Hành vi truyền thông xã hội của sinh viên - Tiếp cận từ lý thuyết sử dụng và hài lòng

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
TẠP CHÍ KHOA HỌC  
ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Số 74 (02/2021)  
SAIGON UNIVERSITY  
SCIENTIFIC JOURNAL  
OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
HÀNH VI TRUYỀN THÔNG XàHỘI CỦA SINH VIÊN -  
TIẾP CẬN TỪ LÝ THUYẾT SỬ DỤNG VÀ HÀI LÒNG  
Social media behavior of students approach from the uses and gratifications theory  
ThS. Nguyễn Thành Phương  
Trường Đại học Sài Gòn  
TÓM TẮT  
Truyền thông xã hội được sinh viên sử dụng ngày càng phổ biến nhằm đáp ứng nhu cầu  
của họ. Cách thức sử dụng truyền thông xã hội của sinh viên phụ thuộc vào mức độ nhận  
thức và thái độ của họ. Với cách tiếp cận lý thuyết sử dụng và hài lòng, vai trò của sinh  
viên trong việc sử dụng truyền thông xã hội được đề cao. Điều đó được biểu hiện trong  
việc lựa chọn và sử dụng truyền thông xã hội. Họ chủ động trong việc tìm hiểu và lựa chọn  
loại hình tham gia. Trên cơ sở tìm hiểu chức năng, hành vi truyền thông xã hội của sinh  
viên được biểu hiện thông qua các hoạt động cụ thể.  
Từ khóa: hành vi truyền thông xã hội, lý thuyết sử dụng và hài lòng, truyền thông xã hội  
ABSTRACT  
Social media is increasingly used by students to meet their need. Student’s use of social media depends  
on their cognitive and attitude levels. With the uses and gratifications theory approach, the role of  
students in the use of social media is enhanced. That is manifested in the selection and use social media.  
They are proactive in finding out and choosing the type of social media to join. Based on understanding  
the functions of social media, student’s behavior on social media is expressed through specific  
activities.  
Keywords: social media behavior, the uses and gratifications theory, social media  
Mạng xã hội đã, đang và sẽ tiếp tục là công  
cụ làm việc, giải trí, nguồn thông tin quan  
trọng trong cuộc sống của người Việt Nam.  
Trong đó, Facebook là loại hình truyền  
thông xã hội đang chiếm ưu thế nhất hiện  
nay (Hootsuite, 2020).  
Sinh viên (SV) là tầng lớp tri thức trẻ,  
chủ nhân tương lai của đất nước, học tập,  
rèn luyện tay nghề là một trong những  
nhiệm vụ quan trọng mà họ cần phải thực  
hiện ngay khi còn ngồi trên ghế nhà  
1. Mở đầu  
Vào thời đại kỷ nguyên số và Internet,  
truyền thông xã hội đã trở thành một trong  
những công cụ, phương tiện không thể  
thiếu trong đời sống xã hội. Truyền thông  
xã hội đã và đang đáp ứng những nhu cầu  
của người sử dụng ở nhiều tầng lớp khác  
nhau, số lượng người tham gia không  
ngừng tăng lên. Trong những tháng đầu  
năm năm 2020, có khoảng 67% người Việt  
Nam đang sử dụng truyền thông xã hội.  
64  
NGUYỄN THÀNH PHƯƠNG  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
trường. Để khám phá tri thức, SV tìm kiếm  
thông tin, tư liệu từ nhiều nguồn khác  
nhau, trong đó Internet là hình thức phổ  
biến. Không những vậy, những nhu cầu  
khác của SV như giao lưu, kết bạn, giải trí,  
khẳng định bản thân... cũng phát triển  
mạnh ở trong giai đoạn này. SV sẽ tìm đến  
các phương tiện giúp họ thỏa mãn nhu cầu  
và do vậy truyền thông xã hội trở thành  
công cụ không thể thiếu trong đời sống của  
họ.  
Từ khi truyền thông xuất hiện, nhiều lý  
thuyết nghiên cứu đã được đặt nền móng  
và phát triển cho đến ngày nay. Trong đó,  
lý thuyết sử dụng và hài lòng (uses and  
gratifications theory) sớm được đề xuất và  
trở nên kinh điển trong nghiên cứu truyền  
thông, bởi vì nó đề cao tính chủ động của  
người sử dụng (Ivan, Maja & Zrinka,  
2014). Không chỉ dừng lại ở việc nghiên  
cứu các phương tiện truyền thống, lý  
thuyết này đã và đang phát huy những giá  
trị nhất định trong nghiên cứu những loại  
hình truyền thông mới hiện nay (Aisar,  
Mohd & Nur, 2015). Tuy nhiên, việc sử  
dụng lý thuyết này trong nghiên cứu hành  
vi của người sử dụng trên các phương tiện  
truyền thông xã hội chưa đầy đủ ở Việt  
Nam, đặc biệt là nghiên cứu đối với SV.  
Do đó, bài viết “Hành vi truyền thông xã  
hội của sinh viên - Tiếp cận từ lý thuyết  
sử dụng và hài lòng” được đề xuất và  
nghiên cứu. Kết quả bài viết sẽ bổ sung vào  
cơ sở lý luận về hành vi sử dụng truyền  
thông xã hội.  
những ý kiến về hình ảnh, các đoạn video,  
âm nhạc, hiểu biết và nhận thức với người  
khác (Lai & Turban, 2008). Blackshaw và  
cộng sự (2006) cho rằng, TTXH có thể  
được mô tả như một nền tảng mà người  
dùng có thể kiến tạo, lưu hành và sử dụng  
thông tin trực tuyến.  
Howard và Park (2012) cho rằng,  
TTXH bao gồm ba phần: cơ sở hạ tầng, nội  
dung và con người. Cơ sở hạ tầng là những  
thông tin và các công cụ được sử dụng để  
sản xuất và phân phối nội dung. Nội dung  
được truyền tải trên TTXH ở dạng kỹ thuật  
số như tin nhắn, tin tức, ý tưởng và các sản  
phẩm văn hóa. Con người không chỉ là cá  
nhân mà còn là những tổ chức, ngành và  
lĩnh vực. Khi sử dụng TTXH, bất cứ ai  
cũng có thể trở thành nguồn kiến tạo và  
tiêu thụ nội dung, nhưng phần lớn mọi  
người đóng vai trò người tham gia hoặc  
tiêu thụ nội dung.  
Từ những quan niệm trên, chúng tôi  
hiểu rằng, TTXH là các dịch vụ trực tuyến  
cho phép người dùng có thể kiến tạo hoặc  
trao đổi nội dung với nhau, có khả năng  
tương tác với người khác mà không có giới  
hạn về thời gian và khoảng cách, có khả  
năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin.  
2.1.2. Các loại hình truyền thông xã hội  
Do chưa có sự thống nhất trong việc  
xác định nội hàm, nên việc phân chia  
TTXH được thực hiện theo nhiều cách với  
quan điểm khác nhau.  
Kennedy và cộng sự (2007) cho rằng,  
TTXH được chia thành các nhóm sau:  
mạng xã hội (Social networking sites);  
Blogs; Microblogs; các trang chia sẻ nội  
dung (Content sharing sites); các trang  
đánh dấu xã hội (Social bookmaking  
sites), Wikis, Podcasts và Forums. Cách  
phân chia này cũng được các tác giả khác  
đồng tình.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Truyền thông xã hội  
2.1.1. Khái niệm truyền thông xã hội  
Hiện nay, truyền thông xã hội (TTXH)  
được hiểu theo nhiều cách khác nhau.  
TTXH đề cập đến các nền tảng trực  
tuyến mà mọi người sử dụng để chia sẻ  
65  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
Lee (2013) phân chia TTXH thành  
năm nhóm chính: mạng xã hội (Social  
networking sites); tin tức xã hội (Social  
news); các trang chia sẻ phương tiện truyền  
thông (Media sharing sites); Blogs và  
Micro blogging.  
Theo Nghị định 72/2013/NĐ-CP của  
Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam,  
TTXH bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin  
điện tử cá nhân, diễn đàn, trò chuyện, chia  
sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức  
dịch vụ tương tự khác.  
của con người được hình thành và thúc đẩy  
thông qua hệ thống nhu cầu của họ  
(Nguyễn Hồi Loan & Trần Thu Hương,  
2019). Nếu người dùng có nhu cầu giải trí,  
họ sẽ tìm đến các trang chia sẻ video, hình  
ảnh hoặc họ sẽ sử dụng các trang mạng xã  
hội nếu họ có nhu cầu giao lưu, kết bạn.  
Cuối cùng, người dùng có thể đánh giá  
thông tin trên các phương tiện truyền thông  
thay vì chỉ đọc hoặc xem thông tin  
(Blumler, 1979). Người dùng không chỉ  
đọc mà còn thể hiện quan điểm cá nhân về  
các thông tin được đăng tải trên phương  
tiện truyền thông. Mặc dù cùng một thông  
tin nhưng họ có thể đánh giá khác nhau.  
Điều đó phụ thuộc vào quan điểm, góc  
nhìn cá nhân. Chẳng hạn, cùng một bộ  
phim nhưng với thái độ của mỗi người  
khác nhau, họ sẽ có cách nhìn khác nhau.  
Các quan điểm, đánh giá được biểu thị  
thông qua các chức năng cụ thể của TTXH  
như like, share, comment, v.v.  
Qua đó cho thấy, lý thuyết U&G đã  
phản bác tiền đề lỗi thời “người sử dụng  
luôn ở thế bị động khi sử dụng các loại  
hình truyền thông, ảnh hưởng của phương  
tiện truyền thông lên tất cả người dùng đều  
giống nhau” (Griffin, 2012, tr. 358). Hơn  
nữa, lý thuyết này cho rằng “con người là  
chủ thể của các hoạt động và hệ thống nhu  
cầu là nguồn gốc các hoạt động” (Katz et  
al., 1973). Như vậy, lý thuyết U&G đã  
cung cấp cái nhìn toàn diện, sâu sắc về  
động cơ lựa chọn và sử dụng các phương  
tiện truyền thông của người dùng. Đó là  
vấn đề cốt lõi mà lý thuyết U&G hướng  
tới.  
2.2. Lý thuyết sử dụng và hài lòng  
Lý thuyết sử dụng và hài lòng (Uses  
and Gratifications theory - U&G) đã và  
đang phát huy những giá trị tích cực trong  
việc nghiên cứu truyền thông. Mô hình  
nghiên cứu của lý thuyết U&G đề cao vai  
trò người sử dụng. Hiểu đơn giản, với lý  
thuyết này, người sử dụng là chủ thể quyết  
định đến việc chọn lựa và sử dụng các  
phương tiện truyền thông nhằm đáp ứng  
các nhu cầu cụ thể. Sự chủ động của người  
dùng được thể hiện trên nhiều phương diện  
khác nhau.  
Trước tiên, người dùng có thể chủ  
động lựa chọn các phương tiện truyền  
thông đáp ứng những yêu cầu cụ thể. Họ  
lựa chọn loại hình TTXH dựa vào chức  
năng của chúng phù hợp với nhu cầu của  
họ (Blumler, 1979). Cụ thể, người dùng  
muốn tham gia một khóa học tiếng Anh, họ  
có thể chủ động tìm kiếm thông tin khóa  
học trên nhiều phương tiện truyền thông  
khác nhau. Người dùng có xu hướng lựa  
chọn các phương tiện truyền thông cung  
cấp nhiều thông tin về khóa học, phù hợp  
với mục tiêu của họ.  
Mặc dù được đặt nền móng từ khá sớm  
nhưng mãi đến những năm 1970, lý thuyết  
U&G mới được hình thành. Trong thời  
gian trên, lý thuyết này tiếp cận cả hai khía  
cạnh: chức năng và tâm lý. Tiếp cận chức  
Thứ hai, việc lựa chọn, sử dụng  
phương tiện truyền thông có mối liên kết  
với nhu cầu cụ thể của từng cá nhân (Katz  
et al., 1973). Điều đó minh chứng hành vi  
66  
NGUYỄN THÀNH PHƯƠNG  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
năng nhằm tìm kiếm câu trả lời cho câu  
hỏi: cách mà người dùng sử dụng phương  
tiện truyền thông và nội dung đăng tải trên  
các phương tiện truyền thông. Tiếp cận này  
đã tìm ra nhiều lý do cho việc sử dụng các  
phương tiện truyền thông. Tiếp cận thứ hai  
(tiếp cận khía cạnh tâm lý) nhằm tìm ra đáp  
án cho câu hỏi: động cơ nào dẫn đến việc  
lựa chọn và sử dụng các phương tiện  
truyền thông. Các nguyên nhân, động cơ  
được phân loại đầu tiên bởi Quail, Blumler  
và Brown (1972) thông qua việc liên kết  
giữa hoàn cảnh xã hội và sự hài lòng của  
người dùng. Chúng được phân loại gồm:  
(a) chuyển hướng (trốn tránh hoặc giải tỏa  
cảm xúc); (b) quan hệ cá nhân (bạn đồng  
hành, tiện ích xã hội); (c) nhận diện bản  
thân (tham chiếu nhân cách, khám phá thực  
tế, giá trị cốt lõi); (d) giám sát (thu thập tin  
tức và thông tin).  
Sau đó, Katz, Gurevitch và Hass  
(1973) đã phát triển các nhu cầu cụ thể dựa  
trên chức năng xã hội và tâm lý, phân loại  
chúng thành 05 loại sau: (1) nhu cầu nhận  
thức (thu thập thông tin, kiến thức, hiểu  
biết môi trường xã hội, khám phá); (2) nhu  
cầu tình cảm (cảm xúc, niềm vui, cảm  
giác); (3) nhu cầu hòa nhập (uy tín, ổn định  
và trạng thái); (4) nhu cầu hòa nhập xã hội  
(kết nối và tương tác với gia đình, bạn bè);  
(5) nhu cầu giải tỏa căng thẳng (trốn tránh  
và chuyển hướng).  
quá trình hoạt động lao động và giao lưu  
xã hội.  
A.N. Leonchiev cho rằng “con người  
là một chủ thể chứ không phải là một cá  
thể thích nghi thụ động với môi trường.  
Hành vi của con người luôn có mục đích.  
Hành vi đó không chỉ đảm bảo cho con  
người tồn tại mà còn đảm bảo cho con  
người phát triển” (Nguyễn Hồi Loan, &  
Trần Thu Hương, 2019). Hiểu đơn giản  
hơn, hành vi con người là chuỗi của hành  
động nhằm thỏa mãn nhu cầu của con  
người.  
Trong Từ điển Tâm lý học, Vũ Dũng  
đã viết “Hành vi là sự tương tác của cá  
nhân với môi trường bên ngoài trên cơ sở  
tính tích cực bên ngoài (vận động) và bên  
trong (tâm lý) của chúng, trong đó có định  
hướng của cơ thể sống đảm bảo thực hiện  
các tiếp xúc với thế giới bên ngoài” (Vũ  
Dũng, 2000, tr.259).  
Nguyễn Hồi Loan và cộng sự (2019)  
cho rằng hành vi của con người là tổ hợp  
các cử động, thao tác, hành động bên ngoài  
được biểu hiện bằng phản ứng của họ với  
thế giới xung quanh và với chính mình do  
tâm lý định hướng, điều khiển, điều chỉnh  
nhằm đạt được mục đích nhất định.  
Nguyễn Thị Bắc (2018) cho rằng,  
“Hành vi là sự ứng xử của chủ thể đối với  
môi trường, đối với bản thân họ và đối với  
người khác do ý thức định hướng, điều  
khiển, điều chỉnh”.  
Tóm lại, khi phân tích hành vi TTXH  
dưới tiếp cận học thuyết U&G phải chỉ rõ  
cách mà người dùng thao tác trên TTXH và  
động cơ thúc đẩy họ sử dụng TTXH từ  
tổng quát đến cụ thể.  
2.3. Hành vi  
2.3.1. Khái niệm hành vi  
Theo trường phái tâm lý học hoạt  
động, để hiểu tâm lý và hành vi cần phải  
đặt hành vi và tâm lý người vào bên trong  
Từ những luận điểm trên, chúng tôi  
hiểu: hành vi là tổ hợp các phản ứng của  
cơ thể đối với môi trường, với các cá thể  
khác trong quá trình hoạt động do tâm lý  
định hướng, điều khiển và điều chỉnh sao  
cho phù hợp với từng thời điểm, hoàn cảnh  
nhất định nhằm làm thỏa mãn nhu cầu của  
con người.  
67  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
2.3.2. Đặc điểm của hành vi  
khoa học đương đại và có tính cập nhật. Do  
đó, họ cần phối hợp các thao tác tư duy  
(phân tích, so sánh, tổng hợp, trừu tượng  
hóa, khái quát hóa…) để tìm ra bản chất  
của vấn đề. Các hoạt động này diễn ra ở  
cường độ cao và có tính chọn lọc rõ ràng  
(Mai Thị Duyên, 2016). Không những vậy,  
phạm vi hoạt động nhận thức của SV được  
mở rộng phạm vi như thư viện, phòng thực  
hành, thí nghiệm, thực tế chuyên môn…  
vừa rèn luyện kỹ xảo vừa phát huy kỹ thuật  
nghề nghiệp (Nguyễn Hồi Loan & Trần  
Thu Hương, 2019). Để nâng cao kiến thức,  
SV chủ động tìm kiếm thông tin, cập nhật  
các thành tựu khoa học kỹ thuật trên nhiều  
phương tiện khác nhau. Internet là một  
trong những lựa chọn phổ biến nhất của SV  
vì những giá trị mà nó mang lại không thể  
chối bỏ. Hơn nữa, nhận thức của SV về vai  
trò của TTXH ngày càng rõ ràng hơn. Từ  
đó, họ sẽ xây dựng cách thức sử dụng và  
ứng xử phù hợp.  
Sự phát triển đời sống xúc cảm, tình cảm:  
Biểu hiện của tình cảm cấp cao (tình  
cảm trí tuệ, tình cảm đạo đức, tình cảm  
thẩm mĩ…) ngày càng phong phú, đa dạng  
và các loại tình cảm này phát triển ổn định  
ở lứa tuổi SV (Nguyễn Hồi Loan, & Trần  
Thu Hương, 2019). Tình cảm khác giới ở  
lứa tuổi SV có định hướng nhất định. Hơn  
nữa, tình cảm nghề nghiệp là một trong  
những loại tình cảm được hình thành và  
phát triển trong giai đoạn này (Mai Thị  
Duyên, 2016). Đời sống tình cảm của SV  
vô cùng phong phú. Đó là động cơ thúc  
đẩy SV giao lưu, kết bạn mà không có giới  
hạn về khoảng cách. Vì vậy, SV sẽ tìm đến  
các thiết bị, phương tiện giúp họ xây dựng  
mối quan hệ và TTXH là một trong những  
loại hình họ rất quan tâm và tham gia.  
Hành vi được thể hiện thông qua các  
ứng xử của con người với con người, với sự  
vật và với chính bản thân trong từng tình  
huống, thời điểm cụ thể. Theo tâm lý học  
hoạt động, hành vi chỉ bộc lộ trong quá  
trình hoạt động và giao lưu với nhau. Tiếp  
cận theo tâm lý học hoạt động của  
Leonchiev hành vi con người có 04 đặc  
điểm sau: (01) hành vi con người là hành vi  
xã hội; (02) hành vi con người mang tính  
mục đích; (03) hành vi con người luôn  
mang tính chủ quan; (04) hành vi con người  
luôn bộc lộ, biểu hiện thái độ của con người  
trước tác nhân kích thích (Nguyễn Hồi  
Loan & Trần Thu Hương, 2019).  
Hành vi của con người nhằm đáp ứng  
nhu cầu của họ và định hướng, điều chỉnh  
bởi tâm lý nên hành vi luôn có mục đích,  
nó được biểu thị thông qua các hoạt động  
cụ thể trong đời sống hằng ngày. Hơn nữa,  
thông qua biểu hiện hành vi, thái độ hài  
lòng của con người đối với các tác nhân  
gây ra phản ứng sẽ được đánh giá.  
2.4. Hành vi truyền thông xã hội  
của sinh viên  
2.4.1. Đặc điểm tâm lý lứa tuổi sinh viên  
SV là một nhóm xã hội đặc biệt, quá  
trình học tập của họ luôn mang tính cụ thể  
để chuẩn bị cho nghề nghiệp, chuyên môn  
nhất định tại các trường đại học, cao đẳng  
(Mai Thị Duyên, 2016). Vì vậy, tâm lý xã  
hội của SV không chỉ phụ thuộc vào nhóm  
lứa tuổi mà còn phụ thuộc vào vị trí nghề  
nghiệp của họ trong xã hội.  
Sự phát triển về nhận thức, trí tuệ:  
Hoạt động nhận thức, trí tuệ của lứa  
tuổi SV phát triển cả về chất lẫn về lượng  
so với các lứa tuổi trước đó. Các hoạt động  
này kế thừa một cách có hệ thống những  
thành tựu ở các giai đoạn phát triển trước.  
Mặt khác, họ phải tiếp cận các thành tựu  
Sự phát triển nhân cách:  
Nhân cách SV là nhân cách của người  
68  
NGUYỄN THÀNH PHƯƠNG  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
trẻ tuổi đang được chuẩn bị để thực hiện  
chức năng người lao động có trình độ  
nghiệp vụ cao trong một lĩnh vực hoạt  
động nào đó của xã hội (Nguyễn Thị Bắc,  
2018). Thông qua quá trình tự đánh giá,  
SV biết được những ưu điểm, hạn chế của  
bản thân. Trên cơ sở đó, họ xây dựng kế  
hoạch phát triển nhằm hoàn thiện và khẳng  
định bản thân trong nhà trường và ngoài  
xã hội.  
đích của mình và được biểu hiện thông qua  
các hành vi cụ thể.  
2.4.3. Biểu hiện hành vi truyền thông  
xã hội của sinh viên tiếp cận lý thuyết sử  
dụng và hài lòng  
Từ góc nhìn của lý thuyết U&G, hành  
vi TTXH của SV được nghiên cứu trên hai  
phương diện: cách mà SV thao tác với các  
phương tiện TTXH và động cơ thúc đẩy họ  
sử dụng TTXH.  
Các hoạt động khác:  
2.4.3.1. Biểu hiện hành vi truyền thông  
xã hội của sinh viên thông qua nhận thức  
Theo lý thuyết U&G, SV là người chủ  
động tìm hiểu, lựa chọn và sử dụng các  
phương tiện TTXH để làm thỏa mãn nhu  
cầu. Nói cách khác, nhu cầu là động lực  
thúc đẩy hành vi. Không những vậy, nhận  
thức đúng sẽ dẫn đến hành vi đúng và  
ngược lại. Nếu SV có nhận thức đúng về  
TTXH, hành vi sử dụng TTXH của họ sẽ  
đúng và người lại. Nhận thức về TTXH của  
SV trên hai phương diện chính là chức  
năng và vai trò của chúng.  
Nhận thức của SV về các chức năng  
của TTXH sẽ là cơ sở để họ lựa chọn tham  
gia và sử dụng. Đồng thời, một khi SV  
nhận thức được chức năng của các loại hình  
TTXH phù hợp với nhu cầu nào, họ sẽ sử  
dụng chúng phục vụ cho nhu cầu đó. Đơn  
cử như SV sẽ sử dụng Youtube để phục vụ  
nhu cầu giải trí của họ thay vì sử dụng các  
trang blog. Bởi vì, chức năng chính của  
Youtube là kênh giải trí tổng hợp.  
Ở lứa tuổi SV, các hoạt động ngoại  
khóa luôn được chú trọng. SV tích cực  
tham gia các câu lạc bộ, đội nhóm…  
không chỉ để rèn luyện kỹ năng, nghiệp vụ  
mà còn gia tăng vốn sống của bản thân, đời  
sống tình cảm trở nên phong phú. Bên cạnh  
các hoạt động nhận thức, hoạt động giải trí  
ở SV cũng được chú trọng. Thông qua đó,  
những căng thẳng trong học tập sẽ được  
giải phóng (Mai Thị Duyên, 2016; Nguyễn  
Thị Bắc, 2018).  
2.4.2. Khái niệm hành vi truyền thông  
xã hội của sinh viên tiếp cận lý thuyết sử  
dụng và hài lòng  
Hành vi cá nhân là kết quả của sự tác  
động qua lại của các nhân tố chủ quan của  
chủ thể và các nhân tố khách quan của môi  
trường. Hành vi cá nhân luôn chứa đựng  
sắc thái và tính chất, trình độ phát triển của  
xã hội. Môi trường mới với những đặc  
điểm sinh hoạt không giống nhau giữa các  
bạn, với các mối quan hệ đa chiều giữa  
người với người dựa trên nền tảng yêu cầu  
về kỹ thuật, trên nền tảng thiên về yếu tố cá  
nhân do đó mà sức ảnh hưởng đến hành vi  
của mỗi cá nhân sẽ có cách ứng xử khác  
nhau (Nguyễn Thị Bắc, 2018).  
Cách thức sử dụng TTXH của SV sẽ  
phụ thuộc rất nhiều vào mức độ hiểu biết  
của họ về vai trò của TTXH. Nếu SV biết  
cụ thể về những ảnh hưởng tích cực và tiêu  
cực của TTXH, phương pháp sử dụng  
TTXH của SV sẽ mang lại lợi ích thiết  
thực. Cách thức sử dụng được biểu hiện  
qua không gian, thời gian và địa điểm mà  
họ sử dụng chúng. Chẳng hạn, nếu họ biết  
Dưới góc độ tiếp cận lý thuyết U&G,  
hành vi TTXH của SV được hiểu là cách  
mà họ sử dụng các phương tiện TTXH  
nhằm thỏa mãn nhu cầu, đạt được mục  
69  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
sử dụng TTXH ảnh hưởng đến kết quả học  
tập, sức khỏe... họ sẽ không sử dụng chúng  
trong lúc đang học và sử dụng chúng với  
thời lượng vừa phải, hợp lý.  
nhóm: nhóm hành vi chủ động như like,  
post, share, comment; nhóm hành vi thụ  
động như click, watch, view/hovering  
(Ekstrom & Ostman, 2015).  
2.4.3.2. Biểu hiện hành vi truyền thông  
xã hội của SV qua thái độ  
Nhóm hành vi chủ động:  
Hành vi nhấn nút “like”: ngụ ý rằng  
người sử dụng đồng quan điểm với nội  
dung và muốn bày tỏ sự yêu thích của họ  
đối với người đăng tải nội dung. Số lượt  
“like” nhận được có thể cho biết mức độ  
phổ biến của nội dung, của cá nhân người  
đăng tải nội dung. Nếu trạng thái của một  
người nhận được nhiều lượt “like” có nghĩa  
là nội dung có ý nghĩa, người đăng tải là  
người nổi tiếng hoặc thông tin đó có nhiều  
ý nghĩa (Paul & Mark, 2009). Không  
những vậy, SV sử dụng nút “like” nhằm  
thể hiện quan điểm của cá nhân và kết nối  
những điều mà họ quan tâm (Nguyễn Thị  
Bắc, 2018).  
Hành vi “share”: nút “share” cũng là  
một trong những cách thức chia sẻ nội  
dung, thông tin lên các trang TTXH giống  
như nút “like”. Tuy nhiên, “share” cho  
phép người dùng đăng tải lại những nội  
dung lên dòng thời gian của họ, của bạn bè,  
người thân hoặc gửi tin nhắn riêng cho  
từng cá nhân. Những nội dung này được  
thêm vào trên dòng thời gian và nó được  
diễn giải theo cách của người sử dụng  
mong muốn. Hay nói cách khác, việc chia  
sẻ một nội dung nào đó trên TTXH giải  
thích rằng họ muốn bày tỏ quan điểm cá  
nhân về thông tin đó (Rui & Stefanone,  
2013).  
Thái độ là sản phẩm phức tạp của các  
quá trình học tập, lĩnh hội, trải nghiệm,  
cảm xúc bao gồm cả những hứng thú, ác  
cảm, thành kiến, mê tín, quan điểm khoa  
học và tôn giáo cũng như chính trị (Vũ  
Dũng, 2008). Thái độ được đề cập đến cảm  
xúc, biểu thị quan điểm cá nhân (đồng  
thuận hoặc không) với một vấn đề nào đó.  
Thái độ được chia ra làm thái độ tích cực  
và thái độ tiêu cực (cảm xúc tích cực và  
cảm xúc tiêu cực).  
Thái độ tích cực: khi SV truy cập các  
loại hình TTXH với tâm trạng thoải mái,  
thích thú, vui vẻ, tự hào về bản thân; từ đó  
hình thành thói quen khó từ bỏ (Mai Thị  
Duyên, 2016).  
- Thái độ tiêu cực: cảm xúc tiêu cực sẽ  
xuất hiện nếu như SV không được sử dụng  
TTXH như mong muốn của họ. Một số  
cảm xúc như nôn nao, bồn chồn khi chờ  
đợi một comment, like, v.v. Hơn thế nữa,  
SV có thể có biểu hiện giận dữ, thậm chí  
trầm cảm khi tiếp nhận phản hồi không tích  
cực (Mai Thị Duyên, 2016; Nguyễn Thị  
Bắc, 2018).  
2.4.3.3. Biểu hiện hành vi truyền thông  
xã hội của sinh viên thông qua các hoạt  
động cụ thể  
Hành vi TTXH của SV bị thúc đẩy bởi  
các nhu cầu cụ thể. Một bộ phận SV sử  
dụng TTXH để gặp gỡ bạn bè, người thân,  
trong khi đó một số người khác sử dụng  
TTXH để giải trí (xem video, chơi  
game…). Từ đó, hành vi sử dụng TTXH  
của họ sẽ được cụ thể hóa. Hành vi sử dụng  
TTXH được cụ thể hóa và chia thành hai  
Hành vi “comment”: đóng một vai trò  
quan trọng trong việc tác động đến nhận  
thức của người sử dụng (Hong & Cameron,  
2018). Hơn nữa, “comment” có xu hướng  
ảnh hưởng đến dư luận và có tác động gián  
tiếp đến nhận thức, hành vi của người khác  
(Carah, 2014).  
70  
NGUYỄN THÀNH PHƯƠNG  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Hành vi “post” là hành vi đăng tải  
những thông tin, hình ảnh (cá nhân, món  
ăn, địa điểm du lịch…) lên dòng trạng thái  
của mình. Đây là một trong những phương  
thức giao tiếp hữu hiệu giữa các cá nhân  
với nhau trên TTXH. Do đó, động cơ của  
hành vi “post” trên TTXH cũng được  
nghiên cứu. Hành vi post trên TTXH sẽ tạo  
ra một mối quan hệ gần gũi giữa các cá  
nhân với nhau, đặc biệt là giới trẻ  
(Pempek, Yermolayeva & Calvert, 2009).  
Hơn nữa, hành vi “post” còn thể hiện bản  
chất xã hội, sự thừa nhận của xã hội, duy  
trì mối liên hệ giữa các cá nhân và nâng  
cao vị thế xã hội (Chung, Chin & Lee,  
2011). Mặt khác, hành vi “post” nhằm để  
đáp ứng giải trí (Liu & Lin, 2011).  
mong muốn được giải trí, họ chỉ tìm kiếm  
những câu chuyện cười, hình ảnh vui nhộn,  
video hài hước… để có thể giải tỏa cảm  
xúc của họ.  
3. Kết luận  
Truyền thông xã hội ngày càng chiếm  
giữ vị trí quan trọng trong đời sống con  
người. TTXH có tính hai mặt, tùy vào cách  
thức sử dụng c SV mà TTXH sẽ có ảnh  
hưởng tích cực hoặc tác động tiêu cực đến  
họ. Điều đó phụ thuộc vào nhận thức, thái  
độ của mỗi cá nhân về TTXH.  
Từ khi truyền thông xuất hiện, lý  
thuyết U&G đã được đề xuất và nghiên  
cứu. Mặc dù, lý thuyết này còn tồn tại một  
số hạn chế, nhưng nó được ứng dụng rộng  
rãi trong nghiên cứu về sản phẩm truyền  
thông từ truyền thống đến hiện đại.  
Nhóm hành vi thụ động:  
Người sử dụng TTXH thường đóng  
hai vai trò: người tiêu thụ nội dung và  
người sản xuất nội dung; các hành vi thụ  
động thường gắn liền với vai trò là người  
tiêu thụ nội dung. Vai trò tiêu thụ nội dung  
được hiểu như là người xem, đọc, lướt qua  
(hover) những thông tin, hình ảnh hoặc  
video được đăng tải trên TTXH, thậm chí  
là “click” và những đường liên kết. Những  
hành vi thụ động gắn liền mật thiết với nhu  
cầu của người sử dụng. Đơn cử: nếu người  
Hành vi TTXH của SV tiếp cận lý  
thuyết sử dụng và hài lòng được biểu hiện  
trên ba phương diện: nhận thức, thái độ và  
hoạt động cụ thể, trong đó nhận thức và  
thái độ là nền tảng để đánh giá hành vi. Dễ  
hiểu hơn, biểu hiện cụ thể hành vi TTXH  
của SV tỉ lệ thuận với mức độ nhận thức và  
thái độ của họ về chúng. Các hoạt động cụ  
thể không chỉ biểu hiện ở thời gian, thời  
điểm, địa điểm… mà còn ở những hoạt  
động gắn liền với những tiện ích của TTXH.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Tiếng Việt  
Nguyễn Thị Bắc. (2018). Hành vi sử dụng mạng xã hội của sinh viên Trường Đại học Hải  
Dương. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  
Vũ Dũng. (2008). Từ điển Tâm lý học. NXB Từ điển Bách khoa.  
Mai Thị Duyên. (2016). Hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của SV Trường Đại học  
Đồng Nai. Luận văn Thạc sĩ Tâm lý học: Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh.  
Nguyễn Hồi Loan & Trần Thu Hương. (2019). Hành vi con người và môi trường xã hội.  
NXB Đại học Quốc gia Hà Nội.  
71  
SCIENTIFIC JOURNAL OF SAIGON UNIVERSITY  
No. 74 (02/2021)  
Tiếng Anh  
Aisar, S. M., Mohd, N. L. A., & Nur, S. I. (2015). Exploring the Uses and Gratifications  
Theory in the Use of Social Media among the Students of Mass Communication in  
Negeria. Malaysian Journal of Distance Education 17(2), 8395.  
Akram, W., & Kumar, R. (2017). A Study on Positive and Negative Effects of Social  
Media on Society. International Journal of Computer Sciences and Engineering, Vol  
– 5, E-ISBN: 2347 – 2693.  
Blackshaw, P., & Nazzaro, M. (2006). Word of mouth in the age of the web-fortified  
consumer. Consumer-generated media.  
Blumler, J. G. (1979). The role of theory in uses and gratifications studies. Communication  
Research, Vol 6, 9–36.  
Carah, N. (2014). Like, comment and share: Alcohol brand activity on Facbook.  
Foundation for Alcohol Research and Education, The University of Queensland.  
Ekström, M., & Ostman, J. (2015). Information, interaction, and creative production: the  
effects of three forms interest use on youth democratic engagement. Communication  
Research. 42 (06). 796 – 818.  
Ivan, T., Maja, M., & Zrinka, S. (2014). Uses and Gratifications Theory – Why  
Adolescents use Facebook? Medij. istraž. (god. 20, br. 2) 2014. (85-110).  
Hootsuite. (2020). Digital 2020 Vietnam All the data, trends, and insight you need  
understand, how people use the Intertnet, mobile, social media, and Ecommerce, truy  
cập  
2020-oscartranads-source-dataportal-compressed.pdf.  
Hong, S., & Cameron, G. T. (2018). Will comments change your opinion? The persuasion  
effects on online comments and heuristic cues in crisis communication. J  
Contigencies Crisis Manange. 26 (01). 173 – 182.  
Katz, E., Gurevitch, M., & Haas, H. (1973). On the use of the mass media for important  
things. American Sociological Review, 38, 164–181.  
Kazt, E., Blumler, J. G., & Gurevitch, M. (1974). The uses of Mass Communications:  
Current Perspectives on Gratifications Research. SAGE: Newcastle upon Tyne, UK.  
Kennedy, G., Dalgarno, B., Gray, K., Judd, T., Waycott, J., Bennet, S., Maton, K., Krause,  
K., Bishop, A., Chang, R., &Churchward, A. (2007). The netgeneration are not big  
users of web 2.0 technologies: preliminary findings. Proceedings Ascilite Singapore,  
517-525.  
Lai, L.S.L. & Turban, E. (2008). Group formation and operations in the Web 2.0  
environment and social networks. Group Decision and Negotiation, 17(5), 387-402.  
72  
NGUYỄN THÀNH PHƯƠNG  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC SÀI GÒN  
Paul, T. F., & Mark, S. (2009). Self-monitoring. Handbook of individual differences in  
social behavior (pp. 574–591). New York, NY: Guilford Press.  
Rui, J.R., & Stefanone, M.A. (2013). Strategic image management online: self-  
presentation, self-esteem and social network perspectives. Inf. Communications. Soc.  
16 (8), 1286–1305.  
West, R. L., & Lynn, H. T. (2010). Introducing Communication Theory: Analysis and  
Application. Boston: McGraw-Hill.  
Ngày nhận bài: 24/8/2020  
Biên tập xong: 15/02/2021  
Duyệt đăng: 20/02/2021  
73  
pdf 10 trang baolam 22220 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hành vi truyền thông xã hội của sinh viên - Tiếp cận từ lý thuyết sử dụng và hài lòng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhanh_vi_truyen_thong_xa_hoi_cua_sinh_vien_tiep_can_tu_ly_thu.pdf