Tư tưởng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về không gian công cộng

VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57  
Original Article  
The Ideology and Policies of the State  
of Vietnam on Public Spaces  
Trinh Van Tung*  
VNU University of Social Sciences and Humanities, 336 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam  
Received 08 December 2020  
Revised 14 January 2021; Accepted 25 February 2021  
Abstract: The concept of “public space” occasionally appears in legal documents of the State of  
Vietnam, especially in laws. On the contrary, in ordinary newspaper articles, “public space” is often  
mentioned under various terms including “public place”, “public location”, “public buildings”, etc.  
At the same time, public space falls in the scope of various aspects of interest, particularly urban  
public spaces. Thus, it is needed that the State's ideology and legal policies on public spaces are  
defined. Such challenge “suggests” that we analyze the currently available documents of previous  
researchers, searching in various regulatory documents of the State, as well as statistical documents  
and conducting in-depth interviews with urban planning experts to present an understanding of the  
State's ideology and legal policies on public spaces in Vietnam.  
Various documents and researches have shown that the current planning policies in Vietnam  
consider land planning as a “golden mold” because the priority of the State still lies in economic,  
commercial, security and defense goals. These are the decisive factors that dominate other  
residential services, which is different from the modern logic of integrated planning, that, in turn, is  
based on three main pillars: i) Population planning and changes in demand for “residential services” in  
the broadest sense of this phrase (housing services; transportation services; medical services; educational  
services; cultural services; media services; environment, security and defense activities,...); ii)  
Administrative land planning; and iii) Land planning for economic and commercial activities. As a result  
of the current, yet simple categorization of land used in annual statistical documents, in the future, public  
space will not only be difficult to expand but also be narrowed in correlation with the growing population  
density, especially in urban areas. Meanwhile, the planning of public spaces of the previous periods still  
leaves us with lessons of the integrated and complex model to meet people's needs. The comparison of  
two French logicofintegrated planning and the “socio-economic” spatialplanning logic, taking economic  
and commercial in Anglo-Saxon-style as the central element also contributes to unravel the “ideology  
and policies of the planning of public spaces” of the state of Vietnam, although scientifically, the  
boundary between these two planning logic has now almost been blurred.  
Keywords: Public space planning; legal documents on public space planning; traffic space; spiritual  
space; entertainment and entertainment space; integrated logic; People's needs.*  
________  
* Corresponding author.  
E-mail address: [email protected]  
47  
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57  
48  
Tư tưởng và chính sách của Nhà nước Việt Nam  
về không gian công cộng  
Trịnh Văn Tùng**  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội,  
336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 08 tháng 12 năm 2020  
Chỉnh sửa ngày 14 tháng 01 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 25 tháng 02 năm 2021  
Tóm tắt: Cần khẳng định rằng, khái niệm “không gian công cộng” ít xuất hiện ở trong các các văn  
bản pháp quy của Nhà nước, nhất là trong các bộ luật và luật. Ngược lại, trong các bài báo thường  
thức, không gian công cộng được đề cập rất nhiều với các khái niệm như “nơi công cộng”, “địa điểm  
công cộng”, “công trình công cộng” đồng thời với sự đa dạng của các khía cạnh quan tâm, đặc biệt  
là không gian công cộng đô thị. Vậy, làm thế nào để có một sự hiểu biết tương đối về tư tưởng và  
chính sách pháp luật của Nhà nước về không gian công cộng? Thách thức này “gợi ý” cho chúng tôi  
tiến hành phân tích các tài liệu sẵn có của một số nhà khoa học, tìm kiếm trong những quy định khác  
nhau của Nhà nước, tài liệu thống kê phối hợp với phỏng vấn sâu một số chuyên gia về quy hoạch  
để phần nào nắm bắt được tư tưởng và chính sách pháp luật của Nhà nước về không gian công cộng  
của Nhà nước ta hiện nay.  
Nhiều tài liệu cho thấy rằng chính sách quy hoạch ở Việt Nam hiện nay tiếp tục lấy quy hoạch đất  
đai làm “khuôn vàng thức ngọc” vì ưu tiên chủ yếu vẫn là mục tiêu kinh tế, thương mại, an ninh,  
quốc phòng. Đây là những yếu tố quyết định, chi phối các dịch vụ dân sinh khác, tức là đang khác  
với logic quy hoạch tổng tích hợp hiện đại dựa trên ba trụ cột chính: i) Quy hoạch dân số và xu  
hướng biến đổi nhu cầu về các “dịch vụ dân sinh” theo nghĩa rộng nhất của cụm từ này (dịch vụ nhà  
ở; dịch vụ giao thông; dịch vụ y tế; dịch vụ giáo dục; dịch vụ văn hóa; dịch vụ truyền thông; dịch  
vụ môi trường; hoạt động an ninh, quốc phòng,…); ii) Quy hoạch đất đai hành chính; và iii) Quy  
hoạch đất đai cho hoạt động kinh tế, thương mại. Với cách phân chia các loại đất đơn giản như hiện  
nay phục vụ cho việc thống kê thường niên, trong tương lai, không gian công cộng không những  
khó được mở rộng mà còn bị thu hẹp so với mật độ dân cư, nhất là ở các đô thị. Trong khi đó, quy  
hoạch không gian công cộng trong quá khứ vẫn để lại cho chúng ta một bài học có ý nghĩa về mô  
hình tích hợp và phức hợp nhằm đáp ứng các nhu cầu dân sinh. Việc so sánh hai logic quy hoạch  
tích hợp theo kiểu Pháp và logic quy hoạch không gian “kinh tế - xã hội”, lấy yếu tố trung tâm là  
kinh tế và thương mại theo kiểu Anglo-Saxon cũng góp phần làm sáng tỏ “tư tưởng và chính sách  
quy hoạch không gian công cộng” của chúng ta mặc dù về mặt khoa học, biên giới giữa hai logic  
quy hoạch ấy hiện nay gần như bị xóa nhòa1.  
Từ khóa: Quy hoạch không gian công cộng; Văn bản pháp quy về quy hoạch không gian công cộng;  
Không gian giao thông; Không gian tâm linh; Không gian vui chơi, giải trí; Logic tích hợp; Nhu cầu  
dân sinh.  
________  
* Tác giả liên hệ.  
Địa chỉ email: [email protected]m  
Bài báo này sử dụng dữ liệu của Đề tài “Ứng xử của người Việt Nam hiện nay trong các không gian công cộng”;  
1
Mã số: KX.01-48/16-20.  
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57  
49  
xác định như thế nào? Nghiên cứu này phân tích,  
tổng hợp và đánh giá các tài liệu sẵn có cùng với  
việc phỏng vấn sâu (PVS) một vài chuyên gia để  
trả lời cho hai câu hỏi trên.  
1. Dẫn nhập  
Theo nhận định thông thường, không gian  
công cộng có thể là những khu vực rộng lớn  
được quy hoạch cho quảng đại người dân của  
nông thôn và đô thị như công viên, quảng trường,  
trung tâm thương mại, không gian giao thông,  
không gian giáo dục, không gian y tế, không gian  
văn hóa, không gian vui chơi giải trí, không gian  
hành chính,… Hoặc cũng có thể đơn giản là các  
không gian chung của một khu vực dân cư như  
các vỉa hè, hành lang giao thông, sân chơi của  
trẻ, nơi nghỉ ngơi chung của người cao tuổi, bờ  
hồ, mặt nước,… Có rất nhiều cách xếp loại  
không gian công cộng và thường là không thống  
nhất với nhau. Tuy nhiên, căn cứ vào độ mở của  
nó, không gian công cộng có thể được xếp thành  
ba loại, bao gồm: i) Không gian công cộng đặc  
trưng ngoài trời; ii) Không gian công cộng đặc  
trưng trong nhà; và iii) Không gian công cộng  
đặc trưng hỗn hợp.  
2. Logic quy hoạch tích hợp*phức hợp của  
người Pháp và logic quy hoạch nặng về kinh  
tế, công nghiệp, thương mại của người Anglo-  
Saxon: một vài bài học từ quá khứ  
Theo ý kiến của các chuyên gia về quy hoạch  
nói chung và quy hoạch đô thị nói riêng, logic  
hay nguyên tắc quy hoạch vì đời sống chung là  
việc thực hiện một mô hình tích hợp*phức hợp  
giữa ba nhóm biến số, cụ thể gồm: i) Nhóm biến  
số về xu hướng tăng trưởng dân số và nhu cầu về  
tất cả các dịch vụ dân sinh (nhà ở; giao thông; y  
tế; giáo dục; văn hóa; môi trường; thông tin;  
quốc phòng; an ninh trật tự; an toàn xã hội; vui  
chơi giải trí; thể thao; nghệ thuật,…); ii) Nhóm  
biến số về hành chính quản trị như các tòa nhà  
hành chính công, trụ sở của các cơ quan công  
quyền; và iii) Nhóm biến số về kinh tế, công  
nghiệp, thương mại, từ đó tạo ra những thay đổi  
về phương pháp quy hoạch, phương pháp xây  
dựng năng lực kỹ thuật và đặc biệt là sự thay đổi  
chính sách, thể chế [1]. Mô hình tích hợp và phức  
hợp trong quy hoạch được hiểu là các bên tham  
gia hay tất cả các nhu cầu xã hội, kể cả nhu cầu  
kinh tế, thương mại và quản lý hành chính đồng  
thời được xem xét và tổng tích hợp thành nguyên  
tắc quy hoạch chung. Điều chi phối đầu tiên cho  
mô hình quy hoạch hiện đại tích hợp và phức hợp  
chính là dựa vào xu hướng biến đổi của dân số  
và chỉ trên cơ sở đó, mọi loại nhu cầu xã hội mới  
được ước lượng khá chính xác theo trục thời  
gian, tức là vì cuộc sống trong hiện tại và tương  
lai. Chỉ khi theo đúng nguyên tắc tích hợp*phức  
hợp này thì các bên tham gia quy hoạch mới có  
thể tránh được sự chồng chéo và/hoặc mâu  
thuẫn, xung đột giữa các chức năng, giữa các  
dịch vụ.  
Căn cứ vào mức độ cho phép tiếp cận thì  
không gian công cộng lại được xếp thành hai  
loại, cụ thể là: i) Không gian công cộng rất hạn  
chế tiếp cận của dân cư như các tòa nhà văn  
phòng trung ương Đảng, Quốc hội, Chính  
phủ,…; và ii) Không gian công cộng hoàn toàn  
không hạn chế sự tiếp cận và sử dụng của dân cư  
như công viên, quảng trường, rạp hát, nhà chiếu  
phim, hay không gian giao thông, không gian  
văn hóa tâm linh chung,…  
Căn cứ vào chức năng và các dịch vụ gắn với  
các chức năng ấy, không gian công cộng lại được  
xếp thành rất nhiều loại, cụ thể gồm: không gian  
giao thông như đường sá, bến xe, nhà ga, bến  
tàu,…; không gian văn hóa tâm linh như đền,  
chùa, miếu, mạo, nhà thờ đạo,…; không gian vui  
chơi giải trí văn hóa và thể thao; không gian  
thương mại như siêu thị, chợ dân sinh; không  
gian giáo dục như trường học; không gian y tế  
như bệnh viện, trạm xá; không gian vệ sinh môi  
trường như các nhà vệ sinh công cộng, các khu  
tập kết rác của dân cư,… Vậy, ở nước ta, việc  
quy hoạch tất cả các loại không gian công cộng  
đó đang bị chi phối bởi những tư tưởng và chính  
sách quy hoạch nào? Trong các văn liệu đang  
hiện hành, vị thế của không gian công cộng được  
Vì theo nguyên tắc này, nên người Pháp đã  
quy hoạch Hà Nội rất đẹp bởi họ chủ yếu dựa vào  
năng lực đáp ứng tổng hợp các nhu cầu dịch vụ  
dân sinh, nhu cầu xã hội, văn hóa, nghệ thuật,…  
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57  
50  
Cunningham, một tác giả người Anh, đầu thế kỷ  
không gian công cộng mở và các khu dân cư  
cách biệt. Singapore đứng ở vị trí hoàn toàn  
tương đương với Hà Nội, nhưng sau khi mặt trời  
lặn, Singapore yên ngủ trong khi Hà Nội ở vào  
thời khắc huy hoàng nhất tại các địa điểm công  
cộng” (Ngô Biên dịch) [2].  
XX đã mô tả kết quả của tư tưởng và hoạt động  
quy hoạch tích hợp*phức hợp của người Pháp  
như sau: “Đời sống xã hội tại Bắc Kỳ được đặc  
trưng bởi sự vắng mặt của thói kiểu cách bất  
tiện, và bởi sự tự do hoàn toàn không theo những  
quy tắc xã hội gò bó, áp đặt. Hệ quả là, trong khi  
người Anh tạo nên một xã hội giả tạo, hình thức,  
áp đặt thì người Pháp hoàn toàn sống thoải mái,  
và khi hoàn thành công việc, họ không ngần ngại  
đắm mình vào sự giải trí và hưởng thụ tại các  
địa điểm công cộng. Các nét đặc thù xã hội tinh  
tế của chúng ta rõ ràng không có mặt ở đó.  
Chúng ta nhìn nhận sự giải trí một cách nghiêm  
trọng và thường biến nó thành công việc; người  
Pháp không làm như thế, và hầu như sống không  
theo quy ước” (Ngô Biên dịch) [2].  
Đây là những nhận xét hết sức tinh tế về quy  
hoạch không gian của người Pháp trong quá khứ.  
Qua nhận xét này, cụm từ “trong tổng thể” được  
tác giả nhấn mạnh, đồng thời tác giả cũng nhấn  
mạnh yếu tố “lợi ích công cộng” trong mô hình  
quy hoạch tổng tích hợp của người Pháp. Sẽ ít  
người phản đối khi cố Hoàng thân Henri  
d’Orléans đã nhận xét: “Trước tiên, chúng ta rất  
khéo léo trong việc giải tỏa một thị trấn bản xứ  
và xây dựng bên cạnh nó một cái gì đó tức thời  
sạch sẽ và thanh nhã cho mọi người sử dụng, ứng  
dụng các chi tiết nhỏ nhặt nhất để tạo được một  
hiệu ứng vui mắt […]. Chúng ta đã khai quang  
và tái thiết một phần nào hai trong số các thành  
phố đẹp đẽ nhất tại Viễn Đông - Hà Nội và Sài  
Gòn - với khoản tiền chi tiêu nhỏ bé. So sánh  
chúng với những thị trấn do người Anh xây cất  
tại Bombay và Calcutta ở Ấn Độ, hay Hồng  
Kông ở Trung Hoa, bạn sẽ tìm thấy ở đó các kiến  
trúc to lớn, đồ sộ, biểu thị cho sức mạnh và quyền  
lực kinh tế, nhưng rất nặng nề3; trong khi đó tại  
những thị trấn do Pháp xây dựng, luôn luôn có  
sự tương đồng đôi chút với Paris nhờ có nhiều  
địa điểm công cộng” (Ngô Biên dịch) [2].  
Vậy, cái gì đã cho phép ngài Henri d’Orléans  
có thể “tự hào” về kiến trúc và quy hoạch thuộc  
địa của Pháp đến vậy? Trong khi đó, Ngài cũng  
dùng những từ biểu cảm mạnh mẽ để phê phán  
tư duy kiến trúc, quy hoạch hiện đại kiểu Anglo-  
Saxon bởi chúng “biểu thị sức mạnh, quyền lực,  
lấy kinh tế làm điểm xuất phát và mục tiêu”.  
Tương tự như vậy đối với việc quản trị hành  
chính và kinh tế, Cunningham đưa ra quan điểm  
của mình bằng cách tiếp tục so sánh hai tư tưởng  
trong quy hoạch của người Pháp và người Anh:  
“Sự phát triển của Hồng Kông là nhờ vào doanh  
nghiệp tư nhân hơn là công tác chính thức của  
Nhà nước. Về các tòa nhà thương mại, Hồng  
Kông vượt xa Hà Nội, nơi không có các tòa nhà  
Cần nhấn mạnh rằng đây là nhận xét của một  
người Anh về hai mô thức quy hoạch không  
gian: mô thức thứ nhất được người Pháp sử dụng  
mang tính chất tích hợp các dịch vụ xã hội phục  
vụ đời sống công cộng rất cao trong khi mô thức  
quy hoạch thứ hai đặt dấu nhấn vào “yếu tố kinh  
tế - thương mại”. Ngược lại với nguyên tắc quy  
hoạch tích hợp*phức hợp là nguyên tắc quy  
hoạch “hiện đại hóa”, “công nghiệp hóa”, tức là  
nhóm biến số kinh tế, công nghiệp, thương mại  
chi phối, bắt đầu bằng cụm từ “kinh tế - xã hội”,  
trong đó xã hội là yếu tố thứ yếu, phụ thuộc vào  
yếu tố kinh tế. Trong nguyên tắc quy hoạch này,  
rõ ràng các yếu tố xã hội được xếp vào hàng thứ  
yếu, bởi mọi tư duy quy hoạch nhằm vào sự tăng  
trưởng kinh tế, hoạt động công nghiệp, dịch vụ  
thương mại mang tính tiên quyết và then chốt.  
Trên cơ sở đó, các yếu tố xã hội là “cái bị kéo  
theo” và bản vẽ kỹ thuật quy hoạch cũng chủ yếu  
phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế và tăng  
trưởng công nghiệp, thương mại mà thôi. Sự đối  
lập của hai tư tưởng quy hoạch còn được thể hiện  
qua nhiều nhận xét của tác giả này: “Hà Nội, một  
thành phố được xây dựng giữa vùng ngoại vi  
mang sắc thái Á Châu, vượt trội hơn bất kỳ thành  
phố nào khác ở Viễn Đông [...], trong tổng thể2,  
Hà Nội chắc chắn là địa điểm nổi bật. Về những  
đường lộ rộng rãi và được bảo trì chu đáo, các  
________  
2 Tác giả bài viết này nhấn mạnh.  
3 Tác giả bài viết này nhấn mạnh.  
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57  
51  
kinh doanh khổng lồ như thế vì ở đây không có  
nhu cầu về chúng. Trong việc quản trị hành  
chính thành phố, Hà Nội tiến bộ hơn nhiều so với  
Hồng Kông tại thời điểm này hay mãi mãi về sau  
[…] Tại Hồng Kông, chúng ta liên tục phải chịu  
đựng chính sách thiển cận và vụng về của các  
viên chức trước đây. Chính phủ ngày nay thay vì  
thừa nhận điều này lại tự vô hiệu hóa chính mình  
khi nỗ lực để bào chữa cho các sai lầm trong quá  
khứ bằng một chính sách chắp vá về quản trị,  
chống đối sự tự do hành động, né tránh kinh phí  
lành mạnh về công chánh, về các công trình phúc  
lợi công cộng4 và lẩn trốn một hệ thống quản trị  
thành phố tân tiến. Các ban ngành chính phủ bị  
cắt giảm tới mức nhỏ nhất có thể, gần như mọi  
ngành đều thiếu nhân viên và do đó không có khả  
năng đáp ứng công việc mà một thành phố đang  
tăng trưởng mạnh đòi hỏi. Tham vọng của viên  
Thống Đốc là muốn phô diễn một khoản thặng  
dư hàng năm - điều này khiến cho các công trình  
công cộng thiết yếu và việc cải thiện vệ sinh  
không được chú trọng. Tại Hà Nội, họ làm tất cả  
mọi việc mà chính quyền có thể làm được để cải  
thiện các công trình công cộng nhằm làm đẹp và  
hoàn chỉnh thành phố. Họ cũng sẵn sàng chi tiêu  
tiền bạc cho các địa điểm công cộng trong khi  
chúng ta lại tìm cách tích trữ thật nhiều” (Ngô  
Biên dịch) [2].  
Pháp trong quá khứ ưu trội hơn ở chỗ nó đặt  
nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu xã hội lên hàng đầu,  
tức là lấy dân cư và xu hướng biến đổi dân số  
làm xuất phát điểm đồng thời lấy đời sống cá  
nhân, đời sống gia đình và đời sống công cộng là  
đích đến. Khái niệm “không gian công cộng” hay  
“mức độ thỏa mãn về đời sống công cộng” được  
người Pháp chú trọng trong tư tưởng của mình:  
“Một đặc điểm nổi bật trong cách xây dựng  
thành phố của người Pháp, như là viễn kiến mà  
họ bộc lộ. Họ thiết kế và xây dựng cho tương lai  
và trong khía cạnh này họ rõ ràng vượt trội hơn  
người Anh” (Ngô Biên dịch) [2]. Và để chứng  
minh cho quan điểm của mình, Cunningham viết  
tiếp: “Hiện nay, Hồng Kông không hề có các  
phương tiện công cộng mau lẹ và rẻ tiền để giải  
thoát cho các quận hạt tắc nghẽn khủng khiếp;  
và không có phà công cộng để nối hòn đảo với  
đất liền, công việc như thế được dành cho dịch  
vụ thương mại độc quyền của một công ty địa  
phương […] Mọi tấc đất có thể được bán, vì mục  
đích xây dựng, kinh doanh, nhà ở thương mại,...  
đều được quyết định bởi Chính phủ. Đường sá  
dẫn tới khu Đất Mới (New Territory) thì nhỏ hẹp  
và chiều ngang chỉ bằng một con đường trung  
bình tại khu dân cư bản xứ của Hà Nội […]  
Đường sá ở Hà Nội thì rộng rãi, rợp bóng cây,  
và ở trong tình trạng tuyệt hảo. Chúng đều được  
trải đá giăm, với tổng chiều dài, kể cả các lối đi  
vùng ngoại ô, lên tới hơn năm mươi dặm Anh”  
(Cunningham, 1902: 63-89) (Ngô Biên dịch) [2].  
Qua nhận xét trên, chúng ta thấy sự đối lập  
của hai tư tưởng và chính sách quy hoạch hiện  
đại: i) Tư tưởng quy hoạch lấy hoạt động kinh tế,  
công nghiệp và thương mại làm chuẩn - chúng là  
điểm khởi đầu, là công cụ, phương tiện và là mục  
tiêu sau cùng của người Anglo-Saxon. Sự tăng  
trưởng kinh tế, thương mại (trong đó có cả nhà ở  
thương mại) chi phối mọi hoạt động còn lại của  
quá trình quy hoạch; và ii) Tư tưởng tích  
hợp*phức hợp và chính sách quy hoạch căn cứ  
vào xu hướng biến động dân số gắn với các nhu  
cầu xã hội, văn hóa, nghệ thuật, gắn với đời  
thường ngày của người dân làm “kim chỉ nam”  
đối với người Pháp - nhóm yếu tố được nhấn  
mạnh ở đây chính là sự đáp ứng các nhu cầu xã  
hội theo nghĩa rộng nhất của từ này. Hơn thế nữa,  
tư tưởng và chính sách quy hoạch của người  
Như vậy, trong lĩnh vực quy hoạch và quản  
lý quy hoạch, logic tích hợp*phức hợp có thể  
được hiểu là yêu cầu và nguyên tắc xem xét  
đồng thời và tổng tích hợp các loại hình vấn đề  
liên ngành ở các cấp độ khác nhau trên cùng  
không gian lãnh thổ nhằm lựa chọn giải pháp  
thực thi, giải quyết thấu đáo mối quan hệ quyền  
lợi qua lại giữa các ngành (và cả các cấp), giữa  
lập quy hoạch, thực thi và cải thiện thể chế. Do  
đó, tiếp cận tích hợp liên ngành là quan điểm  
phương pháp luận chủ đạo bởi lẽ tất cả các ngành  
đều có tiếng nói của mình trong quy hoạch tổng  
thể xã hội, và tổng thể ngành nghề, dịch vụ [1].  
Ở trong logic quy hoạch này, yếu tố “thống nhất  
________  
4 Tác giả bài báo này nhấn mạnh.  
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57  
52  
tính liên ngành” (yếu tố xã hội) có tính chất  
quan (tính thống nhất liên ngành) theo cơ chế  
thương thuyết và đồng thuận là những yếu tố chi  
phối của mô hình quy hoạch tích hợp và phức  
hợp. Tuy nhiên, đến những năm 1960 - 1970 thì  
trên thế giới nói chung, mô hình quy hoạch tích  
hợp*phức hợp liên ngành đã được thống nhất  
rộng rãi giữa những nhà hoạch định chính sách,  
những nhà chuyên môn quy hoạch và các tổ chức  
dân sự. Từ đó, biên giới tư tưởng và chính sách  
quy hoạch giữa hai trường phái Anh và Pháp bắt  
đầu mờ dần cho đến khi mất hẳn [1].  
quyết định các yếu tố vùng, miền, khu vực và yếu  
tố đất đai chứ không phải ngược lại. Vì vậy, tổng  
tích hợp liên ngành là phương pháp tiếp cận  
xuyên suốt quá trình quy hoạch, thể chế, thực thi  
và giám sát. Hệ thống quy hoạch áp dụng nguyên  
tắc tích hợp*phức hợp liên ngành là hệ thống quy  
hoạch có tính mục tiêu và định hướng thực thi.  
Tính mục tiêu và thực thi đạt được thông qua quá  
trình giám sát thích ứng với thực tiễn nhưng vẫn  
hướng về mục đích lâu dài là vì cuộc sống toàn  
diện của con người, tức là đời sống xã hội nói  
chung. Hệ thống quy hoạch (không gian) ngày  
nay coi trọng nguyên tắc tích hợp*phức hợp để  
giải quyết đồng bộ các vấn đề chuyên ngành,  
giữa các tổ chức liên quan, và ở các cấp độ không  
gian. Cơ sở để hệ thống này có thể tích hợp được  
hiệu quả là duy trì hệ thống chỉ số giám sát và  
đánh giá chiến lược làm công cụ định hướng mục  
tiêu và tích hợp giữa lập kế hoạch và giám sát  
quá trình thực hiện [1].  
3. Vị thế của không gian công cộng ở Việt  
Nam trong một số văn bản pháp quy hiện nay  
Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 ngày  
24/11/2017 [3], tuy ra đời muộn so với nhu cầu  
phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, nhưng đã  
cho chúng ta những nét khái quát nhất về nguyên  
tắc, mục tiêu, nội dung, phương pháp, kỹ thuật  
để quy hoạch tích hợp tổng thể quốc gia, cụ thể  
gồm: quy hoạch không gian biển quốc gia; quy  
hoạch sử dụng đất quốc gia; quy hoạch ngành  
quốc gia; quy hoạch vùng; quy hoạch tỉnh; quy  
hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành. Từ  
những phân tích của mình, Nguyễn Ngọc Hiếu  
đã sơ đồ hóa mô hình quy hoạch tích hợp*phức  
hợp của Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14, cụ  
thể như sau:  
Tóm lại, trong lĩnh vực quy hoạch đất đai  
hoặc quy hoạch không gian sống, có hai tư tưởng  
hiện đại hoàn toàn trái ngược nhau: i) Tư tưởng  
cơ bản của người Anh lựa chọn nhóm các yếu tố  
kinh tế - thương mại làm điểm khởi đầu, phương  
tiện, công cụ và là điểm cuối; tư tưởng này coi  
yếu tố “đáp ứng nhu cầu mọi mặt” của cư dân là  
những hệ quả hoặc là những cái bị kéo theo bởi  
khía cạnh kinh tế - nguyên nhân tạo ra cụm khái  
niệm “kinh tế - xã hội” được sử dụng trong tất cả  
các văn bản; đặc biệt, không gian công cộng  
thường ít được đề cập trong tư tưởng quy hoạch  
này hoặc đúng ra là “được chăng hay chớ” theo  
quan niệm của chính quyền từng thời kỳ và theo  
các thời điểm khác nhau; và ii) Tư tưởng cơ bản  
của người Pháp lấy “các khía cạnh dân cư, nhu  
cầu xã hội” chi phối yếu tố quản trị hành chính  
và yếu tố kinh tế - thương mại bằng phương pháp  
tích hợp liên ngành; tư tưởng này lấy yếu tố  
“thỏa mãn các nhu cầu xã hội của cá nhân, gia  
đình và cộng đồng căn cứ theo xu hướng biến  
động dân số” đặt lên hàng đầu, then chốt và là  
mục tiêu. Hệ quả là khái niệm “không gian công  
cộng” có tiếng nói và vị thế của mình như bất kỳ  
cấu trúc ngành nghề nào khác; sự thỏa mãn các  
nhu cầu cuộc sống và sự thỏa mãn các bên liên  
Hình 1. Mô hình quy hoạch tích hợp  
và quản lý phát triển [1].  
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57  
53  
Tuy nhiên, dù có nỗ lực bao nhiêu thì chúng  
ta cũng chưa thể loại bỏ hết những căng thẳng,  
xung đột, những độ lệch hay đúng hơn là những  
thiếu hụt giữa các ngành trong văn bản luật này.  
Đây là hiện tượng không đơn thuần vì lý do kỹ  
thuật không thể đưa mọi ngành vào trong Luật  
Quy hoạch số 21/2017/QH14 mà có thể do thiếu  
một cơ chế liên ngành sâu rộng trong quá trình  
rà soát, tham vấn, tư vấn xây dựng luật nên vẫn  
chưa đạt một sự đồng thuận tổng thể. Đơn cử là  
trong Phụ lục II, dòng 16 ban hành theo Luật Quy  
hoạch này chỉ đề cập đến việc sửa đổi Luật Giáo  
dục đại học số 8/2012/QH13 [4], trong khi ở  
Luật Quy hoạch cũng chỉ đề cập đến việc quy  
hoạch hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.  
Mặc dù đã được hoàn thiện hơn nhiều, nhưng  
Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14/6/2019  
vẫn không có điều nào quy định về nguồn lực đất  
đai dành cho giáo dục - một trong những lĩnh  
vực thể hiện tính phúc lợi công cộng cao nhất  
bên cạnh y tế.  
của cơ quan có thẩm quyền thông qua tư tưởng  
và thực thi chính sách quy hoạch không gian nói  
chung và không gian công cộng nói riêng là chưa  
đáp ứng được nhu cầu của đời sống công cộng.  
Một lần nữa, quy hoạch đất đai dành cho các  
không gian công cộng văn hóa, vui chơi, giải trí,  
nghệ thuật,… được đánh giá là vừa thiếu, lại vừa  
yếu. Những vấn đề trên đây đã được tác giả  
Nguyễn Ngọc Hiếu giải thích rằng : “Việc thiếu  
tính tích hợp liên ngành trong quy hoạch giao  
thông và sử dụng nguồn lực đất đai là thách thức  
lớn nhất […] Quốc gia nói chung và khu vực đô  
thị nói riêng là một hệ thống phức hợp, phụ thuộc  
lẫn nhau và luôn vận động (Chadwick George,  
1978) đòi hỏi quản lý phát triển phức hợp và tích  
hợp. Việc phân chia các ngành để quản lý hệ  
thống vốn rất khó rành mạch lại luôn vận động  
dẫn tới «xô lệch», «chồng chéo về chức năng»,  
«xung đột về lợi ích» giữa các ngành và tạo ra  
khoảng trống trách nhiệm trong quản lý” [1].  
Đây có lẽ là lời giải thích đầy đủ nhất cho sự  
thiếu hụt về chính sách đối với không gian công  
cộng ở nước ta.  
Nhóm tác giả Nguyễn Việt Huy và Nguyễn  
Hải Vân Hiền trong bài viết Thực trạng về nghệ  
thuật công cộng và không gian công cộng tại  
Việt Nam số ra ngày 15/8/2018 trên Tạp chí Kiến  
trúc có cùng quan điểm với nhiều kiến trúc  
sư khác, cụ thể như sau: “Nhiều đô thị lớn ở Việt  
Nam đang thiếu trầm trọng những tác phẩm  
nghệ thuật được đặt trong các không gian công  
cộng. Trong khi đó, các tác phẩm lại phải ráng  
sức tìm chỗ đứng mà,… không có” [5]. Trong bài  
viết, hai tác giả này nhắc lại nhận xét của nhà  
điêu khắc Phan Gia Hương như sau: “Người Việt  
chúng ta không hề thiếu các tác phẩm nghệ thuật  
phù hợp, thậm chí sau nhiều lần tổ chức các trại  
sáng tác điêu khắc, lần nào cũng “tồn đọng”  
hàng trăm tác phẩm được chắt lọc từ sáng tạo  
của các nghệ sĩ và đã đoạt giải thưởng, xong lại  
bị “xếp kho”, chất đống lên hoặc đổ nát dần  
dưới nắng mưa, không hề được sắp đặt, trưng  
bày cho đúng nơi, đúng chỗ, đúng tầm, đạt hiệu  
quả về thẩm mỹ và mang lại lợi ích cho cộng  
đồng” [5]. Nhận xét này cho thấy rằng, ứng xử  
Để minh họa cho sự thiếu hụt tính tích  
hợp*phức hợp liên ngành trong quy hoạch đất  
đai nói chung và trong quy hoạch không gian  
công cộng nói riêng, có thể nghiên cứu các dữ  
liệu về thống kê đất đai ở Hà Nội vào năm 2016  
như là một ví dụ, kết quả cho thấy bảng sau:  
Bảng 1. Cơ cấu sử dụng đất năm 20165 [6]  
Loại đất  
Hà Nội  
46,8  
18,6  
Đất nông nghiệp (%)  
Đất chuyên dụng (công nghiệp và  
dịch vụ (thương mại6)(%)  
Đất lâm nghiệp (%)  
6,6  
11,9  
Đất ở (%)  
Cơ cấu sử dụng đất của thành phố Hà Nội  
cho thấy các chỉ báo về các loại đất đang được  
thống kê một cách tối giản vì tiêu chuẩn xếp loại  
đất theo khu vực quá rộng, đặc biệt chưa có các  
________  
5 Tác giả dựa vào các con số thống kê của thành phố Hà  
Nội để xây dựng lại bảng này  
bản chất vì trong khái niệm “dịch vụ” của Cục Thống kê  
Thành phố Hà Nội cũng như của Tổng cục Thống kê không  
có tính từ “xã hội”.  
6 Tác giả bài báo này bổ sung tính từ “thương mại” để đúng  
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57  
54  
tiêu chuẩn để thống kê về đất dành cho các nhu  
đề tắc nghẽn giao thông gần như là không thể  
khắc phục được trừ phi có một chính sách giãn  
dân nội đô phù hợp, lâu dài và rất tốn kém. Trong  
Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH ngày 25/6/2016  
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô  
thị, tại Điều 3. Đô thị loại đặc biệt (Hà Nội và  
thành phố Hồ Chí Minh), tiêu chí mật độ dân số  
toàn đô thị là từ 12.000 người/km2 trở lên [7], tức  
là không hề có giới hạn trên. Do vậy, sự tích tụ  
cư dân quá lớn ở trong nội đô đã gây áp lực  
thường xuyên lên đời sống công cộng, trong đó,  
các không gian công cộng ngày càng không thể  
đáp ứng nhu cầu của người dân: vị thế của chúng  
ngày càng suy giảm. Tương tự như vậy với năm  
loại đô thị còn lại (từ loại I đến loại V), tiêu chí  
mật độ dân số toàn thành phố không có giới hạn  
tối đa. Điều này tạo thuận lợi cho người dân có  
điều kiện kinh tế khá giả và/hoặc có nhu cầu sẽ  
di dân vào nội đô, nơi vốn dĩ thường có nhiều sự  
kiện văn hóa - xã hội để thụ hưởng. Từ đó, chính  
quyền đô thị đã cấp phép xây dựng nhiều nhà ở  
thương mại và người dân mở ra vô số dịch vụ  
thương mại khác vì mục tiêu kinh tế là chính. Nói  
cách khác, trong nội đô của các thành phố đặc  
biệt như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh,  
người dân khó lòng thụ hưởng cuộc sống công  
cộng thường ngày mà chỉ tập trung vào việc cố  
gắng đi đến nơi làm việc đúng giờ và về đến nhà  
để nghỉ ngơi. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn  
với miếng cơm manh áo mặc dù đời sống kinh tế  
đã có rất nhiều cải thiện. Nói đúng hơn, nhà cao  
tầng thương mại là một loại rào cản lớn đối với  
việc sử dụng các không gian công cộng đô thị,  
nhất là ở nội đô: “Nhà nước cho phép xây dựng  
quá nhiều nhà ở thương mại cao tầng trong nội  
đô thì người dân còn đâu chỗ để đi lại, để thụ  
hưởng cuộc sống. Cho nên, khi tắc đường, việc  
người dân đi xe trên vỉa hè đang trở nên “bình  
thường” như cơm bữa” (PVS số 12, 48 tuổi, Hà  
Nội). Quan sát những hoạt động của người dân  
tại các phố đi bộ quanh bờ hồ Hoàn Kiếm cho ta  
thấy rằng nhu cầu sinh hoạt công cộng của người  
dân là rất to lớn.  
cầu xã hội đa dạng: giao thông (kể cả giao thông  
tĩnh); y tế; giáo dục; văn hóa; nghệ thuật; thể  
thao; thông tin; an ninh; quốc phòng; vệ sinh môi  
trường,... Do cần có sự thống kê thống nhất từ  
trung ương đến địa phương nên các biến số về  
đất đai trong dữ liệu điều tra quốc gia cũng  
không có gì thay đổi, nghĩa là việc thống kê đất  
đai được thực hiện với các biến số lớn, quá giản  
đơn. Điều này cũng trùng khớp với các phân tích  
ở trên của tác giả Nguyễn Ngọc Hiếu về sự thiếu  
hụt các không gian công cộng và một cơ chế liên  
ngành đầy đủ vẫn là một thách thức lớn cho quá  
trình quy hoạch, thực thi, giám sát và cải tiến thể  
chế. Tuy các nhà chuyên môn đang cố gắng áp  
dụng mô hình quy hoạch tích hợp*phức hợp liên  
ngành nhưng chính sách được thực hiện trong  
thực tiễn vẫn lấy yếu tố kinh tế, công nghiệp,  
dịch vụ thương mại làm điểm xuất phát, vừa là  
công cụ, vừa là đích đến: “Ở thành phố của  
chúng ta, từ vài chục năm nay, việc cho phép xây  
dựng nhiều tòa nhà thương mại cao tầng trong  
nội đô đã tạo ra quá nhiều vấn đề xã hội mà tôi  
nghĩ trong tương lai là vô phương cứu chữa:  
giao thông tắc nghẽn; trường học, bệnh viện nội  
đô quá tải; thiếu hụt khu vui chơi, giải trí; thiếu nhà  
vệ sinh công cộng hoặc nếu có cũng vận hành  
kém,… Đời sống cộng đồng và đời sống xã hội bắt  
đầu kém vui, lộn xộn” (Phỏng vấn sâu (PVS) số  
104, Nam, 53 tuổi, thành phố Hồ Chí Minh).  
Trong thực tế ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí  
Minh và nhiều thành phố khác, rất nhiều tòa nhà  
thương mại đang mọc lên như nấm trong một  
khoảng thời gian ngắn, thậm chí ở cả những khu  
trung tâm mà hạ tầng cơ sở phục vụ dân sinh đã  
ổn định và chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu của  
một lượng dân số nhất định. Đây là điều giải  
thích cho sự thiếu hụt các không gian công cộng  
trong thành phố như: không gian giao thông (kể  
cả giao thông tĩnh); không gian vui chơi - giải trí;  
không gian vệ sinh môi trường; không gian cây  
xanh, ao hồ; không gian văn hóa tâm linh,…  
Chẳng hạn, ở một quận mà mật độ dân số lên đến  
43.000 người/km2 - chưa kể du khách và những  
người vãng lai - như quận Đống Đa, Hà Nội, thì  
những công trình về vệ sinh môi trường (các nhà  
vệ sinh công cộng hoặc nơi tập kết rác) hay vấn  
Tương tự như vậy, trong Văn bản hợp nhất  
số 01/VBHN-VPQH ngày 27/7/2015 của Văn  
phòng Quốc hội về Luật Quy hoạch đô thị, tại  
khoản 14, Điều 3, xác định “cảnh quan đô thị  
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57  
55  
chung là không gian cụ thể có nhiều hướng quan  
sát ở trong đô thị như không gian trước tổ hợp  
kiến trúc, đường phố, hè phố, đường đi bộ, công  
viên, thảm thực vật, vườn cây, vườn hoa, đồi,  
núi, gò đất, đảo, cù lao, triền đất tự nhiên, dải  
đất ven bờ biển, mặt hồ, mặt sông, kênh, rạch  
trong đô thị và các không gian sử dụng chung  
khác thuộc đô thị”. Khoản 7, Điều 5 bổ sung  
thêm: “… chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát  
nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc,…”. Rõ  
ràng là cách xác định không gian công cộng như  
vậy tuy rất cụ thể nhưng vì không theo chức năng  
nên trong Văn bản hợp nhất này không thấy bóng  
dáng của các không gian công cộng thuộc văn  
hóa tâm linh của người dân như đền, chùa, miếu,  
mạo, nhà thờ đạo,… hoặc các không gian về vệ  
sinh môi trường chung. Trong một văn bản dưới  
luật trước đó, cụ thể là Nghị định số  
38/2010/NĐ-CP ngày 07/04/2010 lại có nhiều  
quy định “… khuyến khích tăng diện tích cây  
xanh, diện tích dành cho giao thông (bao gồm cả  
giao thông tĩnh), không gian công cộng, giảm  
mật độ xây dựng. Chính quyền đô thị có quy định  
cụ thể mật độ xây dựng tối đa, tối thiểu về cây  
xanh, đất dành cho không gian công cộng theo  
quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành,…” (Khoản 1,  
Điều 9) [8]. Tuy có nhiều tiến bộ, nhưng sự quan  
tâm của Nhà nước về không gian công cộng cũng  
chỉ dừng lại ở khái niệm “khuyến khích”,  
có nghĩa là không hề có sự ràng buộc. Vả lại,  
văn bản này liệu phát huy giá trị của nó như thế  
nào khi mà nó ra đời trước các văn bản luật khác  
cao hơn?  
không gian công cộng. Từ đó, các dịch vụ công  
cộng như dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, dịch vụ  
vệ sinh môi trường,… cũng gặp rất nhiều rào cản  
từ chính sách như việc dành đất cho chúng thì  
hầu như không được bàn đến một cách cụ thể.  
Hoặc nếu có, thì những không gian đó thường  
gắn với những khu nhà ở thương mại rất đắt tiền,  
điều này tạo ra sự phân hóa xã hội trong việc  
tham gia và thụ hưởng không gian công cộng.  
Nói cách khác, chỉ có những gia đình giàu có,  
khá giả thì mới được sử dụng các không gian đã  
được tư nhân hóa đó. Từ trong văn bản đến thực  
tiễn, sự ưu tiên chức năng kinh tế, công nghiệp  
và dịch vụ thương mại của nguồn lực đất đai đã  
làm cho đời sống công cộng ngày càng trở nên  
nghèo nàn, thậm chí căng thẳng do sự suy giảm  
của chính các không gian công cộng.  
Một điều đáng bàn thêm là hầu hết các  
nguyên cứu hiện nay ở nước ngoài cũng như ở  
nước ta về không gian công cộng đều lập tức liên  
quan đến “đô thị”. Nói cách khác, khái niệm  
“không gian công cộng nông thôn” rất ít được đề  
cập đến hoặc đúng hơn chúng được bàn đến  
nhiều hơn trong các nghiên cứu về văn hóa làng  
quê trước đây, ví dụ như sinh hoạt văn hóa ở đình  
làng. Điều này có thể lý giải được đối với các  
nước phát triển khi mà khoảng trên 95% dân số  
của họ sống ổn định ở đô thị. Trong khi đó, ở  
nước ta, dân số nông thôn vẫn chiếm trên 60%  
[9] và nhu cầu xã hội về những không gian công  
cộng, tức là những dịch vụ công ở khu vực này  
là rất lớn. Trong bối cảnh đó, việc có quá ít  
nghiên cứu ở nước ta hiện nay về “không gian  
công cộng nông thôn” là một điều đáng tiếc.  
Như vậy, sự phát triển các không gian công  
cộng đô thị dưới hai chiều cạnh là xây dựng công  
trình công cộng và phát triển cảnh quan môi  
trường đã được đề cập đến nhiều hơn trong văn  
bản dưới luật. Còn ở trong các luật hoặc nghị  
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chỉ có  
một vài khoản quy định việc bảo vệ và duy trì  
các không gian công cộng đang hiện hữu. Khái  
niệm “phát triển không gian công cộng mới”  
dường như không có mặt ở các văn bản pháp luật  
này. Trong thực tế, việc xây dựng quá nhiều nhà  
ở thương mại cao tầng ở đô thị, nhất là ở nội đô,  
đã gây áp lực rất lớn đối với năng lực thỏa mãn  
nhu cầu của người dân khi tham gia và thụ hưởng  
Tuy nhiên, dưới một góc nhìn tích cực hơn  
về mặt chính sách, thì Chương trình mục tiêu  
quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016  
- 2020 ban hành theo Quyết định số 1600/QĐ-  
TTg ngày 16/08/2016 của Thủ tướng Chính phủ  
[10] là một văn bản đã cụ thể hóa Nghị quyết số  
26/NQ-TW ngày 5/8/2008 của BCHTW Đảng  
khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn  
[11] và Nghị quyết số 13/NQ-TW của BCHTW  
Đảng khóa XI ngày 16/1/2012 về xây dựng kết  
cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản  
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại  
vào năm 2020 [12]. Tuy đến nay, nước ta chưa  
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57  
56  
trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện  
vui hơn. Điều này sẽ góp phần giảm thiểu lao  
động di cư tự do theo chiều nông thôn - đô thị  
khi mà cuộc sống cộng đồng ở nông thôn ngày  
một khá hơn nhờ sự tham gia, sử dụng và thụ  
hưởng các giá trị của không gian công cộng [13].  
đại như trong kỳ vọng của Nghị quyết, nhưng  
nhiều tiêu chí cụ thể về xây dựng nông thôn mới,  
trong đó có các tiêu chí liên quan đến không gian  
công cộng đã được xây dựng và đã thực hiện  
được, cụ thể như: 55% số xã đạt tiêu chuẩn số 2  
về giao thông nông thôn; 80% số xã đạt chuẩn  
tiêu chí số 5 về cơ sở vật chất trường học từ mầm  
non đến hết trung học phổ thông; 80% số xã có  
trung tâm văn hóa - thể thao cấp xã; 70% số thôn  
có nhà văn hóa - khu thể thao; có 75% số xã đạt  
chuẩn tiêu chí số 16 về văn hóa; có 70% số xã  
đạt chuẩn tiêu chí số 7 về cơ sở hạ tầng thương  
mại nông thôn, tức là các khu vực chợ dân sinh  
công cộng; 100% trường học (điểm chính) và  
trạm y tế xã có công trình cấp nước và nhà tiêu  
hợp vệ sinh; có 70% số xã đạt chuẩn tiêu chí số  
15 về y tế, có cơ sở y tế đạt chuẩn như nội dung  
15,… (Hội Nông dân Việt Nam, Hội nghị tổng  
kết 10 năm xây dựng nông thôn mới 2010 - 2020  
ngày 20/10/2019 tại Nam Định) [13].  
4. Kết luận  
Trong quá khứ cho đến những năm 1990,  
không gian công cộng ở các thành phố lớn của  
nước ta (Hà Nội và Sài Gòn – thành phố Hồ Chí  
Minh) là những điểm sáng về đời sống công cộng  
khi mà vấn đề đô thị hóa chưa trở nên gay gắt  
như hiện nay. Ngoài công việc, trong đời sống  
xã hội hay đời sống công cộng, mặc dù nghèo về  
kinh tế, nhưng người dân vẫn có quyền tiếp cận  
và thụ hưởng không gian công cộng khá phong  
phú. Dựa vào logic tích hợp*phức hợp liên  
ngành, căn cứ vào xu hướng biến động dân số và  
nhu cầu về các dịch vụ xã hội công cộng nên Hà  
Nội và Sài Gòn xưa đã tạo ra được những điểm  
nhấn về quy hoạch đô thị thông thông qua quy  
hoạch không gian công cộng.  
Như vậy, hầu hết các loại không gian công  
cộng ở nông thôn đã được quan tâm từ cấp cao  
nhất là Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho  
đến Chính phủ, từng ngành và từng lĩnh vực khá  
cụ thể nhờ việc thể chế hóa các tiêu chuẩn và tiêu  
chí trong văn bản chính sách. Từ tư tưởng và  
quan điểm của Đảng, một số chính sách của Nhà  
nước đã góp phần xây dựng khá đồng bộ kết cấu  
hạ tầng kinh tế - xã hội chung, đã tạo ra một môi  
trường sinh thái nông thôn giàu hơn, đẹp hơn và  
đáng sống hơn. Trong đó, nhu cầu về không gian  
công cộng theo từng lĩnh vực đã được xem xét  
và đang từng bước được đáp ứng, cụ thể như:  
nhu cầu về dịch vụ giao thông công cộng; nhu  
cầu về dịch vụ giáo dục công; nhu cầu về dịch vụ  
y tế công; nhu cầu về dịch vụ vui chơi, giải trí,  
tâm linh, thể dục, thể thao; nhu cầu về dịch vụ vệ  
sinh môi trường,…  
Tuy nhiên, từ khi vấn đề đô thị hóa trở nên  
gay gắt hơn, đối với các thành phố đặc biệt hoặc  
các thành phố loại I, không gian công cộng đô  
thị ngày càng bị thu hẹp do quá nhấn mạnh đến  
yếu tố kinh tế, công nghiệp và dịch vụ thương  
mại: quá trình xây dựng nhà ở thương mại ở nội  
đô đã làm cho không gian công cộng chẳng  
những không được mở rộng mà còn bị thu hẹp.  
Nếu có những không gian công cộng mới thì  
chúng cũng tạo ra sự phân hóa xã hội trong sự  
thụ hưởng của người dân, bởi lẽ bản chất của  
chúng thường là những không gian bán công  
cộng (chúng đã được tư nhân hóa và chỉ những  
người giàu có mới có quyền được thụ hưởng).  
Trong tư tưởng và chính sách quy hoạch  
không gian công cộng, Đảng và Nhà nước ta đã  
quan tâm nhiều hơn đến cơ hội tiếp cận và thụ  
hưởng đời sống công cộng, tuy rằng, các văn bản  
thể hiện chủ trương và chính sách quy hoạch  
không gian công cộng chưa thực sự thống nhất,  
đồng thời mới chỉ dừng lại ở mức độ “khuyến  
khích phát triển không gian công cộng”. Do vậy,  
vị thế của không gian công cộng hiện nay cả ở  
Vị thế của các không gian công cộng ở nông  
thôn đã được thể chế hóa trong các văn bản chính  
sách và cụ thể hóa trong các tiêu chuẩn và tiêu  
chí xây dựng nông thôn mới. Đây là một kết quả  
quan trọng thể hiện sự quan tâm của Đảng và  
Nhà nước đối với phúc lợi công cộng mà người  
dân có quyền được thụ hưởng. Đời sống công  
cộng ở nông thôn đã có nhiều thuận lợi hơn và  
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57  
57  
Architecture Journal, August 15th 2018  
(in Vietnamese).  
nông thôn và đô thị vẫn còn bấp bênh mặc dù đã  
có những kết quả khá tích cực qua việc thực hiện  
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng  
nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Trong điều  
kiện đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay, việc hoàn  
thiện thể chế chính sách về quy hoạch không  
gian công cộng trên phạm vi quốc gia dựa theo  
xu hướng biến đổi dân số và biến đổi các nhu cầu  
về dịch vụ xã hội và dựa theo nguyên tắc thống  
nhất tích hợp*phức hợp liên ngành là một điều  
hết sức cần thiết. Như vậy, “logic xã hội” và  
logic tích hợp liên ngành cần có tính chất quyết  
định đối với logic kỹ thuật - bản vẽ đất đai.  
[6] Hanoi Statistical Department, Hanoi Statistical  
Yearbook 2016, Publishing House of Statistics  
Hanoi, 2017 (in Vietnamese).  
[7] National  
Assembly  
Standing  
Committee,  
Resolution No. 1210/2016/UBTVQH on Urban  
Classification, June 25th 2016 (in Vietnamese).  
[8] Government of the Socialist Republic of Vietnam,  
Decree No. 38/2010/ND-CP on Management of  
Space, Architecture, Urban Landscape, April 7th,  
2010 (in Vietnamese).  
[9] General Statistics Department, Results of The  
Entire Population and Housing Census 2019,  
Publishing House of Statistics, Hanoi, 2020  
(in Vietnamese).  
Tài liệu tham khảo  
[10] Prime Minister of the Socialist Republic of  
[1] N. N. Hieu, Planning Law: From Unifying  
Understanding to Adjusting Institutions and  
Implementation Capacity, Vietnam Architecture  
che-nang-luc-thuc-hien/ (accessed on: December  
1st , 2020) (in Vietnamese).  
[2] A. Cunningham, The French in Tonkin and South  
China (2nd Edition), Chapters "Hai Phong", pp. 46-  
62 and “Hanoi”, pp. 63-89, revised, Hongkong:  
The Office of The “Hongkong Daily Press” and  
London: Sampson Low, Marston & Co, St.  
Dunstan's House, Fetter Lane, 1902.  
[3] National Assembly of the Socialist Republic of  
Vietnam, Law on Planning No. 21/2017/QH14,  
November 24th, 2017 (in Vietnamese).  
[4] National Assembly of the Socialist Republic  
of Vietnam, Law on Higher Education No.  
08/2012/QH13, June 18th 2012 (in Vietnamese).  
Vietnam,  
Decision  
No.  
1600/QĐ-TTg  
Promulgating the National Target Program on  
Building New Rural Areas for the Period 2016-  
2020, August 16th, 2016 (in Vietnamese).  
[11] Communist Party of Vietnam, Resolution No. 26-  
NQ/TW of the 10th Party Central Committee on  
Agriculture, Farmers and Rural Areas, August 5th  
2008 (in Vietnamese).  
[12] Communist Party of Vietnam, Resolution No. 13-  
NQ/TW of the 11th Party Central Committee on  
Building Synchronous Infrastructure in Order to  
Basically Turn our Country into a Modern  
Industrialized Country By 2020, January 16th 2012  
(in Vietnamese).  
[13] Vietnam Farmers' Association, Report N0 121-  
BC/HNDTW Summarizing 10 Years of the  
Vietnam Farmers' Union Implementing the  
National Target Program on Building New Rural  
Areas for the Period 2010-2020, October 14th, 2019  
(in Vietnamese).  
[5] N. V. Huy, N. H. V. Hien, The Current State of  
Public Art and Public Space in Vietnam, Vietnam  
pdf 11 trang baolam 26180 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tư tưởng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về không gian công cộng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_tuong_va_chinh_sach_cua_nha_nuoc_viet_nam_ve_khong_gian_c.pdf