Vốn xã hội trong hoạt động sinh kế của người Ca dong vùng tái định cư Thủy điện sông Tranh 2 (nghiên cứu tại Thôn 6, xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam)
Vốn xã hội trong hoạt động sinh kế
của người Ca dong vùng tái định cư Thủy điện
sông Tranh 2 (nghiên cứu tại Thôn 6,
xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam)1
Bùi Thị Bích Lan(*)
Tóm tắt: Thời gian qua, để phục hồi sinh kế cho những cộng đồng chịu ảnh hưởng từ
các dự án phát triển, các chính sách hỗ trợ của Nhà nước và các tổ chức quốc tế đã quá
tập trung vào mục tiêu làm thế nào để cải thiện nguồn vốn tự nhiên, vốn vật chất, vốn tài
chính,... Trong khi đó, vốn xã hội - một nguồn lực vô hình nhưng cũng là vô hạn trong
phát triển bền vững lại chưa thực sự được quan tâm thỏa đáng. Bài viết làm rõ vai trò của
“vốn xã hội” trong mối quan hệ với “phát triển sinh kế”, sự suy giảm vai trò của nguồn
vốn này đã có ảnh hưởng như thế nào đến việc cải thiện chất lượng sinh kế của người Ca
dong vùng tái định cư. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa tham khảo trong việc xây dựng và
hoạch định chính sách phục hồi và ổn định sinh kế của những cộng đồng bị ảnh hưởng
trong các dự án phát triển ở Việt Nam hiện nay.
Từ khóa: Vốn xã hội, Sinh kế, Tái định cư, Người Ca dong, Thủy điện sông Tranh 2,
Quảng Nam
Abstract: In order to restore the livelihood of vulnerable communities affected by the
development projects, both the State’s and international organizations’ support policies
have so far biasedly focused on the goal of how to improve their natural, physical, and
financial capitals, etc. Meanwhile, social capital - an intangible (also infinite) resource in
sustainable development, has not been yet paid proper attention. The paper clarifies the role
of “social capital” in relation to “livelihood development” and how its decline has affected
the improvement of the livelihoods of Ca dong ethnic people in resettlement area. The
research outcome can be used as reference in policy formulation and planning for livelihood
restoration and stabilization of project affected communities in Vietnam today.
Keywords: Social Capital, Livelihoods, Resettlement, Ca dong People, Song Tranh 2
Hydropower, Quang Nam
1
Bài viết là một phần kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp Bộ (2019-2020) “Sinh kế của người Cơ-tu vùng
tái định cư Thủy điện A Vương và người Ca dong (Xơ-đăng) vùng tái định cư Thủy điện sông Tranh 2, tỉnh
Quảng Nam” do TS. Bùi Thị Bích Lan và TS. Nguyễn Thị Tám đồng chủ nhiệm.
Thông tin Khoa học xã hội, số 7.2020
40
1. Mở đầu
hiện nghiên cứu, xem xét về vốn xã hội của
người Ca dong trong hoạt động sinh kế ở
địa bàn nghiên cứu. Nội dung của bài viết
nhằm trả lời cho câu hỏi: nguồn vốn xã
hội đã thay đổi và có tác động như thế nào
tới quá trình ổn định, phục hồi sinh kế của
cộng đồng người Ca dong sau tái định cư?
2. Phương pháp và địa bàn nghiên cứu
Với phương pháp điền dã dân tộc học
là chủ đạo, chúng tôi đã thực hiện các cuộc
phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm với người
Ca dong ở địa bàn nghiên cứu (vào tháng
8/2019 và tháng 2/2020). Đối tượng phỏng
vấn sâu (18 người) đa dạng về độ tuổi,
giới tính, trình độ văn hóa, điều kiện kinh
tế,… Phỏng vấn đương đại được kết hợp
với phỏng vấn hồi cố để dựng lại bức tranh
hoạt động sinh kế của người dân trước và
sau khi tái định cư. 05 cuộc thảo luận nhóm
đã được thực hiện với đối tượng chủ yếu
là cán bộ thuộc các ban ngành địa phương
(07 người) và người dân Ca dong ở địa bàn
nghiên cứu (29 người). Nội dung thảo luận
liên quan đến chủ đề như thực trạng sinh kế
của người dân, những thuận lợi, khó khăn
trong chuyển đổi sinh kế và vai trò của vốn
xã hội trong quá trình chuyển đổi này.
Ở khu vực miền Trung, đã có không
ít các công trình thủy điện được xây dựng
trong những thập niên qua. Trong đó, Quảng
Nam được xem là một trong số những địa
bàn có nhiều công trình thủy điện nhất cả
nước. Với diện tích chỉ hơn 01 triệu ha và
dân số hơn 1,5 triệu người nhưng tỉnh này
hiện có 47 công trình thủy điện (gồm 10
công trình lớn, 37 công trình nhỏ và vừa)
(Trí Tín, 2012). Công tác di dân tái định
cư do xây dựng các công trình thủy điện ở
miền Trung cũng như tỉnh Quảng Nam đang
đặt ra khá nhiều vấn đề, trong đó có việc
ổn định đời sống cho đồng bào các dân tộc
thiểu số - những cộng đồng dễ bị tổn thương
Từ cuối những năm 1990, “vốn xã hội”
ngày càng nhận được sự quan tâm, tranh
luận của các nhà nghiên cứu ở Việt Nam và
trên thế giới. Theo Pierre Boudier, vốn xã
hội là “một tập hợp các nguồn lực hiện hữu
hoặc tiềm tàng, gắn với việc sở hữu một
mạng lưới bền vững gồm các mối quan hệ
quen biết hoặc thừa nhận lẫn nhau ít nhiều
được thể chế hóa” (Dẫn theo: Nguyễn Quý
Thanh, 2016: 22).
Ở Việt Nam, mặc dù còn nhiều tranh
luận về vấn đề này nhưng các nhà nghiên
cứu đều cơ bản thống nhất rằng, vốn xã hội
bao gồm các thể chế, mối quan hệ và các
giá trị như lòng tin, quy tắc hành xử,… chi
phối mọi sự tương tác giữa con người với
con người và từ đó góp phần vào sự phát
triển kinh tế. Càng những người yếu thế,
có thu nhập thấp, càng phải tăng cường cho
họ “nguồn lực mềm” (Nguyễn Văn Phúc và
cộng sự, 2014).
Trong lĩnh vực khoa học xã hội, nghiên
cứu về vốn xã hội không còn là chủ đề mới
mẻ, các nghiên cứu (Xem: Nguyễn Duy
Thắng, 2007; Nguyễn Văn Phúc và cộng
sự, 2014; Nguyễn Quý Thanh, 2016) đã
làm rõ được vai trò, mối liên hệ của nguồn
vốn này trong đời sống sinh kế của các
cộng đồng, tộc người.
Có nhiều cách tiếp cận khác nhau về
các thành tố của vốn xã hội. Trên cơ sở
tổng hợp các quan điểm và dựa vào bối
cảnh đặc thù của Việt Nam, Nguyễn Quý
Thanh (2016: 99) cho rằng, cấu trúc của
“vốn xã hội” bao gồm mạng lưới quan hệ
xã hội, lòng tin xã hội và sự tương tác của
hai thành tố này chính là “sự tham gia xã
hội”. Muốn xác định mức vốn xã hội hiện
tại cũng như xu thế của nó cần phải đánh
giá các thành tố đó. Chúng tôi dựa vào quan
điểm này của Nguyễn Quý Thanh khi thực
Vốn xã hội…
41
và khó tiếp cận với các nguồn lực để phát ha, trong đó diện tích đất ở là 10,79 ha
triển. Những hệ lụy của tái định cư thủy (0,23%); diện tích đất sản xuất nông nghiệp
điện đến chuyển đổi sinh kế vẫn còn đang là 692,84 ha (14,68%); diện tích đất lâm
khá “nóng” ở một số địa bàn, trong đó có nghiệp là 3.245,15 ha (68,77%); và diện
người Ca dong1 ở Thủy điện sông Tranh 2. tích đất khác là 770,02 (16,32) (Ủy ban
Khởi công năm 2006, công trình Thủy nhân dân xã Trà Bui, 2019).
điện sông Tranh 2 được xây dựng trên vùng 3. Thực trạng sinh kế của người Ca dong ở
đất xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My, tỉnh nơi tái định cư
Quảng Nam. Việc xây dựng nhà máy Thủy
Trong các hoạt động sinh kế của người
điện Sông Tranh 2 đã khiến cho toàn bộ đất Ca dong Thôn 6 ở nơi tái định cư, ngoài
nông nghiệp của xã Trà Bui trước đây bị trồng trọt, chăn nuôi, buôn bán nhỏ, khai
ngập trong lòng hồ và đa phần các hộ dân thác nguồn lợi tự nhiên thì đã xuất hiện
trong xã phải di dời đến khu tái định cư2.
thêm hoạt động làm thuê, làm ăn xa. Trồng
Sau 3 đợt di dời (từ năm 2006 đến trọt vẫn là hoạt động sinh kế chính và chịu
2009), xã Trà Bui bao gồm 9 thôn, tên thôn nhiều tác động nhất của tái định cư thủy
được đặt theo số thứ tự từ 1 đến 9. Từ ngày điện, thể hiện sự thay đổi lớn về cơ cấu cây
01/4/2019, Thôn 6 đã được thành lập trên trồng, diện tích, kỹ thuật và năng suất trồng
cơ sở hợp nhất toàn bộ diện tích, dân số của trọt. Phương án đền bù đất sản xuất và hoa
Thôn 1, Thôn 2 và một phần diện tích, dân màu trên đất được người dân lựa chọn là
số Thôn 3. Hiện tại, Thôn 6 có 266 hộ/1.240 quy ra tiền mặt nên diện tích đất canh tác
khẩu, trong đó, người Ca dong có 204 hộ, hiện nay của mỗi hộ gia đình chủ yếu do
người Mnông 54 hộ và người Kinh 8 hộ. người dân tự khai phá và một phần là do
Theo kết quả rà soát hộ nghèo của xã năm dùng tiền đền bù để mua lại đất của người
2019, Thôn 6 có tỷ lệ hộ nghèo khá cao với Mnông sở tại. Kết quả thảo luận nhóm với
60,8%; tổng diện tích tự nhiên là 4.718,794 lãnh đạo thôn cho thấy, Thôn 6 có khoảng
80% số hộ làm lúa rẫy, 100% số hộ trồng
keo, 20% số hộ trồng quế và 19% số hộ
đang trồng thử nghiệm cây trầm trên diện
1 Người Ca dong, một trong 5 nhóm của dân tộc
Xơ-đăng, có dân số khoảng trên 32.000 người (Ban
tích đất đồi rừng. Một số loại cây ăn quả
như cam, xoài, chôm chôm, bưởi… chủ
yếu được người dân trồng trong vườn nhà,
tuy nhiên do diện tích đất nhỏ hẹp (trung
bình 400m2/hộ) nên chưa đem lại hiệu quả
kinh tế cao. Do địa hình dốc, đất đai khô
cằn nên năng suất các loại cây lương thực
và hoa màu trên rẫy thấp hơn nhiều so với
nơi ở cũ. Trong bối cảnh đó, cây keo bắt
đầu xuất hiện trong cơ cấu cây trồng của
người dân nơi đây vào đầu những năm
2000. Do thích nghi được với điều kiện đất
đai đã bạc màu, chi phí đầu tư thấp nên cây
trồng này nhanh chóng được mở rộng diện
Dân tộc tỉnh Quảng Nam, 2019), phân bố chủ yếu ở
miền núi tỉnh Quảng Nam (huyện Nam Trà My và
Bắc Trà My), các nhóm còn lại tập trung ở phía Bắc
tỉnh Kon Tum.
2 Hiện nay, xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My, tỉnh
Quảng Nam có 1.385 hộ/6.360 nhân khẩu, trong đó,
người Ca dong chiếm đa số với 1.128hộ/5.223 khẩu,
chiếm 82,1%; Mnông có 195 hộ/869 khẩu, chiếm
14,09%; còn lại là Kinh, Co, Cơ-tu, Thái,… Năm
2019, hộ nghèo toàn xã là 879 hộ, chiếm 63,5%.
Ngoài sản xuất nông nghiệp, làm thuê là những
hoạt động sinh kế chủ yếu thì khai thác nguồn lợi tự
nhiên vẫn đóng vai trò tương đối quan trọng trong
đảm bảo sinh kế của một số hộ gia đình với việc
khai thác lâm sản phụ. Thương mại, dịch vụ chỉ
chiếm khoảng 2,09% tổng thu nhập toàn xã (Ủy ban
nhân dân xã Trà Bui, 2019).
Thông tin Khoa học xã hội, số 7.2020
42
tích và đến nay đã trở thành cây trồng chủ việc khai thác cây mây, cây đót sẵn có trong
lực ở đây. Tuy nhiên, theo tính toán của rừng để bán cho các tư thương người Kinh.
chúng tôi, dù thu được 15-20 triệu đồng/ha/ 4. Vốn xã hội trong hoạt động sinh kế của
vụ keo từ 5-7 năm (tư thương tự khai thác người Ca dong ở nơi tái định cư
và vận chuyển) thì lợi nhuận mà người dân
thu được là không đáng kể, sau khi đã trừ đi quan trọng trong phát triển bền vững nói
số ngày công phát rẫy và chăm sóc. chung và đời sống sinh kế nói riêng của
Như đã đề cập, vốn xã hội có vai trò
Kết quả khảo sát cho thấy, hoạt động mỗi hộ gia đình và cộng đồng người Ca
chăn nuôi của người dân ở Thôn 6 dù đang dong. Trước khi tái định cư cũng như hiện
góp phần cải thiện thu nhập cho các hộ gia nay, nguồn vốn này được người Ca dong
đình nhưng so với nơi ở cũ, số lượng này ở Thôn 6 phát huy một cách tích cực trong
đã bị suy giảm hơn nhiều. Ngoài một số ít các hoạt động sinh kế. Bên cạnh việc duy
hộ có số lượng đàn gia súc trên dưới 20 con trì các mối quan hệ truyền thống, họ cũng
thì đa số các hộ vẫn chăn nuôi với quy mô đang có xu hướng mở rộng mạng lưới của
nhỏ lẻ, ít chăm sóc, đầu tư kỹ thuật, dịch mình ra thế giới bên ngoài. Nguồn vốn xã
bệnh nhiều và nhất là thiếu nguồn thức ăn, hội này không chỉ là chỗ dựa của các cá
bãi chăn thả nên hiệu quả thấp. Cũng giống nhân về mặt tinh thần, tình cảm mà còn
như cư dân ở một số vùng tái định cư thủy đem lại sự hỗ trợ về tài chính, công lao
điện khác, do thiếu đất sản xuất và chất động, tìm kiếm việc làm,… Tuy nhiên, sự
lượng đất kém nên việc đa dạng hóa các tác động của nền kinh tế thị trường cộng
hoạt động sinh kế là tất yếu. Trong đó, nổi thêm những cơ chế, chính sách tái định cư
lên xu hướng ly nông và ly hương (nhất là khiến cho nguồn vốn xã hội của cộng đồng
ở các hộ mới tách) để tìm kiếm việc làm này đã và đang có xu hướng biến đổi, ảnh
ở các trung tâm, các thành phố lớn (thành hưởng trực tiếp đến phát triển sinh kế của
phố Tam Kỳ, Đà Nẵng, Bình Dương) với hộ gia đình, cụ thể là:
tổng số khoảng 40-50 lao động. Công việc
a) Về tính cố kết trong mạng lưới xã hội
chủ yếu là phụ hồ (nam giới) và công nhân truyền thống
khu công nghiệp (nữ giới). Ngoài ra, với
Quy luật của nền kinh tế thị trường và
sự phát triển của cây keo, nhiều người những thay đổi do tái định cư mang lại đã
dân còn làm thuê ngay tại địa phương cho có tác động không nhỏ tới tính chất các mối
người Kinh hoặc người đồng tộc trong một quan hệ xã hội truyền thống. Áp lực tìm
số công đoạn như phát rẫy, trồng, khai thác kiếm việc làm và thu nhập sau tái định cư
và vận chuyển keo với mức thù lao khoảng ngày càng gia tăng đã dẫn đến hậu quả là
150-200 nghìn đồng/ngày. Buôn bán nhỏ các thành viên trong mạng lưới xã hội bớt
chỉ thu hút sự tham gia của một số hộ, chủ đi sự quan tâm, sẻ chia lẫn nhau và không
yếu là kinh doanh tạp hóa với các mặt hàng còn sự kết nối chặt chẽ như trước.
thiết yếu, phục vụ nhu cầu sinh hoạt hằng
Ý thức coi trọng các quyền lợi, nghĩa
ngày của người dân. Khai thác tự nhiên vụ của cá nhân đối với gia đình, dòng họ và
vẫn được duy trì, tuy nguồn lợi thu được cộng đồng cũng dần suy giảm. Tình trạng
không thường xuyên nhưng góp phần đáp lao động di cư đã khiến cho không ít thành
ứng phần nào nguồn thực phẩm hằng ngày. viên trong cộng đồng hiếm khi có dịp đoàn
Một số hộ có nguồn thu nhập đáng kể từ tụ, trừ các dịp lễ tết và vì thế mà sự tương
Vốn xã hội…
43
trợ giữa họ trong các hoạt động sinh kế trở tình trạng người dân cho nhau mượn đất
nên lỏng lẻo hơn. canh tác và việc đòi lại không dễ dàng khi
Hiện nay, hình thức đổi công truyền hộ mượn đất đang chịu sức ép về đất sản
thống đã bị phá vỡ bởi tư duy của nền kinh xuất. Hiện tại, Thôn vẫn còn 6 trường hợp
tế thị trường và cả những xáo trộn về nơi cư đang kiện tụng nhau về đất đai, chưa được
trú. Một trong 5 nguyên tắc chính mà Ngân giải quyết dứt điểm.
hàng Thế giới (WB) hay Ngân hàng Phát
Trong quản lý cộng đồng hiện nay, hệ
triển Châu Á (ADB) yêu cầu đối với chính thống quan phương và phi quan phương
sách xây dựng khu tái định cư, tái định canh cùng song song tồn tại. Tuy nhiên, khi một
là phải duy trì các đặc điểm cộng đồng. Thế số chuẩn mực, giá trị, luật tục trong cộng
nhưng, ở Dự án Thủy điện sông Tranh 2, đồng có xu hướng suy giảm và đội ngũ
việc bố trí vị trí nhà ở tái định cư theo hình những người có uy tín chỉ lui về vị trí bảo
thức bốc thăm (dù không nhận được sự đồng lưu, truyền dạy văn hóa truyền thống thì
tình từ phía người dân) đã khiến cho mạng những chức danh “quan phương” (thường
lưới quan hệ láng giềng vốn được bồi đắp là trẻ tuổi, thiếu kinh nghiệm) vẫn chưa thể
qua nhiều thế hệ không còn không gian để thay thế và đảm nhiệm tốt vai trò quản lý
tồn tại. Do thiếu thời gian tương tác, các hộ cộng đồng. Dù đang có sự trao truyền hay
gia đình không tránh khỏi cảm giác lạc lõng phối hợp giữa các thế hệ trong điều hành
và phải mất một thời gian dài mới có thể tạo các công việc chung nhưng không thể phủ
lập những mối quan hệ láng giềng mới.
nhận sự hụt hẫng, đứt đoạn nhất định trong
Theo kết quả khảo sát tại Thôn 6, khi bộ máy quản lý cộng đồng. Điều này đã
cộng đồng láng giềng cũ bị phân tán, người có ảnh hưởng không tích cực đến công tác
dân phải định cư ở những nơi không còn tuyên truyền, chỉ đạo, hướng dẫn người
mạng lưới quen thuộc thì cũng là lúc họ dân thực hiện các chủ trương, đường lối
mất đi sự tương trợ vốn có trong sinh kế. của Đảng và Nhà nước, trong đó có các mô
Thay vì hình thức đổi công khi bước vào hình phát triển sinh kế nơi tái định cư.
thời vụ, việc thuê mướn lao động đã ngày
càng trở nên phổ biến và đặt ra nhiều khó
b) Về lòng tin xã hội
“Lòng tin xã hội” được xem là có ý
khăn, thách thức cho những hộ già yếu, neo nghĩa quan trọng trong sự hình thành vốn
đơn, bệnh tật,… Họ cảm thấy bị cô lập và ít xã hội, nó chỉ mức độ tin tưởng của cá nhân
nhận được sự trợ giúp về vật chất hay tình với cá nhân, gia đình, họ hàng, các nhóm
cảm, ngay cả từ những người anh em họ xã hội. Nghiên cứu về vai trò của lòng
hàng gần.
tin trong sự phát triển sinh kế, tác giả F.
Sự hạn chế về diện tích đất sản xuất Fukuyama cho rằng, mức độ lòng tin cao
tại nơi ở mới cũng là một trong những lý trong các quan hệ xã hội sẽ làm giảm đi
do khiến cho tinh thần tương trợ trước đây các chi phí giao dịch, thông tin và tạo ra
bị phai nhạt và nảy sinh ngày càng nhiều quá trình giám sát hiệu quả hơn. Mỗi người
những mâu thuẫn về lợi ích. Gia súc của là trung tâm của một hình tròn và họ có
một số hộ chăn nuôi thả rông đã phá hoại bán kính tin tưởng với những người xung
hoa màu của các hộ khác, ảnh hưởng không quanh, bán kính này càng lớn thì càng có
tích cực đến mối quan hệ cộng đồng. Tranh tác động tích cực tới sinh kế (Dẫn theo:
chấp đất đai cũng không hiếm gặp, đó là Nguyễn Quý Thanh, 2016: 51).
Thông tin Khoa học xã hội, số 7.2020
44
Câu chuyện về thông tin liên quan đến tin của người dân với bộ máy chính quyền,
công tác đền bù. Một xã hội minh bạch với Nhà nước.
về thông tin sẽ khiến các thành viên gia
Câu chuyện về dòng sông “chết”: Xã
tăng mức độ tin tưởng và qua đó gia tăng Trà Bui có 2 dòng sông lớn chảy qua là
vốn xã hội cho phát triển sinh kế. Theo sông Tranh và sông Bui. Theo lời của một
một nghiên cứu, các tổ chức phi chính già làng (nam, 79 tuổi), dòng sông Bui
phủ khi triển khai dự án đều có xu hướng chạy dọc qua làng vốn trong xanh, hiền
minh bạch hóa các hoạt động của họ để hòa và đem lại nguồn thủy sản rất dồi dào
người dân được biết và hưởng ứng. Điều cho người dân ở Thôn 6. Từ những năm
này khiến cho những người nghèo và 2008, 2009 đến nay, với danh nghĩa “thăm
những nhóm yếu thế có cơ hội được tiếp dò khoáng sản” ở đây, một công ty đã tiến
cận được với những nguồn lực giúp họ có hành khai thác vàng với công suất lớn.
thể thoát nghèo. Khi minh bạch thông tin, Đất thải, xái quặng thải đổ thẳng xuống
chính quyền sẽ nhận lại từ phía người dân sông khiến môi trường bị ô nhiễm nghiêm
sự tin tưởng, sự ủng hộ khi cần hợp tác trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến sản xuất và
triển khai những công việc chung (Khúc sức khỏe của hàng ngàn người dân. Nguồn
Thị Thanh Vân, 2013).
cá tôm hoàn toàn biến mất, dòng sông Bui
Với những cộng đồng bị hạn chế về “oằn mình” gánh chất thải nên có màu
các phương tiện thông tin đại chúng cũng trắng đục hoặc màu tro, đôi khi chuyển
như sự nhạy bén với nền kinh tế thị trường màu đen bất thường, bốc mùi nồng nặc của
thì việc minh bạch thông tin lại càng quan hóa chất, nhất là về mùa hè. Mất nguồn
trọng, nhất là khi có các dự án triển khai. lợi thủy sản, thu hẹp không gian chăn thả
Tuy nhiên, kết quả thảo luận nhóm cho gia súc, ô nhiễm nguồn nước sinh hoạt và
thấy, năm 2005, lợi dụng việc người dân không khí,… là những tác động hiện hữu,
không nắm được thông tin về Dự án Thủy ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe
điện sông Tranh 2, một bộ phận người và sinh kế, khiến người dân ở Thôn 6 vô
Kinh đã nhanh chóng thu mua được một cùng lo lắng, bức xúc. Trong các cuộc tiếp
diện tích khá lớn đất rẫy và đất trồng rừng xúc cử tri, những phản hồi, giải thích của
(ước tính tới gần 100 ha) của hơn 50% số chính quyền địa phương và các ban ngành
hộ người Ca dong ở Thôn 1 và Thôn 2 cũ liên quan về vấn nạn trên không làm vơi
(Thôn 6 hiện nay). Thắc mắc được người đi những bức xúc của người dân. Theo kết
dân đặt ra là, nếu chính quyền địa phương quả thảo luận nhóm, 6/8 ý kiến cho rằng,
và Ban quản lý dự án kịp thời phổ biến một số cán bộ địa phương có biểu hiện bao
thông tin và tham vấn cộng đồng trong che, tiếp tay cho các hoạt động khai thác,
quy trình bồi thường, đền bù tái định cư vận chuyển, chế biến khoáng sản, lâm
thì rất có thể, người dân đã bảo vệ được sản trái phép. Ý thức chấp hành các chủ
tài sản của mình. Vấn đề này không chỉ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và
ảnh hưởng trực tiếp, nặng nề đến nguồn địa phương ở một bộ phận người dân ngày
vốn tự nhiên, vốn tài chính trong phục hồi càng hạn chế đã cho thấy mức độ suy giảm
sinh kế ở nơi tái định cư mà còn tác động lòng tin của họ với bộ máy chính quyền.
không tích cực tới mối quan hệ tộc người Mất đi sự tin cẩn đồng nghĩa với việc suy
(Kinh - Ca dong) và nhất là suy giảm lòng giảm mức độ tham gia xã hội của người
Vốn xã hội…
45
dân trong quá trình phát triển kinh tế - xã nhẹ. Điều đáng lưu ý là ở nước ta hiện nay,
hội của địa phương, cũng là suy giảm vốn không chỉ các cộng đồng yếu thế mà ngay
xã hội của họ trong phát triển sinh kế. cả các nhà quản lý, hoạch định chính sách
Theo kết quả khảo sát, rất nhiều mô hình trong các dự án tái định cư thủy điện nói
chuyển đổi cây trồng, vật nuôi, xóa đói riêng và các dự án phát triển nói chung vẫn
giảm nghèo đã được triển khai ở Thôn 6 chưa nhận thức được đầy đủ vai trò, sức
nhưng mức độ đón nhận, hưởng ứng của mạnh của vốn xã hội
người dân chưa cao. Khi niềm tin không
còn, một bộ phận người dân, trong đó có Tài liệu tham khảo
cả người Ca dong, cả những cán bộ, đảng 1. Ban Dân tộc tỉnh Quảng Nam (2019),
viên đã tiến hành những hoạt động sinh kế
bất chấp các quy định của Nhà nước và sự
ngăn cấm của chính quyền, như quay về
nơi ở cũ để canh tác, phá rừng, khai thác
gỗ trái phép trong suốt thời gian qua.
5. Kết luận
“Thực hiện chính sách dân tộc ở tỉnh
Quảng Nam, thực trạng và những vấn
đề đặt ra”, Báo cáo tham luận tại Hội
thảo khoa học Thực trạng phát triển
kinh tế - xã hội các dân tộc thiểu số tại
chỗ miền núi Quảng Nam và một số
vấn đề đặt ra, tổ chức ngày 24/4/2019,
Thành phố Tam Kỳ.
Vốn xã hội không hoàn toàn tích cực,
nhưng nếu biết cách khai thác, nó có thể
trở thành động lực quan trọng trong phát 2. Nguyễn Văn Phúc và cộng sự (2014),
triển sinh kế, nhất là ở những cộng đồng
kém phát triển. Dù được biểu hiện ở dạng
vô hình, không đong đếm được như vốn vật
“Vốn xã hội và tăng trưởng kinh tế”,
Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Mở,
số 3, tr. 3-15.
chất hay vốn tài chính, nhưng trên thực tế, 3. Nguyễn Quý Thanh (chủ biên, 2016),
với tính vô hạn, nó đã chứng minh được vai
trò quan trọng trong phát triển bền vững.
Lòng tin xã hội và mức độ tham gia các tổ
chức xã hội càng cao thì vốn xã hội càng
Phép đạc tam giác về vốn xã hội của
người Việt Nam: Mạng lưới quan hệ -
lòng tin - sự tham gia, Nxb. Đại học
Quốc gia Hà Nội, Hà Nội.
lớn và ngược lại. Càng những người yếu 4. Nguyễn Duy Thắng (2007), “Sử dụng
thế, có thu nhập thấp, càng phải tăng cường
cho họ “nguồn lực mềm” này.
Những phân tích trong bài viết đã cho
thấy, việc suy giảm một số giá trị, chuẩn
vốn xã hội trong chiến lược sinh kế của
nông dân ven đô Hà Nội dưới tác động
của đô thị hóa”, Tạp chí Xã hội học, số
4, tr. 37 - 47.
mực và lòng tin đã khiến cho các mối quan 5. Ủy ban nhân dân xã Trà Bui (2019),
hệ xã hội phần nào trở nên thiếu bền chặt,
cũng là sự suy giảm “sức đề kháng” của các
hoạt động sinh kế trước những biến động
của tái định cư và nền kinh tế thị trường.
Báo cáo kết quả thực hiện nhiệm vụ
phát triển kinh tế - xã hội, an ninh, quốc
phòng năm 2019 và phương hướng,
nhiệm vụ năm 2020.
Vì vậy, với người dân ở Thôn 6, việc tăng 6. Khúc Thị Thanh Vân (chủ biên, 2013),
cường tính cố kết trong mạng lưới xã hội và
xây dựng lòng tin của người dân với chính
quyền, với các chủ trương, chính sách, pháp
luật của Nhà nước là vấn đề không thể xem
Tác động của vốn xã hội đến nông dân
trong quá trình phát triển bền vững
nông thôn vùng đồng bắc Bắc bộ (2010-
2020), Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.
Bạn đang xem tài liệu "Vốn xã hội trong hoạt động sinh kế của người Ca dong vùng tái định cư Thủy điện sông Tranh 2 (nghiên cứu tại Thôn 6, xã Trà Bui, huyện Bắc Trà My, tỉnh Quảng Nam)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
von_xa_hoi_trong_hoat_dong_sinh_ke_cua_nguoi_ca_dong_vung_ta.pdf

