Sự thích ứng nghề nghiệp của cư dân trong môi trường đô thị hóa (Nghiên cứu tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007-2017)

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020  
42  
SỰ THÍCH ỨNG NGHỀ NGHIỆP  
CỦA CƢ DÂN TRONG MÔI TRƢỜNG ĐÔ THỊ HÓA  
(Nghiên cứu tại phƣờng Tân Tạo A, quận Bình Tân,  
Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007 - 2017)  
ĐÀO QUANG BÌNH*  
Từ phân tích những thông tin định tính ba thế hệ của năm hộ gia đình có nguồn  
gốc nông thôn chuyển thành thị dân ở thời điểm hậu đô thị hóa tại phường Tân  
Tạo A, quận Bình Tân, TPHCM, bài viết tìm hiểu về sự thích ứng ngành nghề và  
định hướng giáo dục trong môi trường đô thị của các thành viên và quá trình  
thay đổi nhận thức của các hộ đến việc tiếp cận những nghề nghiệp mới. Qua  
đó cho thấy chuyển dịch kinh tế và điều kiện sống đã thay đổi nhận thức của thế  
hệ thứ nhất về nghề nghiệp, về giáo dục và từ đó có đầu tư nhất định để các thế  
hệ thứ hai và ba có những nền tảng phát triển bền vững trong tương lai  
Từ khóa: thích ứng nghề nghiệp, nâng cao năng lực, nghề nghiệp, đô thị  
Nhận bài ngày: 24/9/2020; đưa vào biên tập: 25/9/2020; phản biện: 22/10/2020;  
duyệt đăng: 16/11/2020  
1. DẪN NHẬP  
ra hơn 20 năm. Hiện nay, phường  
Tân Tạo A không còn là vùng nông  
thôn thuần túy và trồng lúa. Sau 10  
năm trở thành đô thị sầm uất và phát  
triển, cuộc sống của người dân thay  
đổi không chỉ về không gian cư trú mà  
cả ở công việc làm và thu nhập.  
Nghiên cứu này tìm hiểu việc nâng  
cao năng lực của những cư dân gốc  
đang sinh sống lâu đời trên mảnh đất  
này qua năm trường hợp phỏng vấn  
sâu có mở rộng đến các thành viên  
trong gia đình nhằm trả lời các câu hỏi:  
Mục tiêu nâng cao năng lực cá nhân  
trong việc thích ứng nghề nghiệp của  
các thành viên trong gia đình; các cá  
nhân đã thích ứng ở mức độ nào so  
với trước đây và đã trải qua những  
khó khăn nào về sự thay đổi này.  
Phường Tân Tạo A thuộc quận Bình  
Tân, TPHCM được thành lập theo  
Nghị định số 130/2003/NĐ-CP ngày  
05/11/2003 của Chính phủ (từ ấp 1,  
ấp 2 xã Tân Tạo cũ), có diện tích tự  
nhiên 1.233,66ha. Năm 2004, phường  
có 5 khu phố, 43 tổ dân phố với  
31.159 nhân khẩu. Đến năm 2018  
phường có 7 khu phố, 70 tổ dân phố  
với 75.045 nhân khẩu, dân số tăng  
thêm 141% so với năm 2004 (trong đó  
nhân khẩu tạm trú chiếm 81%).  
Sau khi giải tỏa đất sản xuất cho dự  
án phát triển khu công nghiệp, quá  
trình đô thị hóa tại địa phương đã diễn  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
ĐÀO QUANG BÌNH – SỰ THÍCH ỨNG NGHỀ NGHIỆP CỦA CƯ DÂN…  
Bản đồ phường Tân Tạo A  
43  
Nguồn: Ủy ban Nhân dân phường Tân Tạo A.  
sự thích ứng của các nhóm để hòa  
nhập vào xã hội đô thị hiện đại, những  
thay đổi trong đời sống gia đình, trong  
các thiết chế giáo dục, tín ngưỡng…  
(dẫn theo Lê Ngọc Hùng, 2008). Dựa  
trên quan điểm của Robert Park sự  
thích ứng của các nhóm để hòa nhập  
Năm 2019, quận Bình Tân có 6.913  
đơn vị đầu tư mới; trong đó 3.718  
doanh nghiệp, 3.195 hộ kinh doanh,  
nâng tổng số đơn vị đang hoạt động  
trên địa bàn quận lên 36.784 đơn vị,  
trong đó gồm 18.718 doanh nghiệp và  
17.937 hộ kinh doanh (Ủy ban Nhân  
dân phường Tân Tạo A, 2019). Số vào xã hội đô thị hiện đại, chúng tôi  
doanh nghiệp tăng nên nhu cầu về lao tìm hiểu sự thích ứng nghề nghiệp  
động cũng theo đó tăng lên, người lao của các hộ dân, đặc biệt là việc nâng  
động (nhân khẩu) tạm trú càng ngày cao năng lực qua thiết chế giáo dục  
càng nhiều.  
cho sự thích ứng đó.  
2. LÝ THUYẾT VÀ PHƢƠNG PHÁP  
NGHIÊN CỨU  
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu  
Nghiên cứu này không phân tích  
những vấn đề từ nông thôn chuyển  
2.1. Lý thuyết nghiên cứu  
Đề tài được thực hiện dựa trên quan sang đô thị, chúng tôi chỉ xem xét đến  
điểm của Robert Park và đồng nghiệp khía cạnh thích ứng nghề nghiệp của  
thuộc trường phái Chicago về quá chính hộ dân đang sống trong môi  
trình xã hội và biến đổi xã hội đang trường đô thị từ số liệu định lượng đã  
diễn ra nhanh chóng trong thành phố. khảo sát 200 hộ dân gốc vào thời  
Trong The City, Robert Park cho rằng điểm 1995 và 2005(1), và 5 hộ dân  
biến đổi xã hội đang diễn ra nhanh thuộc 200 hộ dân này giai đoạn từ  
chóng trong thành phố, trong đó có sự năm 2007 đến 2017(2) - giai đoạn  
thay đổi về nguồn gốc của thị dân; sự người dân đã cơ bản sống cuộc sống  
phân bố dân cư thành thị trên địa bàn; đô thị. Môi trường sống thay đổi nên  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020  
44  
giáo dục cho con cái trong môi trường đời sống xã hội đa dạng hơn, theo  
mới cũng góp phần làm cho cuộc sống hướng công nghiệp và đô thị.  
và nhận thức của người dân tốt hơn.  
Không còn đất sản xuất nông nghiệp,  
Để tìm hiểu về sự thích ứng nghề thay vào đó hoạt động dịch vụ ngày  
nghiệp trong môi trường mới của càng đa dạng, người dân chuyển  
người dân phường Tân Tạo A trong  
quá trình đô thị hóa, chúng tôi chọn 5  
hộ gia đình trong đó 3 hộ có 2 thế hệ  
và 2 hộ 3 thế hệ vào thời điểm 2020  
(bao gồm các thành viên trong hộ) và  
một cán bộ khu phố 2. Bài viết này là  
kết quả đề tài nghiên cứu Sự thích  
ứng nghề nghiệp của người dân tại  
phường Tân Tạo A, quận Bình Tân  
năm 2020 do tác giả làm chủ nhiệm.  
sang cho thuê mặt bằng, xây nhà trọ  
từ quỹ đất còn lại của gia đình. Lãnh  
đạo phường cho biết: “Hầu như người  
dân ở đây cho thuê mặt bằng, nhà trọ  
là chủ yếu. [...] Họ chủ yếu dựa vào  
công nhân để buôn bán cho thuê nhà  
trọ” (PV anh T, 60 tuổi, phó khu phố  
2).  
200 hộ dân (chuyển đổi nghề cho rằng  
vấn đề khó nhất là thiếu vốn đầu tư  
làm ăn (55,7%); muốn xin vào xí  
3. NỘI DUNG  
3.1. Những thích ứng ngành nghề nghiệp nhưng quá tuổi (13,3%) (Đào  
và định hƣớng giáo dục của cá  
Quang Bình, 2007).  
nhân trong môi trƣờng đô thị  
Xu hướng khác trong việc chuyển đổi  
nghề nghiệp là các cá nhân trong hộ  
tự tìm việc làm. Sau khi chuyển dịch  
từ kinh tế nông nghiệp sang phi nông  
nghiệp thì “công ăn việc làm” được  
nhiều người trong hộ quan tâm, việc  
tự tìm nghề độc lập cho bản thân trở  
nên quan trọng nhất. Điều này tùy  
thuộc vào năng lực bản thân của mỗi  
người, và hầu hết đều gặp rất nhiều  
khó khăn trong thời gian đầu. Khi  
chuyển đổi nghề nghiệp, các thành  
viên của hộ phải chịu sự chi phối rất  
lớn của thị trường lao động tại địa  
phương hay ngoài địa phương. “Em  
mới đi nghĩa vụ quân sự về nhưng tự  
xin việc rất khó, em xin được việc làm  
là nhờ có người thân làm trong xí  
nghiệp gỗ đó, họ biết và bảo lãnh em  
vào làm, chứ tự xin khó lắm” (PV em  
Quá trình đô thị hóa tại phường Tân  
Tạo A đã diễn ra hơn 20 năm. Từ  
2004 đến 2014 các hộ dân bắt đầu ổn  
định cuộc sống sau giải tỏa đền bù,  
nhiều hộ chăn nuôi - trồng rau thêm,  
có hộ xây dựng nhà trọ cho thuê, se  
nhang để kiếm sống khi không còn đất  
sản xuất và tiền đền bồi cho đất nông  
nghiệp trước đó. Từ 2015 đến 2017 là  
giai đoạn ổn định cuộc sống và đầu tư  
cho con cái về giáo dục thể hiện nhân  
thức mới của họ đối với việc thăng  
tiến của con cái trong tương lai.  
Có thể nói, phát triển khu công nghiệp  
cũng là một cơ hội tốt cho người dân  
địa phương, không chỉ giúp phát triển  
cơ sở hạ tầng mà còn phát triển các  
dịch vụ về cư trú, ăn uống và các dịch  
vụ giải trí khác phục vụ khu công  
nghiệp Tân Tạo, hình thành nên một A, 20 tuổi) (Đào Quang Bình, 2007).  
ĐÀO QUANG BÌNH – SỰ THÍCH ỨNG NGHỀ NGHIỆP CỦA CƯ DÂN…  
45  
Nghiên cứu năm 2007 cho thấy, việc so với trước đây. Phân tích di động xã  
tìm được việc làm của mỗi người tùy hội từ thế hệ ông bà đến thế hệ con  
thuộc vào độ tuổi. Chúng tôi đã đưa ra cái và cháu chắt ở khu phố 12,  
những câu hỏi chung nhất cho các đối phường Tân Tạo A cho thấy có một  
tượng nghiên cứu của mình về động sự thay đổi rất rõ về việc học hành  
cơ chọn việc làm cũng như lý do chọn của thế hệ 2 và 3.  
nghề của họ. Phân tích theo các nhóm  
Bảng 1 cho thấy khoảng cách các thế  
tuổi, chúng tôi thấy như sau:  
hệ các gia đình được khảo sát tại địa  
Giai đoạn khảo sát năm 2005, những phương từ khi bắt đầu đô thị hóa đến  
lao động có độ tuổi từ 16 đến 25 (có nay. Sắp xếp này mang tính tương đối  
22,6% buôn bán, 16% làm lao động liên quan độ tuổi của chủ hộ đối với  
phổ thông, làm mướn và 15% làm các thành viên trong gia đình. Thế hệ  
công nhân); người lao động có độ tuổi 1 và 2 có nhiều trở ngại trong phát  
từ 26 đến 30 (có 18% làm công việc triển nghề nghiệp và học hành vì thời  
buôn bán và lao động phổ thông). Đối điểm này địa phương đang trong quá  
với nhóm tuổi này cho đến nay họ trình đô thị hóa khiến người dân chủ  
cũng đã trung niên và họ không còn yếu chuyển sang kinh doanh phòng  
khả năng phát triển cũng như nâng trọ và đến nay đây vẫn là nguồn thu  
cao tay nghề. Nhóm tuổi 31-40 (có nhập chính.  
việc làm như dịch vụ 18,1%, buôn bán  
Năm hộ gia đình, chúng tôi chia ra 3  
16,6% và một số tham gia vào lao  
thế hệ: cha mẹ, con cái và cháu chắt.  
động phổ thông 12,3%, nội trợ 17,2%).  
Năm hộ có hai hộ có ba thế hệ, ba hộ  
Những cứ liệu trong giai đoạn 1995- hai thế hệ. Thế hệ cha mẹ ở các hộ  
2005 thu thập được trong nghiên cứu này làm nghề nông trong thời gian  
năm 2007 cho thấy, tình hình đã thay đầu của quá trình đô thị hóa. Thế hệ  
đổi sau hơn 10 năm. Qua nghiên cứu con cái có nối tiếp nghề làm nông  
trường hợp, chúng tôi nhận thấy trong trong thời gian ngắn, sau đó làm  
năm hộ gia đình được nghiên cứu có những công việc khác. Trong ba gia  
những đặc điểm khác nhau về các thế đình có hai thế hệ cha mẹ và con cái  
hệ, nhưng việc đầu tư cho con cái có sự khác biệt khá lớn về tiếp cận  
cũng như sự nâng cao năng lực của nghề giữa hai thế hệ. Khi đô thị hóa,  
chính người con có thay đổi khá lớn thế hệ cha mẹ chuyển đổi sang cho  
Bảng 1. Các thế hệ trong gia đình  
Hộ 1  
Hộ 2  
Hộ 3  
X
Hộ 4  
X
Hộ 5  
Độ tuổi  
Thế hệ 1  
Thế hệ 2  
Thế hệ 3  
Cha mẹ mất Cha mẹ mất  
Cha mẹ mất Từ 60 - 70  
X
X
X
X
X
X
X
X
Từ 40 - 50  
Từ 6 - 20  
X
X
Nguồn: Tác giả khảo sát năm 2020.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020  
46  
thuê phòng trọ, se nhang, buôn bán, nhưng hiện đã nghỉ). Thế hệ 3 trong  
và một số ít vẫn làm thuê nông nghiệp gia đình là con chị L, hiện nay học cấp  
hay dịch vụ mua bán đất… nhưng 2 và cấp 3, chị đầu tư nhiều cho việc  
ngay thời điểm đó họ đã có nhiều lựa học của con, kỳ vọng con vào được  
chọn trong việc đầu tư cho con cái đại học và có một việc làm tốt. Hiện tại  
học hành: “Từ đầu con cái tôi đi học chị cũng định hướng cho con cái rất  
mình tự xoay sở chứ không lấy tiền kỹ.  
bồi thường, tôi làm đủ nghề như bán  
Hộ hai thế hệ trước đây có cha mẹ  
bánh, nấu đám giỗ tôi lấy tiền đó cho  
cũng làm ruộng và đã mất cách nay  
nó đi học, nhưng ráng cho học hết 12  
vài năm hoặc có hộ ra riêng. Những  
rồi đi làm, không vào đại học nổi” (PV  
hộ thế hệ 2, theo khảo sát năm 1995  
Bà T, 65 tuổi, hộ 2).  
(Đào Quang Bình, 2007), trình độ học  
Năm 2005, thế hệ 2 đang ở độ tuổi đi  
học, song có người nghỉ học ở nhà,  
sau đó xin vào làm công nhân. Trình  
độ học vấn của thế hệ không đồng  
đều, chưa hết cấp 1 và cấp 2.  
vấn không đồng đều nên khó khăn  
trong thay đổi việc làm. Nhiều phụ nữ  
chỉ làm công nhân cho các công ty  
may trong khu công nghiệp tại địa  
phương một thời gian ngắn, rồi lại làm  
những công việc như thế hệ cha mẹ  
(khi không còn đất làm nông nghiệp).  
Trong 5 trường hợp nghiên cứu, các  
thành viên thế hệ 1 và 2 được xem là  
những người tiên phong chuyển đổi  
nghề nghiệp với khá nhiều vất vả, bỡ  
ngỡ. Hiện nay, thế hệ 1, 2 đều đã lớn  
tuổi, đa phần là phụ nữ và trình độ  
học vấn không cao.  
Anh TH hiện sinh sống nhờ vào nguồn  
thu cho thuê nhà trọ và se nhang cho  
biết: “Ngày xưa rất khó khăn nhưng  
vẫn cho con cái học hành. Hồi đó làm  
nghề se nhang phát triển, thuê nhân  
công se 1.000 cây được trả 20 ngàn,  
làm xong bỏ mối lớn, bây giờ mọi  
người đi làm công nhân, không có ai  
làm. Bây giờ, hai mẹ con se nhang  
bán trong xóm cho vui. Ở khu phố này  
Trong thời gian chuyển đổi từ nông  
thôn sang đô thị, thế hệ này, có độ  
tuổi từ dưới 20 đến 30 được chia làm  
hai nhóm, nhóm làm công nhân ngay  
thời điểm diễn ra đô thị hóa và nhóm  
thi vào cao đẳng, đại học. Chị L, 41 giờ chỉ còn một mình em làm nghề se  
tuổi thuộc nhóm thế hệ 2 cho biết: nhang. Công việc se nhang ở khu vực  
“Hồi đó em học cấp 3, vừa học vừa se này mất đi có nhiều yếu tố, thứ nhất  
nhang, lúc đó không còn làm ruộng  
nữa, có thi đại học 2 lần, không đậu  
nên đi làm công nhân luôn”. Chị L có  
em trai làm cảnh sát giao thông, chị  
gái buôn bán tạp hóa. Người chị và  
em trai đã tách ra riêng (người chị  
trước đây làm công nhân được 3 năm,  
đó là thu hẹp mặt bằng do quá trình  
đô thị hóa, nên không phơi được sản  
phẩm, thứ hai, lương thấp họ không  
còn ham muốn làm nghề này nên họ  
đi làm công nhân, thứ ba thị trường  
càng ngày càng khó khăn” (PV anh  
TH, 62 tuổi, hộ 4).  
ĐÀO QUANG BÌNH – SỰ THÍCH ỨNG NGHỀ NGHIỆP CỦA CƯ DÂN…  
47  
Khảo sát cho thấy thế hệ 1 và 2 chỉ còn nhiều hơn tôi nữa. Đất họ rộng  
hòa nhập môi trường sống chứ không lắm, đất ruộng nhiều khi cả hai mẫu,  
mình có hơn một mẫu (1 mẫu =  
10.000m2). Còn đất ở của họ cũng  
rộng, như nhà mình hơn một công (1  
công = 1.000m2) nhưng chia cho 3  
anh em. Họ có hơn hai công một  
người sở hữu, họ bán hết luôn” (PV cô  
T, 65 tuổi).  
thay đổi việc làm. Theo bà T, không  
có hộ nào không kiếm sống được do  
quá trình đô thị hóa, chỉ có những hộ  
gặp vấn đề đặc biệt mới chuyển đi nơi  
khác. Anh T, cho biết: “Ở đây có mấy  
hộ cờ bạc, mấy hộ làm ăn thất bại, họ  
làm ăn nơi khác nhưng không thành  
công họ bán luôn và đi nơi khác không  
rõ” (PV anh T, 60 tuổi, phó khu phố 2).  
Thất bại có nhiều lý do, nhưng một  
trong những lý do được nhắc đến đó  
là lý do làm ăn, đầu tư bị thất bại.  
Chị P, 40 tuổi, hộ 5 cho biết: “Trước  
đây mình học hết lớp 3 do hoàn cảnh  
gia đình cũng khó khăn, đất đai cha  
mẹ cho cũng không nhiều, sau này  
không còn làm nông nghiệp mình có  
xin vào làm công nhân may Công ty  
Pouchen. Nhưng sau khi có chồng là  
không làm nữa. Giờ ở nhà làm cũng  
nhiều việc khác nhau, công việc chính  
Cô T chia sẻ: “… bản thân mình nhát,  
không có giàu, không thiếu nợ, đủ ăn  
là được rồi. Những hộ kia cha mẹ để  
lại cũng khá, tính ra những hộ này họ  
Bảng 2. Những ngành nghề trong gia đình  
Hộ Thế hệ 1  
Thế hệ 2  
Con 1: Bán tạp hóa  
Thế hệ 3  
Cha: Nghề  
nông  
Cháu 1: Học quản trị kinh doanh  
Cháu 2: Học sinh  
Mẹ: Nghề  
nông  
1
Con 2: May gia công  
Cháu 1: Học sinh  
Cháu 2: Học sinh  
Cháu 3: Học sinh  
Con 3: Trung cấp cảnh sát giao thông Cháu 1: Học sinh  
Hộ tách từ hộ Cha: Bán tạp hóa  
Con 1: Sinh viên (ngành quản trị  
số 1  
kinh doanh)  
Con 2: Lớp 10  
2
3
Mẹ: Bán tạp hóa  
Cha: Nghề  
nông  
Mẹ: Nghề  
nông  
Con 1: Bán than  
Cháu 1: Học sinh  
Con 2: Kế toán  
Cháu 2: Học sinh  
Cháu 3: Học sinh  
Con 3: Giáo viên  
Cháu 4: Lớp mẫu giáo  
Cha: Cho thuê nhà trọ  
Mẹ: Se nhang  
Con 1: Trung cấp y  
Con 2: (Bệnh)  
4
5
Cha: Tài xế  
Mẹ: Nội trợ  
Con 1: Công nhân  
Con 2: Học luật (sinh viên)  
Con 3: Học sinh  
Nguồn: Tác giả khảo sát năm 2020.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020  
48  
là ở nhà nội trợ và cho thuê nhà trọ”. Thế hệ 2 xem bản thân mình chỉ làm  
Như vậy, đối với thế hệ 2 dù còn nằm  
trong độ tuổi lao động nhưng do hạn  
chế về trình độ nên họ không có khả  
năng phát triển tiếp những công việc  
đòi hỏi có chuyên môn. Đối với những  
cá nhân thế hệ 2 thuộc giai đoạn  
chuyển tiếp, việc học bị ảnh hưởng  
bởi khả năng và do điều kiện gia đình  
tác động nên họ chọn công việc giản  
đơn: “Cô thấy việc cho con cái đi học  
khá quan trọng nhưng hơi vất vả, như  
người con trai thứ nhất, lúc đó hơi yếu,  
mình không có tiền cho học kèm nên  
học không nổi,…. Trong lúc học cũng  
phụ đi làm nuôi hai đứa em, chứ thời  
điểm lúc đó cũng khó khăn lắm. Lúc  
đó nó cũng đi làm mướn” (PV cô T, 65  
tuổi, hộ 3).  
những công việc đủ sống, nhưng lại  
rất quan tâm đến con cái và việc học  
của con cái. Thế hệ 3 họ sinh ra, lớn  
lên trong điều kiện tốt hơn so với thế  
hệ 1 và thế hệ 2. Ở thế hệ 3, chúng tôi  
nhận thấy nhận thức của cha mẹ về  
con cái đã có sự thay đổi khá rõ theo  
hướng tích cực, đặc biệt là đầu tư vào  
giáo dục. “Con có dự định học lên đại  
học, không có ý định nghỉ học để đi  
làm công nhân. Những bạn ở đây  
cũng có suy nghĩ giống con. Con đang  
học thêm toán, lý, hóa, con không gặp  
khó khăn trong việc học, con thấy bình  
thường. Con tính thi vào cấp 3 trường  
điểm Mạc Đình Chi ở quận 6. Nếu con  
thi rớt đại học, con sẽ ôn thi lại lần  
nữa, nếu rớt tiếp con sẽ đi học nghề”  
(PV cháu K, 15 tuổi con thứ 2 của chị  
L, 41 tuổi).  
Cũng như hộ số 1, chị L, người con  
thứ 2 trong gia đình học hết 12 vẫn thi  
vào trung cấp và đại học nhưng không  
đỗ chị chọn vào làm công nhân: “Em  
hồi xưa cũng làm nhiều thứ, làm ruộng,  
se nhang sau này hết làm ruộng lại se  
nhang, em học hết 12 thi vào trung  
cấp và đại học không đậu nên đi làm  
công nhân luôn”; “Mình không làm  
công nhân, chỉ ở nhà may gia công và  
đưa đón nhóm trẻ (6 đứa) con của  
công nhân đi học, thu nhập từ việc  
đưa đón một đứa 1,2 triệu/tháng,  
ngoài ra là ở nhà chăm con cái đi học,  
chồng đã chết nên những người con  
Chắt lọc các loại việc làm của năm hộ  
nghiên cứu trường hợp này chúng tôi  
nhận thấy sự thích ứng của cha mẹ  
thay đổi khá nhanh, hướng đến việc  
đầu tư giáo dục cho con cái. Thế hệ 2  
còn trong độ tuổi lao động, họ làm  
những công việc có trình độ tay nghề  
đến việc làm không đòi hỏi tay nghề;  
thế hệ 3 là những người nhỏ tuổi đang  
đi học từ cấp thấp nhất cho đến cao  
nhất. Người trẻ thuộc thế hệ 3 có  
những nhận thức về việc học của họ  
khá thú vị. Phỏng vấn một số em cho  
của mình có nhận thức về việc học thấy họ có tính độc lập trong việc học  
hành” (PV chị L, 41 tuổi, hộ 1). Ngoài và tiếp cận nghề nghiệp: họ cũng  
được cha mẹ đầu tư cho việc học,  
trong đó có những em giao tiếp bằng  
tiếng Anh khá tốt. Quá trình đầu tư  
học ở trường, chị còn cho học thêm  
rất nhiều, và quyết tâm cho con học  
đại học.  
ĐÀO QUANG BÌNH – SỰ THÍCH ỨNG NGHỀ NGHIỆP CỦA CƯ DÂN…  
49  
học hành cho con cái một cách bài  
bản và có sự quan tâm, theo sát của  
cha mẹ. Ngoài chuyện học chính khóa,  
họ còn đầu tư cho con học thêm, qua  
thông tin phỏng vấn chúng tôi thấy  
chiếm một khoản chi phí khá lớn trong  
thu nhập. Qua khảo sát, nguồn thu  
kinh tế gia đình hiện nay của năm hộ  
khảo sát khá đa dạng: từ lương, buôn  
bán, nhưng các gia đình đều có nguồn  
thu dựa vào cho thuê nhà trọ. Đối với  
hộ số 5, con cái có những lựa chọn  
khác nhau trong định hướng công việc,  
theo khả năng của mình. Như người  
con thứ nhất không học nổi, gia đình  
vẫn động viên cho học hết 12 rồi sau  
đó mới tính tiếp. Giải pháp đưa ra cho  
người con thứ nhất là làm những công  
việc phù hợp với năng lực và làm sao  
đảm bảo cuộc sống.  
cho con tiền học, nay thì học năm thứ  
2 rồi”.  
Và người con thứ 3 của chị là N cho  
biết: “Con học xong lớp 12 năm 2018,  
nghỉ ở nhà 1 năm, do con thích đi học  
nghề, nhưng nhà kinh phí không đủ  
nên con tính xét tuyển vào sư phạm,  
ngành giáo viên tiểu học”.  
Qua câu chuyện cho thấy đã có sự  
thay đổi về nhận thức trong việc đầu  
tư giáo dục cho thế hệ 3 để có nghề  
nghiệp chắc chắn hơn, hiểu việc nâng  
cao học thức sẽ đem lại một cuộc  
sống tốt hơn.  
Như vậy, sự thích ứng nghề nghiệp  
của cư dân có một quá trình biến đổi  
và sự hội nhập vào môi trường mới.  
Những thích ứng trên tùy theo hoàn  
cảnh gia đình, nhưng nhìn chung thế  
hệ 2 và 3 đã có những hình thức thích  
ứng phù hợp với năng lực cá nhân.  
Chị V, 43 tuổi, hộ 5 nói về các con mình:  
Về người con thứ nhất: “Con đi học có  
thiếu nửa điểm sao con không ráng  
học? điểm môn Toán thiếu nửa điểm  
con ráng đi học thêm đi, nó nói giờ con  
cũng hết lực rồi, nó không tốt nghiệp  
12. Như vậy, nó quyết định đi làm  
công nhân, phù hợp với khả năng của  
nó. Nếu nó đi học tiếp mình cũng ráng  
đầu tư cho nó học đại học, ở nhà cũng  
muốn nó vào học đại học”.  
Những thế hệ 2 và 3 nằm trong độ  
tuổi 20-30 đã có những thích ứng  
đúng với khả năng của mình, họ có  
thể tham gia vào thị trường lao động  
đòi hỏi có tay nghề khá cao.  
Một điều đáng chú ý khác trong việc  
định hướng nghề nghiệp cho con cái  
của cha mẹ là họ không muốn con  
làm công nhân dù khu công nghiệp  
gần nơi sinh sống. Qua nghiên cứu  
sâu 5 trường hợp, chúng tôi nhận thấy  
định hướng của cha mẹ phần lớn  
hướng con cái đến những công việc  
có tay nghề, họ không quan tâm đến  
việc làm công nhân.  
Về người con thứ hai: “Sau khi học  
đến lớp 10 T. xin nghỉ, không chịu đi  
học, dù có nói gì đi nữa nó cũng không  
nghe. Nhưng nghỉ đi làm được một  
năm thì bắt đầu xin học lại. Mình có nói  
con ráng học đi, mẹ ráng đóng tiền cho  
con học. Hiện nay vừa làm vừa học,  
cháu học luật. Giờ cũng tôi ráng làm  
3.2. Quá trình thay đổi nhận thức của  
ngƣời dân đến việc tiếp cận những  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020  
50  
ngành nghề mới của các thành viên học nghề của thanh niên tại trung tâm  
trong gia đình  
dạy nghề cũng không cao. Một lãnh  
đạo trung tâm dạy nghề và giới thiệu  
việc làm cho biết: “Thực tế số người  
vào học nghề tại trung tâm không cao.  
Nếu có, những học viên này chỉ học  
qua loa, mục đích là chỉ lấy chứng chỉ  
chứ không lấy kiến thức”. Thường số  
người này có biết chút ít về một nghề  
nào đó, nhưng các nhà tuyển dụng lại  
yêu cầu phải có chứng chỉ nghề buộc  
Trong nghiên cứu của chúng tôi về  
giai đoạn 1995-2005 (Đào Quang  
Bình, 2007), khảo sát việc đầu tư cho  
con cái học nghề sau khi không còn  
làm nông nghiệp của 200 hộ cho thấy,  
số hộ đầu tư cho con cái học nghề rất  
thấp. Trong những hộ có sử dụng số  
tiền vay mượn từ người thân và ngân  
hàng, tỷ lệ hộ có dùng tiền vay để đầu  
tư cho con em vào học nghề  
Bảng 3: Tỷ lệ mục đích sử dụng tiền vay - mượn  
chỉ có 35,6% so với vay mượn  
Mục đích vay - mượn  
%
11,9  
3,4  
để làm ăn.  
Sử dụng tiền mượn cá nhân cho làm ăn  
Sử dụng tiền mượn cá nhân cho học nghề  
Sử dụng tiền vay ngân hàng cho làm ăn  
Như vậy, đầu tư cho đào tạo  
nghề của cộng đồng tại tại giai  
đoạn đó vẫn chưa được quan  
tâm đúng mức so với yêu cầu  
của sự phát triển xã hội. Việc  
72,9  
Sử dụng tiền vay ngân hàng cho học nghề 35,6  
Nguồn: Đào Quang Bình, 2007.  
Bảng 4: Trình độ học vấn của các thế hệ trong 5 hộ  
Hộ  
Thế hệ 1  
Thế hệ 2  
Thế hệ 3  
Con 1: Lớp 7*  
Cháu 1: Đại học năm 2  
Cháu 2: Lớp 10  
1
Cha: Lớp 3  
Mẹ: Lớp 5  
Con 2: Lớp 12  
Cháu 1: Lớp 11  
Cháu 2: Lớp 9  
Cháu 3: Lớp 4  
Con 3: Trung cấp cảnh sát giao thông Cháu 1: Lớp 4  
Hộ tách từ hộ số 1  
Cha: Lớp 5*  
Mẹ: Lớp 7  
Con 1: Đại học năm 2  
Con 2: 10  
2
3
Con 1: Lớp 12  
Con 2: Đại học  
Cháu 1: Lớp 9  
Cháu 2: Lớp 3  
Cháu 3: Lớp 1  
Cha: Lớp 12 (Tú tài 2)  
Mẹ: Lớp 9  
Con 3: Cao đẳng  
Cháu 4: Lớp mẫu giáo  
Cha: Lớp 3  
Mẹ: Lớp 4  
Con 1: Trung cấp y  
Con 2: 5 (Bệnh)  
4
5
Cha: Lớp 5  
Mẹ: Lớp 3  
Con 1: Lớp 10  
Con 2: Đại học năm 2  
Con 3: Lớp 12  
Nguồn: Tác giả khảo sát năm 2020.  
ĐÀO QUANG BÌNH – SỰ THÍCH ỨNG NGHỀ NGHIỆP CỦA CƯ DÂN…  
51  
họ mới vào đây mà thôi. Gần 75% các nghề có tay nghề cao như điều dưỡng,  
hộ gia đình được khảo sát cho biết: giáo viên. Theo ghi nhận tại cuộc  
thanh niên thích đi làm sớm kiếm tiền phỏng vấn: “Em nghĩ là em chọn  
hơn là học cao (Đào Quang Bình,  
ngành này là để trị bệnh cho em em,  
nên đăng ký đi thi và học, giờ em làm  
ở điều dưỡng ở bệnh viện 115, trước  
đây em làm ở bệnh viên Hùng Vương  
mới chuyển qua. Theo chuẩn hóa của  
bệnh viện em đang học nâng cao lên  
nữa, giờ em đang học lên cao đẳng”  
(PV em L, 31 tuổi, hộ 4). Hộ 3 có con  
gái thuộc thế hệ 2 học đại học ngành  
kế toán. Chủ hộ cho biết chồng của  
con gái là bác sĩ, hiện họ đã có một  
con, cùng ở chung với gia đình. Riêng  
người con gái thứ ba là giáo viên và  
hiện đã có chồng ở gần khu công  
nghiệp Tân Tạo.  
2007).  
Sau 10 năm, chúng tôi quay lại khảo  
sát trường hợp là năm hộ gia đình đã  
cho thấy có sự thay đổi rõ ràng về  
nhận thức thích ứng nghề nghiệp.  
Những người ở độ tuổi từ 40 đến 50  
có thay đổi rõ về việc đầu tư cho con  
cái học để có nghề nghiệp, tương lai.  
Cách nhìn mới của gia đình: “Trẻ ít  
học, không học thì sẽ không hiểu biết,  
chẳng khác nào lớn xác, có sức khỏe  
nhưng không có trí tuệ cũng giống  
như đi trong bóng đêm” (PV cô T, 65  
tuổi). Bảng 4 cho thấy trình độ học  
vấn trong các thế hệ của năm hộ như  
sau:  
Kết quả khảo sát cho thấy thế hệ 2 và  
3 có sự phát triển và thành công dù chỉ  
sau hơn 10 năm. Đặc biệt đã có sự  
thay đổi nhận thức trong tiếp cận nghề  
nghiệp của người dân qua đầu tư cho  
con cái. “Chị phải thay đổi số phận  
con cái nếu như không muốn con  
mình sau này khổ”; “Giờ tốn cỡ nào  
cũng phải cho nó học hết 12 và đi học  
nghề hoặc đại học. Đời mình đã khổ,  
học đã thấp, chỉ làm được công nhân  
là hết rồi, nhưng làm công nhân cũng  
cực, như tăng ca lương, không cao. Vì  
vậy, tụi nhỏ phải học, không học sau  
này sẽ không biết làm gì, hồi xưa  
mình không học còn làm ruộng với ba  
mẹ, giờ hết đất rồi không học đâu có  
gì làm” (PV chị P, 43 tuổi, hộ 5).  
Về vị trí việc làm trong 10 năm qua,  
người trẻ thế hệ 3 nằm trong độ tuổi  
trên 20 trong năm hộ gia đình có việc  
làm khá tốt. Hộ số 2, con gái đang  
theo học đại học năm thứ hai, “… con  
tôi đòi nghỉ học để đi du học ở Úc,  
kinh tế gia đình không kham nổi” (PV  
chị Ph hộ số 2). Việc nâng cao năng  
lực của chính con cái trong gia đình  
của hộ này cho thấy rõ xu hướng cha  
mẹ muốn con cái học đến nơi đến  
chốn. Tuy nhiên, trường hợp này do  
kinh tế gia đình chỉ buôn bán nhỏ, cho  
thuê nhà trọ nên chỉ đủ sống. Thu  
nhập của họ chỉ đủ lo cho con cái học  
trong nước. Những người thuộc thế  
hệ 3 nằm trong nhóm tuổi trên 30 cho  
thấy họ cũng khá thành công trong  
nghề nghiệp, đó là học những ngành  
Sự nhận thức nghề nghiệp của chính  
thế hệ 3 trong môi trường mới là phải  
học dù gia đình đang có một nền tảng  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 11 (267) 2020  
52  
thu nhập tương đối ổn định dựa trên Như vậy, nhận thức của thế hệ thứ 2  
dịch vụ cho thuê nhà trọ. Sự không ỷ và 3 nằm trong độ tuổi 20 - 30 trong  
lại này thể hiện rõ trong suy nghĩ của năm hộ được nghiên cứu đã thấy rất  
một học sinh lớp 9 chuẩn bị lên lớp 10 rõ sự thay đổi nhận thức của hộ cũng  
như sau: “Con có dự định học lên đại như các cá nhân trong bối cảnh mới.  
học, không có ý định nghỉ học để đi Đồng thời, chúng tôi nhận thấy tâm lý  
làm công nhân. Những bạn ở đây, người dân ở đây không có sự phân  
đồng lứa với con đều có suy nghĩ biệt giới tính hay quan niệm thiên lệch  
giống con” (PV em K, nam, 15 tuổi, hộ về việc đầu tư giáo dục cho nam hay  
số 1).  
nữ. Chị V, 43 tuổi, hộ 5 cho biết: “Các  
con ai học được có cố gắng sẽ cho  
học đến nơi đến chốn, chứ gái hay trai  
đều như nhau, cũng con mình hết”.  
Đối với các gia đình ở nông thôn, đầu  
tư cho giáo dục của con phụ thuộc  
vào nhiều yếu tố, trong đó có sức học  
của con (Hà Thị Minh Khương, 2009).  
Tại Tân Tạo A, trong năm hộ được  
khảo sát, chúng tôi nhận thấy việc đầu  
tư cho con cái trong mỗi giai đoạn của  
các gia đình có khác nhau nhưng có  
điểm giống nhau: (1) căn cứ theo sức  
học cha mẹ có sự quan tâm đầu tư và  
mong muốn con cái học lên cao, có  
nghề nghiệp, (2) căn cứ vào điều kiện  
kinh tế cha mẹ đầu tư giáo dục cho  
con cái để có nghề trong tương lai.  
Qua những cá nhân nằm trong tuổi  
lao động (từ 20 đến 30), cho thấy tâm  
thế từng hộ gia đình trong việc đầu tư  
giáo dục cho con cái học hành. Với  
thế hệ thứ 3, con cái ngày càng được  
quan tâm hơn và không có sự phân  
biệt giữa nam và nữ. Điều quan trọng  
là quá trình thích ứng cũng như kế  
hoạch đầu tư dài hạn cho con cái  
trong gia đình chúng tôi tiếp cận đều  
có những nhận thức giống nhau. Phần  
lớn các gia đình này sử dụng mọi  
nguồn lực có được đầu tư cho con cái  
và mong muốn của họ là con cái có  
công ăn việc làm như ý thích của  
chính họ. Trong giai đoạn mới này,  
những người ở độ tuổi 20 - 30 có  
nhận thức nghề nghiệp rất rõ, họ chọn  
những ngành nghề dễ có việc làm  
như y khoa, kế toán, giáo viên và kinh  
tế. Đối với thế hệ cha mẹ trước đó họ  
không chọn nghề nghiệp cho con cái.  
Họ cho rằng, con cái thích nghề gì,  
chọn cái gì là quyền quyết định của  
chính bản thân con cái. Tính tự lập  
4. KẾT LUẬN  
Việc nâng cao nội lực cá nhân để  
thích ứng với quá trình đô thị hóa thể  
hiện rõ qua những thay đổi trong cuộc  
sống, việc làm, trong giáo dục và thay  
đổi trong nhận thức của các hộ gia  
đình được nghiên cứu. Những thay  
đổi này đã tạo nên những nét riêng  
của thế hệ thứ 3 được động viên từ biệt ở mỗi hộ nhưng khá giống nhau  
trong nhận thức về giáo dục và đào  
tạo thế hệ con cháu. Các thế hệ sau  
nhận thức rõ nét về đầu tư vào việc  
thế hệ cha mẹ, ông bà cho việc cố  
gắng đạt được một trình độ học vấn  
nhất định.  
ĐÀO QUANG BÌNH – SỰ THÍCH ỨNG NGHỀ NGHIỆP CỦA CƯ DÂN…  
53  
học hành cho con cái. Như vậy, sự Nghiên cứu này cũng cho thấy, để  
thích ứng nghề nghiệp của người dân phát triển kinh tế - xã hội nhà nước  
phường Tân Tạo A có nhiều chuyển cần xây dựng các chương trình hỗ trợ  
biến tích cực. Qua phân tích nội dung về đào tạo nghề cho cư dân bị ảnh  
dựa trên thông tin phỏng vấn sâu hưởng bởi sự phát triển đô thị. Hỗ trợ  
chúng tôi nhận thấy sự thay đổi nhận này cũng là động lực giúp cho người  
thức của người dân về việc tạo dựng dân chuyển đổi nghề được ổn định  
cho con cái có một tương lai tốt hơn là hơn và bền vững hơn.  
sự đầu tư sâu vào giáo dục cho thế hệ  
Nhờ nguồn lực này, người dân đã bền  
trẻ.  
bỉ thay đổi cuộc sống của mình và họ  
Duy trì các hoạt động kinh tế cho thuê vun đắp cho thế hệ sau được tốt hơn  
nhà trọ là nguồn thu nhập chính yếu thông qua đầu tư giáo dục và phát  
của hộ. Ngoài nguồn thu nhập này, triển nghề nghiệp cho con cháu. Sự  
các thành viên trong gia đình còn có thích ứng nghề nghiệp trong bối cảnh  
nguồn thu từ những công việc đòi hỏi đô thị là điều tất yếu, nhưng quá trình  
có trình độ và tay nghề khá ổn định. này trở nên bền vững hơn khi được  
Điều này yêu cầu họ nhận thức tốt đầu tư nhiều hơn vào giáo dục cho  
hơn trong việc đầu tư giáo dục cho các thế hệ tương lai.  
các thế hệ kế tiếp.  
CHÚ THÍCH  
(1) Tác giả khảo sát 200 hộ dân trong nghiên cứu “Sự chuyển đổi việc làm của cư dân ven đô  
dưới tác động của quá trình đô thị hóa - trường hợp phường Tân Tạo A, quận Bình Tân,  
TPHCM”. Luận văn thạc sĩ, năm 2007. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn  
TPHCM.  
(2) Thuộc đề tài “Sự thích ứng nghề nghiệp của cư dân trong môi trường đô thị hóa (Nghiên  
cứu tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, TPHCM giai đoạn 2007-2017”.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Đào Quang Bình. 2007. Sự chuyển đổi việc làm của cư dân ven đô trong quá trình đô  
thị hóa tại TPHCM, trường hợp phường Tân Tạo A, quận Bình Tân. Luận văn cao học,  
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM.  
2. Hà Thị Minh Khương. 2009. “Đầu tư vào giáo dục cho con cái qua nghiên cứu trường  
hợp xã Trịnh Xá, Bình Lục, Hà Nam”. Tạp chí Xã hội học, số 4, tr. 5.  
3. Ủy ban Nhân dân phường Tân Tạo A. 2019. Báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội. Kết  
quả 15 năm xây dựng và phát triển phường Tân Tạo A (2013-2018).  
pdf 12 trang baolam 19740 Free
Bạn đang xem tài liệu "Sự thích ứng nghề nghiệp của cư dân trong môi trường đô thị hóa (Nghiên cứu tại phường Tân Tạo A, quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2007-2017)", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsu_thich_ung_nghe_nghiep_cua_cu_dan_trong_moi_truong_do_thi.pdf