mô phỏng một cách máy
móc mà thay vào đó họ nhìn người khác để tìm thông tin về hành vi thích hợp.
Albert Bandura đặt thuyết nhận thức xã hội của mình trên quan điểm thưởng phạt
và bắt chước phức tạp hơn này. Thuyết của Bandura mang tính “nhận thức” vì ông
nghĩ con người luôn tích cực cố gắng tìm hiểu những gì đang diễn ra trên thế giới,
và nó mang tính “xã hội” vì, cùng với việc củng cố và hình phạt, những gì người
khác đang làm là một nguồn thông tin quan trọng về thế giới.
Ông cũng lập luận rằng kinh nghiệm giúp con người ý thức cái tôi hiệu quả, ám chỉ
niềm tin của con người vào năng lực và tài năng của mình. Niềm tin cái tôi hiệu
quả giúp xác định khi nào người ta sẽ bắt chước người khác. Ví dụ một đứa trẻ
không có khiếu âm nhạc sẽ không bắt chước một ca sĩ nổi tiếng, dù nó rất hâm mộ
ca sĩ đó. Vì vậy, việc người ấy là ai và suy nghĩ của người ấy về tài năng của mình
sẽ quyết định liệu người ấy có bắt chước hay không (bên cạnh thưởng và phạt).
Mặc dù có một số sự khác nhau giữa các nhà lý thuyết gia, nhưng tất cả đều tin
rằng kinh nghiệm thúc đẩy con người trong hành trình phát triển của mình
1.2.1.3.Quan điểm nhận thức:
Thuyết của Jean Piaget (1896 – 1980):
Piaget cho rằng trẻ con luôn cố tìm hiểu thế giới của mình một cách tự nhiên.
Trong suốt tuổi ẳm ngữa, thơ ấu và thanh niên trẻ con muốn tìm hiểu hoạt động
của cả thế giới tự nhiên và xã hội.
Ông lập luận rằng trong nỗ lực tìm hiểu thế giới của mình, trẻ liên kết các hiểu biết
của mình về sự vật và con người thành một lý thuyết hoàn chỉnh. Sau đó, kinh
nghiệm sống của trẻ sẽ kiểm chứng các lý thuyết, dẫn đến niềm tin của trẻ vào lý
thuyết trở nên mạnh mẽ hơn (nếu các sự kiện dự đoán xảy ra) hoặc trẻ xem xét lại
lý thuyết của mình (nếu sự kiện dự đoán không xảy ra).
Khi đến một vài thời điểm tới hạn trong sự phát triển, trẻ bắt đầu hình thành kiến
thức theo cách mới, xây dựng nên những lý thuyết mới về cơ bản. Và theo Piaget
sự thay đổi này diễn ra 3 lần trong đời (một lần lúc 2 tuổi, lần thứ hai khi 7 tuổi và
lần thứ ba ngay trong tuổi thanh niên), đồng nghĩa với việc trẻ trải qua bốn giai
đoạn phát triển. Mỗi giai đoạn tượng trưng cho một thay đổi cơ bản trong cách con
người tìm hiểu và sắp xếp môi trường của mình, và giai đoạn sau lại mang nhiều
quan điểm, lập luận tinh vi hơn giai đoạn trước (thể hiện trong bảng dưới).
BỐN GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN NHẬN THỨC
GIAI
ĐỔ TUỔI
KHOẢNG
ĐẶC ĐIỂM
ĐOẠN
Hiểu biết thế giới dựa trên giác quan
Vận động
nhận cảm
Mới sinh đến 2 tuổi và kỹ năng vận động. Cuối giai
đoạn sử dụng miêu tả suy nghĩ
Trẻ học cách sử dụng biểu tượng để
Suy nghĩ tiền
mô tả các khía cạnh của thế giới
2 – 6 tuổi
hoạt động
nhưng liên kết thế giới chỉ bằng
quan điểm của mình
Suy nghĩ
7 đến đầu tuổi thanh Trẻ hiểu và áp dụng hoạt động lohic
hoạt động cụ
thể
niên
vào kinh nghiệm miễn là chúng
được tập trung vào đúng thời điểm
Thanh niên hoặc người lớn suy nghĩ
Suy nghĩ
hoạt động
hình thức
Từ tuổi thanh niên trở trừu tượng giải quyết tình huống giả
lên
thuyết và suy đoán về những gì có
thể
Thuyết của Lawrence Kohlberg:
Thuyết Lập luận đạo đức của Kohlberg phát triển trên nền tảng thuyết của Piaget.
Ông phân tích phản ứng của trẻ con, trẻ vị thành niên và người lớn đối với nhiều
tình huống, không quan tâm đến quyết định của cá nhân mà quan tâm đến lập luận
mà cá nhân dùng để biện minh cho quyến định của mình. Lập luận đạo đức bao
gồm nguyên tắc hạnh kiểm đạo đức mà con người thường ghi nhớ để biện minh
cho cách giải quyết vấn đề của mình.
Ông tin rằng lập luận đạo đức phát triển trong suốt cuộc đời theo một chuỗi các
giai đoạn cụ thể. Dùng thuyết của Piaget làm xuất phát điểm, ông mô tả một chuỗi
các giai đoạn phổ biến, cố định thể hiện sự thay đổi về chất trong lập luận.
Ông chia lập luận đạo đức thành 3 cấp:
Cấp tiền quy ước: Trừng phạt và tưởng thưởng
Giai đoạn 1: Vâng lời người có uy tín
Giai đoạn 2: Hành vi tử tế để sau này được trẻ ơn
Cấp quy ước: Chuẩn mực xã hội
Giai đoạn 3: Sống theo kỳ vọng của người khác
Áp dụng nguyên tắc để duy trì trật tự xã hội
Cấp hậu quy ước: Chuẩn mực đạo đức
Giai đoạn 5: Trung thành với giao kèo xã hội khi giao kèo có giá trị
Giai đoạn 6: Hệ thống đạo đức cá nhân dựa trên nguyên tắc trừu tượng
Thuyết xử lý thông tin:
Không phải tất cả các lý thuyết gia phát triển đều xem sự phát triển của con người
là một chuỗi các giai đoạn. Các nhà lý thuyết Xử lý thông tin dựa vào hoạt động
của máy tính để giải thích tư duy và sự phát triển tư duy con người.
Các nhà lý thuyết Xử lý thông tin cho rằng cũng như máy tính, nhận thức của con
người bao gồm phần cứu trí tuệ và phầm mềm trí tuệ. Phần cứng là cấu trúc nhận
thức bao gồm các bộ nhớ khác nhau, nơi lưu trữ nơi lưu trữ thông tin. Phần mềm
bao gồm tập hợp các quá trình nhận thức giúp trẻ thực hiện một nhiệm vụ cụ thể.
Ví dụ, để làm tốt bài thi, trẻ phải mã hóa thông tin lúc học, lưu trữ thông tin trong
bộ nhớ (phần cứng) và truy cập thông tin cần thiết khi thi (phần mềm).
Theo các nhà Tâm lý học xử lý thông tin, sự phát triển tư duy của trẻ con diễn ra
cùng lúc với quá trình phát triển cơ bản, nghĩa là khi trẻ lớn lên, phần cứng và phần
mềm được cải tiến theo độ tuổi, trẻ lớn và thanh niên có phần cứng và phần mềm
tốt hơn trẻ nhỏ.
Đồng thời, khi con người về già, cùng với sự trì trệ các chức năng sinh học của cơ
thể, phần cứng và phần mềm cũng trở nên lão hóa và “lỗi thời”.
1.2.1.4. Quan điểm sinh thái học và các hệ thống:
Thuyết của Urie Bonfenbrenner:
Urie Bonfenbrenner là người đề xuất tiếp cận Sinh thái học nổi tiếng nhất. Ông cho
rằng sự phát triển của trẻ con được gắn kết với một loạt hệ thống phức tạp và tương
tác. Ông chia môi trường ra thành 4 cấp: hệ thống vi mô, hệ thống giữa, hệ thống
ngoại và hệ thống vĩ mô. Các cáp này không tách biệt mà tác động qua lại lẫn
nhau.
Thuyết cạnh tranh – áp lực môi trường của Lawton và Nahemow::
Thuyết này ban đầu được đề ra để giải thích cách hoạt động chức năng của người
cao tuổi trong môi trường của mình. Về cơ bản thuyết cho rằng con người thích
nghi tốt như thế nào phụ thuộc vào sự kết hợp giữa năng lực cạnh tranh và áp lực
môi trường hoặc môi trường áp đặt yêu cầu lên họ. Năng lực ở đây có thể hiểu là
khả năng hoạt động chức năng của cá nhân trong 5 lĩnh vực: sức khỏe cơ thể, kỹ
năng nhận thức nhận cảm, kỹ năng vận động, kỹ năng nhận thức và sức mạnh bản
ngã. Áp lực môi trường ám chỉ yêu cầu tự nhiên, yêu cầu giữa cá nhân với nhau
hoặc yêu cầu xã hội, mà môi trường áp đặt cho một người. Những khía cạnh này
trong thuyết phản ánh tác động sinh học, tâm lý và xã hội. Cả năng lực lẫn áp lực
môi trường thay đổi khi con người trải qua các quãng đời khác nhau, vì thế khuôn
khổ năng lực – áp lực môi trường cũng phản ánh các yếu tố chu kỳ đời sống.
Sự phát triển của trẻ em:
Sự phát triển của trẻ em là quá trình biến đổi tổng thể, toàn vẹn về thể chất, tinh
thần và xã hội cũng như các năng lực của trẻ em theo lứa tuổi. Phát triển về thể
chất biểu hiện ở sự tăng trưởng về chiều cao, cân nặng, cơ bắp, sự hoàn thiện các
giác quan, sự phối hợp các vận động. Phát triển về tâm lý là những biến đổi cơ bản
trong quá trình nhận thức, xúc cảm, ý chí, sự hình thành các thuộc tính tâm lý mới
của nhân cách. Sự phát triển về mặt xã hội biểu hiện ở những biến đổi trong cách
cư xử với những người xung quanh, trong việc tích cực tham gia vào đời sống xã
hội hay nâng cao trách nhiệm bản thân trước các sự kiện, vấn đề xã hội. Như vậy,
nói đến sự phát triển của trẻ em cũng là nói đến sự phát triển toàn diện, hài hòa
nhân cách của trẻ em, quá trình này bắt đầu từ trong bụng mẹ, khi bộ não hình
thành và tiếp tục phát triển một cách nhanh chóng sau khi sinh.
Các nhà khoa học thống nhất chia sự phát triển của trẻ em thành 5 giai đoạn chính:
Giai đoạn 1: Dưới 18 tháng tuổi
Giai đoạn 2: Từ 18 đến 36 tháng tuổi
Giai đoạn 3: Từ 3 đến 6 tuổi
Giai đoạn 4: Từ 6 đến 12 tuổi
Giai đoạn 5 từ 12 đến 18 tuổi
Từ giai đoạn 1 đến giai đoạn 3 thường được gọi là tuổi thơ, giai đoạn 4 được gọi là
tuổi nhi đồng, giai đoạn 5 được gọi là tuổi vị thành niên.
-Tuổi thơ:
Đây là giai đoạn tạo ra những cơ sở, tiền đề quyết định quá trình phát triển về sau
của trẻ nên nó có vai trò hết sức quan trọng. Trong giai đoạn này, trẻ lớn lên và học
được nhiều hơn bất kỳ giai đoạn nào khác trong cuộc đời.
Sau khi sinh vài phút, bé nhận ra giọng nói của mẹ và tỏ vẻ thích thú với giọng nói
đó, bé cũng bắt đầu thích khuôn mặt của người khác và các hình dạng khác. Nếu
đo thị lực, mắt của em bé chỉ đạt 20/600 và sẽ phát triển trong 6 tháng tiếp theo.
Ba ngày tuổi bé có thể bắt chước nét mặt của người lớn. Một tuần tuổi, bé sẽ rụng
rốn trong vòng 7 đến 14 ngày. Sáu tuần tuổi, 81% các bé ngủ chung với cha mẹ (ở
VN, con số này sẽ cao hơn). Bé biết cười được người khác nói chuyện. Khoảng
bốn tháng, hầu hết các bé đều đã cười không thành tiếng. Bảy tuần tuổi, trẻ bắt đầu
ngủ vào ban đêm nhiều hơn ban ngày. Khoảng 2 tháng, em bé bắt đầu hơi ngóc đầu
khi bé nằm sấp. Khoảng 3 tháng, bé có thể tự với lấy được một món đồ chơi. Bốn
tháng tuổi, bé biết lật qua lật lại, khi đặt một thứ gì đó vào tay bé biết đưa vào
miệng. Lúc này, cân nặng của bé thường gấp đôi khi mới sinh.
Trong khoảng 5 – 6 tháng tuổi, bé bắt đầu phân biệt người lạ, người quen, khoảng
54% bé vẫn còn bú sữa mẹ. Bé có thể mút các ngón chân, di chuyển một món đồ
chơi từ tay này sang tay kia. Trong khoảng thời gian này em bé mọc chiếc răng đầu
tiên. Tám tháng tuổi bé bắt đầu bập bẹ, phát ra các âm thanh như mama, baba. Bé
bắt đầu tự ngồi và có thể tự đứng lên khi bé 10 tháng. Bé có thể biết bò, đầu tiên bé
bò lùi và khoảng 3 tháng sau, biết dùng tay và đầu gối để bò. Lúc này bé có thể vẫy
tay tạm biệt và vỗ tay. Mười một tháng tuổi, bé có thể nhặt những đồ vật nhỏ xíu
bằng ngón tay cái và ngón tay trỏ. Mười hai tháng tuổi bé biết bắt chước tiếng các
con vật. Cho tới thời điểm này khoảng 50% các em bé mút ngón tay.
Khoảng 1 tuổi, bé có thể đi được khi có người dắt bé. Cân nặng của bé gấp 3 lần
khi mới sinh. Lúc này, chúng ta nên bắt đầu có các biện pháp giữ an toàn cho bé
như lắp khóa cầu thang, sử dụng ổ điện an toàn, không để thuốc và các đồ vật có
thể gây tai nạn trong tầm với của trẻ.
Từ 1 đến 3 tuổi, bé bắt đầu tập đi và thích khám phá thế giới xung quanh. Lúc này
bé đã ngủ rất ít vào buổi ngày. Các hoạt động yêu thích của trẻ lúc này là chạy
nhảy, leo trèo. Các hoạt động này giúp bé phát triển cơ bắp, tập giữ thăng bằng và
hình thành khả năng phối hợp tay, chân và mắt. Về ngôn ngữ, trẻ bắt đầu nói rõ
một số từ, biết ý nghĩa của các giới từ chỉ vị trí như "trong", "trên", "dưới", có thể
ghép từ và dần dần nói trọn vẹn câu, tuy nhiên thời gian đầu vị trí các từ có thể bị
đảo lộn. Ở độ tuổi này bé rất thích ôm ấp để bày tỏ sự yêu mến người khác và các
vật nuôi, khi chúng ta gọi tên đồ vật, bé biết chỉ vào đồ vật tương ứng, những "trận
chiến" với cha mẹ cũng xảy ra thường xuyên hơn nhằm đạt được sự độc lập. Bé
cũng bắt đầu có bạn tuy nhiên thích chơi song song, không thích chia sẻ đồ chơi
với bạn. Bé sợ nhiều thứ, đặc biệt là bé sợ tiếng động mạnh. Bé thích sự việc tái
diễn - bé có thể chỉ đọc một quyển sách mỗi tối trước khi đi ngủ, và không bỏ sót
một trang nào cả. Bé giữ quần khô lâu hơn, bé nhận thức được về tiểu tiện, đại tiện,
và bé thích quan sát người khác dùng bệ xí. Chúng ta cần chú ý là 91% bé hai
tháng có ít nhất một lần nhiễm trùng tai.
Cũng trong giai đoạn 1-3 tuổi, trẻ bắt đầu nhận biết về mình, hình thành tính cách
riêng và thể hiện tính độc lập. Trẻ hay quan sát, hay bắt chước, thích được khen
thưởng và muốn giải quyết mọi việc theo ý mình. Do đó trẻ cần được hướng dẫn về
những gì nên – không nên làm, những gì chấp nhận được và không chấp nhận được
một cách rõ ràng và chu đáo. Ngoài ra trẻ cũng bắt đầu thích chơi với người lớn và
việc này giúp trẻ bước đầu hình thành quan hệ giữa trẻ và người khác.
Trong khoảng từ 3 – 6 tuổi trẻ phát triển nhanh chóng về chiều cao và trọng lượng
cơ thể. Trẻ tò mò và luôn hỏi tại sao, đặc biệt trẻ quan tâm đến sự khác biệt giữa
trẻ trai và trẻ gái, quan tâm đến việc “bằng cách nào mình chui từ trong người mẹ
ra?”. Trẻ hình thành khả năng so sánh, nhận biết sự khác và giống nhau giữa các
màu sắc, hình dáng, kích thước của các đồ vật. Độ tuổi này trẻ cũng bắt đầu biết
hợp tác với người khác, hình thành và phát triển quan hệ xã hội, hoàn thiện hơn về
ngôn ngữ, nói được các câu không quá nhiều từ và trả lời các câu hỏi đơn giản, tuy
nhiên vào khoảng 4 tuổi hầu hết các bé đều nói lắp.
Giai đoạn từ 3 – 6 tuổi cũng là giai đoạn trẻ phát triển các cảm xúc. Trẻ biết phân
biệt và biểu lộ các cảm xúc khác nhau như vui, buồn, thích thú, giận giữ,…tuy
nhiên trẻ không biết kiềm chế cảm xúc của mình. Trẻ cũng bắt đầu hình thành năng
lực tự chủ và phát triển tính cách trong giai đoạn này. Vì thế trẻ cần có sự khuyến
khích, động viên, hướng dẫn và hỗ trợ của người lớn khi trẻ làm việc gì thất bại,
đặc biệt không được phê phán hay chê bai, giễu cợt trẻ.
-Tuổi nhi đồng:
Trong giai đoạn này trẻ tiếp tục phát triển chiều cao và trọng lượng cơ thể. Bên
cạnh đó, cơ thể phát triển một cách kiện toàn đáng kể như khung xương, hệ tim
mạch, não bộ và hệ thần kinh. Chính những phát triển này sẽ tạo điều kiện cho trẻ
chuyển từ hoạt động vui chơi ở tuổi thơ sang các hoạt động học tập ở tuổi nhi
đồng. Đặc biệt, do quá trình dậy thì diễn ra sớm hơn ở các em nữ nên trong giai
đoạn này chiều cao của trẻ nữ vượt hơn hẳn trẻ nam, thậm chí, một số em bắt đầu
dậy thì.
Tải về để xem bản đầy đủ
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình môn Công tác xã hội với trẻ em", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giao_trinh_mon_cong_tac_xa_hoi_voi_tre_em.docx

