Lao động phi chính thức ở Hải Phòng và một số hàm ý đối với công tác quản lý
LAO ĐỘNG PHI CHÍNH THỨC Ở HẢI PHÒNG
VÀ MỘT SỐ HÀM Ý ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ
Nguyễn Thị Tuyết Mai
Khoa Kế toán - Tài chính
Email: [email protected]
Ngày nhận bài: 29/12/2020
Ngày PB đánh giá: 03/02/2021
Ngày duyệt đăng: 12/02/2021
TÓM TẮT: Lao động phi chính thức tại Hải Phòng chiếm 23% trong tổng số lao động của thành phố.
Lực lượng lao động này có trình độ thấp, không được đào tạo bài bản, quyền lợi chứ được đảm bảo
trong thời gian vừa qua. Bài viết nghiên đưa ra nhưng nghiên cứu cụ thể về quy mô, trình độ, công tác
đào tạo cũng như những quyền lợi thực tế của lao động phi chính thức tại Hải Phòng; trên cơ sở đó đưa
ra những hàm ý đối với công tác quản lý với lực lượng lao động này, tái tạo” [4, tr. 741].
Từ khóa: Kinh tế phi chính thức, lao động phi chính thức, Hải Phòng, Quyền lợi lao động
THE INFORMAL EMPLOYMENT IN HAI PHONG
AND SOME IMPLICATIONS FOR MANAGEMENT
ABSTRACT: The informal employment in Hai Phong accounts for 23% of the total workforce of the
city. This workforce is low-qualified, has not been properly trained, and has benefits that are guaranteed
in recent times. The research paper offers specific studies on the size, qualifications, training as well as
the practical benefits of informal workers in Hai Phong; on that basis, give implications for management
with this workforce.
Key words: Informal Economy, Informal Employment, Hai Phong, Rights of employees
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
bảo quyền lợi cho lực lượng lao động phi
chính thức là cần thiết.
Tại Việt Nam nói chung và tại Hải
Phòng nói riêng, lao động phi chính thức
chiếm tỷ lệ tương đối cao, góp phần quan
trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, lực
lượng lao động này chưa được quan sát
một cách chính thức và công nhận vai
trò của họ trong nền kinh tế, đang bị «bỏ
quên» trong nhiều chính sách công, ít nhận
được sự bảo vệ của công đoàn và pháp
luật. Do vậy, việc nghiên cứu thực trạng về
lao động phi chính thức tại Hải Phòng và
2. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
2.1. Khái quát về kinh tế phi chính thức
và lao động phi chính thức
2.1.1. Khái niệm kinh tế phi chính thức
“Kinh tế phi chính thức” được sử dụng
để mô tả một khu vực kinh tế truyền thống
ở các nước đang phát triển. Kinh tế phi
chính thức là một bộ phận quan trọng trong
nền kinh tế của mỗi quốc gia, nhưng tên
đề xuất một số giải pháp nhằm hỗ trợ, đảm gọi và khái niệm về nó chưa thống nhất và
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
52
chưa được biết đến rộng rãi. Đôi khi người quy định hoặc bảo vệ chính thức.
ta gọi kinh tế phi chính thức với các tên gọi
2.1.2. Lao động phi chính thức
khác như: kinh tế phi chính quy, kinh tế
không chính thức, kinh tế chưa được quan
công việc phi chính thức, bất kể công việc
sát... Kinh tế phi chính thức bao gồm khu
vực kinh tế phi chính thức và lao động phi
Việc làm phi chính thức là tất cả các
ấy thuộc khu vực phi chính thức (KVPCT)
hay khu vực chính thức; tuy nhiên, trong
chính thức.
điều kiện việc làm chính thức trong
Kinh tế phi chính thức (KTPCT) tồn
KVPCT không đáng kể thì có thể coi như
tại một cách khách quan trong nền kinh tế
việc làm phi chính thức bao gồm việc làm
thị trường. Bởi nhiều lý do khác nhau, các
trong KVPCT và việc làm phi chính thức
thành viên KTPCT (những cá nhân, nhóm
nằm ngoài KVPCT.
người, hộ gia đình tham gia kinh doanh
Theo Tổ chức lao động quốc tế (ILO),
việc làm trong kinh tế phi chính thức bao
gồm tất cả những công việc trong các doanh
nghiệp hoạt động trong KVPCT, hoặc bao
gồm tất cả các cá thể, trong một khoảng
thời gian nghiên cứu nhất định, được thuê
làm trong ít nhất là một doanh nhiệp hoạt
hoặc làm việc phi chính thức) chưa hoặc
không muốn chính thức hoá hoạt động của
họ bằng việc đăng ký kinh doanh theo các
quy định của pháp luật. Yếu tố quan trọng
nhất có lẽ là lợi ích mang lại cho họ dễ
hơn việc đăng ký hoạt động chính thức.
Thành viên KTPCT có quy mô nhỏ, kết
cấu lỏng nhưng rất linh hoạt. Họ sẵn sàng động trong KVPCT, bất kể là loại công
hoạt động và khá hiệu quả ở những lĩnh
vực mà kinh tế chính thức không thể hoặc
không muốn tham gia [1]. Tuy nhiên, vì
hoạt động kinh tế không chính thức, nên
thành viên KTPCT luôn tìm cách bỏ qua
các các quy định của pháp luật, né tránh sự
quản lý chính thức của các cơ quan quản lý
nhà nước. Điều này dẫn tới sự manh mún,
khó phát triển tới quy mô lớn hơn.
việc của họ là gì và liệu đó có phải là công
việc chính hoặc công việc phụ của họ hay
không [4]. Theo đó, lao động phi chính
thức thức bao gồm các nhóm sau:
- Lao động tự làm trong các đơn vị
SXKD của chính họ thuộc khu vực KTPCT;
- Người chủ làm việc trong các đơn
vị SXKD của chính họ thuộc khu vực
KTPCT;
Tóm lại, Khu vực phi chính thức là
tập hợp các cơ sở kinh doanh (phi nông,
lâm nghiệp và thủy sản) có quy mô nhỏ,
không ĐKKD (do không thuộc đối tượng
pháp luật quy định phải đăng ký), sản xuất
ra sản phẩm vật chất và dịch vụ với mục
tiêu chủ yếu nhằm tạo ra công ăn việc làm
và thu nhập cho những người có liên quan.
Công việc và người lao động trong các cơ
- Lao động gia đình, không kể họ làm
việc trong đơn vị SXKD thuộc khu vực
kinh tế chính thức hay khu vực KTPCT;
- Thành viên của hợp tác xã thuộc khu
vực KTPCT;
- Lao động làm thuê công việc phi
chính thức trong các đơn vị SXKD chính
thức, đơn vị SXKD thuộc khu vực KTPCT,
sở kinh doanh này không được nhà nước hay lao động làm thuê công việc gia đình
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 46, tháng 5 năm 2021
53
đào tạo đối với lao động phi chính thức
trong các hộ gia đình;
- Người tự tham gia vào quá trình sản
xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ dùng
trong các hộ gia đình;
- Quy mô lao động phi chính thức
(LĐPCT)
Cho đến nay, tại Hải Phòng chưa có
nghiên cứu chính thức nào đánh giá được
quy mô lao động tại khu vực KTPCT,
nhưng nếu nhìn vào cơ cấu lao động có thể
thấy, quy mô lao động trong khu vực này
là không nhỏ. Bảng1 cho thấy, trong tổng
số 641.732 người có việc làm năm 2019
thuộc các loại hình kinh tế, hành chính, có
đến 23% không thuộc nhóm lao động tại
khu vực doanh nghiệp, hợp tác xã hoặc các
đơn vị hành chính sự nghiệp[6]. Như vậy
khoảng 23% lao động trên thị trường hiện
nay đang hoạt động tại các khu vực kinh tế
ngoài doanh nghiệp dưới dạng hộ cá thể có
- Người tự làm tham gia vào quá trình
sản xuất ra sản phẩm vật chất và dịch vụ
dùng cho nhu cầu tự tiêu dùng của chính
hộ gia đình họ.
Như vậy, lao động phi chính thức là
những người thực hiện các việc làm phi
chính thức trong cả khu vực kinh tế chính
thức và phi chính thức. Tuy nhiên, trong
phạm vi bài viết này, tác giả sẽ chỉ đề cập
đến lao động phi chính thức tại khu vực
kinh tế phi chính thức.
2.2. Thực trạng lao động phi chính
thức tại Hải Phòng
2.2.2. Quy mô, trình độ và công tác ĐKKD hoặc các hoạt động KTPCT.
Bảng 1. Số lượng lao động trong các đơn vị kinh tế,
hành chính, sự nghiệp tại Hải Phòng 2019
Đơn vị: Người
Loại hình
Cơ sở SXKD cá
thể phi nông,
lâm nghiệp và
thủy sản
Đơn vị
hành chính,
sự nghiệp
Ngành kinh tế
Tổng số
Doanh Hợp tác
nghiệp
641.732 425.145
3.063 1.885
xã
Tổng số
4.113
146.083
66.391
Nông nghiệp, lâm nghiệp
và thuỷ sản
906
1.891
1.316
-
30.695
248
32
Công nghiệp, xây dựng
Dịch vụ
319.117 291.695
319.552 131.565
115.388
66.111
(Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng 2019)
Xét về giới tính, trong tổng số 118.125 cơ cấu lao động tại khu vực chính thức tại
lao động thuộc KVPCT tại Hải Phòng, nữ Hải Phòng đều có tỷ lệ lao động nam giới
giới có việc làm PCT đông hơn nam giới, cao hơn. Đây cũng là đặc điểm phù hợp với
chiếm 54% trong tổng số LĐPCT. Điều những ngành nghề chủ yếu của LĐPCT tại
này có chút khác biệt khi so sánh với cơ Hải Phòng như hoạt động lưu trú – ăn uống,
cấu lao động tại KVPCT trên toàn quốc hay giúp việc gia đình, thương mại…
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
54
Bảng 2. Cơ cấu lao động trong các cơ sở SXKD phi chính thức
tại Hải Phòng theo loại lao động và giới tính năm 2019
Loại lao động
Giới tính
Cơ cấu lao động
Tổng
Lao động
Lao động không
phải trả công
Nam
Nữ
ngoài
18.900
16
Số lượng (người)
Tỷ trọng (%)
118.125
99.225
54.338
63.787
100
84
46
54
(Nguồn: Kết quả khảo sát và tính toán tác giả và cộng sự năm 2019)
Khi xem xét đến cơ cấu loại lao động có phần chính trong hoạt động tự sản xuất,
thể thấy, lao động thuộc nhóm “tự làm” hoặc tự tiêu của hộ gia đình hoặc theo các hoạt
“lao động gia đình” chiếm tỷ trọng tương đối động PCT. Nhóm lao động làm thuê chiếm
cao. Cụ thể, chiếm tỷ trọng cao nhất là nhóm gần 16% số lao động. Nhìn chung, lao động
lao động không phải trả công, trả lương, thuộc nhóm tự làm và hộ gia đình là những
chiếm 84% cơ cấu lao động, đây là thành chủ thể tiềm năng của khu vực KTPCT.
100%
80%
60%
40%
20%
0%
48.010%
51.990%
49.110%
54.000%
46.000%
50.890%
Tổng số
Khu vực phi chính Khu vực chính
thức
thức
Nữ Nam
Hình 1. Cơ cấu lao động theo giới tính giữa các
khu vực kinh tế tại Hải Phòng
(Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng và khảo sát tác giả và cộng sự năm 2019)
- Trình độ lao động phi chính thức
Theo số liệu của Tổng cục Thống kê,
lao động của khu vực KTPCT hiện nay ở
Việt Nam, khoảng trên 18 triệu người [4].
Những ngành có tỷ lệ LĐPCT cao là: Làm
thuê trong các hộ gia đình, xây dựng, dịch
vụ lưu trú và ăn uống, kinh doanh thương
mại. Tại Hải Phòng, sự phân bố của LĐPCT
cũng theo xu hướng chung này.
Theo kết quả Tổng điều tra cơ sở kinh
tế, hành chính, sự nghiệp tại Hải Phòng, cơ
cấu lao động theo trình độ tại Hải Phòng
có sự khác biệt rõ nét giữa các loại hình
kinh tế. Lao động tại các đơn vị kinh tế
tại Hải phòng có tỷ lệ chưa qua đào tạo
24% thì tỷ lệ ấy tại các doanh nghiệp - đại
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 46, tháng 5 năm 2021
55
diện cho khu vực chính thức là 18,11%, có tỷ lệ từ 10 – 15% lao động có trình độ
tại các cơ sở kinh doanh cá thể (trong đó khác. Đây là những người tuy chưa được
có các cơ sở KDPCT chiếm 78%) là 55%. đào tạo, nhưng lại được tự học nghề hoặc
Tuy nhiên, có điểm khá tương đồng giữa được truyền nghề nên có tay nghề, có thể
lao động của các loại hình kinh tế là đều làm việc tại các cơ sở này [6].
4%
Chưa qua đào tạo
34%
Trung cấp, cao đẳng
62%
Đại học, trên đại học
Hình 2. Trình độ của lao động thuộc cơ sở KDPCT tại Hải Phòng
(Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả và cộng sự năm 2019)
Với lao động tại các cơ sở KDPCT, ảnh chất lượng chuyên môn, dịch vụ của
các cơ sở KDPCT.
nhóm chưa đào tạo CMKT có tỷ lệ cao
nhất, tiếp đến là các nhóm đào tạo dưới 3
tháng, sơ cấp, trung cấp chuyên nghiệp,
cao đẳng và thấp nhất là nhóm có trình
độ đại học trở lên (3,37%). Đặc điểm này
chính là lý do tại sao họ lại không tìm được
công việc phù hợp ở khu vực chính thức
mà phải hoạt động tại KVPCT với điều
kiện làm việc không ổn định, ít quyền lợi
* Công tác đào tạo lao động trong khu
vực KTPCT
Xét về mặt logic, lao động trong khu
vực KTPCT rất cần được đào tạo chuyên
môn kỹ thuật bởi trình độ của họ rất thấp,
hầu hết chưa qua đào tạo. Tuy nhiên, do
trình độ và nhận thức của bản thân chủ cơ
sở KDPCT cũng như khó khăn về tài chính
nên công tác đào tạo lao động tại khu vực
và rất bấp bênh. Nó cũng góp phần phản này không được quan tâm.
1%
36%
không đào tạo
63%
đào tạo tại chỗ
gửi đi đào tạo
Hình 3. Hoạt động đào tạo tại KVPCT Hải Phòng
(Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả và cộng sự năm 2019)
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
56
Qua khảo sát, có đến 63% người lao
động tại cơ sở KDPCT không được đào
tạo, 36% được đào tạo ngay tại cơ sở và chỉ
có gần 1% được gửi đi đào tạo một cách
bài bản. Nguyên nhân là do các chủ cơ sở
thấy rằng, công việc của lao động tại cơ
sở mình khá đơn giản, chi phí kinh doanh
thấp nên họ thấy không cần thiết phải đào
tạo người lao động, mà không thấy được
sự cần thiết phải nâng cao quy mô và chất
lượng dịch vụ. Kết quả là chất lượng và
quy mô dịch vụ của các cơ sở không được
cải thiện.
- Vị thế công việc
Trong tổng số trên 118 nghìn lao động
tại KVPCT, lao động tự làm hoặc lao động
gia đình chiếm đến 84% [6]. Đây là nhóm
“lao động có việc làm dễ bị tổn thương” do
những người làm việc trong nhóm này ít có
khả năng được bố trí công việc chính thức
và có nhiều khả năng thiếu các yếu tố liên
quan đến công việc bền vững như an sinh xã
hội đầy đủ và tiếng nói trong công việc. Đặc
biệt là đối với lao động nữ, họ làm việc trong
các cơ sở KDPCT với công việc chủ yếu là
làm các nghề giản đơn hay bán hàng - những
công việc mang tính thời vụ, không ổn định
và hầu như ít được đảm bảo các quyền lợi
cơ bản của người lao động. Tại Hải Phòng,
lao động nữ trong KVPCT chiếm đến 54%
có vị thế việc làm dễ bị tổn thương. Những
người này thường hoạt động trong những
ngành nghề chủ yếu như hoạt động lưu trú
– ăn uống, giúp việc gia đình, thương mại…
2.2.2 Quyền lợi của người lao động
Quyền lợi của người lao động thường
được thể hiện bởi một số yếu tố cơ bản sau:
Vị thế công việc, thời gian làm việc, tiền
lương bình quân, hợp đồng lao động, bảo
hiểm xã hội, cơ hội được đào tạo và thăng
tiến, môi trường làm việc… Nhìn chung,
người lao động trong khu vực KTPCT rất
thiệt thòi, quyền lợi của họ gần như không
được đảm bảo và cũng không được sự bảo
trợ của nhà nước. Tại Hải Phòng, quyền lợi
So sánh với cơ cấu lao động tại KVPCT
trên toàn quốc hay cơ cấu lao động tại
khu vực chính thức tại Hải Phòng thì lao
động tại KVPCT có tỷ lệ lao động nữ cao
của đội ngũ lao động này được phản ánh hơn. Điều này phản ánh mức độ dễ bị tổn
khá rõ nét.
thương của LĐPCT ở Hải Phòng cao hơn.
100%
80%
60%
40%
20%
0%
48.010%
54.000%
49.110%
51.990%
46.000%
50.890%
Tổng số
Khu vực phi chính
Khu vực chính thức
thức
Nữ Nam
Hình 4. Cơ cấu lao động theo giới tính giữa các khu vực kinh tế tại Hải Phòng
(Nguồn: Niên giám thống kê Hải Phòng, khảo sát tác giả và cộng sự năm 2019)
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 46, tháng 5 năm 2021
57
- Tiền lương bình quân
cho lao động của khu vực này cũng khác
biệt với khu vực chính thức. Trong khi
lao động tại khu vực chính thức được tính
lượng chủ yếu theo thang bảng lương thì
tại KVPCT, lương của lao động hầu như
không có thang bảng lương mà được tính
theo doanh thu hoặc lợi nhuận hoặc theo
thỏa thuận với người lao động. Hình thức
trả lương và cách tính lương một lần nữa
thể hiện sự bấp bênh, không ổn định trong
Tiền lương của lao động tại các cơ sở
KDPCT tại Hải Phòng thường được tính
trả theo nhiều cách khác nhau, tùy theo
từng cơ sở và tùy từng loại công việc. Theo
số liệu khảo sát tại 830 cơ sở, có đến 30%
lao động nhận lương cố định theo tháng
hoặc tuần; 40% lao động nhận lương theo
giờ; 7% khoán việc và 30% được trả bằng
hiện vật [3]. Bên cạnh đó, cách tính lương công việc của LĐPCT.
7,037
triệu đồng
7,300
triệu đồng
4,760
triệu đồng
Toàn quốc Khu vực chính Khu vực PCT
thức Hải
Hải Phòng
Phòng
Hình 5. So sánh thu nhập bình quân của lao động phi chính thức Hải Phòng và toàn quốc
(Nguồn: Kết quả khảo sát và tổng hợp của tác giả và cộng sự năm 2019)
Lương và các khoản phụ cấp theo lương lực lượng lao động và thu nhập của lao
động. Có thể thấy, mức thu nhập nói trên
của lao động phi chính thức là quá thấp, khó
đảm bảo để họ duy trì và ổn định cuộc sống
cho bản thân và gia đình. Mức thu nhập
này không những thấp hơn so với lao động
chính thức (tại các doanh nghiệp) mà thấp
hơn so với mức thu nhập bình quân của lao
động trên toàn quốc (7,3 triệu đồng) [4]. Và
đây lại là vòng luẩn quẩn khiến họ không
chuyên tâm vào công việc dẫn đến năng
suất lao động thấp.
của lao động trong KVPCT tại Hải Phòng
tương đối thấp so với lao động trong khu
vực chính thức. Thu nhập bình quân của lao
động thuộc khu vực phi chính thức (trong
các doanh nghiệp) tại Hải Phòng là 7,037
triệu đồng/tháng [6]. Theo kết quả điều tra
của nhóm nghiên cứu tại các cơ sở KDPCT,
thu nhập bình quân của lao động tại khoảng
4.760 triệu đồng với gần 50% lao động có
thu nhập bình quân từ 3 đến dới 5 triệu
đồng, 22,7% có thu nhập bình quân dưới 3
triệu đồng và 27,6% có thu nhập bình quân
trên 5 triệu đồng [3]. Trình độ lao động thấp
cộng với cơ sở không có địa điểm sản xuất
kinh doanh ổn định là những yếu tố chính
Qua khảo sát, hầu hết lao động phi
chính thức chỉ được nhận lương theo thỏa
thuận mà không được thưởng (65%),
khoảng 29% đôi khi được thưởng nhưng
cản trở các cơ sở KDPCT không tăng được không theo quy định sẵn có nào và chỉ 6%
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
58
được nhận thưởng thường xuyên [3]. Đây ngoài trời lại thấp hơn tiền lương của hầu
chính là điểm quan trọng phản ánh vị thế hết nhóm lao động làm việc những địa điểm
thấp và quyền lợi không được đảm bảo của khác và thấp hơn rất nhiều so với nhóm lao
lao động phi chính thức.
động chính thức có địa điểm làm việc tương
tự. Thực trạng này nhấn mạnh tính dễ bị tổn
thương của LĐPCT ở Việt Nam hiện nay.
- Môi trường làm việc
Môi trường làm việc có tác động rất
lớn đến tâm lý và chất lượng công việc của
người lao động. Phần lớn lao động chính
thức có điều kiện làm việc tốt hơn LĐPCT.
Với đặc điểm vốn đầu tư nhỏ, không đăng
ký kinh doanh, không nhiều cơ sở KDPCT
tại Hải Phòng có địa điểm kinh doanh cố
đinh. Nhiều cơ sở phải kinh doanh tại các
địa điểm như vỉa hè, lề đường, bán rong.
Tỷ trọng lao động làm việc trong điều kiện
không tốt như cố định ngoài trời hoặc lưu
động của LĐPCT cao hơn rất nhiều so với
lao động chính thức. Mặc dù làm việc trong
điều kiện kém đảm bảo hơn, nhưng tiền
công nhận được ở nhóm LĐPCT làm việc
- Hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động là cơ sở pháp lý
thể hiện mức độ bền vững của công việc
mà người lao động đang làm. Các cơ sở
KDPCT tại Hải Phòng không đăng ký kinh
doanh, điều kiện về tài chính và trình độ
quản lý thấp kém, nhiều trong số đó hoạt
động không có hiệu quả. Thực tế cho
thấy hầu hết người lao động tại các cơ sở
KDPCT tại Hải Phòng làm việc mà không
có hợp đồng lao động hoặc chỉ hợp đồng
miệng. Điều này phản ánh đặc trưng về
điều kiện làm việc trong khu vực phi chính
thức là tình trạng bấp bênh và công việc
ở chợ/trung tâm thương mại hay cố định không được đảm bảo ổn định.
Không hợp đồng
Thử việc
12.400%
1.400%
Hợp đồng miệng
63.500%
Hợp đồng văn bản có thời hạn
Hợp đồng văn bản không…
17.900%
4.800%
Hình 6. Tình trạng hợp đồng của LĐPCT tại Hải Phòng
(Nguồn: Kết quả khảo sát của tác giả và cộng sự năm 2019)
Tại Hải Phòng, ngoài lao động là chủ hoặc không thời hạn. Nguyên nhân chính
cơ sở KDPCT, lao động tự làm, những lao của tình trạng này có thể xuất phát từ chính
động còn lại làm việc làm việc với những hình thức tuyển dụng lao động tại các cơ sở
tình trạng việc làm khác nhau. Lao động KDPCT. Theo khảo sát của nhóm tác giả,
làm việc theo hợp đồng miệng chiếm tỷ có đến trên 60% lao động được tuyển dụng
lệ cao nhất (63,5%), không có hợp đồng làm việc nhờ vào mối quan hệ gia đình, họ
(12,4%). Chỉ có khoảng 22,7% lao động hàng, bạn bè, rất ít lao động được tuyển
được ký hợp đồng bằng văn bản có thời hạn dụng theo cách thức mà các cơ sở KDPCT
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 46, tháng 5 năm 2021
59
thường thực hiện. Hơn nữa, trình độ của nguyện. Thứ hai, khó khăn của LĐPCT
những đối tượng này rất thấp, nhu cầu việc trong việc tiếp cận các dịch vụ BHXH do
làm của họ cao nên dễ bị thua thiệt khi tham những rào cản về hành chính, đặc biệt là
đối với lao động di cư và khả năng tiếp cận
thông tin[8].
gia lao động tại các cơ sở này.
- Bảo hiểm xã hội
2.3. Hàm ý đối với công tác quản lý
Với các hình thức tuyển dụng và tình
trạng hợp đồng như trên mà đa số lao động
không được cơ sở KDPCT đóng bảo hiểm
xã hội theo quy định của pháp luật. Chỉ có
khoảng 16% cơ sở có đóng bảo hiểm cho
toàn bộ hoặc một số lao động gồm chủ cơ
sở và lao động gia đình, lao động có hợp
đồng theo hình thức bảo hiểm tự nguyện
[3]. Điều này có thể do một số chủ cơ sở
nhận thức được việc đóng BHXH nhằm
bảo đảm quyền lợi của bản thân cũng như
cho những lao động có mối quan hệ thân
thiết với chủ cơ sở.
Để lao động phi chính thức có thể phát
huy tốt đóng góp của mình cho xã hội, cần
đảm bảo hơn nữa các quyền lợi của lực
lượng này. Muốn vậy, trong thời gian tới, các
cơ quan quản lý cần chú ý một số vấn đề sau:
- Nghiên cứu tạo thêm việc làm và thu
nhập cho lao động thông qua đẩy mạnh hoạt
động liên kết phát triển kinh tế
Với số lượng khá lớn lao động lao động
phi chính thức, đây thực sự là một lực
lượng to lớn và việc huy động sự tham gia
của họ vào phát triển kinh tế địa phương có
ý nghĩa vô cùng quan trọng. Tạo sự liên kết
giữa các doanh nghiệp cùng ngành nghề
với các cơ sở phi chính thức để vừa kết hợp
trong khâu sản xuất và tiêu thụ sản phẩm,
dịch vụ, vừa trao đổi kinh nghiệm quản lý,
đào tạo lao động nhằm nâng cao trình độ
kỹ thuật cho lao động phi chính thức.
LĐPCT có nguy cơ đối mặt với rủi
ro: ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề
nghiệp, thất nghiệp... mà không được sự trợ
giúp nào của nhà nước, xã hội. Ngoài vai trò
ổn định thu nhập cho người lao động và gia
đình họ, bảo hiểm xã hội tạo được tâm lý
an tâm, tin tưởng. Khi đã tham gia BHXH
góp phần nâng cao đời sống tinh thần cho
người lao động đem lại cuộc sống bình yên,
hạnh phúc cho người lao động [2]. Vì vậy,
mặc dù là nhóm lao động có việc làm nhưng
họ lại đứng giữa ranh giới của sự bấp bênh
giữa có việc làm và thất nghiệp.
Do vậy, các cơ sở kinh doanh phi chính
chức cần nhanh chóng tiếp cận với với
doanh nghiệp, cam kết cung cấp dịch vụ
có chất lượng cho các doanh nghiệp này
với tư cách đơn vị vệ tinh. Nếu cơ sở kinh
doanh phi chính thức đảm bảo được chất
lượng lao động, dịch vụ như cam kết thì
đây sẽ là nguồn đảm bảo việc làm khá ổn
định cho lao động. Bên cạnh đó, bản thân
các cơ sở kinh doanh phi chính thức có thể
trực tiếp liên kết với nhau để tăng khả năng
Đến nay, vẫn chưa nhiều LĐPCT tham
gia BHXH tự nguyện. Những khó khăn
trong việc mở rộng diện tham gia BHXH
tự nguyện có nguyên nhân từ nhiều phía.
Thứ nhất, do khả năng chi trả, thu nhập
không ổn định và vấn đề nhận thức là cạnh tranh của mình, bù đắp cho nhau sự
những nguyên nhân chính dẫn đến LĐPCT thiếu hụt về vốn, về kinh nghiệm quản lý,
không tham gia chương trình BHXH tự về lao động, địa điểm kinh doanh … để có
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
60
thêm nhiều cơ hội kinh doanh, tạo nhiều họ để yên tâm gắn bó với nơi làm việc, nâng
cao năng suất lao động, như vậy sẽ giữ chân
được những lao động có chất lượng. Các
biện pháp cụ thể có thể thực hiện gồm thực
hiện ký kết hợp đồng lao động với người
lao động; Xây dựng chính sách lương công
bằng, phù hợp với cống hiến của người lao
động; Thực hiện đóng bảo hiểm hoặc hỗ trợ
lao động mua bảo hiểm xã hội tự nguyện;
Thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp trong khu vực
phi chính thức
việc làm cho lao động của mình.
- Tăng cường thu hút, bổ sung hoặc giữ
chân lao động có trình độ hay đã qua đào tạo
nhằm nâng cao chất lượng lao động tại các
cơ sở kinh doanh phi chính thức.
Thứ nhất, tuyển dụng thêm những lao
động có trình độ hoặc đã được đào tạo
chuyên môn.
Chủ các cơ sở kinh doanh phi chính thức
cần nhanh chóng tìm hiểu, thu thập thông
tin tại các doanh nghiệp hoặc bảo hiểm xã
hội để có thể tiếp cận với những lao động
có trình độ chuyên môn, kỹ thuật (vừa nghỉ
việc) phù hợp với đơn vị mình. Từ đó có
thể thu hút, tuyển dụng thêm lao động theo
nhu cầu của cơ sở mình. Thực hiện được
điều này, các cơ sở KDPCT đã góp phần
giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao
động, chất lượng lao động tại cơ sở tăng lên,
trong khi cơ sở không phải bỏ thêm chi phí
và thời gian đào tạo cho lao động.
- Tăng cường công tác đào tạo, nâng
cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho
lao động tại các cơ sở kinh doanh phi
chính thức.
Để tăng năng suất lao động, tăng khả
năng cạnh tranh của khu vực phi chính thức
và lao động thuộc khu vực này, bên cạnh
môi trường chính sách và các yếu tố vật
chất khác, chất lượng nguồn nhân lực phải
được coi là yếu tố quyết định. Do những hạn
chế về năng lực, kiến thức, cũng như khả
năng về tài chính của lao động phi chính
thức, cần thiết phải xây dựng các chương
trình, phương pháp đào tạo phù hợp với
từng đối tượng lao động cụ thể, bảo đảm
tính thực tế, dễ tiếp cận, ít tốn kém, gắn
Thứ hai, thực hiện các biện pháp đảm
bảo quyền lợi cho người lao động nhằm
giữ chân hoặc thu hút những lao động có
trình độ, có chuyên môn.
Với người lao động nói chung, lao động
trong các cở sở KDPCT nói riêng, các vấn đào tạo với việc làm và lập nghiệp. Bên
cạnh đó, chủ cơ sở KDPCT cũng cần được
bồi dưỡng kiến thức về quản lý, quản trị
kinh doanh, trình độ chuyên môn … để có
tầm nhìn về nhân sự như thu hút và duy trì
đội ngũ lao động lành nghề một cách hiệu
quả, có thể chủ động lập kế hoạch sản xuất
kinh doanh, điều hành cơ sở kinh doanh
của mình linh hoạt, hiệu quả hơn.
đề như công việc, địa điểm làm việc, mức
lương và các khoản bổ sung khác; chế độ
nâng lương; thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ
ngơi… là những vấn đề mà mọi lao động
đều quan tâm khi bắt đầu một công việc. Vì
vậy, để có thể giữ chân được người lao động
cũ, thu hút lao động mới, cơ sở KDPCT nên
bảo đảm cả 2 yếu tố vật chất và tinh thần cho
người lao động. Chủ cơ sở kinh doanh cần
chủ động cải thiện tốt mối quan hệ với người
Thứ tư, các cơ sở đào tạo nghề cần
nghiên cứu điều chỉnh các chương trình
lao động, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của đào tạo nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Số 46, tháng 5 năm 2021
61
các cở sở KDPCT.
phố. Với những đặc trưng cơ bản của lao
động phi chính thức tại Hải Phòng như đã
đề cập ở trên: quy mô lao động lớn, trình
độ chuyên môn kỹ thuật thấp, không được
chú ý đào tạo, quyền lợi lao động không
dượ đảm bảo, thu nhập bấp bênh …, có thể
thấy rằng, sự quan tâm của các cấp quản lý
nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho lực
lượng lao động này là hoạt động vô cùng
cần thiết, góp phần tạo sự công bằng, tạo
động lực cống hiến nhiều hơn cho xã hội
của lao động phi chính thức.
Do những hạn chế về năng lực, kiến
thức, cũng như khả năng về tài chính của
lao động phi chính thức, cần thiết phải xây
dựng các chương trình, phương pháp đào
tạo phù hợp với từng đối tượng lao động
cụ thể, bảo đảm tính thực tế, dễ tiếp cận,
ít tốn kém, gắn đào tạo với việc làm và
lập nghiệp. Các chương trình đào tạo phải
được thiết kế mang tính thực hành cao, phù
hợp với trình độ còn hạn chế của người lao
động trong các cơ sở KDPCT. Đồng thời,
cần chú trọng nâng cao chất lượng đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực trong các
tổ chức cung ứng dịch vụ đào tạo, thông
qua việc nâng chất lượng giảng viên, chất
lượng bài giảng, phương pháp giảng dạy,
cơ sở vật chất…
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nguyễn Văn Đoàn, Lê Văn Dụy (2017), ‘Đo
lường khu vực kinh tế chưa quan sát được: Khuyến
nghị quốc tế và đề xuất ứng dụng ở Việt Nam’,
Thông tin Khoa học Thống kê, Số 4, pp. 15-51.
2. Mai Thị Hương Giang (2019), ‘Vấn đề an
sinh xã hội đối với lao động phi chính thức ở nước
vn/en/nghien-cu/-/2018/810403/ve-an-sinh-xa-hoi-
doi-voi-lao-dong-khu-vuc-kinh-te-phi-chinh-thuc-
o-nuoc-ta.aspx
Thứ sáu, các cơ quan quản lý cần
từng bước “chính thức hóa” việc làm phi
chính thức sẽ bảo vệ quyền lợi cho người
lao động.
4. Tổng cục Thống kê và ILO (2017), Báo cáo
lao động phi chính thức 2016, Nhà xuất bản Hồng
Đức, Hà Nội.
Để khắc phục sự yếu thế và giảm tính
dễ bị tổn thương đối với lao động phi chính
thức, cần hỗ trợ những lao động đủ điều
kiện, đáp ứng được yêu cầu của các doanh
nghiệp được “chính thức hóa” việc làm
tại các doanh nghiệp hoặc hỗ trợ các cơ
sở kinh doanh phi chính thức chuyển dần
sang đăng ký kinh doanh một cách chính
thức. Điều này vừa giúp đảm bảo quyền
lợi cho người lao động, vừa tạo cơ hội tăng
đầu tư, mở rộng tốt hơn cơ hội tiếp cận tín
dụng của các cơ sở kinh doanh.
5. Cục Thống kê Hải Phòng (2019), Niên
giám thống kê Hải Phòng năm 2018, Nhà xuất bản
Thống kê.
6. Cục Thống kê Hải Phòng (2020), Niên
giám thống kê Hải Phòng năm 2019, Nhà xuất bản
Thống kê.
7. Châu Giang (2017), ‘Nghiên cứu “phủ sóng”
chính sách bảo hiểm thất nghiệp cho lao động phi
phu-song-chinh-sach-bao-hiem-that-nghiep-cho-
lao-dong-phi-chinh-thuc-67389.htm
3. KẾT LUẬN
8. PV (2017), ‘Cần có cơ chế khuyến khích
và hỗ trợ lao động phi chính thức tham gia BHXH
tự nguyện’, Bảo hiểm xã hội Đồng Nai, https://
bhxhdongnai.gov.vn/thoi-su-xa-hoi/can-co-co-che-
khuyen-khich-va-ho-tro-lao-dong-phi-chinh-thuc-
tham-gia-bhxh-tu-nguyen-328.html
Như vậy có thể thấy rằng, quy mô lao
động phi chính thức tại Hải Phòng trong
những năm gần đây là khá lớn, chiếm tỷ lệ
khoảng 23% trong tổng lao động của thành
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
62
Bạn đang xem tài liệu "Lao động phi chính thức ở Hải Phòng và một số hàm ý đối với công tác quản lý", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
lao_dong_phi_chinh_thuc_o_hai_phong_va_mot_so_ham_y_doi_voi.pdf

