Phân tích sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi
35
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021
Phân tích sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản
theo chuẩn nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi
Huỳnh Đinh Phát
Trường Đại học Phạm Văn Đồng
Email liên hệ: [email protected]
Tóm tắt: Qua phân tích số liệu thứ cấp từ Sở Lao động Thương binh và Xã hội tỉnh
Quảng Ngãi cho thấy, khi chuyển từ cách tiếp cận hộ nghèo theo kiểu truyền thống (thu
nhập/chi tiêu) sang cách tiếp nghèo theo đa chiều (y tế, giáo dục và chất lượng cuộc sống), tỷ
lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi đã thay đổi theo chiều hướng tăng lên. Phân tích
thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản cho thấy, đến năm 2020, thiếu hụt phổ biến đối với hộ nghèo
tỉnh Quảng Ngãi là hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, nguồn nước sinh hoạt và sử dụng dịch vụ viễn
thông. Vấn đề diện tích, chất lượng nhà ở cũng là chỉ số thiếu hụt chiếm tỷ lệ khá cao trong
tổng số hộ nghèo (tương ứng 33,53% và 35,09%). Với những nỗ lực trong công tác phổ cập
giáo dục đã mang lại cho hộ nghèo được thụ hưởng dịch vụ giáo dục tốt hơn, chỉ 1,61% hộ
nghèo có trẻ em trong độ tuổi đi học không được đến trường. Từ kết quả phân tích thiếu hụt
dịch vụ xã hội cơ bản đối với hộ nghèo tỉnh Quảng Ngãi cho thấy, các chương trình giảm nghèo
của địa phương cần tập trung vào các nhóm nghèo khác nhau, cần có thiết kế chính sách phù
hợp với từng đối tượng khác nhau.
Từ khóa: Nghèo, nghèo đa chiều, dịch vụ xã hội cơ bản, Quảng Ngãi
Analysis of basic social services of multidimensional poverty households in Quang
Ngai province
Abstract: The analysis of secondary data from the Department of Labor, Invalids and
Social Affairs of Quang Ngai province shows that, when moving from the traditional poor
household approach (income/expenditure) to the multidimensional poverty approach
(health, education, quality of life), the proportion of poverty households in Quang Ngai
province has changed towards an increasing trend. Analysis of lack of basic social services
shows that, by 2020, the most common shortfall for poverty households in Quang Ngai
province is hygienic toilets, water sources for domestic use and use of telecommunications
services. Housing issues, especially housing area and quality, are also deprivation indicators,
accounting for a high proportion of the total number of poor households (33.53% and 35.09%
respectively). With efforts in universalizing education that have brought poor households
better educational services, only 1,61% of poor households have children of school age who
cannot go to school. From the analysis of the lack of basic social services for poor households
in Quang Ngai province, it shows that local poverty reduction programs need to focus on
different poor groups, should have appropriate policy design different subjects.
Keywords: Poor, multidimensional poverty, lack of basic social services
Ngày gửi bài: 22/01/2021
Ngày duyệt đăng: 10/11/2021
36
Huỳnh Đinh Phát
1. Đặt vấn đề
Một cách thức đo lường mới về nghèo đói, đơn giản nhưng vẫn đáp ứng tính đa chiều
được thực hiện bởi S. Alkire và Foster (2007) và được UNDP sử dụng để tính toán chỉ số Nghèo
đa chiều (MPI) trong Báo cáo Phát triển con người năm 2010, đề xuất áp dụng thống nhất trên
thế giới kể từ sau năm 2015. Chỉ số tổng hợp này được tính toán dựa trên 3 chiều nghèo là Y
tế, Giáo dục và Điều kiện sống, với 10 chỉ số về phúc lợi; chuẩn nghèo được xác định bằng 1/3
tổng số thiếu hụt. Hiện nay, nhiều nước trên thế giới đã chuyển đổi và áp dụng phương pháp
tiếp cận đo lường nghèo dựa vào thu nhập sang đo lường nghèo theo cách tiếp cận đa chiều.
Giải quyết vấn đề nghèo đói sẽ triệt để hơn nếu tất cả các khía cạnh của đói nghèo như giáo
dục, y tế và điều kiện sống được tính đến trong việc đo lường và thiết kế các chính sách hỗ trợ
xã hội (Le, Nguyen, & Phung, 2014)
Ở Việt Nam, ngày 15/9/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1614/QĐ-
TTg phê duyệt Đề án tổng thể “Chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo từ đơn chiều sang
đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020”; ngày 19/11/2015, Thủ tướng Chính phủ ban hành
Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg về chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn
2016 - 2020. Khi áp dụng đo lường, đánh giá nghèo theo cách tiếp cận đa chiều, tỷ lệ nghèo
của tỉnh Quảng Ngãi có sự chênh lệch đáng kể so với cách tiếp cận đơn chiều. Cụ thể, tỷ lệ hộ
nghèo của tỉnh Quảng Ngãi năm 2015 là 9,22% - theo chuẩn nghèo đơn chiều. Khi áp dụng
chuẩn nghèo đa chiều vào năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo đã tăng lên 13,06%, đặc biệt khu vực
miền núi có 25.392 hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 41,93% - trong đó huyện Tây Trà có tỉ lệ hộ nghèo
cao nhất so với các huyện khác trong tỉnh: 75,08%, tiếp theo là huyện Sơn Tây: 55,07% (UBND
tỉnh Quảng Ngãi, 2017). Qua 5 năm thực hiện các chính sách giảm nghèo theo chuẩn mới, đời
sống dân cư ở tỉnh Quảng Ngãi đã có những chuyển biến tích cực, số hộ nghèo và tỷ lệ nghèo
có xu hướng giảm qua từng năm, từ 13,06% năm 2016 xuống còn 6,41% năm 2020 (UBND tỉnh
Quảng Ngãi, 2021). Tuy nhiên, xem xét trong khu vực duyên hải Trung bộ, Quảng Ngãi luôn là
một trong 03 tỉnh có số hộ nghèo cao nhất (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định), và liên tục là
tỉnh có tỷ lệ nghèo cao nhất trong khu vực suốt giai đoạn 2016 – 2020. Kết quả xếp hạng mức
độ nghèo các tỉnh ở Việt Nam năm 2020, Quảng Ngãi là tỉnh có số hộ nghèo cao thứ 7/63, còn
xem xét tỷ lệ nghèo thì Quảng Ngãi là tỉnh có tỷ lệ nghèo cao thứ 16/63 (Bộ LĐTBXH, 2021).
Như vậy, khi áp dụng chuẩn nghèo mới, tỷ lệ hộ nghèo đã tăng lên đáng kể, đặc biệt là
vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Bên cạnh nghèo về thu nhập, vấn đề thiếu hụt các dịch vụ
xã hội cơ bản đối với hộ nghèo cũng là vấn đề cần quan tâm phân tích để gia tăng hiệu quả
thiết kế chính sách thực hiện mục tiêu giảm nghèo, gia tăng cơ hội và nâng cao năng lực cho
người nghèo. Một trong những mục tiêu lớn của tỉnh Quảng Ngãi trong thực thi chính sách
giảm nghèo theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều là hỗ trợ cho người nghèo nâng cao thu
nhập, cải thiện đời sống, đồng thời tăng cường cơ hội để họ có thể tiếp cận được các dịch vụ
xã hội cơ bản.
2. Tổng quan nghiên cứu đo lường, đánh giá nghèo đa chiều
Cho đến nay, không có sự đồng thuận về biện pháp tốt nhất về đo lường và đánh giá
nghèo đa chiều, nhưng sử dụng rộng rãi là phương pháp mở rộng của Alkire và Foster - được
gọi là phương pháp AF - dựa theo phương pháp tiếp cận lý thuyết tiên đề, đề xuất sử dụng
cách tiếp cận đếm liên quan đến vấn đề thiếu thốn trong từng khía cạnh và định nghĩa đói
nghèo trên tất cả các chiều. Alkire và Santos đã sử dụng phương pháp AF để phát triển thành
37
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021
chỉ số nghèo đa chiều (MPI) phản ánh tình trạng nghèo cấp tính ở 104 nước đang phát triển (S.
Alkire & Santos, 2010). Những năm sau đó, MPI được nghiên cứu sâu hơn và ngày càng hoàn
thiện, trở thành phương pháp luận cho nhiều nghiên cứu về nghèo đói…
Sử dụng dữ liệu khảo sát từ 4.290 hộ gia đình nghèo và phương pháp AF, Mohanty
và cộng sự (2018) trong nghiên cứu “Nghèo đa chiều ở các vùng miền núi: Shan và Chin ở
Myanmar”đã đo lường theo 5 chiều và 12 chỉ số: (1) Giáo dục (số năm đi học của chủ hộ, tình
trạng đi học của trẻ em); (2) Sức khỏe (tình trạng sức khỏe và chăm sóc sức khỏe); (3) Chất
lượng sống (sở hữu tài sản, tình trạng nhà ở); (4) Năng lượng, nước sạch và nhà vệ sinh (tình
trạng sử dụng điện, nguồn nước sinh hoạt, cải thiện vệ sinh) và (5) Các quyền cơ bản (Khả
năng tiếp cận thị trường, dịch vụ y tế và tiếp cận phương tiện giao thông công cộng). Đây là
một trong những chỉ số chính trong MDGs và SDGs (chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt khả
năng tiếp cận nước tương tự như một trong những chỉ số chính trong SDGs). Nghiên cứu đã
áp dụng trọng số bằng nhau cho mỗi chiều và mỗi chỉ số theo quan điểm tính toán MPI toàn
cầu, kết quả cho thấy nghèo đa chiều cao hơn đáng kể đối với hộ gia đình nông thôn, hộ gia
đình có trình độ học vấn thấp, người nghèo thu nhập.
Một nghiên cứu gần đây là“Phân tích nghèo đa chiều ở cấp địa phương ở tỉnh Vân Nam,
Trung Quốc: Một số hiểu biết sâu sắc và hàm ý” cũng sử dụng phương pháp AF (Lu, Routray,
& Ahmad, 2019). Nghiên cứu thu thập thông tin 647 bảng câu hỏi cho hộ gia đình được từ
tám thị trấn của Quận Deqin. Hệ thống chỉ số này được xây dựng dựa trên Chương trình Phát
triển Liên hợp quốc (UNDP), bộ chỉ số MPI của Alkire & Santos (2010). Các tác giả đã thiết kế hệ
thống chỉ số đo lường nghèo gồm năm chiều và mười lăm chỉ số dựa trên nghiên cứu trước
đây, điều kiện địa phương và đặc điểm dân tộc, cụ thể: (1) Giáo dục (số năm đi học của các
thành viên trong hộ); (2) Y tế (sức khỏe của các thành viên trong gia đình, tham gia hệ thống
y tế Hợp tác xã nông thôn mới); (3) Điều kiện sống (tình trạng nước uống, điều kiện vệ sinh,
tình trạng nhà vệ sinh, điều kiện đường xá, loại nhiên liệu đun nấu, kinh nghiệm phòng chống
thiên tai); (4) Quan hệ xã hội (sử dụng điện thoại thông minh, khả năng tiếp cận thông tin
cộng đồng, khả năng tiếp cận quỹ cứu trợ và (5) Tài sản (quy mô đất nông nghiệp, kích thước
nhà, phương tiện giao thông hiện đại).
Alkire và Kanagaratnam (2020) từ những nhấn mạnh trong SDGs là không để ai bị bỏ lại
phía sau đã thực hiện nghiên cứu về“Sửa đổi chỉ số nghèo đa chiều toàn cầu: các lựa chọn chỉ
số và đánh giá thực nghiệm”. Nghiên cứu kiểm tra, đánh giá giữa lý luận quy chuẩn đã được
được áp dụng và thực tiễn các chỉ báo khác nhau để sửa đổi, bổ sung chỉ số MPI năm 2018, với
mục tiêu là phù hợp hơn với SDGs. Kết quả cuối cùng là chỉ có hai chỉ số mới - quyền sở hữu
máy tính và xe động vật – là phù hợp bổ sung cho chỉ số sở hữu tài sản của MPI toàn cầu mới.
Kết luận của nghiên cứu cho rằng các biện pháp nghèo đa chiều có thể so sánh trên toàn cầu
có thể và sẽ được cải thiện thông qua sửa đổi khoảng mười năm một lần. Nội dung này cũng
được thể hiện trong Báo cáo“Sửa đổi Chỉ số Nghèo đa chiều toàn cầu: Thông tin thực nghiệm
và độ tin cậy” (Alkire, Kanagaratnam, Nogales, & Suppa, 2020). Việc đo lường nghèo đói phải
dựa trên nỗ lực thu thập thông tin thực tiễn gần đây nhất của mọi người, quan tâm đến tính
khả dụng của chỉ báo hạn chế trong các cuộc khảo sát được sử dụng. Mặc dù đã nhận thức
được và có sự nỗ lực, nhưng nhiều chỉ số vẫn không thể đưa vào đo lường như công việc,
an ninh, và một số khía cạnh khác vì dữ liệu liên quan đến các chỉ số này ở quy mô toàn cầu
không tồn tại, mặc dù các cuộc khảo sát hộ gia đình đa chủ đề có thể so sánh được đã cải thiện
đáng kể trong thập kỷ qua.
38
Huỳnh Đinh Phát
Ở Việt Nam, để thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững, cách tiếp cận đa chiều ngày
càng được quan tâm bởi các nhà nghiên cứu và các nhà hoạch định chính sách. Khi Thủ tướng
Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015 về phê duyệt Đề án
tổng thể chuyển đổi phương pháp đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều áp dụng cho
giai đoạn 2016-2020 và Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về phê duyệt chuẩn
nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, Tuấn (2016) với nghiên cứu “Tiếp
cận nghèo đa chiều - một số vấn đề đặt ra”đã phân tích một số thông tin liên quan đến nghiên
cứu, vận dụng thực tiễn về nghèo đa chiều và khằng định tiếp cận nghèo đa chiều là cần thiết
khách quan. Cách tiếp cận nghèo đa chiều tại Việt Nam là cách tiếp cận theo quyền nhằm đáp
ứng những nhu cầu cơ bản của con người, được coi là quan trọng ngang bằng nhau.
Dựa trên hệ thống chỉ tiêu đo lường, đánh giá nghèo đa chiều đang được áp dụng tại
Việt Nam, nghiên cứu “Những nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đa chiều của Việt
Nam”, Loan và Bình (2018) đã sử dụng dữ liệu chéo, nguồn dữ liệu thứ cấp từ kết quả khảo
sát Mức sống Hộ gia đình Việt Nam (VHLSS) năm 2014 của Tổng cục Thống kê để tính toán và
đánh giá thực trạng nghèo đa chiều của Việt Nam và các vùng kinh tế. Các chiều và chỉ tiêu để
giá nghèo đa chiều trong nghiên cứu được vận dụng theo thang đo và chuẩn nghèo Việt Nam
giai đoạn 2016 – 2020 bao gồm: giáo dục, y tế, nhà ở, điều kiện sống và tiếp cận thông tin với
các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số) là trình độ giáo dục
của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế, chất lượng
nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh,
sử dụng dịch vụ viễn thông, tài sản phục vụ tiếp cận thông tin. Kết quả tính toán MPI cho thấy
vùng có chỉ số nghèo đa chiều thấp nhất là Đồng bằng sông Hồng và Đông Nam bộ (2,6% và
2,97%), vùng có chỉ số nghèo đa chiều cao nhất là Đồng bằng sông Cửu Long (12,78%), tiếp
theo là Tây Nguyên (11,61%) và vùng Trung du và miền núi phía Bắc (10,64%). Gần đây nhất,
nghiên cứu“Giảm nghèo đa chiều theo mục tiêu khu vực hành chính: trường hợp nghiên cứu
ở Việt Nam”của Pham, Mukhopadhaya, và Vu (2020) phân tích bảy khía cạnh của nghèo đói ở
Việt Nam (thu nhập, y tế, giáo dục, nhà ở, tài sản, dịch vụ cơ bản và tình trạng kinh tế). Kết quả
thực nghiệm của nghiên cứu chỉ ra rằng ở Việt Nam có nhiều vùng người dân tốt hơn ở khía
cạnh thu nhập nhưng lại kém hơn ở một số khía cạnh phi thu nhập.
Trên cơ sở tổng quan nghiên cứu, có thể khẳng định nghèo là một cấu trúc đa chiều, do
đó phải tập hợp được các chỉ số thiếu hụt để phản ánh được các khía cạnh khác nhau của hiện
tượng nghèo. Thước đo nghèo cần phải phản ánh được nhiều khía cạnh khác nhau bao gồm
sức khỏe, giáo dục, tiêu chuẩn sống, trao quyền, công việc, môi trường, an toàn từ bạo lực, các
mối quan hệ xã hội và văn hóa; việc lựa chọn các khía cạnh và ngưỡng phân loại nghèo cũng
có thể được hướng dẫn bởi các giá trị chung mà xã hội chia sẻ được thể hiện trong Hiến pháp,
Luật pháp hoặc dựa trên các cân nhắc chính sách và các ưu tiên (Sen, 2017).
3. Phân tích thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản đối với hộ nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi
3.1. Tình hình nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 – 2020
Trải qua hơn 30 năm đổi mới, kinh tế xã hội của Việt Nam đã có nhiều bước đột phá
mạnh mẽ, trong đó có những thành tựu nổi bật về chính sách an sinh xã hội và giảm nghèo.
Tuy nhiên, xem xét ở một số vùng miền cụ thể (điển hình như các tỉnh Miền núi phía Bắc,
duyên hải Miền trung và Tây Nguyên) thì tỷ lệ nghèo vẫn còn khá cao, đặc biệt là khi quốc
gia chuyển đổi phương pháp đo lường đánh giá nghèo theo đa chiều. Xem xét trong khu vực
duyên hải Miền Trung, tỉnh Quảng Ngãi là một trong 03 tỉnh có số hộ nghèo cao nhất (Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Bình Định), và liên tục là tỉnh có tỷ lệ nghèo cao nhất suốt giai đoạn 2016
– 2020 (Bộ LĐTBXH, 2021).
39
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021
Hình 1. Số lượng hộ nghèo các tỉnh Duyên hải Trung bộ giai đoạn 2015 - 2019
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ Công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn
nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 của Bộ LĐTBXH (2021)
Về tỷ lệ hộ nghèo, Quảng Ngãi luôn là tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất khu vực từ năm
2015 – 2019. Mặc dù có nhiều nỗ lực trong công tác giảm nghèo, nhưng so với các địa phương
lân cận thì vẫn chưa có những điểm đột phá. Xu hướng chung của các tỉnh vùng Duyên hải
Nam Trung Bộ là tỷ lệ hộ nghèo giảm hàng năm, nhưng xếp hạng tỷ lệ nghèo lại không có
sự thay đổi, ngoại trừ tỉnh Bình Định từ tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao thứ hai trong khu vực năm
2015 đã vượt qua Quảng Nam trở thành tỉnh có tỷ lệ hộ nghèo cao thứ ba từ năm 2016 đến
2019. Xem xét kết quả xếp hạng mức độ nghèo các tỉnh ở Việt Nam năm 2019, Quảng Ngãi
là tỉnh có số hộ nghèo cao thứ 9/63, còn xem xét tỷ lệ nghèo thì Quảng Ngãi là tỉnh có tỷ lệ
nghèo cao thứ 16/63 tỉnh thành.
Hình 2. Diễn biến tỷ lệ hộ nghèo các tỉnh Duyên hải Trung bộ giai đoạn 2015 - 2019
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ Công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo các năm 2016,
2017, 2018, 2019, 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2016-2020 của Bộ LĐTBXH (2021)
Xem xét trong giai đoạn 2016 – 2020, tỷ lệ nghèo ở tỉnh Quảng Ngãi giảm đáng kể từ
13,06% năm 2016 xuống còn 6,41% năm 2020. Năm 2017 toàn tỉnh có 39.127 hộ nghèo, chiếm
tỷ lệ 11,16%, giảm 6.133 hộ tương ứng 13,55% so với năm 2016 . Năm 2018 tiếp tục giảm 5.746
hộ, tỷ lệ hộ nghèo là 9,39%, giảm 14,69% so với năm 2017. Năm 2019 toàn tỉnh chỉ còn 27.964
hộ nghèo, giảm 16,23% so với năm 2018. Đến năm 2020, tỷ lệ nghèo tỉnh Quảng Ngãi chỉ còn
6,41% - giảm 4.427 hộ so với năm 2019 (UBND tỉnh Quảng Ngãi, 2017, 2018, 2019, 2020, 2021)
Bình quân giai đoạn 2016 – 2020, hộ nghèo tỉnh Quảng Ngãi đã giảm 14,83%/năm. Nhìn
bức tranh tổng thể về giảm nghèo ở tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 – 2020, có thể thấy được
những nỗ lực và thành quả ấn tượng của địa phương.
40
Huỳnh Đinh Phát
Hình 3. Hộ nghèo tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 - 2020
phân theo khu vực nông thôn - thành thị
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ Quyết định phê duyệt kết quả rà soát đánh giá nghèo các năm
2016, 2017, 2018, 2019, 2020 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020 của UBND tỉnh Quảng Ngãi
Tiếp cận số liệu phân theo khu vực nông thôn, thành thị (Hình 3) cho thấy trên 85% dân
số Quảng Ngãi tập trung ở nông thôn, hộ nghèo cũng tập trung chủ yếu ở vùng nông thôn.
Năm 2017, số hộ nghèo ở vùng nông thôn chiếm tỷ lệ 94,08% trong tổng số hộ nghèo của
tỉnh, đến năm 2018 tỷ lệ này là 94,75% và tăng lên 95,52% năm 2019. Tỷ lệ hộ nghèo khu vực
nông thôn luôn cao hơn tỷ lệ hộ nghèo chung toàn tỉnh, và tốc độ giảm nghèo cũng chậm
hơn so với khu vực thành thị cũng như bình quân toàn tỉnh: giai đoạn 2016 – 2019 tỷ lệ nghèo
toàn tỉnh giảm 38,21% thì ở thành thị giảm 52,99%, vùng nông thôn giảm 37,29%. Về tỷ lệ hộ
nghèo, điểm nhấn ở cách tiếp cận này là nghèo khu vực thành thị chiếm tỷ lệ không cao, năm
2016 là 5,35%, giảm xuống còn 2,31% năm 2019; tốc độ giảm nghèo cũng rất ấn tượng, năm
2017 giảm 12,76% so với năm 2016, năm 2018 giảm 24,42% so với năm 2017 và năm 2019
giảm 28,54% so với năm 2018, tổng thể giai đoạn 2016-2019 đã giảm 1.411 hộ nghèo tương
ứng 52,99%, tốc độ giảm nghèo bình quân 22,24%/năm.
Hình 4. Hộ nghèo tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 - 2020
phân theo khu vực đồng bằng - miền núi
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ Quyết định Phê duyệt kết quả rà soát đánh giá nghèo các năm
2016, 2017, 2018, 2019, 2020 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020 của UBND tỉnh Quảng Ngãi
Đánh giá nghèo ở tỉnh Quảng Ngãi ở khu vực miền núi, khu vực có đến gần 80% là đồng
bào dân tộc thiểu số, năm 2016 tỷ lệ hộ nghèo là 41,93% thì năm 2020 chỉ còn 22,01%, tốc độ
giảm nghèo bình quân là 13,62%/năm (Hình 4). Số hộ nghèo tập trung ở vùng miền núi cao
hơn ở đồng bằng, và có xu hướng ngày càng chiếm tỷ trọng cao. Qua phân tích số liệu nghèo
ở tính Quảng Ngãi theo từng khu vực cho thấy, công tác giảm nghèo của tỉnh tuy có chuyển
41
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021
biến tích cực nhưng chưa đồng đều, hiện tượng nghèo có xu hướng tập trung về vùng nông
thôn, miền núi. Điều này gợi ý chính quyền địa phương cần có sự quan tâm trong phân bổ
nguồn lực cho công tác giảm nghèo, đảm bảo không tạo nên khoảng cách cuộc sống quá
cách biệt ở từng vùng khác nhau.
3.2. Thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản đối với hộ nghèo tỉnh Quảng Ngãi
Các dịch vụ xã hội cơ bản cấu thành nên chỉ số nghèo đa chiều ở Việt Nam giai đoạn
2016 – 2020 dựa trên tiếp cận theo quyền con người, quyền được đáp ứng những nhu cầu cơ
bản của con người trên cơ sở bảo đảm an sinh xã hội. Mức độ quan trọng và cần thiết của các
nhu cầu cơ bản này được xác định là ngang bằng nhau, con người có quyền được đáp ứng tất
cả các nhu cầu này để có thể đảm bảo cuộc sống bình thường. Các chiều thiếu hụt thiết kế
trong thang đo nghèo đa chiều Việt Nam có 5 chỉ tiêu (chiều) với 10 chỉ số cơ bản. Từ số liệu
tổng hợp kết quả rà soát hộ nghèo của tỉnh Quảng Ngãi từ năm 2016 đến năm 2020 do Sở Lao
động Thương binh và Xã hội thực hiện (Bảng 1), có thể đánh giá về thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ
bản của hộ nghèo ở 05 chiều dưới đây:
Bảng 1. Tổng hợp thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trong tổng số hộ nghèo
tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 – 2020
Năm 2016 Năm 2017
Năm 2018
Năm 2019
Năm 2020
Chỉ số thiếu hụt
1-Trình độ giáo
dục người lớn
2-Tình trạng đi học
của trẻ em
3-Tiếp cận dịch vụ
y tế
7.046 15,57 6.079 15,54 4.212 12,62 3.395 12,14 2.286 9,71
1.092 2,41 983 2,51 877 2,63 652 2,33 380 1,61
2.265 5,00 1.948 4,98 2.144 6,42 1.316 4,71 988 4,20
4-Bảo hiểm y tế 9.039 19,97 7.071 18,07 5.620 16,84 4.427 15,83 4.179 17,76
5-Chất lượng nhà
14.650 32,37 13.385 34,21 10.971 32,87 9.659 34,54 7.893 33,53
ở
6-Diện tích nhà ở 15.586 34,44 13.654 34,90 10.965 32,85 10.075 36,03 8.258 35,09
7-Nguồn nước
15.233 33,66 14.513 37,09 12.939 38,76 10.824 38,71 9.554 40,59
sinh hoạt
8-Hố xí/nhà tiêu
28.844 63,73 24.110 61,62 19.713 59,05 17.057 61,00 14.026 59,59
hợp vệ sinh
9-Sử dụng dịch vụ
17.966 39,70 15.960 40,79 13.501 40,45 11.685 41,79 9.566 40,64
viễn thông
10-Tài sản phục vụ
tiếp cận thông tin
10.353 22,87 8.821 22,54 8.870 26,57 6.938 24,81 5.740 24,39
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ Quyết định phê duyệt kết quả rà soát đánh giá nghèo các năm
2016, 2017, 2018, 2019, 2020 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 – 2020 của UBND tỉnh Quảng Ngãi
42
Huỳnh Đinh Phát
3.2.1. Mức độ thiếu hụt chiều giáo dục
Giai đoạn 2016 – 2020, chỉ số thiếu hụt chiều giáo dục có sự cải thiện đáng kể, tỷ lệ hộ
thiếu hụt trong tống số hộ nghèo liên tục giảm qua các năm (Bảng 1). Năm 2016 có 7.046 hộ
có thành viên trong độ tuổi lao động mà không tốt nghiệp trung học cơ sở, chiếm tỷ lệ 15,57%
tổng số hộ nghèo của tỉnh; năm 2020 tỷ lệ hộ thiếu hụt chỉ số này giảm xuống còn 9,71%. Tỷ lệ
thiếu hụt chỉ số Trình độ giáo dục người lớn chủ yếu tập trung ở vùng nông thôn, vùng miền
núi. Đây là hệ quả của tình trạng bất bình đẳng trong khả năng tiếp cận với giáo dục ở các
vùng miền khác nhau.
Đối với chỉ số tình trạng đi học của trẻ em, hộ bị thiếu hụt nếu có ít nhất 1 trẻ em trong
độ tuổi đi học (5-dưới 16 tuổi) hiện không đi học. Giai đoạn 2016 – 2020, tỷ lệ hộ gia đình bị
thiếu hụt chỉ số này trong tổng số hộ nghèo có tỷ lệ giảm bình quân là 23,19%/năm
Nhìn chung, mức độ thiếu hụt chiều giáo dục giai đoạn 2016 – 2020 có sự cải thiện bởi
trong những năm gần đây, các hộ gia đình dù nghèo nhưng vẫn nêu cao ý thức, coi trọng việc
học hành của các thành viên trong gia đình. Đồng thời, nhà nước cũng đã có những chính
sách giáo dục đúng đắn, đảm bảo cho các em đến độ tuổi đều được đi học, do vậy tỷ lệ trẻ em
không đến trường giảm đáng kể và tỷ lệ tốt nghiệp trung học cơ sở tăng lên.
3.2.2. Mức độ thiếu hụt chiều y tế
Tiếp cận dịch vụ y tế được coi là bị thiếu hụt khi hộ gia đình có người bị ốm đau nhưng
không đi khám chữa bệnh (ốm đau được xác định là bị bệnh/chấn thương nặng đến mức
phải nằm một chỗ và phải có người chăm sóc tại giường hoặc nghỉ việc/học không tham gia
được các hoạt động bình thường). Theo số liệu ở Bảng 1, tỷ lệ hộ nghèo thiếu hụt trong tiếp
cận dịch vụ y tế là 5% trong tổng số hộ nghèo năm 2016, đến năm 2020 là 4,2%, nhìn chung
không có sự biến chuyển lớn.
Tỷ lệ thiếu hụt bảo hiểm y tế liên tục giảm qua các năm, đến năm 2020 chỉ còn 17,46%
hộ nghèo bị thiếu hụt bảo hiểm y tế, đạt tốc độ giảm 17,54%/năm. Đặc biệt với chính sách
an sinh xã hội dành cho vùng miền núi, dành cho người đồng bào dân tộc thiểu số, tỷ lệ hộ
nghèo bị thiếu hụt chỉ số này ở vùng miền núi chỉ còn 1,57% vào năm 2020, đạt tốc độ giảm
bình quân là 26,35%/năm, cao gấp 1,5 lần so mức bình quân chung của tỉnh.
3.2.3. Mức độ thiếu hụt chiều nhà ở
Số liệu ở Bảng 1 cho thấy tỷ lệ thiếu hụt về nhà ở trong tổng số hộ nghèo giai đoạn
2016 – 2020 khá cao, luôn duy trì ở mức hơn 30% và tập trung ở khu vực nông thôn, miền núi
(vùng nông thôn chiếm tỷ lệ hơn 95% số hộ thiếu hụt toàn tỉnh, vùng miền núi chiếm tỷ lệ
hơn 68% số hộ thiếu hụt toàn tỉnh). Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ gia đình nhỏ
hơn 8m2 sẽ được coi là bị thiếu hụt. Với chỉ số này, qua kết quả rà soát hộ nghèo của Sở Lao
động Thương binh và xã hội tỉnh Quảng Ngãi thì toàn tỉnh có 15.586 hộ nghèo bị thiếu hụt,
chiếm tỷ lệ 34,44% tổng số hộ nghèo vào năm 2016. Chỉ số thiếu hụt này qua các năm có xu
hướng giảm, đến năm 2020 chỉ còn 8.528 hộ nhưng tỷ trọng trong tổng số hộ nghèo lại tăng
lên 35,09%. Về tổng thể chung giai đoạn 2016 – 2020, điều kiện nhà ở của các hộ nghèo trên
địa bàn tỉnh Quảng Ngãi cũng được cải thiện đáng kể, tỷ lệ thiếu hụt về diện tích nhà ở bình
quân đầu người giảm đi, tỷ lệ hộ gia đình sống trong các ngôi nhà kiên cố và bán kiên cố đã
tăng lên nhiều, đặc biệt là ở khu vực thành thị, ở vùng đồng bằng. Đồng thời cũng mang hàm
ý cải thiện chỉ số thiếu hụt chiều nhà ở ở khu vực miền núi, ở vùng nông thôn trong số hộ
nghèo gặp nhiều khó khăn hơn trong việc thực thi chính sách giảm nghèo.
3.2.4. Mức độ thiếu hụt chiều điều kiện sống
Nguồn nước sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh là thiếu hụt chiếm tỷ lệ trong tổng số
hộ nghèo có xu hướng ngày càng tăng lên dù xem xét ở thành thị hay nông thôn, đồng bằng
43
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021
hay miền núi. Kết quả rà soát hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều của Sở Lao động Thương binh
và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi cho thấy, năm 2016, toàn tỉnh có 15.233 hộ nghèo bị thiếu hụt chỉ
số nguồn nước sinh hoạt, chiếm tỷ lệ 33,66% tổng số hộ nghèo; đến năm 2020 còn 9.544 hộ
nhưng chiếm tỷ lệ đến 40,59% tổng hộ nghèo. Tỷ lệ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh còn rất
thấp, dẫn đến tỷ lệ thiếu hụt chỉ số này trong tổng hộ nghèo tỉnh Quảng Ngãi khá cao, năm
2016 là 63,73%, năm 2020 là 59,59%. Tổng thể giai đoạn 2016 – 2020, toàn tỉnh đã giảm được
14.818 hộ nghèo bị thiếu hụt chỉ số hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, tương ứng 51,37%, đạt tốc độ
bình quân 16,49%/năm.
3.2.5. Mức độ thiếu hụt chiều tiếp cận thông tin
Tỷ lệ hộ nghèo thiếu hụt về sử dụng dịch vụ viễn thông cũng khá cao và có xu hướng
tăng lên. Số liệu từ Sở Lao động, Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi về kết quả rà soát
hộ hộ nghèo thì năm 2016 toàn tỉnh có 17.966 hộ nghèo bị thiếu hụt chỉ số sử dụng dịch vụ
viễn thông, chiếm tỷ lệ 39,7% tổng số hộ nghèo; năm 2020 giảm 2.119 hộ so với năm 2019,
số hộ nghèo thiếu hụt sử dụng dịch vụ viễn thông còn 9.566 hộ nhưng lại chiếm đến 40,64%
tổng số hộ nghèo. Về sở hữu tài sản phục vụ tiếp cận thông tin, số hộ bị thiếu hụt năm 2016
là 10.353 hộ, trong đó khu vực nông thôn là 10.081 hộ, thành thị là 272 hộ; tỷ lệ trong tổng số
hộ nghèo là 22,87%. Qua các năm giai đoạn 2016 – 2020, số hộ bị thiếu hụt về sở hữu tài sản
phục vụ tiếp cận thông tin luôn giảm xuống, bình quân là 13,71%/năm. Tuy nhiên, tỷ lệ hộ bị
thiếu hụt chỉ số này trong tổng số hộ nghèo lại không giảm mà tăng nhẹ, năm 2016 là 22,87%
thì năm 2019 là 24,39%.
Hình 5. Tỷ lệ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản trong tổng số hộ nghèo tỉnh Quảng Ngãi
năm 2020 (%)
Nguồn: Quyết định Phê duyệt kết quả rà soát đánh giá nghèo năm 2020 theo chuẩn nghèo
giai đoạn 2016 – 2020 của UBND tỉnh Quảng Ngãi
Qua phân tích hộ nghèo theo mức độ thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản đã thể hiện rõ
hơn về tình trạng nghèo, từ đó có thể gợi ý về cải thiện việc hoạch định và thực thi chính sách
giảm nghèo hiệu quả hơn. Đến cuối năm 2020, số liệu thứ cấp từ Sở Lao động, Thương binh
và Xã hội tỉnh Quảng Ngãi (Hình 5) cho thấy số hộ nghèo thiếu hụt về chỉ tiêu Hố xí/nhà tiêu
hợp về sinh là lớn nhất, 14.026 hộ, chiếm tỷ lệ 59,59% trong tổng số hộ nghèo năm 2020. Điều
này có nghĩa là, tính đến cuối năm 2020, toàn tỉnh Quảng Ngãi có 23.537 hộ nghèo thì có tới
14.026 hộ không sử dụng hố xí/ nhà tiêu hợp vệ sinh. Ngoài ra có tới 9.556 hộ nghèo đang
không được tiếp cận các dịch vụ viễn thông như điện thoại, internet…., 9.554 hộ nghèo sử
dụng nguồn nước sinh hoạt không đảm bảo vệ sinh, 8.258 hộ có diện tích nhà ở bình quân
đầu người dưới 8m2 và 7.893 hộ phải sống trong những căn nhà tạm bợ, thiếu kiên cố. Có đến
24,39% tổng số hộ nghèo không không có tài sản nào trong số các tài sản: Ti vi, radio, máy
44
Huỳnh Đinh Phát
tính; và không nghe được hệ thống loa đài truyền thanh xã/thôn. Chỉ tiêu có tỷ lệ thiếu hụt
ít nhất là tình trạng đi học của trẻ em và tiếp cận dịch vụ y tế. Số lượng hộ gia đình có người
không được sở hữu bảo hiểm y tế cũng còn cao, chiếm 17,76% tổng số hộ nghèo, điều này
tiềm ẩn nguy có tái nghèo nếu hộ bị rủi ro về bệnh tật. Điều đó cho thấy, chất lượng cuộc sống
của người dân nghèo ở tỉnh Quảng Ngãi đang ở mức thấp, họ đang phải đối mặt với những
thiếu hụt trầm trọng về những nhu cầu xã hội cơ bản. Với phương pháp đo lường, đánh giá
nghèo đơn chiều sẽ không thể đánh giá được một cách toàn diện về chất lượng cuộc sống của
người dân, đặc biệt là người dân nghèo.
5. Kết luận và khuyến nghị
Đánh giá nghèo theo cách tiếp cận đa chiều có thể giúp các nhà quản lý có thể hoạch
định chính sách tập trung vào các chiều mà người nghèo đang thiếu trong việc tiếp cận các
dịch vụ xã hội cơ bản, tạo cơ hội để họ thoát nghèo thực sự. Trong khu vực duyên hải Miền
Trung, tỉnh Quảng Ngãi được xem là tỉnh nghèo nhất. Mặc dù có nhiều nỗ lực trong công tác
giảm nghèo, nhưng so với các địa phương lân cận thì vẫn chưa có những điểm đột phá. Tỷ lệ
hộ nghèo của tỉnh tuy có chuyển biến tích cực nhưng chưa đồng đều giữa các khu vực, giữa
các nhóm dân tộc. Đến năm 2020, thiếu hụt phổ biến đối với hộ nghèo tỉnh Quảng Ngãi là hố
xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, nguồn nước sinh hoạt và sử dụng dịch vụ viễn thông. Vấn đề nhà ở
cũng là hụt chiếm tỷ lệ khá cao trong tổng số hộ nghèo.
Từ kết quả phân tích thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản đối với hộ nghèo tỉnh Quảng Ngãi
cho thấy các chương trình giảm nghèo của địa phương cần tập trung vào các nhóm nghèo
khác nhau, cần có thiết kế chính sách phù hợp với từng đối tượng khác nhau. Các dịch vụ xã
hội cơ bản mà hộ nghèo tỉnh Quảng Ngãi đang phải đối mặt với sự thiếu hụt phổ biến là (1)
Điều kiện sống, (2) Nhà ở và (3) Tiếp cận thông tin. Để giải quyết thiếu hụt này chính quyền
địa phương cần:
+ Đẩy mạnh đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các miền núi, nơi tập trung phần lớn hộ
nghèo thiếu hụt dịch vụ xã hội cơ bản, đặc biệt là hạ tâng giao thông và hệ thống nước sạch
nông thôn. Có một thực tế là ở các huyện miền núi, vùng sâu, vùng xa, người đồng bào dân
tộc thiểu số còn nặng các phong tục tập quán lạc hậu, khoảng cách xa từ nơi sinh sống đến
trung tâm xã trở thành rào cản rất lớn để hộ gia đình dân tộc thiểu số tiếp cận các dịch vụ xã
hội cơ bản. Nếu đầu tư hạ tầng dáp ứng nhu cầu cho từng nhóm hộ sẽ rất khó khăn, chi phí
đầu tư lớn. Do đó cần xem xét giải pháp quy hoạch dân cư tập trung nhằm tăng cơ hội tiếp
cận dịch vụ xã hội cơ bản.
+ Tiếp tục triển khai hỗ trợ xây dựng nhà theo Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg ngày
10/8/2015 của Thủ tướng Chính phủ với nguồn kinh phí vay từ Ngân hàng chính sách xã hội
Chi nhánh Quảng Ngãi để tạo điều kiện cho nhiều hộ gia đình nghèo có nhà ở ổn định, từ đó
từng bước phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo.
+ Nâng cao hiệu quả tổ chức các hoạt động giảm nghèo về thông tin, đặc biệt là tổ chức
đào tạo nâng cao kỹ năng, nghiệp vụ thông tin tuyên truyền cổ động cho cán bộ cấp xã làm
công tác thông tin và truyền thông. Hỗ trợ hộ nghèo về phương tiện nghe, nhìn; tăng cường
hiệu quả trong nội dung tuyên truyền qua hệ thống loa truyền thanh của địa phương.
Tài liệu tham khảo
Alkire, & Kanagaratnam, U. (2020). Revisions of the global multidimensional poverty
index: indicator options and their empirical assessment. Oxford Development Studies, 1-15.
45
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 06 (74) - 2021
Alkire, Kanagaratnam, U., Nogales, R., & Suppa, N. (2020). Revising the global
Multidimensional Poverty Index: Empirical insight and robustness. OPHI Research in Progress
56a, Oxford Poverty and Human Development Initiative, University of Oxford, 3.
Alkire, S., & Foster, J. (2007). Counting and multidimensional poverty measures, Oxford
Poverty and Human Development Initiative (OPHI), Working Paper 7.
Alkire, S., & Santos, M. E. (2010). Acute multidimensional poverty: A new index for
developing countries.
Bộ LĐTBXH (2021). Công bố kết quả rà soát hộ nghèo, hộ cận nghèo theo chuẩn nghèo
đa chiều giai đoạn 2016-2020. Retrieved from http://dulieutonghop.molisa.gov.vn/so-lieu-
chung-ca-nuoc/chi-tiet/54676129-4bfa-45c6-8ff6-5fa67f52aabe/df8159bf-5117-417b-bc59-
7640a0ea9c43
Le, H., Nguyen, C., & Phung, T. (2014). Multidimensional Poverty: First Evidence from
Vietnam. Munich Personal RePEc Archive (MPRA), Paper No. 64704, posted 31 May 2015 12:21 UTC.
Loan, L. T. T., & Bình, N. T. (2018). Những nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng nghèo đa
chiều của Việt Nam. HCMCOUJS-KHOA HỌC XÃ HỘI, 13(2). doi:10.46223/HCMCOUJS.soci.
vi.13.2.462.2018
Lu, Y., Routray, J. K., & Ahmad, M. M. (2019). Multidimensional poverty analysis at the
local level in northwest Yunnan Province, China: Some insights and implications. Journal of
Poverty, 23(4), 299-316.
Mohanty, S. K., Rasul, G., Mahapatra, B., Choudhury, D., Tuladhar, S., & Holmgren, E. V.
(2018). Multidimensional poverty in mountainous regions: Shan and Chin in Myanmar. Social
Indicators Research, 138(1), 23-44.
Pham, A. T. Q., Mukhopadhaya, P., & Vu, H. (2020). Targeting administrative regions for
multidimensional poverty alleviation: A study on Vietnam. Social Indicators Research, 1-47.
Sen, A. (2017). Elements of a theory of human rights. In Justice and the Capabilities
Approach (pp. 221-262): Routledge.
Tuấn, B. S. (2016). Tiếp cận nghèo đa chiều - một số vấn đề đặt ra. Khoa học Lao động và
Xã hội, 46, 19-27.
UBND tỉnh Quảng Ngãi (2017). Quyết định số 45/QĐ-UBND Phê duyệt kết quả rà soát, đánh
giá hộ nghèo năm 2016 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020. Retrieved from quangngai.gov.vn
UBND tỉnh Quảng Ngãi (2018). Quyết định số 60/QĐ-UBND Phê duyệt kết quả rà soát, đánh
giá nghèo năm 2017 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020. Retrieved from quangngai.gov.vn
UBND tỉnh Quảng Ngãi (2019). Quyết định số 149/QĐ-UBND Phê duyệt kết quả, rà soát,
đánh giá nghèo năm 2018 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020. Retrieved from quangngai.
gov.vn
UBND tỉnh Quảng Ngãi (2020). Quyết định số 123/QĐ-UBND Phê duyệt kết quả rà soát
đánh giá nghèo năm 2019 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020. Retrieved from quangngai.
gov.vn
UBND tỉnh Quảng Ngãi (2021). Quyết định số 134/QĐ-UBND Phê duyệt kết quả rà soát
hộ nghèo, hộ cận nghèo năm 2020 theo chuẩn nghèo giai đoạn 2016 - 2020. Retrieved from
quangngai.gov.vn
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích sự thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản theo chuẩn nghèo đa chiều ở tỉnh Quảng Ngãi", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phan_tich_su_thieu_hut_cac_dich_vu_xa_hoi_co_ban_theo_chuan.pdf

