Nghiên cứu về sự đa dạng và cấp độ tham gia các hoạt động giải trí của người cao tuổi tại thành phố Đà Nẵng
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
NGHIÊN CỨU VỀ SỰ ĐA DẠNG VÀ CẤP ĐỘ THAM GIA CÁC HOẠT ĐỘNG
GIẢI TRÍ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
RESEARCH OF THE DIVERSITY AND PARTICITION LEVEL IN ENTERTAINMENT
ACTIVITIES FOR THE ELEDERS AT DA NANG CITY
TS. Đường Thị Liên Hà, ThS. Võ Quang Trí
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng
TÓM TẮT
Nghiên cứu này tập trung phân tích sự tham gia giải trí của người cao tuổi thông qua hai nhân tố là sự đa
dạng và cấp độ tham gia giải trí của họ, đồng thời tìm hiểu các nhân tố cá nhân và xã hội có tác động đến
hành vi tham gia giải trí. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thu được, nhóm tác giả đề xuất một số khuyến nghị
nhằm khuyến khích và gia tăng sự tham gia giải trí của người cao tuổi, góp phần hỗ trợ trong những chính
sách quan tâm của nhà nước đến người cao tuổi. Đề tài được thực hiện từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 4
năm 2013 với đối tượng người cao tuổi sống trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.
Từ khóa: người cao tuổi; sự tham gia; sự đa dạng; cấp độ hoạt động; các yếu tố cá nhân của người cao
tuổi.
ABSTRACT
This research focuses on recreation participation of the elders through two factors in the term of the
diversity and levels of entertainment activity, and learns about individual and social factors presenting the
impact on the leisure behavior of the elders. On the basis of research results obtained, the authors
recommend a number of recommendations to encourage and increase the participation of the elders in
recreation, helping to support the country policy on caring for the elders. Study was conducted from October
2012 to April 2013 with the elderly subjects living in the city of Da Nang.
Keywords: the elders; participation; diversity; level of activity; the individual variables of the elderly.
Nam vẫn chưa thật sự phát triển mạnh mẽ và
đáp ứng được nhu cầu đa dạng của nhóm đối
tượng này. Phân khúc người cao tuổi chưa
được quan tâm và thu hút nhiều nhà đầu tư nên
có rất ít các hoạt động đầu tư cũng như các
công trình nghiên cứu về hoạt động giải trí của
nhóm đối tượng này.
1. Vấn đề nghiên cứu
Già hóa dân số là một trong những khuynh
hướng nổi bật trong thế kỷ 21. Theo báo cáo
của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, cả
nước hiện có trên 8,85 triệu người cao tuổi,
chiếm tỷ lệ trên 9% dân số. Hội nghị trực tuyến
về báo cáo tổng kết công tác năm 2012 và kế
hoạch năm 2013 của Ủy ban Quốc gia Người
cao tuổi Việt Nam tháng 2 năm 2013 đã nhận
định rằng già hóa dân số đang là xu hướng trên
cả nước. Việt Nam là một trong số các quốc
gia đang phát triển có tỷ lệ dân số già tăng cao
qua các năm. Dự báo thời gian tới, tỷ lệ người
cao tuổi gia tăng do nước ta đang bước vào giai
đoạn già hóa dân số với tốc độ nhanh chóng.
Vì vậy cần phải có những chính sách để phát
huy và chăm sóc người cao tuổi ngày một tốt
hơn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng môi
trường giải trí giành cho người cao tuổi ở Việt
Vào năm 2008, Việt Nam đã tiến hành
nghiên cứu về xu hướng của những trung tâm
cung cấp dịch vụ cho người cao tuổi trong
tương lai là đa dạng hơn về loại hình và số
lượng cung cấp để phù hợp với nhu cầu và đặc
tính đa dạng của người cao tuổi. Bên cạnh đó,
nước ta đang trong quá trình hội nhập toàn cầu
nên có rất nhiều loại hình giải trí mới được du
nhập vào Việt Nam và cũng có nhiều hoạt
động giải trí mang tính tự phát xuất hiện trong
cộng đồng nên người cao tuổi có thể đa dạng
hoá được sự lựa chọn hoạt động giải trí trong
445
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
thời gian nhàn rỗi. Nghiên cứu của Meijer và
(theo nghiên cứu quốc tế về nhân khẩu học do
tổ chức The Philips Centre for Health & Well-
being tiến hành vào năm 2010)
cộng sự (2001) về sự tham gia các hoạt động
ngoài trời cho thấy các doanh nghiệp cung cấp
dịch vụ không chỉ quan tâm đến số lượng hoạt
động mà khách hàng lựa chọn tức là sự đa dạng
mà cần phải quan tâm đến cấp độ tham gia bởi
cấp độ tham gia giải trí ở từng nhóm đối tượng
là hoàn toàn khác nhau. Ở người cao tuổi,
chính sự lão hóa là một trong những nguyên
nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau trong cấp độ
tham gia hoạt động.
-Độ tuổi : Độ tuổi là yếu tố phổ biến nhất
thường dùng để xác định người già. Tuy nhiên,
độ tuổi cụ thể như thế nào còn phụ thuộc nhiều
vào xã hội và môi trường sống. Ở nhiều nước
phát triển trên thế giới, độ tuổi 60 hay 65 là độ
tuổi nghỉ hưu. Trong khi một số nước lại chấp
nhận nghỉ hưu ở độ tuổi trên 50. Sự khác nhau
này là do sự chênh lệch về trình độ y tế dẫn
đến sự thay đổi trong tuổi thọ của người dân.
Trong khi Nhật Bản có tuổi thọ trung bình cao
nhất thế giới là 82.2 thì một số nước ở Châu
Phi độ tuổi này lại dưới 40. Độ tuổi được dùng
để đánh dấu cho việc già đi của các yếu tố về
sinh học bên trong con người. Tuy nhiên, trên
thực tế tuổi được cho là già và sự già đi về mặt
sinh học không phải lúc nào cũng xảy ra cùng
lúc với nhau. Vì những lý do đó nên việc xác
định người già chỉ dựa vào độ tuổi trở nên
không phù hợp.
Thành phố Đà Nẵng với mục tiêu trở thành
một thành phố đáng sống trong tương lai, bên
cạnh các chính sách đầu tư cho cơ sở hạ tầng,
phát triển môi trường còn cần quan tâm đến
các loại hình và cung ứng môi trường sống phù
hợp cho người cao tuổi sau khi về hưu. Giải trí
cho người cao tuổi là vấn đề cần được xem xét
một cách nghiêm túc. Tìm hiểu quy trình tham
gia các hoạt động giải trí, mức độ đa dạng cũng
như cấp độ tham gia của người cao tuổi bên
cạnh xem xét các yếu tố về khía cạnh cá nhân
có thể là một nền tảng giúp nhận diện toàn diện
đặc điểm về nhu cầu và năng lực của người cao
tuổi ở hiện tại.
- Sự thay đổi về vai trò xã hội: Sự thay đổi
về vai trò xã hội đề cập đến việc thay đổi các
vai trò của một cá nhân trong đời sống và trong
công việc hằng ngày. Sự thay đổi vai trò xã hội
mà trong đó một cá nhân không còn có sự đóng
góp nhiều cho xã hội, hay thay đổi vai trò trong
gia đình của mình được xem như một yếu tố để
xác định sự già hóa. Các biểu hiện cụ thể của
yếu tố này như là sự về hưu, con cái trưởng
thành, có cháu, mãn kinh ở phụ nữ,… Tuy
nhiên, yếu tố này được cho là không phù hợp
hoàn toàn, bởi trong cuộc sống có rất nhiều lý
do và nguyên nhân khác nhau khiến một người
thay đổi vai trò của mình mà không chỉ do sự
già đi.
Với những lý do trên, đề tài “Nghiên cứu
về sự đa dạng và cấp độ tham gia các hoạt
động giải trí của người cao tuổi tại thành
phố Đà Nẵng” đã được tiến hành. Nghiên cứu
này hướng tới việc làm sáng tỏ sự tham gia giải
trí của người cao tuổi hiện nay thông qua phân
tích sự đa dạng và cấp độ tham gia giải trí của
họ, đồng thời tìm hiểu các nhân tố có tác động
đến hành vi tham gia giải trí. Để từ đó đưa ra
một số khuyến nghị nhằm nâng cao nhằm nâng
cao sự tham gia giải trí của người cao tuổi góp
phần hỗ trợ trong những chính sách quan tâm
của nhà nước đến người cao tuổi
- Sự thay đổi về khả năng: Sự thay đổi về
các khả năng hoạt động có liên quan mật thiết
đến tình trạng sức khỏe. Sự thay đổi này có thể
là do gen di truyền hoặc do hành vi thường
ngày của cá nhân tác động. Sống lâu là biểu
hiện của tình trạng sức khỏe tốt. Sự hiện diện
2. Các khái niệm căn bản về người cao tuổi
Hiện tại, trên thế giới, vẫn chưa có một
định nghĩa thống nhất về người cao tuổi. Việc
xác định người cao tuổi có thể được thể hiện
thông qua 3 đặc tính chính: độ tuổi, sự thay đổi
về vai trò xã hội và sự thay đổi về các khả năng
446
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
của bệnh tật hoặc tình trạng sức khỏe giảm sút
1975), nói rằng con người khi về già trở nên
rảnh rỗi, họ không còn vướng bận bởi công
việc và trách nhiệm gia đình. Điều đó cho phép
họ thưởng thức phần còn lại của cuộc sống một
cách yên bình. Họ bắt đầu ít tương tác hơn và
mức độ hoạt động cũng giảm. Quá trình lão
hóa và cách thức mà nó tiến hành liên quan
trực tiếp đến xã hội mà người già sống. Lý
thuyết buông tha chủ yếu đề cập đến sự kết nối
của người cao tuổi với xã hội mà chưa đi sâu
vào giá trị của họ. Chẳng hạn trong xã hội hiện
đại, khi mà hiệu quả và sự đóng góp được đề
cao, một điều rõ ràng rằng người cao tuổi
không thể cung cấp nhiều giá trị như những
người trẻ tuổi. Trong nhiều trường hợp, họ bị
xem như là gánh nặng xã hội.
được xem là sự khởi đầu của tình trạng lão hóa
Tại Việt Nam, phần lớn việc xác định
người cao tuổi là dựa trên độ tuổi. Theo điều 2
Luật người cao tuổi được Quốc hội khóa XII,
kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23/11/2009 có
hiệu lực thi hành ngày 1/7/2010 xác định:
“Người cao tuổi được quy định trong luật này
là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”,
được hưởng các chế độ ưu tiên theo Luật người
cao tuổi. Trong các nghiên cứu có giá trị về
người cao tuổi ở Việt Nam như nghiên cứu xu
hướng già hóa dân số thế giới và đặc trưng
người cao tuổi Việt Nam (PGS.TS Nguyễn
Đình Cử, 2006), đời sống tinh thần của người
cao tuổi hiện nay (TS Hoàng Mộc Lan), nghiên
cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt
Nam và đánh giá mô hình người cao tuổi đang
áp dụng (tổng cục Dân số & KHHGD, 2006)
cũng cho rằng những người cao tuổi là những
người trên 60 tuổi. Bên cạnh đó, để đảm bảo
tính hiệu quả của việc thi hành pháp luật, đối
với tình tiết giảm nhẹ trong hình phạt giành
cho người cao tuổi, chính phủ không chỉ xem
xét ở khía cạnh độ tuổi mà còn dựa trên sự thay
đổi về khả năng của đối tượng. Tòa án nhân
dân tối cao số 01/2007/NQ-HĐTP ngày
2/10/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định
của Bộ luật hình sự quy định về thời hiệu thi
hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm
thời hạn chấp hành hình phạt cũng viết:
“Người quá già yếu là người từ 70 tuổi trở lên
hoặc là người từ 60 tuổi trở lên nhưng thường
xuyên đau ốm”. Vì thế, trong nghiên cứu này,
để đảm bảo tính thống nhất và dễ dàng trong
việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu, nhóm
nghiên cứu lựa chọn định nghĩa những người
từ 60 tuổi trở lên là người cao tuổi. Bởi 60 tuổi
cũng là độ tuổi nghỉ hưu thích hợp cho cả nam
và nữ theo Luật lao động của nước ta hiện nay
Trái với lý thuyết Buông Tha, lý thuyết
Hoạt Động ở tuổi già (The activity theory of
aging) được phát triển bởi Robert J.
Havighurst vào năm 1961 (được trích dẫn bởi
Dowl 1975), là một lý thuyết về lão hóa trong
đó nói rằng các nhu cầu tâm lý và xã hội ở
người cao tuổi không có khác những người
trung niên và việc người lớn tuổi bị cô lập và bị
tránh xa là bất bình thường và trái với lẽ tự
nhiên. Lý thuyết này còn được gọi là “Lý
thuyết lão hóa tiềm ẩn".
Năm 1987, Erik Erikson đã viết nên lý
thuyết "Tám giai đoạn của cuộc sống" (Erikson
& Erikson, 1998). Theo lý thuyết này, nhân
cách con người được phát triển theo tám giai
đoạn đoạn diễn ra từ thời điểm con người sinh
ra và tiếp tục phát triển để trở thành một cá
nhân hoàn chỉnh. Theo bảng.1 dưới đây, giai
đoạn thứ 8 là giai đoạn hoàn chỉnh của một cá
nhân, tức là kéo dài từ 65 tuổi cho đến hết cuộc
đời. Những cá nhân trong giai đoạn này sẽ có
những cảm giác chung của cả sự hối tiếc và sự
hài lòng. Những người không thành công trong
giai đoạn này sẽ cảm thấy rằng cuộc sống của
họ đã bị lãng phí và sẽ cảm thấy hối tiếc. Cá
nhân người đó sẽ trải qua cảm giác cay đắng và
tuyệt vọng. Còn những người cảm thấy tự hào
về những thành tích mà họ đã đạt được sẽ cảm
thấy một cảm giác hài lòng
Đặc điểm người cao tuổi
Thuyết Buông Tha (Disengagement
theory) do Cumming và Henry viết trong cuốn
sách “Growing Old “ (được trích dẫn bởi Dowl
447
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
Bảng 1. Bảng tổng hợp các giai đoạn phát triển tâm lý (Erikson & Erikson, 1998)
Theo nghiên cứu năm 2010 của Tổng cục
Dân số Việt Nam, người cao tuổi thường mang
trong mình tâm trạng cô đơn, dễ tủi thân. Nét
tâm lý này xuất phát từ những thực tế mà
người cao tuổi đang phải đối diện: tuổi cao, sức
khỏe kém, khả năng chăm sóc bản thân bị hạn
chế nên phải trông cậy vào sự giúp đỡ người
khác. Bên cạnh đó, do vị trí trong xã hội thay
đổi cũng như mang nặng tâm trạng “phụ
thuộc” vào con cháu nên người cao tuổi thường
sinh ra cáu gắt và dễ nổi nóng với người xung
quanh. Trong giai đoạn này, con người thường
hồi tưởng, thường tự xem xét, đánh giá về
quãng đời đã qua của mình. Sự so sánh, nuối
tiếc hoặc đánh giá quá cao những gì đã diễn ra
trong quá khứ với cuộc sống hiện tại là một
trong những nguyên nhân dẫn đến sự hụt hẫng
trong tâm lý người cao tuổi. Đây có thể là
nguyên nhân chính dẫn đến chứng trầm cảm ở
người cao tuổi, mà nó có thể diễn tiến thành
bệnh Alzheimer (một loại bệnh liên quan đến
chứng mất trí ở người già) và các hình thức
khác của chứng mất trí. Chính vì thế với người
cao tuổi nhu cầu vật chất không còn là mối bận
tâm to lớn mà chuyển sang các nhu cầu về tinh
thần và đây được xem như là nhu cầu cấp thiết
và quan trọng nhất với họ.
3. Sự đa dạng và cấp độ tham gia hoạt động
giải trí của người cao tuổi
Thế nào là hoạt động giải trí: Các hoạt
động giải trí được nhìn nhận theo nhiều
phương diện khác nhau, cụ thể là theo cách tiếp
cận về thời gian, theo tính chất hoạt động mang
lại và theo sự tích hợp của hai yếu tố trên.
- Theo cách tiếp cận về thời gian: Cách
tiếp cận này tập trung vào khái niệm “thời gian
nhàn rỗi”. Thời gian nhàn rỗi là thời gian còn
lại sau thời gian dành cho công việc, nghỉ ngơi
và các nghĩa vụ khác hay những nhu cầu vật lý
cấp thiết. Tất cả những hoạt động được tiến
hành vào khoảng thời gian này được cho là
hoạt động giải trí. Tuy nhiên, sự phân chia giữa
công việc và hoạt động giải trí là tùy theo cá
nhân đối với độ tuổi đang làm việc. Chính điều
này sẽ tạo ra những vấn đề nảy sinh đối với
những người thất nghiệp và nội trợ, và điều
448
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
này là không thể áp dụng đối với đối tượng về
động cung cấp những thách thức trí tuệ, và liên
quan đến khả năng và sự sáng tạo cá nhân), và
giải trí xã hội (các hoạt động cung cấp các
tương tác xã hội và vị thế xã hội).
hưu. Một cách tiếp cận phù hợp với đối tượng
hưu trí là trừ đi thời gian dành cho các hoạt
động “tái tạo năng lượng”, là những hoạt động
bắt buộc phải thực hiện để duy trì đời sống vật
lý của con người (Klumb & Maier, 2007). Cho
đến nay, cách tiếp cận này vẫn còn khá mơ hồ,
chẳng hạn như hoạt động ăn uống theo định
nghĩa không thuộc phạm trù hoạt động giải trí
nhưng ăn tối với bạn thì được xem xét ở tính cá
nhân là một hoạt động giải trí thú vị.
Năm 2007, một cách tiếp cận lý thuyết
được đề xuất bởi Klumb và Maier phân chia tất
cả các hoạt động thành hoạt động tái tạo và tùy
ý, và hoạt động giải trí thuộc nhóm các hoạt
động tùy ý. Hoạt động tùy ý sau đó tiếp tục
được chia thành vào các hoạt động sản xuất và
tiêu dùng. Hoạt động sản xuất là những hoạt
động có thể được thực hiện cùng các đối tượng
khác mà không bị mất lợi ích của nó (chẳng
hạn như làm vườn và mua sắm), trong khi các
hoạt động tiêu dùng được thực hiện vì lợi ích
riêng cá nhân (chẳng hạn như gặp gỡ bạn bè
hoặc đọc một cuốn sách). Tất nhiên, ranh giới
giữa hoạt động sản xuất và tiêu dùng không
phải luôn luôn rõ ràng vì những cá nhân tiến
hành hoạt động sản xuất trên cũng có thể được
thực hiện vì lợi ích riêng của họ.
- Theo tính chất hoạt động mang lại: Một
định nghĩa đơn giản của giải trí trong cách tiếp
cận này là " những hoạt động được lựa chọn
tùy ý nhằm mang lại sự hài lòng" (Encel và
cộng sự, 1996). Hoạt động giải trí được xác
định bởi trải nghiệm, lợi ích và sở thích của
từng cá nhân. Với định nghĩa này, các hoạt
động là những thói quen hàng ngày, chẳng hạn
như đọc báo buổi sáng hoặc việc chuẩn bị và
ăn uống cũng có thể được xếp vào giải trí.
- Theo sự tích hợp của thời gian và tính
chất hoạt động: Cách tiếp cận thứ ba chính là
cách tiếp cận đầy đủ và chính xác nhất thông
qua sự kết hợp của hai cách tiếp cận trên. Cách
tiếp cận này được minh họa bởi định nghĩa sau
đây: “ Giải trí là thời gian mà một cá nhân trở
nên rảnh rỗi khỏi công việc hoặc nhiệm vụ
khác và có thể được sử dụng cho các mục đích
thư giãn, hoạt động thú vị, thành tựu xã hội hay
phát triển cá nhân "( Leitner M & Leitner,
1997)
Tùy vào mục đích của nghiên cứu sẽ có sự
phân loại khác nhau trong danh mục các hoạt
động giải trí. Trong nghiên cứu của mình,
chúng tôi chọn sự phân chia hoạt động giải trí
theo không gian tiến hành trong nghiên cứu
của Van der Pas S và Koopman-Boyden
(2010). Sự lựa chọn này nhằm mục đích tìm
hiểu thêm về xu hướng mở rộng không gian
trong giải trí của người cao tuổi trong việc
tham gia các mô hình dịch vụ về giải trí. Hoạt
động giải trí được chia thành 9 nhóm, gồm có:
Danh mục các hoạt động giải trí
• Media: phương tiện truyền thông (nghe
đài, xem TV, đọc báo)
Các nhà nghiên cứu về người cao tuổi đã
chia các hoạt động giải trí thành ba nhóm:
chính thức, không chính thức và hoạt động đơn
độc (Ostrower, 2004). Trên nền tảng đó, các
danh mục hoạt động khác nhau đã được đề
nghị, dựa trên những xem xét lý thuyết cũng
như các kết quả thực nghiệm. Ullenhag (2005)
đã đề nghị nhóm gộp dựa trên các hoạt động
cung cấp cho cá nhân, và do đó chia hoạt động
thành giải trí trải nghiệm (hoạt động thoả mãn
nội tại, thư giãn), giải trí phát triển (các hoạt
• Social at home: hoạt động xã hội tại
gia (viếng thăm hàng xóm )
• Hobby at home: sở thích tại nhà (chơi
cờ)
• Open – air recreation: hoạt động giải
trí ngoài trời (câu cá, dã ngoại)
• Going out socially: giao tiếp ngoài xã
hội (tình nguyện)
449
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
độ tham gia, người tham gia cùng, nơi tiến
• Civic: hoạt động công dân (tham gia
sinh hoạt ở tổ phường)
• Culture and amusement: văn hóa và
viện bảo tàng (đi chùa)
hành hoạt động và sự thích thú khi tham gia
giải trí. Cũng theo nghiên cứu về hoạt động
giải tri cho người cao tuổi của Van der Pas và
Koopman-Boyden (2010) việc phân tích sự
tham gia các hoạt động giải trí ở người cao tuổi
có thể được thể hiện thông qua số lượng các
hoạt động giải trí mà đáp viên đã tham gia tức
là sự đa dạng và cấp độ tham gia hoạt động giải
trí của từng đáp viên. Điều này chứng tỏ, sự đa
dạng và cấp độ hoạt động là hai biến con của
sự tham gia.
• Sport: thể thao
• Travel: du lịch
Sự đa dạng các hoạt động giải trí
Nghiên cứu về sự đa dạng trong tham gia
trong hoạt động văn hóa của Ostrower (2004)
đã phân tích thấy sự tham gia hoạt động khác
nhau của người cao tuổi là bởi động cơ tham
gia, sự trải nghiệm của mỗi cá nhân khi tham
gia hoạt động là không giống nhau. Nghiên cứu
về sự đa dạng sẽ giúp các doanh nghiệp cung
cấp đưa ra những gói dịch vụ phù hợp, giúp gia
tăng sự tham gia trong hoạt động văn hóa ở
người cao tuổi. Tùy theo từng mục đích khác
nhau mà sự đa dạng sẽ được đo lường theo
những cách khác nhau. Nhìn chung, có hai
phương pháp để tiếp cận và đo lường sự đa
dạng. Tiếp cận theo số lượng hoạt động (Van
der Pas & Peggy Koopman-Boyden, 2010) và
tiếp cận theo số nhóm hoạt động (Babalola,
2012)
Theo nghiên cứu của Babalola & Alayode
(2012), cấp độ tham gia hoạt động giải trí liên
quan đến số lượng của sự tham gia. Để đạt
được thể lực tốt hơn, lượng tham gia nên được
thể hiện thông qua lượng tập luyện. Lượng tập
luyện này được tạo ra thông qua thời gian, tần
số và cường độ của hoạt động. Thời gian mô tả
lượng thời gian giành cho các hoạt động giải trí
trong khi cường độ chính là chất lượng của
hoạt động hoặc mức độ gắng sức (Jorge, 2011).
Tần số hoạt động giải trí giải thích mật độ các
hoạt động tiến hành (Erikson và các cộng sự,
1998). Do đó, cấp độ tham gia hoạt động giải
trí có thể được tiếp cận thông qua cấp độ hoạt
động thể lực trên ba yếu tố: thời gian, tần suất
và mức cường độ.
Sự tham gia và cấp độ tham gia các hoạt
động giải trí
Havitz và Dimanche (1997) đã đề xuất một
định nghĩa về sự tham gia trong lĩnh vực giải
trí và du lịch như sau: “Sự tham gia là một
trạng thái tâm lý của động cơ, sự hưng phấn
hoặc sự thích thú giữa một cá nhân và hoạt
động giải trí hoặc điểm du lịch diễn ra tại một
thời điểm”. Nói cách khác, sự tham gia vào
hoạt động giải trí có tác động mạnh mẽ và ăn
sâu trong tâm trí con người và có đặc tính theo
sở thích cá nhân.
4. Các yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến sự
tham gia hoạt động giải trí của người cao
tuổi
Thể chất: Theo mô hình nghiên cứu
International Classification of Functioning,
Disability and Health (ICF) model của WHO
(2001) thì các điều kiện sức khỏe và các hoạt
động của con người có mối liên hệ qua lại với
nhau. Các điều kiện về sức khỏe có thể là rào
cản trong việc tham gia các hoạt động của
người cao tuổi tuy nhiên các hoạt động có thể
giúp cải thiện các điều kiện về sức khỏe.
Levasseur (2008) cũng cho biết rằng “Những
người sống chung với những hạn chế hoạt
động có thể có ít cơ hội hơn để được hài lòng
với cuộc sống hay những trải nghiêm hạnh
Năm 2004, King và cộng sự đã xây dựng
thang đo CAPE (Children’s Assessment of
Participation and Enjoyment)- một thang đo
được sử dụng trong nhiều nghiên cứu để đánh
giá sự tham gia hoạt động giải trí ở trẻ em và
thanh thiếu niên.Thang đo CAPE đo lường 5
yếu tố của sự tham gia gồm có: sự đa dạng, cấp
450
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
phúc, có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến chất
viên trong gia đình ảnh hưởng tích cực đến
hành vi và sự tham gia của người già. Bên cạnh
đó các hỗ trợ từ gia đình cũng ảnh hưởng đến ý
thức về hạnh phúc cá nhân, động cơ và các
hoạt động dẫn đến việc gia tăng hành vi tăng
cường sức khỏe ở người già.
lượng cuộc sống của họ”. Những hạn chế về
sức khỏe thể chất khiến cho con người trở nên
lười tham gia vào các hoạt động, và cũng làm
suy giảm mức độ hoạt động của họ từ đó ảnh
hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống.
Tinh thần: Sức khỏe tinh thần của một
người có thể ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành
vi của họ. Theo báo cáo của tổ chức Y tế cộng
đồng Canada,“The Health and Well-being of
Canadian Seniors”: Sức khỏe tinh thần tốt có
thể giúp người cao tuổi đối phó với nhiều khó
khăn của cuộc sống như bệnh mãn tính, sự mất
mát của vợ (hoặc chồng) và bạn bè. Các vấn đề
sức khỏe tinh thần có thể ảnh hưởng đến sức
khỏe thể chất, cảm xúc, sự hạnh phúc và chất
lượng cuộc sống. Từ đó có thể thấy, sức khỏe
tinh thần có thể ảnh hưởng đến các hoạt động
của người cao tuổi nói riêng, nó có thể chi phối
sự tham gia vào các hoạt động kể cả các hoạt
động giải trí
5. Mô hình nghiên cứu về sự đa dạng và
mức độ tham gia giải trí của người cao tuổi
Các yếu tố cá nhân: thể chất, tinh thần, sự
hỗ trợ xã hội và nhân khẩu học có ảnh hưởng
đến sự tham gia giải trí của người cao tuổi, mà
sự đa dạng và cấp độ tham gia hoạt động lại
chính là biến con của biến "sự tham gia".
Ngoài ra, một số các nghiên cứu liên quan về
sự đa dạng và cấp độ tham gia các hoạt động
cũng cho thấy rằng có mối tương quan giữa
một số các yếu tố cá nhân đến sự đa dạng và
cấp độ tham gia thông qua sự “sự tham gia”
(Van der Pas & Peggy Koopman-Boyden,
2010; Van der Meer, 2008). Chính vì vậy,
chúng tôi đề xuất một mô hình nghiên cứu theo
chúng tôi nó phù hợp với bối cảnh cũng như là
hợp lý về mặt phương pháp luận (xem hình 1).
Mối quan hệ/ Sự hỗ trợ xã hội: Nghiên
cứu về mối quan hệ gia đình và hành vi cải
thiện tình trạng sức khỏe của người già tại tỉnh
Nan của Thanakwang và Soonthorndhada
(2008) cho thấy rằng việc xây dựng và phát
triển những hỗ trợ từ gia đình nên được cải
thiện nhằm thúc đẩy và tạo ra hành vi tăng
cường các hoạt động về tinh thần và chăm sóc
sức khỏe ở người cao tuổi. Sự kết nối các thành
Giả thuyết 1: Sự tham gia các hoạt động
giải trí của người cao tuổi phụ thuộc tuyến tính
vào các biến tinh thần, thể chất và hỗ trợ xã hội
Giả thuyết 2: Sự tham gia các hoạt động
giải trí của người cao tuổi chịu ảnh hưởng của
các biến số nhân khẩu học (độ tuổi, thu nhập,
trình độ học vấn và giới tính)
Hình 1. Mô hình nghiên cứu về sự đa dạng và mức độ tham gia các hoạt động giải trí của người cao tuổi
phân tích nội dung. Nghiên cứu định lượtng là
quá trình thu thập và xử lý dữ liệu để tiến hành
những phân tích và kiểm định mô hình. Mẫu
được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu
nhiên với quy mô 200 người. Dữ liệu được thu
6. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu định tính nhằm hiệu chỉnh lại
các thang đo cho phù hợp với bối cảnh nghiên
cứu. Mẫu ngẫu nhiên 50 người cao tuổi sống
tại Đà. Xử lý dữ liệu thu thập bằng kỹ thuật
451
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
thập qua bảng câu hỏi. Phân tích dữ liệu bằng
người dân là tương đối cao so với thu nhập
bình quân của người Việt Nam: có những
người cao tuổi đạt mức thu nhập trên 10
triệu đồng. 46.5% trong số đối tượng điều
tra có thu nhập dưới 3 triệu đồng. 41.5% có
thu nhập 3-5 triệu đồng, 11% có thu nhập
5-10 triệu và 1% đạt thu nhập trên 10 triệu
đồng/tháng. Tất cả đối tượng điều tra đều
đang sống với gia đình hoặc họ hàng,
không có ai sống một mình hoặc sống
chung với bạn bè. Có đến 39.4% người cao
tuổi đang sống với vợ hoặc chồng, 51.6%
đang sống với con cái, 8.9% đang sống với
họ hàng.
phương pháp SPSS 16.0
7. Kết quả nghiên cứu
Đặc điểm nhân khẩu học
Trong 200 đối tượng điều tra, tỉ lệ nam nữ
là khá đồng đều với 52% là nam và 48% là nữ.
Độ tuổi của đối tượng điều tra chủ yếu rơi vào
những độ tuổi trẻ hơn với 45% đối thuộc độ
tuổi 60-70, 36.5% đối tượng điều tra thuộc độ
tuổi 71-80, 18.5% thuộc độ tuổi trên 80. Tuy
nhiên, tình hình sức khỏe của người cao tuổi
không được tốt, có đến 82.5% đang bị mắc các
bệnh về tuổi già và chỉ và 17.5% hoàn toàn
khỏe mạnh, không bị đau ốm.
Người cao tuổi ở Đà Nẵng không có điều
kiện thuận lợi cho việc học hành nên trình độ
học vấn không cao với 7,5% đối tượng nghiên
cứu không đi học, 45.5% đối tượng nghiên cứu
đã học hết tiểu học, 22.5% học đến cấp 2, 19%
học đến trung học phổ thông, 5.5% học từ
trung cấp trở lên.
Sự đa dạng và cấp độ tham gia giải trí
Tất cả 200 đối tượng nghiên cứu đều tham
gia hoạt động giải trí. Theo hình 2 dưới đây,
người cao tuổi có sự đa dạng cao trong tham
gia các hoạt động giải trí với 46% tham gia từ
2- 3 nhóm hoạt động, 34% tham gia 3-4 nhóm
hoạt động, 11.5% tham gia từ 4-5 nhóm hoạt
động và chỉ 1% tham gia từ 0-1 nhóm hoạt
động.
Phạm vi của nghiên cứu là khu vực
trung tâm thành phố nên mức thu nhập của
Hình 2. Mức độ tham gia các hoạt động của người cao tuổi
Người cao tuổi cũng có cấp độ tham gia
cao bởi tần suất thường xuyên và thời gian
giành cho hoạt động giải trí lớn. Có đến 39%
đối tượng điều tra thỉnh thoảng tham gia các
hoạt động giải trí , 33% thường xuyên tham gia
hoạt động giải trí và 14% rất thường xuyên
tham gia hoạt động giải trí. Thời gian mà người
cao tuổi giành cho giải trí là tương đối lớn với
42.5% đối tượng nghiên cứu giành 30-45 phút
cho mỗi lần tham gia, 30% giành 15-30 phút và
18.5% giành trên 45 phút ở mỗi lần tham gia
Địa điểm tham gia giải trí được nhiều đối
tượng người cao tuổi lựa chọn nhất là câu lạc
bộ chiếm 34.5%, 22.5% tham gia giải trí ở gần
nhà, 13.5% tiến hành giải trí tại nhà, 12% tại
bờ sông, 10.5% tại chùa và 7% tại công viên
Hiện nay, người cao tuổi thường tham gia
hoạt đông giải trí với bạn bè hơn là gia đình và
452
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
những đối tượng khác. Có đến 60% người cao
tuổi tham gia giải trí cùng bạn bè, 16% cùng
gia đình, 14.5% không quan tâm người cùng
tham gia và 9.5% tham gia một mình
Hình 3. Nhóm hoạt động giải trí của người cao tuổi
Theo như hình 3, phương tiện truyền thông
là hoạt động được nhiều người cao tuổi chọn
nhất với 28.7% người cao tuổi tham gia,
17.8% tiến hành các sở thích tại nhà, 16.5%
tham gia các hoạt động thể thao, 15.2% tiến
hành các hoạt động xã hội tại gia, 7.3% tiến
hành các giai tiếp ngoài xã hội, 5.4% đi du
lịch, 3.6% tham gia các hoạt động về văn hóa
và viện bảo tàng, 3.2% tham gia hoạt động giải
trí ngoài trời và chỉ 2.4% tham gia các hoạt
động sinh hoạt công dân
Mức độ tham gia= 0.458 + 0.233Thể chất +
0.197 GĐình&Bạn bè + 0.202Tinh thần (2)
Tương tự như trên, kết quả phương trình
hồi quy (2) cho thấy tất cả các biến thể chất,
tinh thần và hỗ trợ xã hội đều có tác động tích
cực đến cấp độ tham gia các hoạt động giải trí
của người cao tuổi. Mức độ phù hợp của mô
hình là 75.4%.
Giả thuyết 2: Để kiểm định giả thuyết 2
(ảnh hưởng của các biến số nhân khẩu học đến
sự đa dạng và mức độ tham gia giải trí của
người cao tuổi), chúng tôi đã sử dụng kỹ thuật
phân tích phương sai One Way ANOVA và T-
test. Trong đó One way ANOVA được sử dụng
để phân tích sự thay đổi của sự đa dạng và cấp
độ tham theo các yếu tố nhân khẩu học cá nhân
(tuổi, thu nhập, trình độ). Với giới tính Nhóm
nghiên cứu sử dụng kiểm định T-Test.
Kiểm định giả thuyết
Giả thuyết 1: Để kiểm định giả thuyết 1
(mối quan hệ giữa sự đa dạng và mức độ tham
gia với các biến số tinh thần, thể chất và sự hỗ
trợ xã hội), chúng tôi đã sử dụng kỹ thuật hồi
quy tuyến tính. Kết quả phân tích cho hàm hồi
quy về sự đa dạng và mức độ tham gia các hoạt
động giải trí như sau:
Kết quả kiểm định cho thấy có sự khác
nhau về sự đa dạng trong tham gia giải trí ở
nhóm tuổi và trình độ. Nhóm tuổi 60-70 tuổi có
sự đa dạng là cao nhất, tiếp theo là đến nhóm
70-80 tuổi và thấp nhất là nhóm trên 80 tuổi.
Sự đa dạng trong tham gia giải trí ở nhóm
không đi học là thấp hơn so với các nhóm trình
độ cấp hai, cấp ba và trung cấp trở lên. Tương
tự, cũng có sự khác nhau về cấp độ tham gia
giải trí ở các nhóm tuổi và trình độ. Nhóm 60-
Sự đa dạng= -1.617 + 0.887 Thể chất + 0.292
Tinh thần + 0.144 GĐình&Bạn bè (1)
Hệ số Beta điều chỉnh của các biến số
trong mô hình hồi quy (1) đều dương nên có
thể kết luận là sự hỗ trợ từ bạn bè cũng như các
yếu tố thể chất và tinh thần gây ảnh hưởng tích
cực đến sự đa dạng trong các hoạt động giải trí
của người cao tuổi. Mức độ phù hợp của mô
hình là 56.5%.
453
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
70 tuổi và 70-80 tuổi có cấp độ tham gia là cao
nhóm đối tượng này, các cơ quan chức năng
cần quan tâm tác động đến các nhân tố trên.
Yếu tố gia đình luôn là nền tảng cơ bản về văn
hóa cũng như nhận thức ở Việt Nam. Gia đình
có ảnh hướng lớn trong việc tham gia giải trí
của người cao tuổi. Do đó, các cơ quan chức
năng có thể phối hợp cùng gia đình để xây
dựng những chính sách phát triển, tạo động
lực, khuyến khích người cao tuổi tham gia vào
các mô hình giải trí. Các cơ quan chức năng có
thể hợp tác với câu lạc bộ hoặc cơ quan chức
trách địa phương để tổ chức những buổi nói
chuyện, giao lưu với gia đình của những người
cao tuổi về sự quan trọng của hoạt động giải trí
đối với tuổi già.
hơn so với nhóm trên 80 tuổi Cấp độ tham gia
ở nhóm không đi học là thấp hơn so với các
nhóm còn lại.
Không có sự khác biệt về sự đa dạng và
cấp độ tham gia ở các nhóm thu nhập và giới
tính.
8. Kết luận và đề xuất
Kết quả nghiên cứu chứng tỏ sự tham gia
giải trí ở người cao tuổi có thể được nhìn nhận
thông qua sự đa dạng và cấp độ tham gia giải
trí. Sự đa dạng trong tham gia giải trí của
người cao tuổi là cao, có đến 80% đối tượng
nghiên cứu tham gia từ 2-4 nhóm hoạt động
giải trí. Bên cạnh đó, người cao tuổi cũng tham
gia giải trí ở cấp độ cao với 72% chọn từ thỉnh
thoảng đến thường xuyên tham gia giải trí và
gần 50% tham gia từ 30-45 phút.
Các yếu tố thuộc về tinh thần có ảnh hưởng
lớn đển sự tham gia giải trí của người cao tuổi
do vậy cần tạo ra 1 môi trường tinh thần thật sự
tốt và hiệu quả cho việc tham gia của người
cao tuổi. Ngoài các yếu tố thuộc nội tại cá nhân
như tình trạng sức khỏe, sự minh mẫn... thì có
thể tạo một tinh thần tốt cho người cao tuổi
thông qua những trò chơi, những game show
với mục đích vui khỏe cho những đối tượng
này để tạo sự gắn kết giữa mô hình và người
cao tuổi
Ngoài những hoạt động cơ bản: phương
tiện truyền thông, sở thích tại nhà hay các hoạt
động xã hội tại gia; những hoạt động ở không
gian giải trí mở như thể thao, tình nguyện, từ
thiện và du lịch cũng được nhiều người cao
tuổi lựa chọn tham gia. Câu lạc bộ và các địa
điểm gần nhà là nơi được nhiều người cao tuổi
chọn để tiến hành giải trí hơn là tại nhà. Đây là
một tín hiệu tích cực cho sự tham gia giải trí
của người cao tuổi ở những trung tâm dịch vụ
giải trí
Ngoài ra, các cơ quan chức năng có thể
đưa ra các chương trình tuyên dương, các hoạt
động xã hội hữu ích, các giải thưởng, đánh giá
nhìn nhận, công nhận định kỳ nhằm giúp cho
người cao tuổi sống có ích hơn, biết được họ
được tôn trọng, được công nhận và đánh giá
cao trong cộng đồng xã hội. Làm thõa mãn cái
tôi của họ. Các hoạt động này bên cạnh việc
tác động đến nhận thức của người cao tuổi còn
giúp gia tăng tinh thần, tạo sự hứng thú trog
giải trí cho người cao tuổi
Theo như kết quả đã trình bày thì các yếu
tố về nhân khẩu học như trình độ, thu nhập và
giới tính không có sự khác nhau giữa các nhóm
trong sự tham gia giải trí. Chỉ có độ tuổi là có
sự khác nhau và sự tham gia ở những nhóm độ
tuổi trẻ hơn 60-70 và 70-80 là cao hơn so với
độ tuổi trên 80 tuổi. Sự khác nhau này giúp thu
hẹp phạm vi trong khách hàng mục tiêu cho
những nhà cung cấp dịch vụ giải trí
Đề xuất cho nhà cung cấp dịch vụ giải
trí
Đề xuất cho các cơ quan chức năng
Đề xuất gia tăng hiệu quả truyền thông đối
với người cao tuổi (truyền thông hướng đến
tăng sự nhận biết)
Sự hỗ trợ gia đình, sự hỗ trợ bạn bè và tinh
thần là 3 nhân tố trong mô hình tham gia giải
trí của người cao tuổi. Chính vì thế, để xây
dựng và phát triển môi trường sống tốt hơn cho
Người cao tuổi tham gia vào mô hình giải
trí với mục đích giải trí, cho tinh thần thoải
454
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)
mái. Chính vì thế họ sẽ tham gia khi cảm nhận
hợp với con cháu do khác nhau về quan điểm
sống thì họ lại rất thoải mái trao đổi với bạn
hữu. Họ nói về những sản phẩm họ dùng, lý do
tại sao họ dùng sản phẩm đó và thường là đưa
ra nhiều lý lẽ để bảo vệ chính kiến tiêu dùng
của mình. Theo nghiên cứu, có đến 60% người
cao tuổi tham gia giải trí cùng bạn bè vì thế
thông tin truyền miệng thường rất hiệu quả khi
thuyết phục người tiêu dùng lớn tuổi dùng thử
sản phẩm mới.
được những giá trị mà họ mong muốn ở mô
hình này. Mô hình giải trí được xây dựng nhằm
đáp ứng mong muốn quan trọng này của người
cao tuổi và nhà cung cấp phải truyền thông để
người cao tuổi cảm nhận được mô hình này
cung cấp những điều mà họ đang cần. Thông
điệp quảng cáo hướng tới các khách hàng lớn
tuổi cũng đang có xu hướng chuyển đổi từ
thông tin về lợi ích thực dụng của sản phẩm
sang lợi ích tâm lý có được khi tiêu dùng sản
phẩm đó. Các thông điệp cũng nên có tiết tấu
chậm và nhẹ nhàng để khán giả lớn tuổi có đủ
thời gian cảm nhận. Bên cạnh đó, nhóm đề
xuất cần có một bài nghiên cứu về công cụ
truyền thông cho người cao tuổi để lựa chọn
phương tiện quảng cáo phù hợp nhất.
Đề xuất phát triển các dịch vụ/ gói dịch vụ
giải trí phù hợp với người cao tuổi
Dựa trên kết quả thống kê cho thấy rằng
người cao tuổi có sự đa dạng và cấp độ tham
gia cao trong giải trí. Nhà cung cấp dịch vụ có
thể dựa vào những thông tin này để xây dựng
mô hình giải trí với sự đa dạng và cấp độ tham
gia phù hợp với người cao tuổi. Những gói
dịch vụ có thể bao gồm các hoạt động nằm
trong 2-4 nhóm với thời gian linh hoạt từ 15-45
phút. Những gói dịch vụ này trải dài từ những
hoạt động cốt lõi như đọc báo, xem truyền
hình, chơi cờ cho đến những hoạt động về thể
thao, tình nguyện, du lịch
Theo như nghiên cứu, sự hỗ trợ từ gia đình
là nhân tố có tác động cao nhất đến sự tham gia
giải trí ở người cao tuổi. Họ tham gia vào mô
hình giải trí khi có sự hỗ trợ và động viên cao
từ gia đình. Chính vì thế, song song với việc
xây dựng những chính sách marketing trực tiếp
đến người cao tuổi, các nhà cung cấp dịch vụ
có thể tiến hành những chiến dịch gián tiếp đến
gia đình để truyền thông những lợi ích mà việc
tham gia giải trí có thể mang đến người cao
tuổi
Mô hình giải trí với số lượng hoạt động đa
dạng và cấp độ tham gia cao nên được xây
dựng. Các cơ quan chức năng và các nhà cung
cấp dịch vụ có thể kết hợp với bệnh viện tại địa
phương để tiến hành các chương trình tư vấn,
khám sức khỏe miễn phí hoặc tổ chức những
game show với mục đích vui khỏe cho cho
người cao tuổi. Ngoài ra, có thể phối hợp cùng
gia đình để xây dựng những chính sách phát
triển, tạo động lực và khuyến khích người cao
tuổi tham gia vào các mô hình. Marketing
truyền miệng qua bạn bè là một phương pháp
hiệu quả được đề xuất./.
Do các đặc điểm về hành vi của người cao
tuổi rất đặc biệt chính vì thế ta cần thận trọng
khi xác định chiến lược marketing cho người
cao tuổi và truyền miệng chính là một phương
pháptruyền thông hiệu quả đối với người cao
tuổi. Do có nhiều thời gian rảnh rỗi và thường
tham gia các hoạt động cộng đồng, người lớn
tuổi luôn có một nhu cầu trao đổi thông tin rất
lớn. Trong khi họ có thể không trò chuyện hòa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Babalola AJ và AM Alayode.(2012) “Level of Leisure Activity Involvement among
Academic and Non-Academic Staff of Tertiary Institutions in Ondo State”, American Journal
of Human Ecology, 45, 2, 23-25
[2] Dowd J. (1975), Aging as Exchange: A Preface to Theory, Journal of Gerontology, 30, 5, 584-
594
455
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG
[3] Encel S., G Zdenkowski, M Kaye (1996) “Keeping in Touch Older People Living Alone”,
Consultative Committee on Ageing
[4] Erikson EM & JM Erikson (1998), The life cycle completed, Norton & Company
[5] ME Havitz, F Dimanche (1997), Leisure involvement revisited: Conceptual conundrums and
measurement advances, Journal of Leisure Research, 29, 3, 245-278
[6] Hoàng Mộc Lan (2013), Đời sống tinh thần của người cao tuổi Việt Nam,
[7] G King, M Law, S King, P Hurley, P Rosenbaum (2004), Children’s Assessment of
Participation and Enjoyment (CAPE) & Preferences for Activities of Children (PAC),
[8] Klumb PL & H Maier (2007), Daily activities and survival at older ages, Journal of Aging and
Health, 19, 4, 594-611
[9] Leitner M & Leitner S. (1997) “Leisure in later life”, Haworth Press New York
[10] Meijer EP, AH Goris, L Wouters (2001), “Physical inactivity as a determinant of the physical
activity level in the elderly”, International Journal of Obesity and Related Metabolic Disorders
: Journal of the International Association for the Study of Obesity, 25, 7, 935-939.
[11] Nguyễn Đình Cử (2006), Cơ cấu dân số vàng tại Việt Nam, link tải về:
[12] Ostrower F.(2004) “ The Diversity of Cultural Participation”, The Urban Institute
[13] The Outdoor Foundation (2008) “A look at trends in American participation in outdoor
activities with a focus on youth, diversity and the future of the outdoors”
[14] The Philips Center for Health and Well-being: A global perspective.
[15] Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình : Báo cáo tổng quan năm 2010, link tải về:
www.gopfp.gov.vn/documents/18/24354/TQCS-NCT
[16] Van der Pas S., Koopman-Boyden P. (2010) “Leisure and Recreation Activities, and
Wellbeing among Older New Zealanders”, Midlife New Zealanders Aged 40-64 in 2008, 111-
124
[17] A. Ullenhag, M.K Bult, A. Nyquist, M.Ketelarr, R.Jahnsen, L.Krumlende- Sundholm,
L.Almqvist, M.Granlund, 2005 “An international comparison of patterns of participation in
leisure activities for children with and without disabilities in Sweden,Norway and the
Netherlands”, Developmental Neurorehabilitation, 15,5, 369-385
456
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu về sự đa dạng và cấp độ tham gia các hoạt động giải trí của người cao tuổi tại thành phố Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghien_cuu_ve_su_da_dang_va_cap_do_tham_gia_cac_hoat_dong_gi.pdf

