Tư tưởng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về không gian công cộng
VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57
Original Article
The Ideology and Policies of the State
of Vietnam on Public Spaces
Trinh Van Tung*
VNU University of Social Sciences and Humanities, 336 Nguyen Trai, Thanh Xuan, Hanoi, Vietnam
Received 08 December 2020
Revised 14 January 2021; Accepted 25 February 2021
Abstract: The concept of “public space” occasionally appears in legal documents of the State of
Vietnam, especially in laws. On the contrary, in ordinary newspaper articles, “public space” is often
mentioned under various terms including “public place”, “public location”, “public buildings”, etc.
At the same time, public space falls in the scope of various aspects of interest, particularly urban
public spaces. Thus, it is needed that the State's ideology and legal policies on public spaces are
defined. Such challenge “suggests” that we analyze the currently available documents of previous
researchers, searching in various regulatory documents of the State, as well as statistical documents
and conducting in-depth interviews with urban planning experts to present an understanding of the
State's ideology and legal policies on public spaces in Vietnam.
Various documents and researches have shown that the current planning policies in Vietnam
consider land planning as a “golden mold” because the priority of the State still lies in economic,
commercial, security and defense goals. These are the decisive factors that dominate other
residential services, which is different from the modern logic of integrated planning, that, in turn, is
based on three main pillars: i) Population planning and changes in demand for “residential services” in
the broadest sense of this phrase (housing services; transportation services; medical services; educational
services; cultural services; media services; environment, security and defense activities,...); ii)
Administrative land planning; and iii) Land planning for economic and commercial activities. As a result
of the current, yet simple categorization of land used in annual statistical documents, in the future, public
space will not only be difficult to expand but also be narrowed in correlation with the growing population
density, especially in urban areas. Meanwhile, the planning of public spaces of the previous periods still
leaves us with lessons of the integrated and complex model to meet people's needs. The comparison of
two French logicofintegrated planning and the “socio-economic” spatialplanning logic, taking economic
and commercial in Anglo-Saxon-style as the central element also contributes to unravel the “ideology
and policies of the planning of public spaces” of the state of Vietnam, although scientifically, the
boundary between these two planning logic has now almost been blurred.
Keywords: Public space planning; legal documents on public space planning; traffic space; spiritual
space; entertainment and entertainment space; integrated logic; People's needs.*
________
* Corresponding author.
E-mail address: [email protected]
47
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57
48
Tư tưởng và chính sách của Nhà nước Việt Nam
về không gian công cộng
Trịnh Văn Tùng**
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội,
336 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội, Việt Nam
Nhận ngày 08 tháng 12 năm 2020
Chỉnh sửa ngày 14 tháng 01 năm 2021; Chấp nhận đăng ngày 25 tháng 02 năm 2021
Tóm tắt: Cần khẳng định rằng, khái niệm “không gian công cộng” ít xuất hiện ở trong các các văn
bản pháp quy của Nhà nước, nhất là trong các bộ luật và luật. Ngược lại, trong các bài báo thường
thức, không gian công cộng được đề cập rất nhiều với các khái niệm như “nơi công cộng”, “địa điểm
công cộng”, “công trình công cộng” đồng thời với sự đa dạng của các khía cạnh quan tâm, đặc biệt
là không gian công cộng đô thị. Vậy, làm thế nào để có một sự hiểu biết tương đối về tư tưởng và
chính sách pháp luật của Nhà nước về không gian công cộng? Thách thức này “gợi ý” cho chúng tôi
tiến hành phân tích các tài liệu sẵn có của một số nhà khoa học, tìm kiếm trong những quy định khác
nhau của Nhà nước, tài liệu thống kê phối hợp với phỏng vấn sâu một số chuyên gia về quy hoạch
để phần nào nắm bắt được tư tưởng và chính sách pháp luật của Nhà nước về không gian công cộng
của Nhà nước ta hiện nay.
Nhiều tài liệu cho thấy rằng chính sách quy hoạch ở Việt Nam hiện nay tiếp tục lấy quy hoạch đất
đai làm “khuôn vàng thức ngọc” vì ưu tiên chủ yếu vẫn là mục tiêu kinh tế, thương mại, an ninh,
quốc phòng. Đây là những yếu tố quyết định, chi phối các dịch vụ dân sinh khác, tức là đang khác
với logic quy hoạch tổng tích hợp hiện đại dựa trên ba trụ cột chính: i) Quy hoạch dân số và xu
hướng biến đổi nhu cầu về các “dịch vụ dân sinh” theo nghĩa rộng nhất của cụm từ này (dịch vụ nhà
ở; dịch vụ giao thông; dịch vụ y tế; dịch vụ giáo dục; dịch vụ văn hóa; dịch vụ truyền thông; dịch
vụ môi trường; hoạt động an ninh, quốc phòng,…); ii) Quy hoạch đất đai hành chính; và iii) Quy
hoạch đất đai cho hoạt động kinh tế, thương mại. Với cách phân chia các loại đất đơn giản như hiện
nay phục vụ cho việc thống kê thường niên, trong tương lai, không gian công cộng không những
khó được mở rộng mà còn bị thu hẹp so với mật độ dân cư, nhất là ở các đô thị. Trong khi đó, quy
hoạch không gian công cộng trong quá khứ vẫn để lại cho chúng ta một bài học có ý nghĩa về mô
hình tích hợp và phức hợp nhằm đáp ứng các nhu cầu dân sinh. Việc so sánh hai logic quy hoạch
tích hợp theo kiểu Pháp và logic quy hoạch không gian “kinh tế - xã hội”, lấy yếu tố trung tâm là
kinh tế và thương mại theo kiểu Anglo-Saxon cũng góp phần làm sáng tỏ “tư tưởng và chính sách
quy hoạch không gian công cộng” của chúng ta mặc dù về mặt khoa học, biên giới giữa hai logic
quy hoạch ấy hiện nay gần như bị xóa nhòa1.
Từ khóa: Quy hoạch không gian công cộng; Văn bản pháp quy về quy hoạch không gian công cộng;
Không gian giao thông; Không gian tâm linh; Không gian vui chơi, giải trí; Logic tích hợp; Nhu cầu
dân sinh.
________
* Tác giả liên hệ.
Địa chỉ email: [email protected]m
Bài báo này sử dụng dữ liệu của Đề tài “Ứng xử của người Việt Nam hiện nay trong các không gian công cộng”;
1
Mã số: KX.01-48/16-20.
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57
49
xác định như thế nào? Nghiên cứu này phân tích,
tổng hợp và đánh giá các tài liệu sẵn có cùng với
việc phỏng vấn sâu (PVS) một vài chuyên gia để
trả lời cho hai câu hỏi trên.
1. Dẫn nhập
Theo nhận định thông thường, không gian
công cộng có thể là những khu vực rộng lớn
được quy hoạch cho quảng đại người dân của
nông thôn và đô thị như công viên, quảng trường,
trung tâm thương mại, không gian giao thông,
không gian giáo dục, không gian y tế, không gian
văn hóa, không gian vui chơi giải trí, không gian
hành chính,… Hoặc cũng có thể đơn giản là các
không gian chung của một khu vực dân cư như
các vỉa hè, hành lang giao thông, sân chơi của
trẻ, nơi nghỉ ngơi chung của người cao tuổi, bờ
hồ, mặt nước,… Có rất nhiều cách xếp loại
không gian công cộng và thường là không thống
nhất với nhau. Tuy nhiên, căn cứ vào độ mở của
nó, không gian công cộng có thể được xếp thành
ba loại, bao gồm: i) Không gian công cộng đặc
trưng ngoài trời; ii) Không gian công cộng đặc
trưng trong nhà; và iii) Không gian công cộng
đặc trưng hỗn hợp.
2. Logic quy hoạch tích hợp*phức hợp của
người Pháp và logic quy hoạch nặng về kinh
tế, công nghiệp, thương mại của người Anglo-
Saxon: một vài bài học từ quá khứ
Theo ý kiến của các chuyên gia về quy hoạch
nói chung và quy hoạch đô thị nói riêng, logic
hay nguyên tắc quy hoạch vì đời sống chung là
việc thực hiện một mô hình tích hợp*phức hợp
giữa ba nhóm biến số, cụ thể gồm: i) Nhóm biến
số về xu hướng tăng trưởng dân số và nhu cầu về
tất cả các dịch vụ dân sinh (nhà ở; giao thông; y
tế; giáo dục; văn hóa; môi trường; thông tin;
quốc phòng; an ninh trật tự; an toàn xã hội; vui
chơi giải trí; thể thao; nghệ thuật,…); ii) Nhóm
biến số về hành chính quản trị như các tòa nhà
hành chính công, trụ sở của các cơ quan công
quyền; và iii) Nhóm biến số về kinh tế, công
nghiệp, thương mại, từ đó tạo ra những thay đổi
về phương pháp quy hoạch, phương pháp xây
dựng năng lực kỹ thuật và đặc biệt là sự thay đổi
chính sách, thể chế [1]. Mô hình tích hợp và phức
hợp trong quy hoạch được hiểu là các bên tham
gia hay tất cả các nhu cầu xã hội, kể cả nhu cầu
kinh tế, thương mại và quản lý hành chính đồng
thời được xem xét và tổng tích hợp thành nguyên
tắc quy hoạch chung. Điều chi phối đầu tiên cho
mô hình quy hoạch hiện đại tích hợp và phức hợp
chính là dựa vào xu hướng biến đổi của dân số
và chỉ trên cơ sở đó, mọi loại nhu cầu xã hội mới
được ước lượng khá chính xác theo trục thời
gian, tức là vì cuộc sống trong hiện tại và tương
lai. Chỉ khi theo đúng nguyên tắc tích hợp*phức
hợp này thì các bên tham gia quy hoạch mới có
thể tránh được sự chồng chéo và/hoặc mâu
thuẫn, xung đột giữa các chức năng, giữa các
dịch vụ.
Căn cứ vào mức độ cho phép tiếp cận thì
không gian công cộng lại được xếp thành hai
loại, cụ thể là: i) Không gian công cộng rất hạn
chế tiếp cận của dân cư như các tòa nhà văn
phòng trung ương Đảng, Quốc hội, Chính
phủ,…; và ii) Không gian công cộng hoàn toàn
không hạn chế sự tiếp cận và sử dụng của dân cư
như công viên, quảng trường, rạp hát, nhà chiếu
phim, hay không gian giao thông, không gian
văn hóa tâm linh chung,…
Căn cứ vào chức năng và các dịch vụ gắn với
các chức năng ấy, không gian công cộng lại được
xếp thành rất nhiều loại, cụ thể gồm: không gian
giao thông như đường sá, bến xe, nhà ga, bến
tàu,…; không gian văn hóa tâm linh như đền,
chùa, miếu, mạo, nhà thờ đạo,…; không gian vui
chơi giải trí văn hóa và thể thao; không gian
thương mại như siêu thị, chợ dân sinh; không
gian giáo dục như trường học; không gian y tế
như bệnh viện, trạm xá; không gian vệ sinh môi
trường như các nhà vệ sinh công cộng, các khu
tập kết rác của dân cư,… Vậy, ở nước ta, việc
quy hoạch tất cả các loại không gian công cộng
đó đang bị chi phối bởi những tư tưởng và chính
sách quy hoạch nào? Trong các văn liệu đang
hiện hành, vị thế của không gian công cộng được
Vì theo nguyên tắc này, nên người Pháp đã
quy hoạch Hà Nội rất đẹp bởi họ chủ yếu dựa vào
năng lực đáp ứng tổng hợp các nhu cầu dịch vụ
dân sinh, nhu cầu xã hội, văn hóa, nghệ thuật,…
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57
50
Cunningham, một tác giả người Anh, đầu thế kỷ
không gian công cộng mở và các khu dân cư
cách biệt. Singapore đứng ở vị trí hoàn toàn
tương đương với Hà Nội, nhưng sau khi mặt trời
lặn, Singapore yên ngủ trong khi Hà Nội ở vào
thời khắc huy hoàng nhất tại các địa điểm công
cộng” (Ngô Biên dịch) [2].
XX đã mô tả kết quả của tư tưởng và hoạt động
quy hoạch tích hợp*phức hợp của người Pháp
như sau: “Đời sống xã hội tại Bắc Kỳ được đặc
trưng bởi sự vắng mặt của thói kiểu cách bất
tiện, và bởi sự tự do hoàn toàn không theo những
quy tắc xã hội gò bó, áp đặt. Hệ quả là, trong khi
người Anh tạo nên một xã hội giả tạo, hình thức,
áp đặt thì người Pháp hoàn toàn sống thoải mái,
và khi hoàn thành công việc, họ không ngần ngại
đắm mình vào sự giải trí và hưởng thụ tại các
địa điểm công cộng. Các nét đặc thù xã hội tinh
tế của chúng ta rõ ràng không có mặt ở đó.
Chúng ta nhìn nhận sự giải trí một cách nghiêm
trọng và thường biến nó thành công việc; người
Pháp không làm như thế, và hầu như sống không
theo quy ước” (Ngô Biên dịch) [2].
Đây là những nhận xét hết sức tinh tế về quy
hoạch không gian của người Pháp trong quá khứ.
Qua nhận xét này, cụm từ “trong tổng thể” được
tác giả nhấn mạnh, đồng thời tác giả cũng nhấn
mạnh yếu tố “lợi ích công cộng” trong mô hình
quy hoạch tổng tích hợp của người Pháp. Sẽ ít
người phản đối khi cố Hoàng thân Henri
d’Orléans đã nhận xét: “Trước tiên, chúng ta rất
khéo léo trong việc giải tỏa một thị trấn bản xứ
và xây dựng bên cạnh nó một cái gì đó tức thời
sạch sẽ và thanh nhã cho mọi người sử dụng, ứng
dụng các chi tiết nhỏ nhặt nhất để tạo được một
hiệu ứng vui mắt […]. Chúng ta đã khai quang
và tái thiết một phần nào hai trong số các thành
phố đẹp đẽ nhất tại Viễn Đông - Hà Nội và Sài
Gòn - với khoản tiền chi tiêu nhỏ bé. So sánh
chúng với những thị trấn do người Anh xây cất
tại Bombay và Calcutta ở Ấn Độ, hay Hồng
Kông ở Trung Hoa, bạn sẽ tìm thấy ở đó các kiến
trúc to lớn, đồ sộ, biểu thị cho sức mạnh và quyền
lực kinh tế, nhưng rất nặng nề3; trong khi đó tại
những thị trấn do Pháp xây dựng, luôn luôn có
sự tương đồng đôi chút với Paris nhờ có nhiều
địa điểm công cộng” (Ngô Biên dịch) [2].
Vậy, cái gì đã cho phép ngài Henri d’Orléans
có thể “tự hào” về kiến trúc và quy hoạch thuộc
địa của Pháp đến vậy? Trong khi đó, Ngài cũng
dùng những từ biểu cảm mạnh mẽ để phê phán
tư duy kiến trúc, quy hoạch hiện đại kiểu Anglo-
Saxon bởi chúng “biểu thị sức mạnh, quyền lực,
lấy kinh tế làm điểm xuất phát và mục tiêu”.
Tương tự như vậy đối với việc quản trị hành
chính và kinh tế, Cunningham đưa ra quan điểm
của mình bằng cách tiếp tục so sánh hai tư tưởng
trong quy hoạch của người Pháp và người Anh:
“Sự phát triển của Hồng Kông là nhờ vào doanh
nghiệp tư nhân hơn là công tác chính thức của
Nhà nước. Về các tòa nhà thương mại, Hồng
Kông vượt xa Hà Nội, nơi không có các tòa nhà
Cần nhấn mạnh rằng đây là nhận xét của một
người Anh về hai mô thức quy hoạch không
gian: mô thức thứ nhất được người Pháp sử dụng
mang tính chất tích hợp các dịch vụ xã hội phục
vụ đời sống công cộng rất cao trong khi mô thức
quy hoạch thứ hai đặt dấu nhấn vào “yếu tố kinh
tế - thương mại”. Ngược lại với nguyên tắc quy
hoạch tích hợp*phức hợp là nguyên tắc quy
hoạch “hiện đại hóa”, “công nghiệp hóa”, tức là
nhóm biến số kinh tế, công nghiệp, thương mại
chi phối, bắt đầu bằng cụm từ “kinh tế - xã hội”,
trong đó xã hội là yếu tố thứ yếu, phụ thuộc vào
yếu tố kinh tế. Trong nguyên tắc quy hoạch này,
rõ ràng các yếu tố xã hội được xếp vào hàng thứ
yếu, bởi mọi tư duy quy hoạch nhằm vào sự tăng
trưởng kinh tế, hoạt động công nghiệp, dịch vụ
thương mại mang tính tiên quyết và then chốt.
Trên cơ sở đó, các yếu tố xã hội là “cái bị kéo
theo” và bản vẽ kỹ thuật quy hoạch cũng chủ yếu
phục vụ cho sự tăng trưởng kinh tế và tăng
trưởng công nghiệp, thương mại mà thôi. Sự đối
lập của hai tư tưởng quy hoạch còn được thể hiện
qua nhiều nhận xét của tác giả này: “Hà Nội, một
thành phố được xây dựng giữa vùng ngoại vi
mang sắc thái Á Châu, vượt trội hơn bất kỳ thành
phố nào khác ở Viễn Đông [...], trong tổng thể2,
Hà Nội chắc chắn là địa điểm nổi bật. Về những
đường lộ rộng rãi và được bảo trì chu đáo, các
________
2 Tác giả bài viết này nhấn mạnh.
3 Tác giả bài viết này nhấn mạnh.
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57
51
kinh doanh khổng lồ như thế vì ở đây không có
nhu cầu về chúng. Trong việc quản trị hành
chính thành phố, Hà Nội tiến bộ hơn nhiều so với
Hồng Kông tại thời điểm này hay mãi mãi về sau
[…] Tại Hồng Kông, chúng ta liên tục phải chịu
đựng chính sách thiển cận và vụng về của các
viên chức trước đây. Chính phủ ngày nay thay vì
thừa nhận điều này lại tự vô hiệu hóa chính mình
khi nỗ lực để bào chữa cho các sai lầm trong quá
khứ bằng một chính sách chắp vá về quản trị,
chống đối sự tự do hành động, né tránh kinh phí
lành mạnh về công chánh, về các công trình phúc
lợi công cộng4 và lẩn trốn một hệ thống quản trị
thành phố tân tiến. Các ban ngành chính phủ bị
cắt giảm tới mức nhỏ nhất có thể, gần như mọi
ngành đều thiếu nhân viên và do đó không có khả
năng đáp ứng công việc mà một thành phố đang
tăng trưởng mạnh đòi hỏi. Tham vọng của viên
Thống Đốc là muốn phô diễn một khoản thặng
dư hàng năm - điều này khiến cho các công trình
công cộng thiết yếu và việc cải thiện vệ sinh
không được chú trọng. Tại Hà Nội, họ làm tất cả
mọi việc mà chính quyền có thể làm được để cải
thiện các công trình công cộng nhằm làm đẹp và
hoàn chỉnh thành phố. Họ cũng sẵn sàng chi tiêu
tiền bạc cho các địa điểm công cộng trong khi
chúng ta lại tìm cách tích trữ thật nhiều” (Ngô
Biên dịch) [2].
Pháp trong quá khứ ưu trội hơn ở chỗ nó đặt
nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu xã hội lên hàng đầu,
tức là lấy dân cư và xu hướng biến đổi dân số
làm xuất phát điểm đồng thời lấy đời sống cá
nhân, đời sống gia đình và đời sống công cộng là
đích đến. Khái niệm “không gian công cộng” hay
“mức độ thỏa mãn về đời sống công cộng” được
người Pháp chú trọng trong tư tưởng của mình:
“Một đặc điểm nổi bật trong cách xây dựng
thành phố của người Pháp, như là viễn kiến mà
họ bộc lộ. Họ thiết kế và xây dựng cho tương lai
và trong khía cạnh này họ rõ ràng vượt trội hơn
người Anh” (Ngô Biên dịch) [2]. Và để chứng
minh cho quan điểm của mình, Cunningham viết
tiếp: “Hiện nay, Hồng Kông không hề có các
phương tiện công cộng mau lẹ và rẻ tiền để giải
thoát cho các quận hạt tắc nghẽn khủng khiếp;
và không có phà công cộng để nối hòn đảo với
đất liền, công việc như thế được dành cho dịch
vụ thương mại độc quyền của một công ty địa
phương […] Mọi tấc đất có thể được bán, vì mục
đích xây dựng, kinh doanh, nhà ở thương mại,...
đều được quyết định bởi Chính phủ. Đường sá
dẫn tới khu Đất Mới (New Territory) thì nhỏ hẹp
và chiều ngang chỉ bằng một con đường trung
bình tại khu dân cư bản xứ của Hà Nội […]
Đường sá ở Hà Nội thì rộng rãi, rợp bóng cây,
và ở trong tình trạng tuyệt hảo. Chúng đều được
trải đá giăm, với tổng chiều dài, kể cả các lối đi
vùng ngoại ô, lên tới hơn năm mươi dặm Anh”
(Cunningham, 1902: 63-89) (Ngô Biên dịch) [2].
Qua nhận xét trên, chúng ta thấy sự đối lập
của hai tư tưởng và chính sách quy hoạch hiện
đại: i) Tư tưởng quy hoạch lấy hoạt động kinh tế,
công nghiệp và thương mại làm chuẩn - chúng là
điểm khởi đầu, là công cụ, phương tiện và là mục
tiêu sau cùng của người Anglo-Saxon. Sự tăng
trưởng kinh tế, thương mại (trong đó có cả nhà ở
thương mại) chi phối mọi hoạt động còn lại của
quá trình quy hoạch; và ii) Tư tưởng tích
hợp*phức hợp và chính sách quy hoạch căn cứ
vào xu hướng biến động dân số gắn với các nhu
cầu xã hội, văn hóa, nghệ thuật, gắn với đời
thường ngày của người dân làm “kim chỉ nam”
đối với người Pháp - nhóm yếu tố được nhấn
mạnh ở đây chính là sự đáp ứng các nhu cầu xã
hội theo nghĩa rộng nhất của từ này. Hơn thế nữa,
tư tưởng và chính sách quy hoạch của người
Như vậy, trong lĩnh vực quy hoạch và quản
lý quy hoạch, logic tích hợp*phức hợp có thể
được hiểu là yêu cầu và nguyên tắc xem xét
đồng thời và tổng tích hợp các loại hình vấn đề
liên ngành ở các cấp độ khác nhau trên cùng
không gian lãnh thổ nhằm lựa chọn giải pháp
thực thi, giải quyết thấu đáo mối quan hệ quyền
lợi qua lại giữa các ngành (và cả các cấp), giữa
lập quy hoạch, thực thi và cải thiện thể chế. Do
đó, tiếp cận tích hợp liên ngành là quan điểm
phương pháp luận chủ đạo bởi lẽ tất cả các ngành
đều có tiếng nói của mình trong quy hoạch tổng
thể xã hội, và tổng thể ngành nghề, dịch vụ [1].
Ở trong logic quy hoạch này, yếu tố “thống nhất
________
4 Tác giả bài báo này nhấn mạnh.
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57
52
tính liên ngành” (yếu tố xã hội) có tính chất
quan (tính thống nhất liên ngành) theo cơ chế
thương thuyết và đồng thuận là những yếu tố chi
phối của mô hình quy hoạch tích hợp và phức
hợp. Tuy nhiên, đến những năm 1960 - 1970 thì
trên thế giới nói chung, mô hình quy hoạch tích
hợp*phức hợp liên ngành đã được thống nhất
rộng rãi giữa những nhà hoạch định chính sách,
những nhà chuyên môn quy hoạch và các tổ chức
dân sự. Từ đó, biên giới tư tưởng và chính sách
quy hoạch giữa hai trường phái Anh và Pháp bắt
đầu mờ dần cho đến khi mất hẳn [1].
quyết định các yếu tố vùng, miền, khu vực và yếu
tố đất đai chứ không phải ngược lại. Vì vậy, tổng
tích hợp liên ngành là phương pháp tiếp cận
xuyên suốt quá trình quy hoạch, thể chế, thực thi
và giám sát. Hệ thống quy hoạch áp dụng nguyên
tắc tích hợp*phức hợp liên ngành là hệ thống quy
hoạch có tính mục tiêu và định hướng thực thi.
Tính mục tiêu và thực thi đạt được thông qua quá
trình giám sát thích ứng với thực tiễn nhưng vẫn
hướng về mục đích lâu dài là vì cuộc sống toàn
diện của con người, tức là đời sống xã hội nói
chung. Hệ thống quy hoạch (không gian) ngày
nay coi trọng nguyên tắc tích hợp*phức hợp để
giải quyết đồng bộ các vấn đề chuyên ngành,
giữa các tổ chức liên quan, và ở các cấp độ không
gian. Cơ sở để hệ thống này có thể tích hợp được
hiệu quả là duy trì hệ thống chỉ số giám sát và
đánh giá chiến lược làm công cụ định hướng mục
tiêu và tích hợp giữa lập kế hoạch và giám sát
quá trình thực hiện [1].
3. Vị thế của không gian công cộng ở Việt
Nam trong một số văn bản pháp quy hiện nay
Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 ngày
24/11/2017 [3], tuy ra đời muộn so với nhu cầu
phát triển kinh tế - xã hội của nước ta, nhưng đã
cho chúng ta những nét khái quát nhất về nguyên
tắc, mục tiêu, nội dung, phương pháp, kỹ thuật
để quy hoạch tích hợp tổng thể quốc gia, cụ thể
gồm: quy hoạch không gian biển quốc gia; quy
hoạch sử dụng đất quốc gia; quy hoạch ngành
quốc gia; quy hoạch vùng; quy hoạch tỉnh; quy
hoạch có tính chất kỹ thuật, chuyên ngành. Từ
những phân tích của mình, Nguyễn Ngọc Hiếu
đã sơ đồ hóa mô hình quy hoạch tích hợp*phức
hợp của Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14, cụ
thể như sau:
Tóm lại, trong lĩnh vực quy hoạch đất đai
hoặc quy hoạch không gian sống, có hai tư tưởng
hiện đại hoàn toàn trái ngược nhau: i) Tư tưởng
cơ bản của người Anh lựa chọn nhóm các yếu tố
kinh tế - thương mại làm điểm khởi đầu, phương
tiện, công cụ và là điểm cuối; tư tưởng này coi
yếu tố “đáp ứng nhu cầu mọi mặt” của cư dân là
những hệ quả hoặc là những cái bị kéo theo bởi
khía cạnh kinh tế - nguyên nhân tạo ra cụm khái
niệm “kinh tế - xã hội” được sử dụng trong tất cả
các văn bản; đặc biệt, không gian công cộng
thường ít được đề cập trong tư tưởng quy hoạch
này hoặc đúng ra là “được chăng hay chớ” theo
quan niệm của chính quyền từng thời kỳ và theo
các thời điểm khác nhau; và ii) Tư tưởng cơ bản
của người Pháp lấy “các khía cạnh dân cư, nhu
cầu xã hội” chi phối yếu tố quản trị hành chính
và yếu tố kinh tế - thương mại bằng phương pháp
tích hợp liên ngành; tư tưởng này lấy yếu tố
“thỏa mãn các nhu cầu xã hội của cá nhân, gia
đình và cộng đồng căn cứ theo xu hướng biến
động dân số” đặt lên hàng đầu, then chốt và là
mục tiêu. Hệ quả là khái niệm “không gian công
cộng” có tiếng nói và vị thế của mình như bất kỳ
cấu trúc ngành nghề nào khác; sự thỏa mãn các
nhu cầu cuộc sống và sự thỏa mãn các bên liên
Hình 1. Mô hình quy hoạch tích hợp
và quản lý phát triển [1].
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57
53
Tuy nhiên, dù có nỗ lực bao nhiêu thì chúng
ta cũng chưa thể loại bỏ hết những căng thẳng,
xung đột, những độ lệch hay đúng hơn là những
thiếu hụt giữa các ngành trong văn bản luật này.
Đây là hiện tượng không đơn thuần vì lý do kỹ
thuật không thể đưa mọi ngành vào trong Luật
Quy hoạch số 21/2017/QH14 mà có thể do thiếu
một cơ chế liên ngành sâu rộng trong quá trình
rà soát, tham vấn, tư vấn xây dựng luật nên vẫn
chưa đạt một sự đồng thuận tổng thể. Đơn cử là
trong Phụ lục II, dòng 16 ban hành theo Luật Quy
hoạch này chỉ đề cập đến việc sửa đổi Luật Giáo
dục đại học số 8/2012/QH13 [4], trong khi ở
Luật Quy hoạch cũng chỉ đề cập đến việc quy
hoạch hệ thống các cơ sở giáo dục nghề nghiệp.
Mặc dù đã được hoàn thiện hơn nhiều, nhưng
Luật Giáo dục số 43/2019/QH14 ngày 14/6/2019
vẫn không có điều nào quy định về nguồn lực đất
đai dành cho giáo dục - một trong những lĩnh
vực thể hiện tính phúc lợi công cộng cao nhất
bên cạnh y tế.
của cơ quan có thẩm quyền thông qua tư tưởng
và thực thi chính sách quy hoạch không gian nói
chung và không gian công cộng nói riêng là chưa
đáp ứng được nhu cầu của đời sống công cộng.
Một lần nữa, quy hoạch đất đai dành cho các
không gian công cộng văn hóa, vui chơi, giải trí,
nghệ thuật,… được đánh giá là vừa thiếu, lại vừa
yếu. Những vấn đề trên đây đã được tác giả
Nguyễn Ngọc Hiếu giải thích rằng : “Việc thiếu
tính tích hợp liên ngành trong quy hoạch giao
thông và sử dụng nguồn lực đất đai là thách thức
lớn nhất […] Quốc gia nói chung và khu vực đô
thị nói riêng là một hệ thống phức hợp, phụ thuộc
lẫn nhau và luôn vận động (Chadwick George,
1978) đòi hỏi quản lý phát triển phức hợp và tích
hợp. Việc phân chia các ngành để quản lý hệ
thống vốn rất khó rành mạch lại luôn vận động
dẫn tới «xô lệch», «chồng chéo về chức năng»,
«xung đột về lợi ích» giữa các ngành và tạo ra
khoảng trống trách nhiệm trong quản lý” [1].
Đây có lẽ là lời giải thích đầy đủ nhất cho sự
thiếu hụt về chính sách đối với không gian công
cộng ở nước ta.
Nhóm tác giả Nguyễn Việt Huy và Nguyễn
Hải Vân Hiền trong bài viết Thực trạng về nghệ
thuật công cộng và không gian công cộng tại
Việt Nam số ra ngày 15/8/2018 trên Tạp chí Kiến
trúc có cùng quan điểm với nhiều kiến trúc
sư khác, cụ thể như sau: “Nhiều đô thị lớn ở Việt
Nam đang thiếu trầm trọng những tác phẩm
nghệ thuật được đặt trong các không gian công
cộng. Trong khi đó, các tác phẩm lại phải ráng
sức tìm chỗ đứng mà,… không có” [5]. Trong bài
viết, hai tác giả này nhắc lại nhận xét của nhà
điêu khắc Phan Gia Hương như sau: “Người Việt
chúng ta không hề thiếu các tác phẩm nghệ thuật
phù hợp, thậm chí sau nhiều lần tổ chức các trại
sáng tác điêu khắc, lần nào cũng “tồn đọng”
hàng trăm tác phẩm được chắt lọc từ sáng tạo
của các nghệ sĩ và đã đoạt giải thưởng, xong lại
bị “xếp kho”, chất đống lên hoặc đổ nát dần
dưới nắng mưa, không hề được sắp đặt, trưng
bày cho đúng nơi, đúng chỗ, đúng tầm, đạt hiệu
quả về thẩm mỹ và mang lại lợi ích cho cộng
đồng” [5]. Nhận xét này cho thấy rằng, ứng xử
Để minh họa cho sự thiếu hụt tính tích
hợp*phức hợp liên ngành trong quy hoạch đất
đai nói chung và trong quy hoạch không gian
công cộng nói riêng, có thể nghiên cứu các dữ
liệu về thống kê đất đai ở Hà Nội vào năm 2016
như là một ví dụ, kết quả cho thấy bảng sau:
Bảng 1. Cơ cấu sử dụng đất năm 20165 [6]
Loại đất
Hà Nội
46,8
18,6
Đất nông nghiệp (%)
Đất chuyên dụng (công nghiệp và
dịch vụ (thương mại6)(%)
Đất lâm nghiệp (%)
6,6
11,9
Đất ở (%)
Cơ cấu sử dụng đất của thành phố Hà Nội
cho thấy các chỉ báo về các loại đất đang được
thống kê một cách tối giản vì tiêu chuẩn xếp loại
đất theo khu vực quá rộng, đặc biệt chưa có các
________
5 Tác giả dựa vào các con số thống kê của thành phố Hà
Nội để xây dựng lại bảng này
bản chất vì trong khái niệm “dịch vụ” của Cục Thống kê
Thành phố Hà Nội cũng như của Tổng cục Thống kê không
có tính từ “xã hội”.
6 Tác giả bài báo này bổ sung tính từ “thương mại” để đúng
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57
54
tiêu chuẩn để thống kê về đất dành cho các nhu
đề tắc nghẽn giao thông gần như là không thể
khắc phục được trừ phi có một chính sách giãn
dân nội đô phù hợp, lâu dài và rất tốn kém. Trong
Nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH ngày 25/6/2016
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về phân loại đô
thị, tại Điều 3. Đô thị loại đặc biệt (Hà Nội và
thành phố Hồ Chí Minh), tiêu chí mật độ dân số
toàn đô thị là từ 12.000 người/km2 trở lên [7], tức
là không hề có giới hạn trên. Do vậy, sự tích tụ
cư dân quá lớn ở trong nội đô đã gây áp lực
thường xuyên lên đời sống công cộng, trong đó,
các không gian công cộng ngày càng không thể
đáp ứng nhu cầu của người dân: vị thế của chúng
ngày càng suy giảm. Tương tự như vậy với năm
loại đô thị còn lại (từ loại I đến loại V), tiêu chí
mật độ dân số toàn thành phố không có giới hạn
tối đa. Điều này tạo thuận lợi cho người dân có
điều kiện kinh tế khá giả và/hoặc có nhu cầu sẽ
di dân vào nội đô, nơi vốn dĩ thường có nhiều sự
kiện văn hóa - xã hội để thụ hưởng. Từ đó, chính
quyền đô thị đã cấp phép xây dựng nhiều nhà ở
thương mại và người dân mở ra vô số dịch vụ
thương mại khác vì mục tiêu kinh tế là chính. Nói
cách khác, trong nội đô của các thành phố đặc
biệt như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh,
người dân khó lòng thụ hưởng cuộc sống công
cộng thường ngày mà chỉ tập trung vào việc cố
gắng đi đến nơi làm việc đúng giờ và về đến nhà
để nghỉ ngơi. Điều này tạo ra một vòng luẩn quẩn
với miếng cơm manh áo mặc dù đời sống kinh tế
đã có rất nhiều cải thiện. Nói đúng hơn, nhà cao
tầng thương mại là một loại rào cản lớn đối với
việc sử dụng các không gian công cộng đô thị,
nhất là ở nội đô: “Nhà nước cho phép xây dựng
quá nhiều nhà ở thương mại cao tầng trong nội
đô thì người dân còn đâu chỗ để đi lại, để thụ
hưởng cuộc sống. Cho nên, khi tắc đường, việc
người dân đi xe trên vỉa hè đang trở nên “bình
thường” như cơm bữa” (PVS số 12, 48 tuổi, Hà
Nội). Quan sát những hoạt động của người dân
tại các phố đi bộ quanh bờ hồ Hoàn Kiếm cho ta
thấy rằng nhu cầu sinh hoạt công cộng của người
dân là rất to lớn.
cầu xã hội đa dạng: giao thông (kể cả giao thông
tĩnh); y tế; giáo dục; văn hóa; nghệ thuật; thể
thao; thông tin; an ninh; quốc phòng; vệ sinh môi
trường,... Do cần có sự thống kê thống nhất từ
trung ương đến địa phương nên các biến số về
đất đai trong dữ liệu điều tra quốc gia cũng
không có gì thay đổi, nghĩa là việc thống kê đất
đai được thực hiện với các biến số lớn, quá giản
đơn. Điều này cũng trùng khớp với các phân tích
ở trên của tác giả Nguyễn Ngọc Hiếu về sự thiếu
hụt các không gian công cộng và một cơ chế liên
ngành đầy đủ vẫn là một thách thức lớn cho quá
trình quy hoạch, thực thi, giám sát và cải tiến thể
chế. Tuy các nhà chuyên môn đang cố gắng áp
dụng mô hình quy hoạch tích hợp*phức hợp liên
ngành nhưng chính sách được thực hiện trong
thực tiễn vẫn lấy yếu tố kinh tế, công nghiệp,
dịch vụ thương mại làm điểm xuất phát, vừa là
công cụ, vừa là đích đến: “Ở thành phố của
chúng ta, từ vài chục năm nay, việc cho phép xây
dựng nhiều tòa nhà thương mại cao tầng trong
nội đô đã tạo ra quá nhiều vấn đề xã hội mà tôi
nghĩ trong tương lai là vô phương cứu chữa:
giao thông tắc nghẽn; trường học, bệnh viện nội
đô quá tải; thiếu hụt khu vui chơi, giải trí; thiếu nhà
vệ sinh công cộng hoặc nếu có cũng vận hành
kém,… Đời sống cộng đồng và đời sống xã hội bắt
đầu kém vui, lộn xộn” (Phỏng vấn sâu (PVS) số
104, Nam, 53 tuổi, thành phố Hồ Chí Minh).
Trong thực tế ở Hà Nội, thành phố Hồ Chí
Minh và nhiều thành phố khác, rất nhiều tòa nhà
thương mại đang mọc lên như nấm trong một
khoảng thời gian ngắn, thậm chí ở cả những khu
trung tâm mà hạ tầng cơ sở phục vụ dân sinh đã
ổn định và chỉ có thể đáp ứng được nhu cầu của
một lượng dân số nhất định. Đây là điều giải
thích cho sự thiếu hụt các không gian công cộng
trong thành phố như: không gian giao thông (kể
cả giao thông tĩnh); không gian vui chơi - giải trí;
không gian vệ sinh môi trường; không gian cây
xanh, ao hồ; không gian văn hóa tâm linh,…
Chẳng hạn, ở một quận mà mật độ dân số lên đến
43.000 người/km2 - chưa kể du khách và những
người vãng lai - như quận Đống Đa, Hà Nội, thì
những công trình về vệ sinh môi trường (các nhà
vệ sinh công cộng hoặc nơi tập kết rác) hay vấn
Tương tự như vậy, trong Văn bản hợp nhất
số 01/VBHN-VPQH ngày 27/7/2015 của Văn
phòng Quốc hội về Luật Quy hoạch đô thị, tại
khoản 14, Điều 3, xác định “cảnh quan đô thị
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57
55
chung là không gian cụ thể có nhiều hướng quan
sát ở trong đô thị như không gian trước tổ hợp
kiến trúc, đường phố, hè phố, đường đi bộ, công
viên, thảm thực vật, vườn cây, vườn hoa, đồi,
núi, gò đất, đảo, cù lao, triền đất tự nhiên, dải
đất ven bờ biển, mặt hồ, mặt sông, kênh, rạch
trong đô thị và các không gian sử dụng chung
khác thuộc đô thị”. Khoản 7, Điều 5 bổ sung
thêm: “… chiếu sáng công cộng, cấp nước, thoát
nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc,…”. Rõ
ràng là cách xác định không gian công cộng như
vậy tuy rất cụ thể nhưng vì không theo chức năng
nên trong Văn bản hợp nhất này không thấy bóng
dáng của các không gian công cộng thuộc văn
hóa tâm linh của người dân như đền, chùa, miếu,
mạo, nhà thờ đạo,… hoặc các không gian về vệ
sinh môi trường chung. Trong một văn bản dưới
luật trước đó, cụ thể là Nghị định số
38/2010/NĐ-CP ngày 07/04/2010 lại có nhiều
quy định “… khuyến khích tăng diện tích cây
xanh, diện tích dành cho giao thông (bao gồm cả
giao thông tĩnh), không gian công cộng, giảm
mật độ xây dựng. Chính quyền đô thị có quy định
cụ thể mật độ xây dựng tối đa, tối thiểu về cây
xanh, đất dành cho không gian công cộng theo
quy chuẩn, tiêu chuẩn hiện hành,…” (Khoản 1,
Điều 9) [8]. Tuy có nhiều tiến bộ, nhưng sự quan
tâm của Nhà nước về không gian công cộng cũng
chỉ dừng lại ở khái niệm “khuyến khích”,
có nghĩa là không hề có sự ràng buộc. Vả lại,
văn bản này liệu phát huy giá trị của nó như thế
nào khi mà nó ra đời trước các văn bản luật khác
cao hơn?
không gian công cộng. Từ đó, các dịch vụ công
cộng như dịch vụ y tế, dịch vụ giáo dục, dịch vụ
vệ sinh môi trường,… cũng gặp rất nhiều rào cản
từ chính sách như việc dành đất cho chúng thì
hầu như không được bàn đến một cách cụ thể.
Hoặc nếu có, thì những không gian đó thường
gắn với những khu nhà ở thương mại rất đắt tiền,
điều này tạo ra sự phân hóa xã hội trong việc
tham gia và thụ hưởng không gian công cộng.
Nói cách khác, chỉ có những gia đình giàu có,
khá giả thì mới được sử dụng các không gian đã
được tư nhân hóa đó. Từ trong văn bản đến thực
tiễn, sự ưu tiên chức năng kinh tế, công nghiệp
và dịch vụ thương mại của nguồn lực đất đai đã
làm cho đời sống công cộng ngày càng trở nên
nghèo nàn, thậm chí căng thẳng do sự suy giảm
của chính các không gian công cộng.
Một điều đáng bàn thêm là hầu hết các
nguyên cứu hiện nay ở nước ngoài cũng như ở
nước ta về không gian công cộng đều lập tức liên
quan đến “đô thị”. Nói cách khác, khái niệm
“không gian công cộng nông thôn” rất ít được đề
cập đến hoặc đúng hơn chúng được bàn đến
nhiều hơn trong các nghiên cứu về văn hóa làng
quê trước đây, ví dụ như sinh hoạt văn hóa ở đình
làng. Điều này có thể lý giải được đối với các
nước phát triển khi mà khoảng trên 95% dân số
của họ sống ổn định ở đô thị. Trong khi đó, ở
nước ta, dân số nông thôn vẫn chiếm trên 60%
[9] và nhu cầu xã hội về những không gian công
cộng, tức là những dịch vụ công ở khu vực này
là rất lớn. Trong bối cảnh đó, việc có quá ít
nghiên cứu ở nước ta hiện nay về “không gian
công cộng nông thôn” là một điều đáng tiếc.
Như vậy, sự phát triển các không gian công
cộng đô thị dưới hai chiều cạnh là xây dựng công
trình công cộng và phát triển cảnh quan môi
trường đã được đề cập đến nhiều hơn trong văn
bản dưới luật. Còn ở trong các luật hoặc nghị
quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chỉ có
một vài khoản quy định việc bảo vệ và duy trì
các không gian công cộng đang hiện hữu. Khái
niệm “phát triển không gian công cộng mới”
dường như không có mặt ở các văn bản pháp luật
này. Trong thực tế, việc xây dựng quá nhiều nhà
ở thương mại cao tầng ở đô thị, nhất là ở nội đô,
đã gây áp lực rất lớn đối với năng lực thỏa mãn
nhu cầu của người dân khi tham gia và thụ hưởng
Tuy nhiên, dưới một góc nhìn tích cực hơn
về mặt chính sách, thì Chương trình mục tiêu
quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016
- 2020 ban hành theo Quyết định số 1600/QĐ-
TTg ngày 16/08/2016 của Thủ tướng Chính phủ
[10] là một văn bản đã cụ thể hóa Nghị quyết số
26/NQ-TW ngày 5/8/2008 của BCHTW Đảng
khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn
[11] và Nghị quyết số 13/NQ-TW của BCHTW
Đảng khóa XI ngày 16/1/2012 về xây dựng kết
cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản
trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại
vào năm 2020 [12]. Tuy đến nay, nước ta chưa
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57
56
trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện
vui hơn. Điều này sẽ góp phần giảm thiểu lao
động di cư tự do theo chiều nông thôn - đô thị
khi mà cuộc sống cộng đồng ở nông thôn ngày
một khá hơn nhờ sự tham gia, sử dụng và thụ
hưởng các giá trị của không gian công cộng [13].
đại như trong kỳ vọng của Nghị quyết, nhưng
nhiều tiêu chí cụ thể về xây dựng nông thôn mới,
trong đó có các tiêu chí liên quan đến không gian
công cộng đã được xây dựng và đã thực hiện
được, cụ thể như: 55% số xã đạt tiêu chuẩn số 2
về giao thông nông thôn; 80% số xã đạt chuẩn
tiêu chí số 5 về cơ sở vật chất trường học từ mầm
non đến hết trung học phổ thông; 80% số xã có
trung tâm văn hóa - thể thao cấp xã; 70% số thôn
có nhà văn hóa - khu thể thao; có 75% số xã đạt
chuẩn tiêu chí số 16 về văn hóa; có 70% số xã
đạt chuẩn tiêu chí số 7 về cơ sở hạ tầng thương
mại nông thôn, tức là các khu vực chợ dân sinh
công cộng; 100% trường học (điểm chính) và
trạm y tế xã có công trình cấp nước và nhà tiêu
hợp vệ sinh; có 70% số xã đạt chuẩn tiêu chí số
15 về y tế, có cơ sở y tế đạt chuẩn như nội dung
15,… (Hội Nông dân Việt Nam, Hội nghị tổng
kết 10 năm xây dựng nông thôn mới 2010 - 2020
ngày 20/10/2019 tại Nam Định) [13].
4. Kết luận
Trong quá khứ cho đến những năm 1990,
không gian công cộng ở các thành phố lớn của
nước ta (Hà Nội và Sài Gòn – thành phố Hồ Chí
Minh) là những điểm sáng về đời sống công cộng
khi mà vấn đề đô thị hóa chưa trở nên gay gắt
như hiện nay. Ngoài công việc, trong đời sống
xã hội hay đời sống công cộng, mặc dù nghèo về
kinh tế, nhưng người dân vẫn có quyền tiếp cận
và thụ hưởng không gian công cộng khá phong
phú. Dựa vào logic tích hợp*phức hợp liên
ngành, căn cứ vào xu hướng biến động dân số và
nhu cầu về các dịch vụ xã hội công cộng nên Hà
Nội và Sài Gòn xưa đã tạo ra được những điểm
nhấn về quy hoạch đô thị thông thông qua quy
hoạch không gian công cộng.
Như vậy, hầu hết các loại không gian công
cộng ở nông thôn đã được quan tâm từ cấp cao
nhất là Ban Chấp hành Trung ương Đảng cho
đến Chính phủ, từng ngành và từng lĩnh vực khá
cụ thể nhờ việc thể chế hóa các tiêu chuẩn và tiêu
chí trong văn bản chính sách. Từ tư tưởng và
quan điểm của Đảng, một số chính sách của Nhà
nước đã góp phần xây dựng khá đồng bộ kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội chung, đã tạo ra một môi
trường sinh thái nông thôn giàu hơn, đẹp hơn và
đáng sống hơn. Trong đó, nhu cầu về không gian
công cộng theo từng lĩnh vực đã được xem xét
và đang từng bước được đáp ứng, cụ thể như:
nhu cầu về dịch vụ giao thông công cộng; nhu
cầu về dịch vụ giáo dục công; nhu cầu về dịch vụ
y tế công; nhu cầu về dịch vụ vui chơi, giải trí,
tâm linh, thể dục, thể thao; nhu cầu về dịch vụ vệ
sinh môi trường,…
Tuy nhiên, từ khi vấn đề đô thị hóa trở nên
gay gắt hơn, đối với các thành phố đặc biệt hoặc
các thành phố loại I, không gian công cộng đô
thị ngày càng bị thu hẹp do quá nhấn mạnh đến
yếu tố kinh tế, công nghiệp và dịch vụ thương
mại: quá trình xây dựng nhà ở thương mại ở nội
đô đã làm cho không gian công cộng chẳng
những không được mở rộng mà còn bị thu hẹp.
Nếu có những không gian công cộng mới thì
chúng cũng tạo ra sự phân hóa xã hội trong sự
thụ hưởng của người dân, bởi lẽ bản chất của
chúng thường là những không gian bán công
cộng (chúng đã được tư nhân hóa và chỉ những
người giàu có mới có quyền được thụ hưởng).
Trong tư tưởng và chính sách quy hoạch
không gian công cộng, Đảng và Nhà nước ta đã
quan tâm nhiều hơn đến cơ hội tiếp cận và thụ
hưởng đời sống công cộng, tuy rằng, các văn bản
thể hiện chủ trương và chính sách quy hoạch
không gian công cộng chưa thực sự thống nhất,
đồng thời mới chỉ dừng lại ở mức độ “khuyến
khích phát triển không gian công cộng”. Do vậy,
vị thế của không gian công cộng hiện nay cả ở
Vị thế của các không gian công cộng ở nông
thôn đã được thể chế hóa trong các văn bản chính
sách và cụ thể hóa trong các tiêu chuẩn và tiêu
chí xây dựng nông thôn mới. Đây là một kết quả
quan trọng thể hiện sự quan tâm của Đảng và
Nhà nước đối với phúc lợi công cộng mà người
dân có quyền được thụ hưởng. Đời sống công
cộng ở nông thôn đã có nhiều thuận lợi hơn và
T. V. Tung / VNU Journal of Science: Policy and Management Studies, Vol. 37, No. 4 (2021) 47-57
57
Architecture Journal, August 15th 2018
(in Vietnamese).
nông thôn và đô thị vẫn còn bấp bênh mặc dù đã
có những kết quả khá tích cực qua việc thực hiện
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2010 - 2020. Trong điều
kiện đô thị hóa mạnh mẽ như hiện nay, việc hoàn
thiện thể chế chính sách về quy hoạch không
gian công cộng trên phạm vi quốc gia dựa theo
xu hướng biến đổi dân số và biến đổi các nhu cầu
về dịch vụ xã hội và dựa theo nguyên tắc thống
nhất tích hợp*phức hợp liên ngành là một điều
hết sức cần thiết. Như vậy, “logic xã hội” và
logic tích hợp liên ngành cần có tính chất quyết
định đối với logic kỹ thuật - bản vẽ đất đai.
[6] Hanoi Statistical Department, Hanoi Statistical
Yearbook 2016, Publishing House of Statistics
Hanoi, 2017 (in Vietnamese).
[7] National
Assembly
Standing
Committee,
Resolution No. 1210/2016/UBTVQH on Urban
Classification, June 25th 2016 (in Vietnamese).
[8] Government of the Socialist Republic of Vietnam,
Decree No. 38/2010/ND-CP on Management of
Space, Architecture, Urban Landscape, April 7th,
2010 (in Vietnamese).
[9] General Statistics Department, Results of The
Entire Population and Housing Census 2019,
Publishing House of Statistics, Hanoi, 2020
(in Vietnamese).
Tài liệu tham khảo
[10] Prime Minister of the Socialist Republic of
[1] N. N. Hieu, Planning Law: From Unifying
Understanding to Adjusting Institutions and
Implementation Capacity, Vietnam Architecture
Journal, 2017, https://kientrucvietnam.org.vn/tich-
che-nang-luc-thuc-hien/ (accessed on: December
1st , 2020) (in Vietnamese).
[2] A. Cunningham, The French in Tonkin and South
China (2nd Edition), Chapters "Hai Phong", pp. 46-
62 and “Hanoi”, pp. 63-89, revised, Hongkong:
The Office of The “Hongkong Daily Press” and
London: Sampson Low, Marston & Co, St.
Dunstan's House, Fetter Lane, 1902.
[3] National Assembly of the Socialist Republic of
Vietnam, Law on Planning No. 21/2017/QH14,
November 24th, 2017 (in Vietnamese).
[4] National Assembly of the Socialist Republic
of Vietnam, Law on Higher Education No.
08/2012/QH13, June 18th 2012 (in Vietnamese).
Vietnam,
Decision
No.
1600/QĐ-TTg
Promulgating the National Target Program on
Building New Rural Areas for the Period 2016-
2020, August 16th, 2016 (in Vietnamese).
[11] Communist Party of Vietnam, Resolution No. 26-
NQ/TW of the 10th Party Central Committee on
Agriculture, Farmers and Rural Areas, August 5th
2008 (in Vietnamese).
[12] Communist Party of Vietnam, Resolution No. 13-
NQ/TW of the 11th Party Central Committee on
Building Synchronous Infrastructure in Order to
Basically Turn our Country into a Modern
Industrialized Country By 2020, January 16th 2012
(in Vietnamese).
[13] Vietnam Farmers' Association, Report N0 121-
BC/HNDTW Summarizing 10 Years of the
Vietnam Farmers' Union Implementing the
National Target Program on Building New Rural
Areas for the Period 2010-2020, October 14th, 2019
(in Vietnamese).
[5] N. V. Huy, N. H. V. Hien, The Current State of
Public Art and Public Space in Vietnam, Vietnam
Bạn đang xem tài liệu "Tư tưởng và chính sách của Nhà nước Việt Nam về không gian công cộng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
tu_tuong_va_chinh_sach_cua_nha_nuoc_viet_nam_ve_khong_gian_c.pdf

