Nghiên cứu về sự đa dạng và cấp độ tham gia các hoạt động giải trí của người cao tuổi tại thành phố Đà Nẵng

HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
NGHIÊN CỨU VỀ SỰ ĐA DẠNG VÀ CẤP ĐỘ THAM GIA CÁC HOẠT ĐỘNG  
GIẢI TRÍ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG  
RESEARCH OF THE DIVERSITY AND PARTICITION LEVEL IN ENTERTAINMENT  
ACTIVITIES FOR THE ELEDERS AT DA NANG CITY  
TS. Đường Thị Liên Hà, ThS. Võ Quang Trí  
Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này tập trung phân tích sự tham gia giải trí của người cao tuổi thông qua hai nhân tố là sự đa  
dạng và cấp độ tham gia giải trí của họ, đồng thời tìm hiểu các nhân tố cá nhân và xã hội có tác động đến  
hành vi tham gia giải trí. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu thu được, nhóm tác giả đề xuất một số khuyến nghị  
nhằm khuyến khích và gia tăng sự tham gia giải trí của người cao tuổi, góp phần hỗ trợ trong những chính  
sách quan tâm của nhà nước đến người cao tuổi. Đề tài được thực hiện từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 4  
năm 2013 với đối tượng người cao tuổi sống trên địa bàn thành phố Đà Nẵng.  
Từ khóa: người cao tuổi; sự tham gia; sự đa dạng; cấp độ hoạt động; các yếu tố cá nhân của người cao  
tuổi.  
ABSTRACT  
This research focuses on recreation participation of the elders through two factors in the term of the  
diversity and levels of entertainment activity, and learns about individual and social factors presenting the  
impact on the leisure behavior of the elders. On the basis of research results obtained, the authors  
recommend a number of recommendations to encourage and increase the participation of the elders in  
recreation, helping to support the country policy on caring for the elders. Study was conducted from October  
2012 to April 2013 with the elderly subjects living in the city of Da Nang.  
Keywords: the elders; participation; diversity; level of activity; the individual variables of the elderly.  
Nam vẫn chưa thật sự phát triển mạnh mẽ và  
đáp ứng được nhu cầu đa dạng của nhóm đối  
tượng này. Phân khúc người cao tuổi chưa  
được quan tâm và thu hút nhiều nhà đầu tư nên  
có rất ít các hoạt động đầu tư cũng như các  
công trình nghiên cứu về hoạt động giải trí của  
nhóm đối tượng này.  
1. Vấn đề nghiên cứu  
Già hóa dân số là một trong những khuynh  
hướng nổi bật trong thế kỷ 21. Theo báo cáo  
của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, cả  
nước hiện có trên 8,85 triệu người cao tuổi,  
chiếm tỷ lệ trên 9% dân số. Hội nghị trực tuyến  
về báo cáo tổng kết công tác năm 2012 và kế  
hoạch năm 2013 của Ủy ban Quốc gia Người  
cao tuổi Việt Nam tháng 2 năm 2013 đã nhận  
định rằng già hóa dân số đang là xu hướng trên  
cả nước. Việt Nam là một trong số các quốc  
gia đang phát triển có tỷ lệ dân số già tăng cao  
qua các năm. Dự báo thời gian tới, tỷ lệ người  
cao tuổi gia tăng do nước ta đang bước vào giai  
đoạn già hóa dân số với tốc độ nhanh chóng.  
Vì vậy cần phải có những chính sách để phát  
huy và chăm sóc người cao tuổi ngày một tốt  
hơn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng môi  
trường giải trí giành cho người cao tuổi ở Việt  
Vào năm 2008, Việt Nam đã tiến hành  
nghiên cứu về xu hướng của những trung tâm  
cung cấp dịch vụ cho người cao tuổi trong  
tương lai là đa dạng hơn về loại hình và số  
lượng cung cấp để phù hợp với nhu cầu và đặc  
tính đa dạng của người cao tuổi. Bên cạnh đó,  
nước ta đang trong quá trình hội nhập toàn cầu  
nên có rất nhiều loại hình giải trí mới được du  
nhập vào Việt Nam và cũng có nhiều hoạt  
động giải trí mang tính tự phát xuất hiện trong  
cộng đồng nên người cao tuổi có thể đa dạng  
hoá được sự lựa chọn hoạt động giải trí trong  
445  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
thời gian nhàn rỗi. Nghiên cứu của Meijer và  
(theo nghiên cứu quốc tế về nhân khẩu học do  
tổ chức The Philips Centre for Health & Well-  
being tiến hành vào năm 2010)  
cộng sự (2001) về sự tham gia các hoạt động  
ngoài trời cho thấy các doanh nghiệp cung cấp  
dịch vụ không chỉ quan tâm đến số lượng hoạt  
động mà khách hàng lựa chọn tức là sự đa dạng  
mà cần phải quan tâm đến cấp độ tham gia bởi  
cấp độ tham gia giải trí ở từng nhóm đối tượng  
là hoàn toàn khác nhau. Ở người cao tuổi,  
chính sự lão hóa là một trong những nguyên  
nhân cơ bản dẫn đến sự khác nhau trong cấp độ  
tham gia hoạt động.  
-Độ tuổi : Độ tuổi là yếu tố phổ biến nhất  
thường dùng để xác định người già. Tuy nhiên,  
độ tuổi cụ thể như thế nào còn phụ thuộc nhiều  
vào xã hội và môi trường sống. Ở nhiều nước  
phát triển trên thế giới, độ tuổi 60 hay 65 là độ  
tuổi nghỉ hưu. Trong khi một số nước lại chấp  
nhận nghỉ hưu ở độ tuổi trên 50. Sự khác nhau  
này là do sự chênh lệch về trình độ y tế dẫn  
đến sự thay đổi trong tuổi thọ của người dân.  
Trong khi Nhật Bản có tuổi thọ trung bình cao  
nhất thế giới là 82.2 thì một số nước ở Châu  
Phi độ tuổi này lại dưới 40. Độ tuổi được dùng  
để đánh dấu cho việc già đi của các yếu tố về  
sinh học bên trong con người. Tuy nhiên, trên  
thực tế tuổi được cho là già và sự già đi về mặt  
sinh học không phải lúc nào cũng xảy ra cùng  
lúc với nhau. Vì những lý do đó nên việc xác  
định người già chỉ dựa vào độ tuổi trở nên  
không phù hợp.  
Thành phố Đà Nẵng với mục tiêu trở thành  
một thành phố đáng sống trong tương lai, bên  
cạnh các chính sách đầu tư cho cơ sở hạ tầng,  
phát triển môi trường còn cần quan tâm đến  
các loại hình và cung ứng môi trường sống phù  
hợp cho người cao tuổi sau khi về hưu. Giải trí  
cho người cao tuổi là vấn đề cần được xem xét  
một cách nghiêm túc. Tìm hiểu quy trình tham  
gia các hoạt động giải trí, mức độ đa dạng cũng  
như cấp độ tham gia của người cao tuổi bên  
cạnh xem xét các yếu tố về khía cạnh cá nhân  
có thể là một nền tảng giúp nhận diện toàn diện  
đặc điểm về nhu cầu và năng lực của người cao  
tuổi ở hiện tại.  
- Sự thay đổi về vai trò xã hội: Sự thay đổi  
về vai trò xã hội đề cập đến việc thay đổi các  
vai trò của một cá nhân trong đời sống và trong  
công việc hằng ngày. Sự thay đổi vai trò xã hội  
mà trong đó một cá nhân không còn có sự đóng  
góp nhiều cho xã hội, hay thay đổi vai trò trong  
gia đình của mình được xem như một yếu tố để  
xác định sự già hóa. Các biểu hiện cụ thể của  
yếu tố này như là sự về hưu, con cái trưởng  
thành, có cháu, mãn kinh ở phụ nữ,… Tuy  
nhiên, yếu tố này được cho là không phù hợp  
hoàn toàn, bởi trong cuộc sống có rất nhiều lý  
do và nguyên nhân khác nhau khiến một người  
thay đổi vai trò của mình mà không chỉ do sự  
già đi.  
Với những lý do trên, đề tài “Nghiên cứu  
về sự đa dạng và cấp độ tham gia các hoạt  
động giải trí của người cao tuổi tại thành  
phố Đà Nẵng” đã được tiến hành. Nghiên cứu  
này hướng tới việc làm sáng tỏ sự tham gia giải  
trí của người cao tuổi hiện nay thông qua phân  
tích sự đa dạng và cấp độ tham gia giải trí của  
họ, đồng thời tìm hiểu các nhân tố có tác động  
đến hành vi tham gia giải trí. Để từ đó đưa ra  
một số khuyến nghị nhằm nâng cao nhằm nâng  
cao sự tham gia giải trí của người cao tuổi góp  
phần hỗ trợ trong những chính sách quan tâm  
của nhà nước đến người cao tuổi  
- Sự thay đổi về khả năng: Sự thay đổi về  
các khả năng hoạt động có liên quan mật thiết  
đến tình trạng sức khỏe. Sự thay đổi này có thể  
là do gen di truyền hoặc do hành vi thường  
ngày của cá nhân tác động. Sống lâu là biểu  
hiện của tình trạng sức khỏe tốt. Sự hiện diện  
2. Các khái niệm căn bản về người cao tuổi  
Hiện tại, trên thế giới, vẫn chưa có một  
định nghĩa thống nhất về người cao tuổi. Việc  
xác định người cao tuổi có thể được thể hiện  
thông qua 3 đặc tính chính: độ tuổi, sự thay đổi  
về vai trò xã hội và sự thay đổi về các khả năng  
446  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
của bệnh tật hoặc tình trạng sức khỏe giảm sút  
1975), nói rằng con người khi về già trở nên  
rảnh rỗi, họ không còn vướng bận bởi công  
việc và trách nhiệm gia đình. Điều đó cho phép  
họ thưởng thức phần còn lại của cuộc sống một  
cách yên bình. Họ bắt đầu ít tương tác hơn và  
mức độ hoạt động cũng giảm. Quá trình lão  
hóa và cách thức mà nó tiến hành liên quan  
trực tiếp đến xã hội mà người già sống. Lý  
thuyết buông tha chủ yếu đề cập đến sự kết nối  
của người cao tuổi với xã hội mà chưa đi sâu  
vào giá trị của họ. Chẳng hạn trong xã hội hiện  
đại, khi mà hiệu quả và sự đóng góp được đề  
cao, một điều rõ ràng rằng người cao tuổi  
không thể cung cấp nhiều giá trị như những  
người trẻ tuổi. Trong nhiều trường hợp, họ bị  
xem như là gánh nặng xã hội.  
được xem là sự khởi đầu của tình trạng lão hóa  
Tại Việt Nam, phần lớn việc xác định  
người cao tuổi là dựa trên độ tuổi. Theo điều 2  
Luật người cao tuổi được Quốc hội khóa XII,  
kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 23/11/2009 có  
hiệu lực thi hành ngày 1/7/2010 xác định:  
“Người cao tuổi được quy định trong luật này  
là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”,  
được hưởng các chế độ ưu tiên theo Luật người  
cao tuổi. Trong các nghiên cứu có giá trị về  
người cao tuổi ở Việt Nam như nghiên cứu xu  
hướng già hóa dân số thế giới và đặc trưng  
người cao tuổi Việt Nam (PGS.TS Nguyễn  
Đình Cử, 2006), đời sống tinh thần của người  
cao tuổi hiện nay (TS Hoàng Mộc Lan), nghiên  
cứu một số đặc trưng của người cao tuổi Việt  
Nam và đánh giá mô hình người cao tuổi đang  
áp dụng (tổng cục Dân số & KHHGD, 2006)  
cũng cho rằng những người cao tuổi là những  
người trên 60 tuổi. Bên cạnh đó, để đảm bảo  
tính hiệu quả của việc thi hành pháp luật, đối  
với tình tiết giảm nhẹ trong hình phạt giành  
cho người cao tuổi, chính phủ không chỉ xem  
xét ở khía cạnh độ tuổi mà còn dựa trên sự thay  
đổi về khả năng của đối tượng. Tòa án nhân  
dân tối cao số 01/2007/NQ-HĐTP ngày  
2/10/2007 hướng dẫn áp dụng một số quy định  
của Bộ luật hình sự quy định về thời hiệu thi  
hành bản án, miễn chấp hành hình phạt, giảm  
thời hạn chấp hành hình phạt cũng viết:  
“Người quá già yếu là người từ 70 tuổi trở lên  
hoặc là người từ 60 tuổi trở lên nhưng thường  
xuyên đau ốm”. Vì thế, trong nghiên cứu này,  
để đảm bảo tính thống nhất và dễ dàng trong  
việc tiếp cận đối tượng nghiên cứu, nhóm  
nghiên cứu lựa chọn định nghĩa những người  
từ 60 tuổi trở lên là người cao tuổi. Bởi 60 tuổi  
cũng là độ tuổi nghỉ hưu thích hợp cho cả nam  
và nữ theo Luật lao động của nước ta hiện nay  
Trái với lý thuyết Buông Tha, lý thuyết  
Hoạt Động ở tuổi già (The activity theory of  
aging) được phát triển bởi Robert J.  
Havighurst vào năm 1961 (được trích dẫn bởi  
Dowl 1975), là một lý thuyết về lão hóa trong  
đó nói rằng các nhu cầu tâm lý và xã hội ở  
người cao tuổi không có khác những người  
trung niên và việc người lớn tuổi bị cô lập và bị  
tránh xa là bất bình thường và trái với lẽ tự  
nhiên. Lý thuyết này còn được gọi là “Lý  
thuyết lão hóa tiềm ẩn".  
Năm 1987, Erik Erikson đã viết nên lý  
thuyết "Tám giai đoạn của cuộc sống" (Erikson  
& Erikson, 1998). Theo lý thuyết này, nhân  
cách con người được phát triển theo tám giai  
đoạn đoạn diễn ra từ thời điểm con người sinh  
ra và tiếp tục phát triển để trở thành một cá  
nhân hoàn chỉnh. Theo bảng.1 dưới đây, giai  
đoạn thứ 8 là giai đoạn hoàn chỉnh của một cá  
nhân, tức là kéo dài từ 65 tuổi cho đến hết cuộc  
đời. Những cá nhân trong giai đoạn này sẽ có  
những cảm giác chung của cả sự hối tiếc và sự  
hài lòng. Những người không thành công trong  
giai đoạn này sẽ cảm thấy rằng cuộc sống của  
họ đã bị lãng phí và sẽ cảm thấy hối tiếc. Cá  
nhân người đó sẽ trải qua cảm giác cay đắng và  
tuyệt vọng. Còn những người cảm thấy tự hào  
về những thành tích mà họ đã đạt được sẽ cảm  
thấy một cảm giác hài lòng  
Đặc điểm người cao tuổi  
Thuyết Buông Tha (Disengagement  
theory) do Cumming và Henry viết trong cuốn  
sách “Growing Old “ (được trích dẫn bởi Dowl  
447  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
Bảng 1. Bảng tổng hợp các giai đoạn phát triển tâm lý (Erikson & Erikson, 1998)  
Theo nghiên cứu năm 2010 của Tổng cục  
Dân số Việt Nam, người cao tuổi thường mang  
trong mình tâm trạng cô đơn, dễ tủi thân. Nét  
tâm lý này xuất phát từ những thực tế mà  
người cao tuổi đang phải đối diện: tuổi cao, sức  
khỏe kém, khả năng chăm sóc bản thân bị hạn  
chế nên phải trông cậy vào sự giúp đỡ người  
khác. Bên cạnh đó, do vị trí trong xã hội thay  
đổi cũng như mang nặng tâm trạng “phụ  
thuộc” vào con cháu nên người cao tuổi thường  
sinh ra cáu gắt và dễ nổi nóng với người xung  
quanh. Trong giai đoạn này, con người thường  
hồi tưởng, thường tự xem xét, đánh giá về  
quãng đời đã qua của mình. Sự so sánh, nuối  
tiếc hoặc đánh giá quá cao những gì đã diễn ra  
trong quá khứ với cuộc sống hiện tại là một  
trong những nguyên nhân dẫn đến sự hụt hẫng  
trong tâm lý người cao tuổi. Đây có thể là  
nguyên nhân chính dẫn đến chứng trầm cảm ở  
người cao tuổi, mà nó có thể diễn tiến thành  
bệnh Alzheimer (một loại bệnh liên quan đến  
chứng mất trí ở người già) và các hình thức  
khác của chứng mất trí. Chính vì thế với người  
cao tuổi nhu cầu vật chất không còn là mối bận  
tâm to lớn mà chuyển sang các nhu cầu về tinh  
thần và đây được xem như là nhu cầu cấp thiết  
và quan trọng nhất với họ.  
3. Sự đa dạng và cấp độ tham gia hoạt động  
giải trí của người cao tuổi  
Thế nào là hoạt động giải trí: Các hoạt  
động giải trí được nhìn nhận theo nhiều  
phương diện khác nhau, cụ thể là theo cách tiếp  
cận về thời gian, theo tính chất hoạt động mang  
lại và theo sự tích hợp của hai yếu tố trên.  
- Theo cách tiếp cận về thời gian: Cách  
tiếp cận này tập trung vào khái niệm “thời gian  
nhàn rỗi”. Thời gian nhàn rỗi là thời gian còn  
lại sau thời gian dành cho công việc, nghỉ ngơi  
và các nghĩa vụ khác hay những nhu cầu vật lý  
cấp thiết. Tất cả những hoạt động được tiến  
hành vào khoảng thời gian này được cho là  
hoạt động giải trí. Tuy nhiên, sự phân chia giữa  
công việc và hoạt động giải trí là tùy theo cá  
nhân đối với độ tuổi đang làm việc. Chính điều  
này sẽ tạo ra những vấn đề nảy sinh đối với  
những người thất nghiệp và nội trợ, và điều  
448  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
này là không thể áp dụng đối với đối tượng về  
động cung cấp những thách thức trí tuệ, và liên  
quan đến khả năng và sự sáng tạo cá nhân), và  
giải trí xã hội (các hoạt động cung cấp các  
tương tác xã hội và vị thế xã hội).  
hưu. Một cách tiếp cận phù hợp với đối tượng  
hưu trí là trừ đi thời gian dành cho các hoạt  
động “tái tạo năng lượng”, là những hoạt động  
bắt buộc phải thực hiện để duy trì đời sống vật  
lý của con người (Klumb & Maier, 2007). Cho  
đến nay, cách tiếp cận này vẫn còn khá mơ hồ,  
chẳng hạn như hoạt động ăn uống theo định  
nghĩa không thuộc phạm trù hoạt động giải trí  
nhưng ăn tối với bạn thì được xem xét ở tính cá  
nhân là một hoạt động giải trí thú vị.  
Năm 2007, một cách tiếp cận lý thuyết  
được đề xuất bởi Klumb và Maier phân chia tất  
cả các hoạt động thành hoạt động tái tạo và tùy  
ý, và hoạt động giải trí thuộc nhóm các hoạt  
động tùy ý. Hoạt động tùy ý sau đó tiếp tục  
được chia thành vào các hoạt động sản xuất và  
tiêu dùng. Hoạt động sản xuất là những hoạt  
động có thể được thực hiện cùng các đối tượng  
khác mà không bị mất lợi ích của nó (chẳng  
hạn như làm vườn và mua sắm), trong khi các  
hoạt động tiêu dùng được thực hiện vì lợi ích  
riêng cá nhân (chẳng hạn như gặp gỡ bạn bè  
hoặc đọc một cuốn sách). Tất nhiên, ranh giới  
giữa hoạt động sản xuất và tiêu dùng không  
phải luôn luôn rõ ràng vì những cá nhân tiến  
hành hoạt động sản xuất trên cũng có thể được  
thực hiện vì lợi ích riêng của họ.  
- Theo tính chất hoạt động mang lại: Một  
định nghĩa đơn giản của giải trí trong cách tiếp  
cận này là " những hoạt động được lựa chọn  
tùy ý nhằm mang lại sự hài lòng" (Encel và  
cộng sự, 1996). Hoạt động giải trí được xác  
định bởi trải nghiệm, lợi ích và sở thích của  
từng cá nhân. Với định nghĩa này, các hoạt  
động là những thói quen hàng ngày, chẳng hạn  
như đọc báo buổi sáng hoặc việc chuẩn bị và  
ăn uống cũng có thể được xếp vào giải trí.  
- Theo sự tích hợp của thời gian và tính  
chất hoạt động: Cách tiếp cận thứ ba chính là  
cách tiếp cận đầy đủ và chính xác nhất thông  
qua sự kết hợp của hai cách tiếp cận trên. Cách  
tiếp cận này được minh họa bởi định nghĩa sau  
đây: “ Giải trí là thời gian mà một cá nhân trở  
nên rảnh rỗi khỏi công việc hoặc nhiệm vụ  
khác và có thể được sử dụng cho các mục đích  
thư giãn, hoạt động thú vị, thành tựu xã hội hay  
phát triển cá nhân "( Leitner M & Leitner,  
1997)  
Tùy vào mục đích của nghiên cứu sẽ có sự  
phân loại khác nhau trong danh mục các hoạt  
động giải trí. Trong nghiên cứu của mình,  
chúng tôi chọn sự phân chia hoạt động giải trí  
theo không gian tiến hành trong nghiên cứu  
của Van der Pas S và Koopman-Boyden  
(2010). Sự lựa chọn này nhằm mục đích tìm  
hiểu thêm về xu hướng mở rộng không gian  
trong giải trí của người cao tuổi trong việc  
tham gia các mô hình dịch vụ về giải trí. Hoạt  
động giải trí được chia thành 9 nhóm, gồm có:  
Danh mục các hoạt động giải trí  
• Media: phương tiện truyền thông (nghe  
đài, xem TV, đọc báo)  
Các nhà nghiên cứu về người cao tuổi đã  
chia các hoạt động giải trí thành ba nhóm:  
chính thức, không chính thức và hoạt động đơn  
độc (Ostrower, 2004). Trên nền tảng đó, các  
danh mục hoạt động khác nhau đã được đề  
nghị, dựa trên những xem xét lý thuyết cũng  
như các kết quả thực nghiệm. Ullenhag (2005)  
đã đề nghị nhóm gộp dựa trên các hoạt động  
cung cấp cho cá nhân, và do đó chia hoạt động  
thành giải trí trải nghiệm (hoạt động thoả mãn  
nội tại, thư giãn), giải trí phát triển (các hoạt  
• Social at home: hoạt động xã hội tại  
gia (viếng thăm hàng xóm )  
• Hobby at home: sở thích tại nhà (chơi  
cờ)  
• Open – air recreation: hoạt động giải  
trí ngoài trời (câu cá, dã ngoại)  
• Going out socially: giao tiếp ngoài xã  
hội (tình nguyện)  
449  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
độ tham gia, người tham gia cùng, nơi tiến  
• Civic: hoạt động công dân (tham gia  
sinh hoạt ở tổ phường)  
• Culture and amusement: văn hóa và  
viện bảo tàng (đi chùa)  
hành hoạt động và sự thích thú khi tham gia  
giải trí. Cũng theo nghiên cứu về hoạt động  
giải tri cho người cao tuổi của Van der Pas và  
Koopman-Boyden (2010) việc phân tích sự  
tham gia các hoạt động giải trí ở người cao tuổi  
có thể được thể hiện thông qua số lượng các  
hoạt động giải trí mà đáp viên đã tham gia tức  
là sự đa dạng và cấp độ tham gia hoạt động giải  
trí của từng đáp viên. Điều này chứng tỏ, sự đa  
dạng và cấp độ hoạt động là hai biến con của  
sự tham gia.  
• Sport: thể thao  
• Travel: du lịch  
Sự đa dạng các hoạt động giải trí  
Nghiên cứu về sự đa dạng trong tham gia  
trong hoạt động văn hóa của Ostrower (2004)  
đã phân tích thấy sự tham gia hoạt động khác  
nhau của người cao tuổi là bởi động cơ tham  
gia, sự trải nghiệm của mỗi cá nhân khi tham  
gia hoạt động là không giống nhau. Nghiên cứu  
về sự đa dạng sẽ giúp các doanh nghiệp cung  
cấp đưa ra những gói dịch vụ phù hợp, giúp gia  
tăng sự tham gia trong hoạt động văn hóa ở  
người cao tuổi. Tùy theo từng mục đích khác  
nhau mà sự đa dạng sẽ được đo lường theo  
những cách khác nhau. Nhìn chung, có hai  
phương pháp để tiếp cận và đo lường sự đa  
dạng. Tiếp cận theo số lượng hoạt động (Van  
der Pas & Peggy Koopman-Boyden, 2010) và  
tiếp cận theo số nhóm hoạt động (Babalola,  
2012)  
Theo nghiên cứu của Babalola & Alayode  
(2012), cấp độ tham gia hoạt động giải trí liên  
quan đến số lượng của sự tham gia. Để đạt  
được thể lực tốt hơn, lượng tham gia nên được  
thể hiện thông qua lượng tập luyện. Lượng tập  
luyện này được tạo ra thông qua thời gian, tần  
số và cường độ của hoạt động. Thời gian mô tả  
lượng thời gian giành cho các hoạt động giải trí  
trong khi cường độ chính là chất lượng của  
hoạt động hoặc mức độ gắng sức (Jorge, 2011).  
Tần số hoạt động giải trí giải thích mật độ các  
hoạt động tiến hành (Erikson và các cộng sự,  
1998). Do đó, cấp độ tham gia hoạt động giải  
trí có thể được tiếp cận thông qua cấp độ hoạt  
động thể lực trên ba yếu tố: thời gian, tần suất  
và mức cường độ.  
Sự tham gia và cấp độ tham gia các hoạt  
động giải trí  
Havitz và Dimanche (1997) đã đề xuất một  
định nghĩa về sự tham gia trong lĩnh vực giải  
trí và du lịch như sau: “Sự tham gia là một  
trạng thái tâm lý của động cơ, sự hưng phấn  
hoặc sự thích thú giữa một cá nhân và hoạt  
động giải trí hoặc điểm du lịch diễn ra tại một  
thời điểm”. Nói cách khác, sự tham gia vào  
hoạt động giải trí có tác động mạnh mẽ và ăn  
sâu trong tâm trí con người và có đặc tính theo  
sở thích cá nhân.  
4. Các yếu tố cá nhân ảnh hưởng đến sự  
tham gia hoạt động giải trí của người cao  
tuổi  
Thể chất: Theo mô hình nghiên cứu  
International Classification of Functioning,  
Disability and Health (ICF) model của WHO  
(2001) thì các điều kiện sức khỏe và các hoạt  
động của con người có mối liên hệ qua lại với  
nhau. Các điều kiện về sức khỏe có thể là rào  
cản trong việc tham gia các hoạt động của  
người cao tuổi tuy nhiên các hoạt động có thể  
giúp cải thiện các điều kiện về sức khỏe.  
Levasseur (2008) cũng cho biết rằng “Những  
người sống chung với những hạn chế hoạt  
động có thể có ít cơ hội hơn để được hài lòng  
với cuộc sống hay những trải nghiêm hạnh  
Năm 2004, King và cộng sự đã xây dựng  
thang đo CAPE (Children’s Assessment of  
Participation and Enjoyment)- một thang đo  
được sử dụng trong nhiều nghiên cứu để đánh  
giá sự tham gia hoạt động giải trí ở trẻ em và  
thanh thiếu niên.Thang đo CAPE đo lường 5  
yếu tố của sự tham gia gồm có: sự đa dạng, cấp  
450  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
phúc, có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến chất  
viên trong gia đình ảnh hưởng tích cực đến  
hành vi và sự tham gia của người già. Bên cạnh  
đó các hỗ trợ từ gia đình cũng ảnh hưởng đến ý  
thức về hạnh phúc cá nhân, động cơ và các  
hoạt động dẫn đến việc gia tăng hành vi tăng  
cường sức khỏe ở người già.  
lượng cuộc sống của họ”. Những hạn chế về  
sức khỏe thể chất khiến cho con người trở nên  
lười tham gia vào các hoạt động, và cũng làm  
suy giảm mức độ hoạt động của họ từ đó ảnh  
hưởng xấu đến chất lượng cuộc sống.  
Tinh thần: Sức khỏe tinh thần của một  
người có thể ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành  
vi của họ. Theo báo cáo của tổ chức Y tế cộng  
đồng Canada,“The Health and Well-being of  
Canadian Seniors”: Sức khỏe tinh thần tốt có  
thể giúp người cao tuổi đối phó với nhiều khó  
khăn của cuộc sống như bệnh mãn tính, sự mất  
mát của vợ (hoặc chồng) và bạn bè. Các vấn đề  
sức khỏe tinh thần có thể ảnh hưởng đến sức  
khỏe thể chất, cảm xúc, sự hạnh phúc và chất  
lượng cuộc sống. Từ đó có thể thấy, sức khỏe  
tinh thần có thể ảnh hưởng đến các hoạt động  
của người cao tuổi nói riêng, nó có thể chi phối  
sự tham gia vào các hoạt động kể cả các hoạt  
động giải trí  
5. Mô hình nghiên cứu về sự đa dạng và  
mức độ tham gia giải trí của người cao tuổi  
Các yếu tố cá nhân: thể chất, tinh thần, sự  
hỗ trợ xã hội và nhân khẩu học có ảnh hưởng  
đến sự tham gia giải trí của người cao tuổi, mà  
sự đa dạng và cấp độ tham gia hoạt động lại  
chính là biến con của biến "sự tham gia".  
Ngoài ra, một số các nghiên cứu liên quan về  
sự đa dạng và cấp độ tham gia các hoạt động  
cũng cho thấy rằng có mối tương quan giữa  
một số các yếu tố cá nhân đến sự đa dạng và  
cấp độ tham gia thông qua sự “sự tham gia”  
(Van der Pas & Peggy Koopman-Boyden,  
2010; Van der Meer, 2008). Chính vì vậy,  
chúng tôi đề xuất một mô hình nghiên cứu theo  
chúng tôi nó phù hợp với bối cảnh cũng như là  
hợp lý về mặt phương pháp luận (xem hình 1).  
Mối quan hệ/ Sự hỗ trợ xã hội: Nghiên  
cứu về mối quan hệ gia đình và hành vi cải  
thiện tình trạng sức khỏe của người già tại tỉnh  
Nan của Thanakwang và Soonthorndhada  
(2008) cho thấy rằng việc xây dựng và phát  
triển những hỗ trợ từ gia đình nên được cải  
thiện nhằm thúc đẩy và tạo ra hành vi tăng  
cường các hoạt động về tinh thần và chăm sóc  
sức khỏe ở người cao tuổi. Sự kết nối các thành  
Giả thuyết 1: Sự tham gia các hoạt động  
giải trí của người cao tuổi phụ thuộc tuyến tính  
vào các biến tinh thần, thể chất và hỗ trợ xã hội  
Giả thuyết 2: Sự tham gia các hoạt động  
giải trí của người cao tuổi chịu ảnh hưởng của  
các biến số nhân khẩu học (độ tuổi, thu nhập,  
trình độ học vấn và giới tính)  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu về sự đa dạng và mức độ tham gia các hoạt động giải trí của người cao tuổi  
phân tích nội dung. Nghiên cứu định lượtng là  
quá trình thu thập và xử lý dữ liệu để tiến hành  
những phân tích và kiểm định mô hình. Mẫu  
được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu  
nhiên với quy mô 200 người. Dữ liệu được thu  
6. Phương pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu định tính nhằm hiệu chỉnh lại  
các thang đo cho phù hợp với bối cảnh nghiên  
cứu. Mẫu ngẫu nhiên 50 người cao tuổi sống  
tại Đà. Xử lý dữ liệu thu thập bằng kỹ thuật  
451  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
thập qua bảng câu hỏi. Phân tích dữ liệu bằng  
người dân là tương đối cao so với thu nhập  
bình quân của người Việt Nam: có những  
người cao tuổi đạt mức thu nhập trên 10  
triệu đồng. 46.5% trong số đối tượng điều  
tra có thu nhập dưới 3 triệu đồng. 41.5% có  
thu nhập 3-5 triệu đồng, 11% có thu nhập  
5-10 triệu và 1% đạt thu nhập trên 10 triệu  
đồng/tháng. Tất cả đối tượng điều tra đều  
đang sống với gia đình hoặc họ hàng,  
không có ai sống một mình hoặc sống  
chung với bạn bè. Có đến 39.4% người cao  
tuổi đang sống với vợ hoặc chồng, 51.6%  
đang sống với con cái, 8.9% đang sống với  
họ hàng.  
phương pháp SPSS 16.0  
7. Kết quả nghiên cứu  
Đặc điểm nhân khẩu học  
Trong 200 đối tượng điều tra, tỉ lệ nam nữ  
là khá đồng đều với 52% là nam và 48% là nữ.  
Độ tuổi của đối tượng điều tra chủ yếu rơi vào  
những độ tuổi trẻ hơn với 45% đối thuộc độ  
tuổi 60-70, 36.5% đối tượng điều tra thuộc độ  
tuổi 71-80, 18.5% thuộc độ tuổi trên 80. Tuy  
nhiên, tình hình sức khỏe của người cao tuổi  
không được tốt, có đến 82.5% đang bị mắc các  
bệnh về tuổi già và chỉ và 17.5% hoàn toàn  
khỏe mạnh, không bị đau ốm.  
Người cao tuổi ở Đà Nẵng không có điều  
kiện thuận lợi cho việc học hành nên trình độ  
học vấn không cao với 7,5% đối tượng nghiên  
cứu không đi học, 45.5% đối tượng nghiên cứu  
đã học hết tiểu học, 22.5% học đến cấp 2, 19%  
học đến trung học phổ thông, 5.5% học từ  
trung cấp trở lên.  
Sự đa dạng và cấp độ tham gia giải trí  
Tất cả 200 đối tượng nghiên cứu đều tham  
gia hoạt động giải trí. Theo hình 2 dưới đây,  
người cao tuổi có sự đa dạng cao trong tham  
gia các hoạt động giải trí với 46% tham gia từ  
2- 3 nhóm hoạt động, 34% tham gia 3-4 nhóm  
hoạt động, 11.5% tham gia từ 4-5 nhóm hoạt  
động và chỉ 1% tham gia từ 0-1 nhóm hoạt  
động.  
Phạm vi của nghiên cứu là khu vực  
trung tâm thành phố nên mức thu nhập của  
Hình 2. Mức độ tham gia các hoạt động của người cao tuổi  
Người cao tuổi cũng có cấp độ tham gia  
cao bởi tần suất thường xuyên và thời gian  
giành cho hoạt động giải trí lớn. Có đến 39%  
đối tượng điều tra thỉnh thoảng tham gia các  
hoạt động giải trí , 33% thường xuyên tham gia  
hoạt động giải trí và 14% rất thường xuyên  
tham gia hoạt động giải trí. Thời gian mà người  
cao tuổi giành cho giải trí là tương đối lớn với  
42.5% đối tượng nghiên cứu giành 30-45 phút  
cho mỗi lần tham gia, 30% giành 15-30 phút và  
18.5% giành trên 45 phút ở mỗi lần tham gia  
Địa điểm tham gia giải trí được nhiều đối  
tượng người cao tuổi lựa chọn nhất là câu lạc  
bộ chiếm 34.5%, 22.5% tham gia giải trí ở gần  
nhà, 13.5% tiến hành giải trí tại nhà, 12% tại  
bờ sông, 10.5% tại chùa và 7% tại công viên  
Hiện nay, người cao tuổi thường tham gia  
hoạt đông giải trí với bạn bè hơn là gia đình và  
452  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
những đối tượng khác. Có đến 60% người cao  
tuổi tham gia giải trí cùng bạn bè, 16% cùng  
gia đình, 14.5% không quan tâm người cùng  
tham gia và 9.5% tham gia một mình  
Hình 3. Nhóm hoạt động giải trí của người cao tuổi  
Theo như hình 3, phương tiện truyền thông  
là hoạt động được nhiều người cao tuổi chọn  
nhất với 28.7% người cao tuổi tham gia,  
17.8% tiến hành các sở thích tại nhà, 16.5%  
tham gia các hoạt động thể thao, 15.2% tiến  
hành các hoạt động xã hội tại gia, 7.3% tiến  
hành các giai tiếp ngoài xã hội, 5.4% đi du  
lịch, 3.6% tham gia các hoạt động về văn hóa  
và viện bảo tàng, 3.2% tham gia hoạt động giải  
trí ngoài trời và chỉ 2.4% tham gia các hoạt  
động sinh hoạt công dân  
Mức độ tham gia= 0.458 + 0.233Thể chất +  
0.197 GĐình&Bạn bè + 0.202Tinh thần (2)  
Tương tự như trên, kết quả phương trình  
hồi quy (2) cho thấy tất cả các biến thể chất,  
tinh thần và hỗ trợ xã hội đều có tác động tích  
cực đến cấp độ tham gia các hoạt động giải trí  
của người cao tuổi. Mức độ phù hợp của mô  
hình là 75.4%.  
Giả thuyết 2: Để kiểm định giả thuyết 2  
(ảnh hưởng của các biến số nhân khẩu học đến  
sự đa dạng và mức độ tham gia giải trí của  
người cao tuổi), chúng tôi đã sử dụng kỹ thuật  
phân tích phương sai One Way ANOVA và T-  
test. Trong đó One way ANOVA được sử dụng  
để phân tích sự thay đổi của sự đa dạng và cấp  
độ tham theo các yếu tố nhân khẩu học cá nhân  
(tuổi, thu nhập, trình độ). Với giới tính Nhóm  
nghiên cứu sử dụng kiểm định T-Test.  
Kiểm định giả thuyết  
Giả thuyết 1: Để kiểm định giả thuyết 1  
(mối quan hệ giữa sự đa dạng và mức độ tham  
gia với các biến số tinh thần, thể chất và sự hỗ  
trợ xã hội), chúng tôi đã sử dụng kỹ thuật hồi  
quy tuyến tính. Kết quả phân tích cho hàm hồi  
quy về sự đa dạng và mức độ tham gia các hoạt  
động giải trí như sau:  
Kết quả kiểm định cho thấy có sự khác  
nhau về sự đa dạng trong tham gia giải trí ở  
nhóm tuổi và trình độ. Nhóm tuổi 60-70 tuổi có  
sự đa dạng là cao nhất, tiếp theo là đến nhóm  
70-80 tuổi và thấp nhất là nhóm trên 80 tuổi.  
Sự đa dạng trong tham gia giải trí ở nhóm  
không đi học là thấp hơn so với các nhóm trình  
độ cấp hai, cấp ba và trung cấp trở lên. Tương  
tự, cũng có sự khác nhau về cấp độ tham gia  
giải trí ở các nhóm tuổi và trình độ. Nhóm 60-  
Sự đa dạng= -1.617 + 0.887 Thể chất + 0.292  
Tinh thần + 0.144 GĐình&Bạn bè (1)  
Hệ số Beta điều chỉnh của các biến số  
trong mô hình hồi quy (1) đều dương nên có  
thể kết luận là sự hỗ trợ từ bạn bè cũng như các  
yếu tố thể chất và tinh thần gây ảnh hưởng tích  
cực đến sự đa dạng trong các hoạt động giải trí  
của người cao tuổi. Mức độ phù hợp của mô  
hình là 56.5%.  
453  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
70 tuổi và 70-80 tuổi có cấp độ tham gia là cao  
nhóm đối tượng này, các cơ quan chức năng  
cần quan tâm tác động đến các nhân tố trên.  
Yếu tố gia đình luôn là nền tảng cơ bản về văn  
hóa cũng như nhận thức ở Việt Nam. Gia đình  
có ảnh hướng lớn trong việc tham gia giải trí  
của người cao tuổi. Do đó, các cơ quan chức  
năng có thể phối hợp cùng gia đình để xây  
dựng những chính sách phát triển, tạo động  
lực, khuyến khích người cao tuổi tham gia vào  
các mô hình giải trí. Các cơ quan chức năng có  
thể hợp tác với câu lạc bộ hoặc cơ quan chức  
trách địa phương để tổ chức những buổi nói  
chuyện, giao lưu với gia đình của những người  
cao tuổi về sự quan trọng của hoạt động giải trí  
đối với tuổi già.  
hơn so với nhóm trên 80 tuổi Cấp độ tham gia  
ở nhóm không đi học là thấp hơn so với các  
nhóm còn lại.  
Không có sự khác biệt về sự đa dạng và  
cấp độ tham gia ở các nhóm thu nhập và giới  
tính.  
8. Kết luận và đề xuất  
Kết quả nghiên cứu chứng tỏ sự tham gia  
giải trí ở người cao tuổi có thể được nhìn nhận  
thông qua sự đa dạng và cấp độ tham gia giải  
trí. Sự đa dạng trong tham gia giải trí của  
người cao tuổi là cao, có đến 80% đối tượng  
nghiên cứu tham gia từ 2-4 nhóm hoạt động  
giải trí. Bên cạnh đó, người cao tuổi cũng tham  
gia giải trí ở cấp độ cao với 72% chọn từ thỉnh  
thoảng đến thường xuyên tham gia giải trí và  
gần 50% tham gia từ 30-45 phút.  
Các yếu tố thuộc về tinh thần có ảnh hưởng  
lớn đển sự tham gia giải trí của người cao tuổi  
do vậy cần tạo ra 1 môi trường tinh thần thật sự  
tốt và hiệu quả cho việc tham gia của người  
cao tuổi. Ngoài các yếu tố thuộc nội tại cá nhân  
như tình trạng sức khỏe, sự minh mẫn... thì có  
thể tạo một tinh thần tốt cho người cao tuổi  
thông qua những trò chơi, những game show  
với mục đích vui khỏe cho những đối tượng  
này để tạo sự gắn kết giữa mô hình và người  
cao tuổi  
Ngoài những hoạt động cơ bản: phương  
tiện truyền thông, sở thích tại nhà hay các hoạt  
động xã hội tại gia; những hoạt động ở không  
gian giải trí mở như thể thao, tình nguyện, từ  
thiện và du lịch cũng được nhiều người cao  
tuổi lựa chọn tham gia. Câu lạc bộ và các địa  
điểm gần nhà là nơi được nhiều người cao tuổi  
chọn để tiến hành giải trí hơn là tại nhà. Đây là  
một tín hiệu tích cực cho sự tham gia giải trí  
của người cao tuổi ở những trung tâm dịch vụ  
giải trí  
Ngoài ra, các cơ quan chức năng có thể  
đưa ra các chương trình tuyên dương, các hoạt  
động xã hội hữu ích, các giải thưởng, đánh giá  
nhìn nhận, công nhận định kỳ nhằm giúp cho  
người cao tuổi sống có ích hơn, biết được họ  
được tôn trọng, được công nhận và đánh giá  
cao trong cộng đồng xã hội. Làm thõa mãn cái  
tôi của họ. Các hoạt động này bên cạnh việc  
tác động đến nhận thức của người cao tuổi còn  
giúp gia tăng tinh thần, tạo sự hứng thú trog  
giải trí cho người cao tuổi  
Theo như kết quả đã trình bày thì các yếu  
tố về nhân khẩu học như trình độ, thu nhập và  
giới tính không có sự khác nhau giữa các nhóm  
trong sự tham gia giải trí. Chỉ có độ tuổi là có  
sự khác nhau và sự tham gia ở những nhóm độ  
tuổi trẻ hơn 60-70 và 70-80 là cao hơn so với  
độ tuổi trên 80 tuổi. Sự khác nhau này giúp thu  
hẹp phạm vi trong khách hàng mục tiêu cho  
những nhà cung cấp dịch vụ giải trí  
Đề xuất cho nhà cung cấp dịch vụ giải  
trí  
Đề xuất cho các cơ quan chức năng  
Đề xuất gia tăng hiệu quả truyền thông đối  
với người cao tuổi (truyền thông hướng đến  
tăng sự nhận biết)  
Sự hỗ trợ gia đình, sự hỗ trợ bạn bè và tinh  
thần là 3 nhân tố trong mô hình tham gia giải  
trí của người cao tuổi. Chính vì thế, để xây  
dựng và phát triển môi trường sống tốt hơn cho  
Người cao tuổi tham gia vào mô hình giải  
trí với mục đích giải trí, cho tinh thần thoải  
454  
HỘI THẢO VỀ KHOA HỌC QUẢN TRỊ (CMS-2013)  
mái. Chính vì thế họ sẽ tham gia khi cảm nhận  
hợp với con cháu do khác nhau về quan điểm  
sống thì họ lại rất thoải mái trao đổi với bạn  
hữu. Họ nói về những sản phẩm họ dùng, lý do  
tại sao họ dùng sản phẩm đó và thường là đưa  
ra nhiều lý lẽ để bảo vệ chính kiến tiêu dùng  
của mình. Theo nghiên cứu, có đến 60% người  
cao tuổi tham gia giải trí cùng bạn bè vì thế  
thông tin truyền miệng thường rất hiệu quả khi  
thuyết phục người tiêu dùng lớn tuổi dùng thử  
sản phẩm mới.  
được những giá trị mà họ mong muốn ở mô  
hình này. Mô hình giải trí được xây dựng nhằm  
đáp ứng mong muốn quan trọng này của người  
cao tuổi và nhà cung cấp phải truyền thông để  
người cao tuổi cảm nhận được mô hình này  
cung cấp những điều mà họ đang cần. Thông  
điệp quảng cáo hướng tới các khách hàng lớn  
tuổi cũng đang có xu hướng chuyển đổi từ  
thông tin về lợi ích thực dụng của sản phẩm  
sang lợi ích tâm lý có được khi tiêu dùng sản  
phẩm đó. Các thông điệp cũng nên có tiết tấu  
chậm và nhẹ nhàng để khán giả lớn tuổi có đủ  
thời gian cảm nhận. Bên cạnh đó, nhóm đề  
xuất cần có một bài nghiên cứu về công cụ  
truyền thông cho người cao tuổi để lựa chọn  
phương tiện quảng cáo phù hợp nhất.  
Đề xuất phát triển các dịch vụ/ gói dịch vụ  
giải trí phù hợp với người cao tuổi  
Dựa trên kết quả thống kê cho thấy rằng  
người cao tuổi có sự đa dạng và cấp độ tham  
gia cao trong giải trí. Nhà cung cấp dịch vụ có  
thể dựa vào những thông tin này để xây dựng  
mô hình giải trí với sự đa dạng và cấp độ tham  
gia phù hợp với người cao tuổi. Những gói  
dịch vụ có thể bao gồm các hoạt động nằm  
trong 2-4 nhóm với thời gian linh hoạt từ 15-45  
phút. Những gói dịch vụ này trải dài từ những  
hoạt động cốt lõi như đọc báo, xem truyền  
hình, chơi cờ cho đến những hoạt động về thể  
thao, tình nguyện, du lịch  
Theo như nghiên cứu, sự hỗ trợ từ gia đình  
là nhân tố có tác động cao nhất đến sự tham gia  
giải trí ở người cao tuổi. Họ tham gia vào mô  
hình giải trí khi có sự hỗ trợ và động viên cao  
từ gia đình. Chính vì thế, song song với việc  
xây dựng những chính sách marketing trực tiếp  
đến người cao tuổi, các nhà cung cấp dịch vụ  
có thể tiến hành những chiến dịch gián tiếp đến  
gia đình để truyền thông những lợi ích mà việc  
tham gia giải trí có thể mang đến người cao  
tuổi  
Mô hình giải trí với số lượng hoạt động đa  
dạng và cấp độ tham gia cao nên được xây  
dựng. Các cơ quan chức năng và các nhà cung  
cấp dịch vụ có thể kết hợp với bệnh viện tại địa  
phương để tiến hành các chương trình tư vấn,  
khám sức khỏe miễn phí hoặc tổ chức những  
game show với mục đích vui khỏe cho cho  
người cao tuổi. Ngoài ra, có thể phối hợp cùng  
gia đình để xây dựng những chính sách phát  
triển, tạo động lực và khuyến khích người cao  
tuổi tham gia vào các mô hình. Marketing  
truyền miệng qua bạn bè là một phương pháp  
hiệu quả được đề xuất./.  
Do các đặc điểm về hành vi của người cao  
tuổi rất đặc biệt chính vì thế ta cần thận trọng  
khi xác định chiến lược marketing cho người  
cao tuổi và truyền miệng chính là một phương  
pháptruyền thông hiệu quả đối với người cao  
tuổi. Do có nhiều thời gian rảnh rỗi và thường  
tham gia các hoạt động cộng đồng, người lớn  
tuổi luôn có một nhu cầu trao đổi thông tin rất  
lớn. Trong khi họ có thể không trò chuyện hòa  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Babalola AJ và AM Alayode.(2012) “Level of Leisure Activity Involvement among  
Academic and Non-Academic Staff of Tertiary Institutions in Ondo State”, American Journal  
of Human Ecology, 45, 2, 23-25  
[2] Dowd J. (1975), Aging as Exchange: A Preface to Theory, Journal of Gerontology, 30, 5, 584-  
594  
455  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG  
[3] Encel S., G Zdenkowski, M Kaye (1996) “Keeping in Touch Older People Living Alone”,  
Consultative Committee on Ageing  
[4] Erikson EM & JM Erikson (1998), The life cycle completed, Norton & Company  
[5] ME Havitz, F Dimanche (1997), Leisure involvement revisited: Conceptual conundrums and  
measurement advances, Journal of Leisure Research, 29, 3, 245-278  
[6] Hoàng Mộc Lan (2013), Đời sống tinh thần của người cao tuổi Việt Nam,  
[7] G King, M Law, S King, P Hurley, P Rosenbaum (2004), Children’s Assessment of  
Participation and Enjoyment (CAPE) & Preferences for Activities of Children (PAC),  
[8] Klumb PL & H Maier (2007), Daily activities and survival at older ages, Journal of Aging and  
Health, 19, 4, 594-611  
[9] Leitner M & Leitner S. (1997) “Leisure in later life”, Haworth Press New York  
[10] Meijer EP, AH Goris, L Wouters (2001), “Physical inactivity as a determinant of the physical  
activity level in the elderly”, International Journal of Obesity and Related Metabolic Disorders  
: Journal of the International Association for the Study of Obesity, 25, 7, 935-939.  
[11] Nguyễn Đình Cử (2006), Cơ cấu dân số vàng tại Việt Nam, link tải về:  
[12] Ostrower F.(2004) “ The Diversity of Cultural Participation”, The Urban Institute  
[13] The Outdoor Foundation (2008) “A look at trends in American participation in outdoor  
activities with a focus on youth, diversity and the future of the outdoors”  
[14] The Philips Center for Health and Well-being: A global perspective.  
[15] Tổng cục Dân số và Kế hoạch hóa gia đình : Báo cáo tổng quan năm 2010, link tải về:  
www.gopfp.gov.vn/documents/18/24354/TQCS-NCT  
[16] Van der Pas S., Koopman-Boyden P. (2010) “Leisure and Recreation Activities, and  
Wellbeing among Older New Zealanders”, Midlife New Zealanders Aged 40-64 in 2008, 111-  
124  
[17] A. Ullenhag, M.K Bult, A. Nyquist, M.Ketelarr, R.Jahnsen, L.Krumlende- Sundholm,  
L.Almqvist, M.Granlund, 2005 “An international comparison of patterns of participation in  
leisure activities for children with and without disabilities in Sweden,Norway and the  
Netherlands”, Developmental Neurorehabilitation, 15,5, 369-385  
456  
pdf 12 trang baolam 24880 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu về sự đa dạng và cấp độ tham gia các hoạt động giải trí của người cao tuổi tại thành phố Đà Nẵng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_ve_su_da_dang_va_cap_do_tham_gia_cac_hoat_dong_gi.pdf