Lao động phi chính thức ở Hải Phòng và một số hàm ý đối với công tác quản lý

LAO ĐỘNG PHI CHÍNH THỨC Ở HẢI PHÒNG  
VÀ MỘT SỐ HÀM Ý ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ  
Nguyễn Thị Tuyết Mai  
Khoa Kế toán - Tài chính  
Ngày nhận bài: 29/12/2020  
Ngày PB đánh giá: 03/02/2021  
Ngày duyệt đăng: 12/02/2021  
TÓM TẮT: Lao động phi chính thức tại Hải Phòng chiếm 23% trong tổng số lao động của thành phố.  
Lực lượng lao động này có trình độ thấp, không được đào tạo bài bản, quyền lợi chứ được đảm bảo  
trong thời gian vừa qua. Bài viết nghiên đưa ra nhưng nghiên cứu cụ thể về quy mô, trình độ, công tác  
đào tạo cũng như những quyền lợi thực tế của lao động phi chính thức tại Hải Phòng; trên cơ sở đó đưa  
ra những hàm ý đối với công tác quản lý với lực lượng lao động này, tái tạo” [4, tr. 741].  
Từ khóa: Kinh tế phi chính thức, lao động phi chính thức, Hải Phòng, Quyền lợi lao động  
THE INFORMAL EMPLOYMENT IN HAI PHONG  
AND SOME IMPLICATIONS FOR MANAGEMENT  
ABSTRACT: The informal employment in Hai Phong accounts for 23% of the total workforce of the  
city. This workforce is low-qualified, has not been properly trained, and has benefits that are guaranteed  
in recent times. The research paper offers specific studies on the size, qualifications, training as well as  
the practical benefits of informal workers in Hai Phong; on that basis, give implications for management  
with this workforce.  
Key words: Informal Economy, Informal Employment, Hai Phong, Rights of employees  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
bảo quyền lợi cho lực lượng lao động phi  
chính thức là cần thiết.  
Tại Việt Nam nói chung và tại Hải  
Phòng nói riêng, lao động phi chính thức  
chiếm tỷ lệ tương đối cao, góp phần quan  
trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, lực  
lượng lao động này chưa được quan sát  
một cách chính thức và công nhận vai  
trò của họ trong nền kinh tế, đang bị «bỏ  
quên» trong nhiều chính sách công, ít nhận  
được sự bảo vệ của công đoàn và pháp  
luật. Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng về  
lao động phi chính thức tại Hải Phòng và  
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU  
2.1. Khái quát về kinh tế phi chính thức  
và lao động phi chính thức  
2.1.1. Khái niệm kinh tế phi chính thức  
“Kinh tế phi chính thức” được sử dụng  
để mô tả một khu vực kinh tế truyền thống  
ở các nước đang phát triển. Kinh tế phi  
chính thức là một bộ phận quan trọng trong  
nền kinh tế của mỗi quốc gia, nhưng tên  
đề xuất một số giải pháp nhằm hỗ trợ, đảm gọi và khái niệm về nó chưa thống nhất và  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
52  
chưa được biết đến rộng rãi. Đôi khi người quy định hoặc bảo vệ chính thức.  
ta gọi kinh tế phi chính thức với các tên gọi  
2.1.2. Lao động phi chính thức  
khác như: kinh tế phi chính quy, kinh tế  
không chính thức, kinh tế chưa được quan  
công việc phi chính thức, bất kể công việc  
sát... Kinh tế phi chính thức bao gồm khu  
vực kinh tế phi chính thức và lao động phi  
Việc làm phi chính thức là tất cả các  
ấy thuộc khu vực phi chính thức (KVPCT)  
hay khu vực chính thức; tuy nhiên, trong  
chính thức.  
điều kiện việc làm chính thức trong  
Kinh tế phi chính thức (KTPCT) tồn  
KVPCT không đáng kể thì có thể coi như  
tại một cách khách quan trong nền kinh tế  
việc làm phi chính thức bao gồm việc làm  
thị trường. Bởi nhiều lý do khác nhau, các  
trong KVPCT và việc làm phi chính thức  
thành viên KTPCT (những cá nhân, nhóm  
nằm ngoài KVPCT.  
người, hộ gia đình tham gia kinh doanh  
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO),  
việc làm trong kinh tế phi chính thức bao  
gồm tất cả những công việc trong các doanh  
nghiệp hoạt động trong KVPCT, hoặc bao  
gồm tất cả các cá thể, trong một khoảng  
thời gian nghiên cứu nhất định, được thuê  
làm trong ít nhất là một doanh nhiệp hoạt  
hoặc làm việc phi chính thức) chưa hoặc  
không muốn chính thức hoá hoạt động của  
họ bằng việc đăng ký kinh doanh theo các  
quy định của pháp luật. Yếu tố quan trọng  
nhất có lẽ là lợi ích mang lại cho họ dễ  
hơn việc đăng ký hoạt động chính thức.  
Thành viên KTPCT có quy mô nhỏ, kết  
cấu lỏng nhưng rất linh hoạt. Họ sẵn sàng động trong KVPCT, bất kể là loại công  
hoạt động và khá hiệu quả ở những lĩnh  
vực mà kinh tế chính thức không thể hoặc  
không muốn tham gia [1]. Tuy nhiên, vì  
hoạt động kinh tế không chính thức, nên  
thành viên KTPCT luôn tìm cách bỏ qua  
các các quy định của pháp luật, né tránh sự  
quản lý chính thức của các cơ quan quản lý  
nhà nước. Điều này dẫn tới sự manh mún,  
khó phát triển tới quy mô lớn hơn.  
việc của họ là gì và liệu đó có phải là công  
việc chính hoặc công việc phụ của họ hay  
không [4]. Theo đó, lao động phi chính  
thức thức bao gồm các nhóm sau:  
- Lao động tự làm trong các đơn vị  
SXKD của chính họ thuộc khu vực KTPCT;  
- Người chủ làm việc trong các đơn  
vị SXKD của chính họ thuộc khu vực  
KTPCT;  
Tóm lại, Khu vực phi chính thức là  
tập hợp các cơ sở kinh doanh (phi nông,  
lâm nghiệp và thủy sản) có quy mô nhỏ,  
không ĐKKD (do không thuộc đối tượng  
pháp luật quy định phải đăng ký), sản xuất  
ra sản phẩm vật chất và dịch vụ với mục  
tiêu chủ yếu nhằm tạo ra công ăn việc làm  
và thu nhập cho những người có liên quan.  
Công việc và người lao động trong các cơ  
- Lao động gia đình, không kể họ làm  
việc trong đơn vị SXKD thuộc khu vực  
kinh tế chính thức hay khu vực KTPCT;  
- Thành viên của hợp tác xã thuộc khu  
vực KTPCT;  
- Lao động làm thuê công việc phi  
chính thức trong các đơn vị SXKD chính  
thức, đơn vị SXKD thuộc khu vực KTPCT,  
sở kinh doanh này không được nhà nước hay lao động làm thuê công việc gia đình  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 46, tháng 5 năm 2021  
53  
đào tạo đối với lao động phi chính thức  
trong các hộ gia đình;  
- Người tự tham gia vào quá trình sản  
xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ dùng  
trong các hộ gia đình;  
- Quy mô lao động phi chính thức  
(LĐPCT)  
Cho đến nay, tại Hải Phòng chưa có  
nghiên cứu chính thức nào đánh giá được  
quy mô lao động tại khu vực KTPCT,  
nhưng nếu nhìn vào cơ cấu lao động có thể  
thấy, quy mô lao động trong khu vực này  
là không nhỏ. Bảng1 cho thấy, trong tổng  
số 641.732 người có việc làm năm 2019  
thuộc các loại hình kinh tế, hành chính, có  
đến 23% không thuộc nhóm lao động tại  
khu vực doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc các  
đơn vị hành chính sự nghiệp[6]. Như vậy  
khoảng 23% lao động trên thị trường hiện  
nay đang hoạt động tại các khu vực kinh tế  
ngoài doanh nghiệp dưới dạng hộ cá thể có  
- Người tự làm tham gia vào quá trình  
sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ  
dùng cho nhu cầu tự tiêu dùng của chính  
hộ gia đình họ.  
Như vậy, lao động phi chính thức là  
những người thực hiện các việc làm phi  
chính thức trong cả khu vực kinh tế chính  
thức và phi chính thức. Tuy nhiên, trong  
phạm vi bài viết này, tác giả sẽ chỉ đề cập  
đến lao động phi chính thức tại khu vực  
kinh tế phi chính thức.  
2.2. Thực trạng lao động phi chính  
thức tại Hải Phòng  
2.2.2. Quy mô, trình độ và công tác ĐKKD hoặc các hoạt động KTPCT.  
Bảng 1. Số lượng lao động trong các đơn vị kinh tế,  
hành chính, sự nghiệp tại Hải Phòng 2019  
Đơn vị: Người  
Loại hình  
Cơ sở SXKD cá  
thể phi nông,  
lâm nghiệp và  
thủy sản  
Đơn vị  
hành chính,  
sự nghiệp  
Ngành kinh tế  
Tổng số  
Doanh Hợp tác  
nghiệp  
641.732 425.145  
3.063 1.885  
xã  
Tổng số  
4.113  
146.083  
66.391  
Nông nghiệp, lâm nghiệp  
và thuỷ sản  
906  
1.891  
1.316  
-
30.695  
248  
32  
Công nghiệp, xây dựng  
Dịch vụ  
319.117 291.695  
319.552 131.565  
115.388  
66.111  
(Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng 2019)  
Xét về giới tính, trong tổng số 118.125 cơ cấu lao động tại khu vực chính thức tại  
lao động thuộc KVPCT tại Hải Phòng, nữ Hải Phòng đều có tỷ lệ lao động nam giới  
giới có việc làm PCT đông hơn nam giới, cao hơn. Đây cũng là đặc điểm phù hợp với  
chiếm 54% trong tổng số LĐPCT. Điều những ngành nghề chủ yếu của LĐPCT tại  
này có chút khác biệt khi so sánh với cơ Hải Phòng như hoạt động lưu trú – ăn uống,  
cấu lao động tại KVPCT trên toàn quốc hay giúp việc gia đình, thương mại…  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
54  
Bảng 2. Cơ cấu lao động trong các cơ sở SXKD phi chính thức  
tại Hải Phòng theo loại lao động và giới tính năm 2019  
Loại lao động  
Giới tính  
Cơ cấu lao động  
Tổng  
Lao động  
Lao động không  
phải trả công  
Nam  
Nữ  
ngoài  
18.900  
16  
Số lượng (người)  
Tỷ trọng (%)  
118.125  
99.225  
54.338  
63.787  
100  
84  
46  
54  
(Nguồn: Kết quả khảo sát và tính toán tác giả và cộng sự năm 2019)  
Khi xem xét đến cơ cấu loại lao động có phần chính trong hoạt động tự sản xuất,  
thể thấy, lao động thuộc nhóm “tự làm” hoặc tự tiêu của hộ gia đình hoặc theo các hoạt  
“lao động gia đình” chiếm tỷ trọng tương đối động PCT. Nhóm lao động làm thuê chiếm  
cao. Cụ thể, chiếm tỷ trọng cao nhất là nhóm gần 16% số lao động. Nhìn chung, lao động  
lao động không phải trả công, trả lương, thuộc nhóm tự làm và hộ gia đình là những  
chiếm 84% cơ cấu lao động, đây là thành chủ thể tiềm năng của khu vực KTPCT.  
100%  
80%  
60%  
40%  
20%  
0%  
48.010%  
51.990%  
49.110%  
54.000%  
46.000%  
50.890%  
Tổng số  
Khu vực phi chính Khu vực chính  
thức  
thức  
Nữ Nam  
Hình 1. Cơ cấu lao động theo giới tính giữa các  
khu vực kinh tế tại Hải Phòng  
(Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng và khảo sát tác giả và cộng sự năm 2019)  
- Trình độ lao động phi chính thức  
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê,  
lao động của khu vực KTPCT hiện nay ở  
Việt Nam, khoảng trên 18 triệu người [4].  
Những ngành có tỷ lệ LĐPCT cao là: Làm  
thuê trong các hộ gia đình, xây dựng, dịch  
vụ lưu trú và ăn uống, kinh doanh thương  
mại. Tại Hải Phòng, sự phân bố của LĐPCT  
cũng theo xu hướng chung này.  
Theo kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh  
tế, hành chính, sự nghiệp tại Hải Phòng, cơ  
cấu lao động theo trình độ tại Hải Phòng  
có sự khác biệt rõ nét giữa các loại hình  
kinh tế. Lao động tại các đơn vị kinh tế  
tại Hải phòng có tỷ lệ chưa qua đào tạo  
24% thì tỷ lệ ấy tại các doanh nghiệp - đại  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 46, tháng 5 năm 2021  
55  
diện cho khu vực chính thức là 18,11%, có tỷ lệ từ 10 – 15% lao động có trình độ  
tại các cơ sở kinh doanh cá thể (trong đó khác. Đây là những người tuy chưa được  
có các cơ sở KDPCT chiếm 78%) là 55%. đào tạo, nhưng lại được tự học nghề hoặc  
Tuy nhiên, có điểm khá tương đồng giữa được truyền nghề nên có tay nghề, có thể  
lao động của các loại hình kinh tế là đều làm việc tại các cơ sở này [6].  
4%  
Chưa qua đào tạo  
34%  
Trung cấp, cao đẳng  
62%  
Đại học, trên đại học  
Hình 2. Trình độ của lao động thuộc cơ sở KDPCT tại Hải Phòng  
(Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả và cộng sự năm 2019)  
Với lao động tại các cơ sở KDPCT, ảnh chất lượng chuyên môn, dịch vụ của  
các cơ sở KDPCT.  
nhóm chưa đào tạo CMKT có tỷ lệ cao  
nhất, tiếp đến là các nhóm đào tạo dưới 3  
tháng, sơ cấp, trung cấp chuyên nghiệp,  
cao đẳng và thấp nhất là nhóm có trình  
độ đại học trở lên (3,37%). Đặc điểm này  
chính là lý do tại sao họ lại không tìm được  
công việc phù hợp ở khu vực chính thức  
mà phải hoạt động tại KVPCT với điều  
kiện làm việc không ổn định, ít quyền lợi  
* Công tác đào tạo lao động trong khu  
vực KTPCT  
Xét về mặt logic, lao động trong khu  
vực KTPCT rất cần được đào tạo chuyên  
môn kỹ thuật bởi trình độ của họ rất thấp,  
hầu hết chưa qua đào tạo. Tuy nhiên, do  
trình độ và nhận thức của bản thân chủ cơ  
sở KDPCT cũng như khó khăn về tài chính  
nên công tác đào tạo lao động tại khu vực  
và rất bấp bênh. Nó cũng góp phần phản này không được quan tâm.  
1%  
36%  
không đào tạo  
63%  
đào tạo tại chỗ  
gửi đi đào tạo  
Hình 3. Hoạt động đào tạo tại KVPCT Hải Phòng  
(Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả và cộng sự năm 2019)  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
56  
Qua khảo sát, có đến 63% người lao  
động tại cơ sở KDPCT không được đào  
tạo, 36% được đào tạo ngay tại cơ sở và chỉ  
có gần 1% được gửi đi đào tạo một cách  
bài bản. Nguyên nhân là do các chủ cơ sở  
thấy rằng, công việc của lao động tại cơ  
sở mình khá đơn giản, chi phí kinh doanh  
thấp nên họ thấy không cần thiết phải đào  
tạo người lao động, mà không thấy được  
sự cần thiết phải nâng cao quy mô và chất  
lượng dịch vụ. Kết quả là chất lượng và  
quy mô dịch vụ của các cơ sở không được  
cải thiện.  
- Vị thế công việc  
Trong tổng số trên 118 nghìn lao động  
tại KVPCT, lao động tự làm hoặc lao động  
gia đình chiếm đến 84% [6]. Đây là nhóm  
“lao động có việc làm dễ bị tổn thương” do  
những người làm việc trong nhóm này ít có  
khả năng được bố trí công việc chính thức  
và có nhiều khả năng thiếu các yếu tố liên  
quan đến công việc bền vững như an sinh xã  
hội đầy đủ và tiếng nói trong công việc. Đặc  
biệt là đối với lao động nữ, họ làm việc trong  
các cơ sở KDPCT với công việc chủ yếu là  
làm các nghề giản đơn hay bán hàng - những  
công việc mang tính thời vụ, không ổn định  
và hầu như ít được đảm bảo các quyền lợi  
cơ bản của người lao động. Tại Hải Phòng,  
lao động nữ trong KVPCT chiếm đến 54%  
có vị thế việc làm dễ bị tổn thương. Những  
người này thường hoạt động trong những  
ngành nghề chủ yếu như hoạt động lưu trú  
– ăn uống, giúp việc gia đình, thương mại…  
2.2.2 Quyền lợi của người lao động  
Quyền lợi của người lao động thường  
được thể hiện bởi một số yếu tố cơ bản sau:  
Vị thế công việc, thời gian làm việc, tiền  
lương bình quân, hợp đồng lao động, bảo  
hiểm xã hội, cơ hội được đào tạo và thăng  
tiến, môi trường làm việc… Nhìn chung,  
người lao động trong khu vực KTPCT rất  
thiệt thòi, quyền lợi của họ gần như không  
được đảm bảo và cũng không được sự bảo  
trợ của nhà nước. Tại Hải Phòng, quyền lợi  
So sánh với cơ cấu lao động tại KVPCT  
trên toàn quốc hay cơ cấu lao động tại  
khu vực chính thức tại Hải Phòng thì lao  
động tại KVPCT có tỷ lệ lao động nữ cao  
của đội ngũ lao động này được phản ánh hơn. Điều này phản ánh mức độ dễ bị tổn  
khá rõ nét.  
thương của LĐPCT ở Hải Phòng cao hơn.  
100%  
80%  
60%  
40%  
20%  
0%  
48.010%  
54.000%  
49.110%  
51.990%  
46.000%  
50.890%  
Tổng số  
Khu vực phi chính  
Khu vực chính thức  
thức  
Nữ Nam  
Hình 4. Cơ cấu lao động theo giới tính giữa các khu vực kinh tế tại Hải Phòng  
(Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng, khảo sát tác giả và cộng sự năm 2019)  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 46, tháng 5 năm 2021  
57  
- Tiền lương bình quân  
cho lao động của khu vực này cũng khác  
biệt với khu vực chính thức. Trong khi  
lao động tại khu vực chính thức được tính  
lượng chủ yếu theo thang bảng lương thì  
tại KVPCT, lương của lao động hầu như  
không có thang bảng lương mà được tính  
theo doanh thu hoặc lợi nhuận hoặc theo  
thỏa thuận với người lao động. Hình thức  
trả lương và cách tính lương một lần nữa  
thể hiện sự bấp bênh, không ổn định trong  
Tiền lương của lao động tại các cơ sở  
KDPCT tại Hải Phòng thường được tính  
trả theo nhiều cách khác nhau, tùy theo  
từng cơ sở và tùy từng loại công việc. Theo  
số liệu khảo sát tại 830 cơ sở, có đến 30%  
lao động nhận lương cố định theo tháng  
hoặc tuần; 40% lao động nhận lương theo  
giờ; 7% khoán việc và 30% được trả bằng  
hiện vật [3]. Bên cạnh đó, cách tính lương công việc của LĐPCT.  
7,037  
triệu đồng  
7,300  
triệu đồng  
4,760  
triệu đồng  
Toàn quốc Khu vực chính Khu vực PCT  
thức Hải  
Hải Phòng  
Phòng  
Hình 5. So sánh thu nhập bình quân của lao động phi chính thức Hải Phòng và toàn quốc  
(Nguồn: Kết quả khảo sát và tổng hợp của tác giả và cộng sự năm 2019)  
Lương và các khoản phụ cấp theo lương lực lượng lao động và thu nhập của lao  
động. Có thể thấy, mức thu nhập nói trên  
của lao động phi chính thức là quá thấp, khó  
đảm bảo để họ duy trì và ổn định cuộc sống  
cho bản thân và gia đình. Mức thu nhập  
này không những thấp hơn so với lao động  
chính thức (tại các doanh nghiệp) mà thấp  
hơn so với mức thu nhập bình quân của lao  
động trên toàn quốc (7,3 triệu đồng) [4]. Và  
đây lại là vòng luẩn quẩn khiến họ không  
chuyên tâm vào công việc dẫn đến năng  
suất lao động thấp.  
của lao động trong KVPCT tại Hải Phòng  
tương đối thấp so với lao động trong khu  
vực chính thức. Thu nhập bình quân của lao  
động thuộc khu vực phi chính thức (trong  
các doanh nghiệp) tại Hải Phòng là 7,037  
triệu đồng/tháng [6]. Theo kết quả điều tra  
của nhóm nghiên cứu tại các cơ sở KDPCT,  
thu nhập bình quân của lao động tại khoảng  
4.760 triệu đồng với gần 50% lao động có  
thu nhập bình quân từ 3 đến dới 5 triệu  
đồng, 22,7% có thu nhập bình quân dưới 3  
triệu đồng và 27,6% có thu nhập bình quân  
trên 5 triệu đồng [3]. Trình độ lao động thấp  
cộng với cơ sở không có địa điểm sản xuất  
kinh doanh ổn định là những yếu tố chính  
Qua khảo sát, hầu hết lao động phi  
chính thức chỉ được nhận lương theo thỏa  
thuận mà không được thưởng (65%),  
khoảng 29% đôi khi được thưởng nhưng  
cản trở các cơ sở KDPCT không tăng được không theo quy định sẵn có nào và chỉ 6%  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
58  
được nhận thưởng thường xuyên [3]. Đây ngoài trời lại thấp hơn tiền lương của hầu  
chính là điểm quan trọng phản ánh vị thế hết nhóm lao động làm việc những địa điểm  
thấp và quyền lợi không được đảm bảo của khác và thấp hơn rất nhiều so với nhóm lao  
lao động phi chính thức.  
động chính thức có địa điểm làm việc tương  
tự. Thực trạng này nhấn mạnh tính dễ bị tổn  
thương của LĐPCT ở Việt Nam hiện nay.  
- Môi trường làm việc  
Môi trường làm việc có tác động rất  
lớn đến tâm lý và chất lượng công việc của  
người lao động. Phần lớn lao động chính  
thức có điều kiện làm việc tốt hơn LĐPCT.  
Với đặc điểm vốn đầu tư nhỏ, không đăng  
ký kinh doanh, không nhiều cơ sở KDPCT  
tại Hải Phòng có địa điểm kinh doanh cố  
đinh. Nhiều cơ sở phải kinh doanh tại các  
địa điểm như vỉa hè, lề đường, bán rong.  
Tỷ trọng lao động làm việc trong điều kiện  
không tốt như cố định ngoài trời hoặc lưu  
động của LĐPCT cao hơn rất nhiều so với  
lao động chính thức. Mặc dù làm việc trong  
điều kiện kém đảm bảo hơn, nhưng tiền  
công nhận được ở nhóm LĐPCT làm việc  
- Hợp đồng lao động  
Hợp đồng lao động là cơ sở pháp lý  
thể hiện mức độ bền vững của công việc  
mà người lao động đang làm. Các cơ sở  
KDPCT tại Hải Phòng không đăng ký kinh  
doanh, điều kiện về tài chính và trình độ  
quản lý thấp kém, nhiều trong số đó hoạt  
động không có hiệu quả. Thực tế cho  
thấy hầu hết người lao động tại các cơ sở  
KDPCT tại Hải Phòng làm việc mà không  
có hợp đồng lao động hoặc chỉ hợp đồng  
miệng. Điều này phản ánh đặc trưng về  
điều kiện làm việc trong khu vực phi chính  
thức là tình trạng bấp bênh và công việc  
ở chợ/trung tâm thương mại hay cố định không được đảm bảo ổn định.  
Không hợp đồng  
Thử việc  
12.400%  
1.400%  
Hợp đồng miệng  
63.500%  
Hợp đồng văn bản có thời hạn  
Hợp đồng văn bản không…  
17.900%  
4.800%  
Hình 6. Tình trạng hợp đồng của LĐPCT tại Hải Phòng  
(Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả và cộng sự năm 2019)  
Tại Hải Phòng, ngoài lao động là chủ hoặc không thời hạn. Nguyên nhân chính  
cơ sở KDPCT, lao động tự làm, những lao của tình trạng này có thể xuất phát từ chính  
động còn lại làm việc làm việc với những hình thức tuyển dụng lao động tại các cơ sở  
tình trạng việc làm khác nhau. Lao động KDPCT. Theo khảo sát của nhóm tác giả,  
làm việc theo hợp đồng miệng chiếm tỷ có đến trên 60% lao động được tuyển dụng  
lệ cao nhất (63,5%), không có hợp đồng làm việc nhờ vào mối quan hệ gia đình, họ  
(12,4%). Chỉ có khoảng 22,7% lao động hàng, bạn bè, rất ít lao động được tuyển  
được ký hợp đồng bằng văn bản có thời hạn dụng theo cách thức mà các cơ sở KDPCT  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 46, tháng 5 năm 2021  
59  
thường thực hiện. Hơn nữa, trình độ của nguyện. Thứ hai, khó khăn của LĐPCT  
những đối tượng này rất thấp, nhu cầu việc trong việc tiếp cận các dịch vụ BHXH do  
làm của họ cao nên dễ bị thua thiệt khi tham những rào cản về hành chính, đặc biệt là  
đối với lao động di cư và khả năng tiếp cận  
thông tin[8].  
gia lao động tại các cơ sở này.  
- Bảo hiểm xã hội  
2.3. Hàm ý đối với công tác quản lý  
Với các hình thức tuyển dụng và tình  
trạng hợp đồng như trên mà đa số lao động  
không được cơ sở KDPCT đóng bảo hiểm  
xã hội theo quy định của pháp luật. Chỉ có  
khoảng 16% cơ sở có đóng bảo hiểm cho  
toàn bộ hoặc một số lao động gồm chủ cơ  
sở và lao động gia đình, lao động có hợp  
đồng theo hình thức bảo hiểm tự nguyện  
[3]. Điều này có thể do một số chủ cơ sở  
nhận thức được việc đóng BHXH nhằm  
bảo đảm quyền lợi của bản thân cũng như  
cho những lao động có mối quan hệ thân  
thiết với chủ cơ sở.  
Để lao động phi chính thức có thể phát  
huy tốt đóng góp của mình cho xã hội, cần  
đảm bảo hơn nữa các quyền lợi của lực  
lượng này. Muốn vậy, trong thời gian tới, các  
cơ quan quản lý cần chú ý một số vấn đề sau:  
- Nghiên cứu tạo thêm việc làm và thu  
nhập cho lao động thông qua đẩy mạnh hoạt  
động liên kết phát triển kinh tế  
Với số lượng khá lớn lao động lao động  
phi chính thức, đây thực sự là một lực  
lượng to lớn và việc huy động sự tham gia  
của họ vào phát triển kinh tế địa phương có  
ý nghĩa vô cùng quan trọng. Tạo sự liên kết  
giữa các doanh nghiệp cùng ngành nghề  
với các cơ sở phi chính thức để vừa kết hợp  
trong khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,  
dịch vụ, vừa trao đổi kinh nghiệm quản lý,  
đào tạo lao động nhằm nâng cao trình độ  
kỹ thuật cho lao động phi chính thức.  
LĐPCT có nguy cơ đối mặt với rủi  
ro: ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề  
nghiệp, thất nghiệp... mà không được sự trợ  
giúp nào của nhà nước, xã hội. Ngoài vai trò  
ổn định thu nhập cho người lao động và gia  
đình họ, bảo hiểm xã hội tạo được tâm lý  
an tâm, tin tưởng. Khi đã tham gia BHXH  
góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho  
người lao động đem lại cuộc sống bình yên,  
hạnh phúc cho người lao động [2]. Vì vậy,  
mặc dù là nhóm lao động có việc làm nhưng  
họ lại đứng giữa ranh giới của sự bấp bênh  
giữa có việc làm và thất nghiệp.  
Do vậy, các cơ sở kinh doanh phi chính  
chức cần nhanh chóng tiếp cận với với  
doanh nghiệp, cam kết cung cấp dịch vụ  
có chất lượng cho các doanh nghiệp này  
với tư cách đơn vị vệ tinh. Nếu cơ sở kinh  
doanh phi chính thức đảm bảo được chất  
lượng lao động, dịch vụ như cam kết thì  
đây sẽ là nguồn đảm bảo việc làm khá ổn  
định cho lao động. Bên cạnh đó, bản thân  
các cơ sở kinh doanh phi chính thức có thể  
trực tiếp liên kết với nhau để tăng khả năng  
Đến nay, vẫn chưa nhiều LĐPCT tham  
gia BHXH tự nguyện. Những khó khăn  
trong việc mở rộng diện tham gia BHXH  
tự nguyện có nguyên nhân từ nhiều phía.  
Thứ nhất, do khả năng chi trả, thu nhập  
không ổn định và vấn đề nhận thức là cạnh tranh của mình, bù đắp cho nhau sự  
những nguyên nhân chính dẫn đến LĐPCT thiếu hụt về vốn, về kinh nghiệm quản lý,  
không tham gia chương trình BHXH tự về lao động, địa điểm kinh doanh … để có  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
60  
thêm nhiều cơ hội kinh doanh, tạo nhiều họ để yên tâm gắn bó với nơi làm việc, nâng  
cao năng suất lao động, như vậy sẽ giữ chân  
được những lao động có chất lượng. Các  
biện pháp cụ thể có thể thực hiện gồm thực  
hiện ký kết hợp đồng lao động với người  
lao động; Xây dựng chính sách lương công  
bằng, phù hợp với cống hiến của người lao  
động; Thực hiện đóng bảo hiểm hoặc hỗ trợ  
lao động mua bảo hiểm xã hội tự nguyện;  
Thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn  
lao động, bệnh nghề nghiệp trong khu vực  
phi chính thức  
việc làm cho lao động của mình.  
- Tăng cường thu hút, bổ sung hoặc giữ  
chân lao động có trình độ hay đã qua đào tạo  
nhằm nâng cao chất lượng lao động tại các  
cơ sở kinh doanh phi chính thức.  
Thứ nhất, tuyển dụng thêm những lao  
động có trình độ hoặc đã được đào tạo  
chuyên môn.  
Chủ các cơ sở kinh doanh phi chính thức  
cần nhanh chóng tìm hiểu, thu thập thông  
tin tại các doanh nghiệp hoặc bảo hiểm xã  
hội để có thể tiếp cận với những lao động  
có trình độ chuyên môn, kỹ thuật (vừa nghỉ  
việc) phù hợp với đơn vị mình. Từ đó có  
thể thu hút, tuyển dụng thêm lao động theo  
nhu cầu của cơ sở mình. Thực hiện được  
điều này, các cơ sở KDPCT đã góp phần  
giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao  
động, chất lượng lao động tại cơ sở tăng lên,  
trong khi cơ sở không phải bỏ thêm chi phí  
và thời gian đào tạo cho lao động.  
- Tăng cường công tác đào tạo, nâng  
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho  
lao động tại các cơ sở kinh doanh phi  
chính thức.  
Để tăng năng suất lao động, tăng khả  
năng cạnh tranh của khu vực phi chính thức  
và lao động thuộc khu vực này, bên cạnh  
môi trường chính sách và các yếu tố vật  
chất khác, chất lượng nguồn nhân lực phải  
được coi là yếu tố quyết định. Do những hạn  
chế về năng lực, kiến thức, cũng như khả  
năng về tài chính của lao động phi chính  
thức, cần thiết phải xây dựng các chương  
trình, phương pháp đào tạo phù hợp với  
từng đối tượng lao động cụ thể, bảo đảm  
tính thực tế, dễ tiếp cận, ít tốn kém, gắn  
Thứ hai, thực hiện các biện pháp đảm  
bảo quyền lợi cho người lao động nhằm  
giữ chân hoặc thu hút những lao động có  
trình độ, có chuyên môn.  
Với người lao động nói chung, lao động  
trong các cở sở KDPCT nói riêng, các vấn đào tạo với việc làm và lập nghiệp. Bên  
cạnh đó, chủ cơ sở KDPCT cũng cần được  
bồi dưỡng kiến thức về quản lý, quản trị  
kinh doanh, trình độ chuyên môn … để có  
tầm nhìn về nhân sự như thu hút và duy trì  
đội ngũ lao động lành nghề một cách hiệu  
quả, có thể chủ động lập kế hoạch sản xuất  
kinh doanh, điều hành cơ sở kinh doanh  
của mình linh hoạt, hiệu quả hơn.  
đề như công việc, địa điểm làm việc, mức  
lương và các khoản bổ sung khác; chế độ  
nâng lương; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ  
ngơi… là những vấn đề mà mọi lao động  
đều quan tâm khi bắt đầu một công việc. Vì  
vậy, để có thể giữ chân được người lao động  
cũ, thu hút lao động mới, cơ sở KDPCT nên  
bảo đảm cả 2 yếu tố vật chất và tinh thần cho  
người lao động. Chủ cơ sở kinh doanh cần  
chủ động cải thiện tốt mối quan hệ với người  
Thứ tư, các cơ sở đào tạo nghề cần  
nghiên cứu điều chỉnh các chương trình  
lao động, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đào tạo nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của  
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 46, tháng 5 năm 2021  
61  
các cở sở KDPCT.  
phố. Với những đặc trưng cơ bản của lao  
động phi chính thức tại Hải Phòng như đã  
đề cập ở trên: quy mô lao động lớn, trình  
độ chuyên môn kỹ thuật thấp, không được  
chú ý đào tạo, quyền lợi lao động không  
dượ đảm bảo, thu nhập bấp bênh …, có thể  
thấy rằng, sự quan tâm của các cấp quản lý  
nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho lực  
lượng lao động này là hoạt động vô cùng  
cần thiết, góp phần tạo sự công bằng, tạo  
động lực cống hiến nhiều hơn cho xã hội  
của lao động phi chính thức.  
Do những hạn chế về năng lực, kiến  
thức, cũng như khả năng về tài chính của  
lao động phi chính thức, cần thiết phải xây  
dựng các chương trình, phương pháp đào  
tạo phù hợp với từng đối tượng lao động  
cụ thể, bảo đảm tính thực tế, dễ tiếp cận,  
ít tốn kém, gắn đào tạo với việc làm và  
lập nghiệp. Các chương trình đào tạo phải  
được thiết kế mang tính thực hành cao, phù  
hợp với trình độ còn hạn chế của người lao  
động trong các cơ sở KDPCT. Đồng thời,  
cần chú trọng nâng cao chất lượng đào  
tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các  
tổ chức cung ứng dịch vụ đào tạo, thông  
qua việc nâng chất lượng giảng viên, chất  
lượng bài giảng, phương pháp giảng dạy,  
cơ sở vật chất…  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Văn Đoàn, Lê Văn Dụy (2017), ‘Đo  
lường khu vực kinh tế chưa quan sát được: Khuyến  
nghị quốc tế và đề xuất ứng dụng ở Việt Nam’,  
Thông tin Khoa học Thống kê, Số 4, pp. 15-51.  
2. Mai Thị Hương Giang (2019), ‘Vấn đề an  
sinh xã hội đối với lao động phi chính thức ở nước  
ta’, Tạp chí Cộng sản, https://tapchicongsan.org.  
vn/en/nghien-cu/-/2018/810403/ve-an-sinh-xa-hoi-  
doi-voi-lao-dong-khu-vuc-kinh-te-phi-chinh-thuc-  
o-nuoc-ta.aspx  
Thứ sáu, các cơ quan quản lý cần  
từng bước “chính thức hóa” việc làm phi  
chính thức sẽ bảo vệ quyền lợi cho người  
lao động.  
4. Tổng cục Thống kê và ILO (2017), Báo cáo  
lao động phi chính thức 2016, Nhà xuất bản Hồng  
Đức, Hà Nội.  
Để khắc phục sự yếu thế và giảm tính  
dễ bị tổn thương đối với lao động phi chính  
thức, cần hỗ trợ những lao động đủ điều  
kiện, đáp ứng được yêu cầu của các doanh  
nghiệp được “chính thức hóa” việc làm  
tại các doanh nghiệp hoặc hỗ trợ các cơ  
sở kinh doanh phi chính thức chuyển dần  
sang đăng ký kinh doanh một cách chính  
thức. Điều này vừa giúp đảm bảo quyền  
lợi cho người lao động, vừa tạo cơ hội tăng  
đầu tư, mở rộng tốt hơn cơ hội tiếp cận tín  
dụng của các cơ sở kinh doanh.  
5. Cục Thống kê Hải Phòng (2019), Niên  
giám thống kê Hải Phòng năm 2018, Nhà xuất bản  
Thống kê.  
6. Cục Thống kê Hải Phòng (2020), Niên  
giám thống kê Hải Phòng năm 2019, Nhà xuất bản  
Thống kê.  
7. Châu Giang (2017), ‘Nghiên cứu “phủ sóng”  
chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho lao động phi  
phu-song-chinh-sach-bao-hiem-that-nghiep-cho-  
lao-dong-phi-chinh-thuc-67389.htm  
3. KẾT LUẬN  
8. PV (2017), ‘Cần có cơ chế khuyến khích  
và hỗ trợ lao động phi chính thức tham gia BHXH  
tự nguyện’, Bảo hiểm xã hội Đồng Nai, https://  
bhxhdongnai.gov.vn/thoi-su-xa-hoi/can-co-co-che-  
khuyen-khich-va-ho-tro-lao-dong-phi-chinh-thuc-  
tham-gia-bhxh-tu-nguyen-328.html  
Như vậy có thể thấy rằng, quy mô lao  
động phi chính thức tại Hải Phòng trong  
những năm gần đây là khá lớn, chiếm tỷ lệ  
khoảng 23% trong tổng lao động của thành  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG  
62  
pdf 11 trang baolam 24460 Free
Bạn đang xem tài liệu "Lao động phi chính thức ở Hải Phòng và một số hàm ý đối với công tác quản lý", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdflao_dong_phi_chinh_thuc_o_hai_phong_va_mot_so_ham_y_doi_voi.pdf