Chủ nghĩa yêu nước và văn hóa bản địa của dân tộc Việt Nam đối với sự hình thành các chuẩn mực đạo đức của người Việt

TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Thị Thùy Duyên  
CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VÀ VĂN HÓA BẢN ĐỊA  
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH  
CÁC CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI VIỆT  
PATRIOTISM AND INDIGENOUS CULTURE OF THE VIETNAMESE NATION WITH  
THE FORMATION OF VIETNAMESE ETHICAL STANDARDS  
NGUYỄN THỊ THÙY DUYÊN  
TÓM TẮT: Chuẩn mực đạo đức của người Việt trong lịch sử có những biểu hiện của sự lựa chọn  
về mặt đạo đức của con người và cách thể hiện triết lý đạo đức của người Việt Nam. Đặc điểm này  
có sự định hình từ chủ nghĩa yêu nước và văn hóa bản địa truyền thống của dân tộc Việt Nam, tạo  
thành những quy tắc được ghi nhận bằng lời, bằng các biểu trưng để dựa vào đó xã hội định  
hướng hành vi của các thành viên.  
Từ khóa: chuẩn mực đạo đức; chủ nghĩa yêu nước; văn hóa bản địa.  
ABSTRACT: The Vietnamese ethical standards in history have shown manifestations of human  
moral choice and the expression of the ethical philosophy of the Vietnamese people. This feature  
takes shape from the patriotism and traditional indigenous culture of the Vietnamese Nation,  
forming rules recognized by words, by symbols on which the society orients behaviors of its  
members.  
Key words: ethical standards; patriotism; the indigenous culture.  
trong lịch sử có những biểu hiện của sự lựa  
chọn về mặt đạo đức của con người và cách thể  
hiện triết lý đạo đức của người Việt Nam. Đặc  
điểm này có sự định hình từ chủ nghĩa yêu  
nước và văn hóa bản địa truyền thống của dân  
tộc Việt Nam.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Chuẩn mực đạo đức (Code of Ethics/  
Ethical Code) là một quan niệm về chuẩn mực,  
bao gồm hệ thống các nguyên tắc có ảnh hưởng  
chi phối hành vi đạo đức được chấp nhận bởi  
xã hội. Trong sự phát triển của lịch sử cộng  
đồng người Việt Nam, các chuẩn mực đạo đức  
được hình thành như là sự tổng hòa của những  
mong đợi, những yêu cầu, những quy tắc của  
xã hội được ghi nhận bằng lời, bằng các biểu  
trưng để dựa vào đó xã hội định hướng hành vi  
của các thành viên. Nghiên cứu các chuẩn mực  
đạo đức của người Việt trong bản chất tự nhiên  
của đạo đức, luân lý, nhân cách, có thể nhận  
thấy, chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam  
2. NỘI DUNG  
Chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm tinh thần  
cao quý nhất của dân tộc Việt Nam, giữ vị trí  
chuẩn mực cao nhất của đạo lý và đứng đầu bậc  
thang giá trị của bản sắc dân tộc. Lịch sử Việt  
Nam đã thể hiện sức mạnh lớn lao của chủ  
nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc chân chính  
trong cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ tổ  
quốc. Yêu nước là một trong những tình cảm  
 TS. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,  
duyenussh@gmail.com, Mã số: TCKH24-21-2020  
Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong khuôn khổ Đề tài mã số  
B2019-18b-02.  
21  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
sâu sắc nhất, được củng cố qua hàng nghìn năm  
lịch sử, mang tính phổ biến của nhân dân các  
quốc gia, dân tộc trên thế giới. Tình cảm yêu  
nước xuất phát từ tình yêu gia đình, yêu quê  
hương xứ sở, phát triển lên thành chủ nghĩa yêu  
nước cùng với sự phát triển của ý thức xã hội,  
trở thành cơ sở lý luận chi phối quan niệm  
sống, tồn tại và phát triển của cả dân tộc, trong  
đó có quan điểm đạo đức. Do vậy, chủ nghĩa  
yêu nước Việt Nam mà nội dung là tình yêu và  
lòng trung thành với tổ quốc, là lòng tự hào về  
quá khứ và hiện tại của tổ quốc, ý chí bảo vệ  
những lợi ích của tổ quốc là nền tảng cho các  
quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con  
người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho  
phù hợp với lợi ích của cộng đồng, xã hội. Hồ  
Chí Minh đã nói: “Nhân dân Việt Nam có  
truyền thống yêu nước nồng nàn. Lịch sử ngàn  
năm của dân tộc Việt Nam đã ghi những trang  
oanh liệt của nhân dân trong đấu tranh để xây  
dựng nước nhà và bảo vệ nền độc lập của tổ  
quốc mình” [1, tr.313].  
Việt Nam trong cộng đồng gia đình - làng, xã -  
tổ quốc.  
Tình yêu nước còn đưa đến hình thành  
chuẩn mực đạo đức truyền thống của người  
Việt, đó là ý thức sâu sắc về độc lập, tự chủ,  
bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia và bản sắc  
văn hóa dân tộc. Trong bối cảnh lịch sử liên tục  
bị ngoại xâm, nhân dân Việt Nam sớm hình  
thành ý thức về độc lập, tự chủ, bảo vệ toàn vẹn  
chủ quyền quốc gia. Nguyễn Trãi viết “Bình  
Ngô đại cáo” khẳng định nền văn hiến của Đại  
Việt ta từ trước, núi sông bờ cõi đã chia, phong  
tục Bắc Nam cũng khác. Hồ Chí Minh trong  
Tuyên Ngôn độc lập cũng chỉ rõ: Toàn thể dân  
tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực  
lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền  
tự do, độc lập ấy. Người viết: “Tôi khuyên đồng  
bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. ...Trong mấy  
triệu người cũng có người thế này thế khác,  
nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của  
tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ.  
Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì  
ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với  
những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy  
tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới  
thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương  
lai chắc sẽ vẻ vang” [1, tr.280-281]. Nhận thức  
rõ chân lý “đoàn kết là sức mạnh” trong suốt  
tiến trình giữ vững nền độc lập của dân tộc,  
nhân dân ta đã biến tinh thần đoàn kết ấy thành  
động lực kết nối toàn thể dân tộc vào một khối  
thống nhất, tạo nguồn sức mạnh vật chất phi  
thường. Sức mạnh ấy không chỉ được hô hào,  
ngưng đọng trong tâm tư, tình cảm của nhân  
dân, mà được thực thi cụ thể bằng hành động  
với những thành tựu thu được trong lao động  
sản xuất và chiến đấu chống xâm lược và xây  
dựng đất nước thời bình.  
Yêu quê hương, xứ sở, gắn bó trong cộng  
đồng dân tộc là chuẩn mực đạo đức được người  
Việt hun đúc từ chủ nghĩa yêu nước. Nền văn  
minh nông nghiệp lúa nước đã tạo nên sự gắn  
kết các thành viên trong cộng đồng xã hội với  
nhau, từ đơn vị gia đình đến làng xã, đến tổ  
quốc, giữ làng là để giữ nước, việc làng là việc  
nước. Trong cộng đồng ấy, dân được coi là gốc  
nước, là tiềm lực to lớn về quân sự và kinh tế  
để đảm bảo quyền tự chủ và nền độc lập cho  
đất nước, do vậy, có thương dân, lo cho dân thì  
cả nước mới chung lòng góp sức tạo sức mạnh.  
Lịch sử chứng kiến, Trần Quốc Tuấn của thời  
Trần thế kỷ XIII đề nghị vua Trần “khoan thư  
sức dân”, nuôi dưỡng sức dân, tranh thủ sự  
đồng tình của nhân dân là kế sâu rễ bền gốc, là  
điều kiện tiên quyết để giữ nước. Tình cảm  
thương nước, thương nhà, thương người,  
thương mình, lấy lợi ích chung đặt trên lợi ích  
riêng, đó là chất keo gắn chặt các thế hệ người  
Yêu nước, yêu thương con người chính là  
cơ sở để hành động, để giữ cho dân tộc không  
bị đồng hóa về tư tưởng và văn hóa, “đánh cho  
để răng đen, đánh cho để dài tóc” như quan  
điểm của Quang Trung - Nguyễn Huệ. Ý thức  
22  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Thị Thùy Duyên  
ấy bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc mình khiến  
các vua chúa triều Trần “xuống chiếu cho quân  
và dân không được mặc áo, chải đầu theo  
người phương Bắc và bắt chước tiếng nói của  
các nước Chiêm, Lào” [2, tr.158], Trần Bình  
Trọng trong lúc cận kề cái chết vẫn khẳng định:  
Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm  
vương đất Bắc. Trong khi bảo vệ bản sắc văn  
hóa dân tộc, các thế hệ người Việt Nam không  
cô lập, kỳ thị mà tiếp thu những cái hay, cái  
đẹp của nền văn hóa khác, góp phần làm giàu  
bản sắc dân tộc. Xuất phát từ vị trí địa lý, lãnh  
thổ của đất nước, ngay từ buổi đầu dựng nước,  
tư tưởng của người Việt nói chung đã chịu ảnh  
hưởng của nhiều trào lưu văn minh, văn hóa  
khác nhau trên thế giới như Phật giáo, Nho  
giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo…. Tuy nhiên,  
so với các quốc gia khác trên thế giới, các nền  
văn hóa, tôn giáo bên ngoài du nhập Việt Nam  
khá thuận lợi, hòa bình. Trong lịch sử phát triển  
của dân tộc ta, hiện tượng những tôn giáo lớn  
khi du nhập Việt Nam bị bản địa hóa theo tín  
ngưỡng, lối sống và cách tư duy của người Việt  
Nam không phải là điều hiếm gặp. Cách thức tư  
duy mềm dẻo, hài hòa đã trở thành nhân tố  
quan trọng quy định chuẩn mực ứng xử, lối  
sống, nhân sinh quan của cư dân Việt trong lịch  
sử. Đó là lối sống hài hòa, dung hợp, chấp nhận  
các yếu tố trái ngược nhau trên nguyên tắc  
cùng tồn tại, không bài trừ nhau. Điều này bắt  
nguồn từ thái độ khoan dung và linh hoạt trong  
cách tiếp nhận văn hóa từ bên ngoài của người  
Việt. Dưới tác động của điều kiện tự nhiên và  
xã hội, trong tiến trình lịch sử của mình, dân  
tộc Việt Nam đã nhiều lần tiếp nhận các học  
thuyết triết học, chính trị và tôn giáo từ bên  
ngoài vào. Trong các cuộc giao lưu văn hóa đó,  
tư tưởng đạo đức của người Việt tiếp thu có  
chọn lọc những giá trị đạo đức “từ, bi, hỷ, xả”,  
“cứu nhân độ thế” của Phật giáo, chuẩn mực  
đạo đức “nhân - trí - dũng” của Nho giáo, lối  
sống hòa hiếu và hòa hợp với thiên nhiên của  
Đạo giáo… Trong khi đó, đạo Công giáo - một  
tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây được du  
nhập vào nước ta, buổi đầu đã không thể phát  
triển mạnh mẽ như Phật giáo, Nho giáo hay  
Đạo giáo, nhưng càng về sau, khi đạo Công  
giáo đã chứng minh được những giá trị tích cực  
của nó, đạo Công giáo nói riêng và văn hóa  
phương Tây nói chung đã được tiếp thu và dần  
có những ảnh hưởng nhất định đến đời sống  
tinh thần của người Việt. Với sự mềm dẻo, biện  
chứng vốn có trong tâm thức của cư dân nông  
nghiệp vùng lúa nước, người dân đã tự tìm cho  
mình con đường chuyển hóa linh hoạt, tiếp  
nhận những giá trị có ích của văn hóa phương  
Tây, đồng thời biến đổi chúng cho phù hợp với  
lối sống của mình. Đây cũng là một yếu tố góp  
phần củng cố những chuẩn mực đạo đức của  
người Việt. Người Việt không tiếp thu nguyên  
xi, mà biết bản địa hóa, lĩnh hội và phát huy  
những cái hay, cái tiến bộ của từng tôn giáo  
trong cuộc sống, làm cho các tôn giáo hỗ trợ,  
bổ sung mà không mâu thuẫn với nhau. Do đó,  
trong quá trình xâm nhập và bị bản địa hóa, các  
giá trị văn hóa ngoại lai du nhập Việt Nam có  
thể “chung sống” hòa bình với nhau, hòa cùng  
văn hóa bản địa của cư dân người Việt. Những  
giá trị đó nằm ngoài tính xung đột gay gắt,  
đồng thời được dung hòa, điều chỉnh bởi các  
chuẩn mực về đạo đức, trong đó lợi ích cộng  
đồng, quốc gia, dân tộc là chuẩn mực cao nhất.  
Nhờ đó, các chuẩn mực đạo đức này tiếp tục  
được hun đúc bởi tính cố kết cộng đồng và lối  
sống tình cảm của người dân. Chính vì vậy,  
khoan dung văn hóa, khoan dung tôn giáo, hội  
nhập nhưng không hòa tan, không bị đồng hóa  
tư tưởng và văn hóa cũng là những chuẩn mực  
đạo đức đáng trân trọng được hình thành từ khá  
sớm trong lịch sử của dân tộc Việt Nam.  
Quá trình lao động sản xuất và thích nghi  
với điều kiện tự nhiên đã dẫn đến sự hình thành  
những quan niệm về thế giới xung quanh, về xã  
hội và về con người của người Việt trong lịch  
sử. Những quy tắc, chuẩn mực xã hội được  
người Việt Nam tạo dựng nhằm điều chỉnh  
23  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
cách đánh giá và cách ứng xử của con người  
trong quan hệ với tự nhiên và quan hệ với xã  
hội sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng  
xã hội. Những quy tắc, chuẩn mực này được  
đúc kết thành các nguyên tắc làm nên chuẩn  
mực đạo đức của người Việt như yêu lao động  
sản xuất, trọng tình nghĩa cũng như rất cần cù,  
sáng tạo trong lao động và giản dị, tiết kiệm  
trong cuộc sống. Những giá trị này cùng với  
các giá trị: yêu nước, thương nòi, kiên cường,  
bất khuất, đoàn kết, tự lực, tự cường… làm nên  
hệ giá trị cốt lõi, chuẩn mực định hướng cho tư  
tưởng đạo đức của người Việt.  
nhân, cá nhân với cộng đồng, xã hội, thì yêu  
cầu mà dư luận xã hội đặt ra là các cá nhân  
sống trong xã hội phải giữ lấy mình, không làm  
điều gì tổn hại đến lợi ích, danh dự của bản  
thân cũng như gia đình, dòng họ hay cộng  
đồng, xã hội. Những ai làm được điều tốt, có  
nhân, có nghĩa sẽ được ngợi ca, được xem như  
là tấm gương để mọi người xung quanh học  
hỏi, noi theo. Nếu con trong gia đình mà làm  
được, có tài, có đức hơn cha thì được xem là  
“nhà có phúc”, hoặc con cái thì phải luôn ghi  
nhớ công ơn cha mẹ. Đặc biệt, con người Việt  
Nam dù trong hoàn cảnh nào cũng phải hết sức  
giữ gìn phẩm giá của mình, phải “Đói cho sạch,  
rách cho thơm”, đối với với nhau cũng phải nhẹ  
nhàng, đắn đo suy nghĩ trước sau “ăn có nhai,  
nói có nghĩ”, vừa là để không làm tổn thương  
nhau, vừa nhằm giáo dục con người sống ngày  
càng tốt hơn, đề cao phẩm giá của con người.  
Chuẩn mực trung thực, tiết kiệm cũng là những  
phẩm chất đạo đức của con người Việt Nam từ  
trước tới nay. Trong đó, trung thực là một trong  
những đặc trưng cơ bản tạo nên bản chất đạo  
đức của con người, nó luôn được người dân  
Việt Nam coi trọng, đề cao, coi đó là một trong  
những tiêu chuẩn, nguyên tắc để đánh giá đạo  
đức, nhân cách con người, là một trong những  
yếu tố quan trọng nhất hình thành nên chữ “tín”  
trong đời sống xã hội. Nhờ có tính trung thực  
mà con người tạo dựng niềm tin, xử lý tốt các  
quan hệ xã hội hiện có cũng như sẵn sàng đón  
nhận và vượt qua mọi khó khăn, khẳng định  
bản thân mình trong cộng đồng, xã hội. Còn  
cần cù, tiết kiệm thể hiện ở tinh thần chịu đựng  
gian khổ, khắc phục khó khăn, vượt qua thử  
thách trong lao động, trong hoạt động sản xuất  
ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội cũng  
như biết chắt chiu, sử dụng các thành quả lao  
động do chính mình làm ra một cách hợp lý của  
nhân dân ta. Trong khi cần cù, siêng năng trong  
lao động, trong thực hiện có hiệu quả nội dung  
công việc một cách hợp lý nhất có thể nhằm tạo  
ra nhiều của cải, vật chất phục vụ cho nhu cầu  
Trên một địa bàn đất đai nhỏ hẹp, sản xuất  
nông nghiệp khó khăn, thiên nhiên khắc nghiệt,  
lại luôn bị nạn ngoại xâm trong suốt chiều dài  
lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt  
Nam sớm có tinh thần yêu lao động sản xuất,  
hiếu học. Con người Việt Nam là con người  
ham học hỏi. Dù là ở thời đại nào, con người  
Việt Nam luôn biết làm giàu bản thân mình  
thông qua việc tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm  
từ các thế hệ trước đó, từ những người xung  
quanh, từ thực tiễn sản xuất, chiến đấu và từ sự  
tự lực học tập. Hệ thống đê điều hùng vĩ trên  
dải đất dày đặc các con sông và bị chi phối bởi  
khí hậu nhiệt đới gió mùa, cách thức mưu dũng  
đánh giặc thắng lợi của dân tộc hơn ngàn năm  
lịch sử giữ nước… là minh chứng lịch sử quan  
trọng nói lên sự cần cù, sáng tạo của dân tộc ta.  
Hiếu học và coi trọng người thầy cũng là chuẩn  
mực đạo đức được người Việt Nam từ xa xưa  
cho đến nay rất trân trọng. Người Việt quý mến  
và luôn ghi nhớ đến công lao người thầy theo  
tinh thần “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, “muốn  
sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì  
yêu lấy thầy”. Còn ở phương diện đối nhân xử  
thế, người Việt luôn coi trọng chữ tình, không  
chỉ là sống phải có trước, có sau, phải chí  
nghĩa, chí tình, mà còn không được làm gì tổn  
hạn đến mối quan hệ này “Đói lòng mà vẫn  
chơi se, miễn sao được bụng bạn bè mới thôi”.  
Trong các mối quan hệ giữa cá nhân với cá  
24  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Nguyễn Thị Thùy Duyên  
của cá nhân và cộng đồng, xã hội, thì tiết kiệm  
để phòng khi thiên tai, địch họa, con người vẫn  
có cái để mà sử dụng. Tất cả làm nên các chuẩn  
mực đạo đức trọng nghĩa tình, nhân hậu, thủy  
chung, hào hiệp… và cao hơn nữa là chủ nghĩa  
nhân đạo, nhân văn.  
đồng bào dân tộc đến đồng bào các tôn giáo,  
nhà tu hành… Nhưng những nội dung đạo đức  
của cán bộ, đảng viên, hay nói chung là đạo  
đức công vụ là nội dung chiếm phần chủ yếu  
nhất trong tư tưởng đạo đức của Người. Hiến  
pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng  
hòa năm 1946 đã ghi nhận ý tưởng sâu sắc của  
Hồ Chí Minh về thiết lập một nền công vụ  
mạnh mẽ, sáng suốt của dân, hoạt động vì nhân  
dân và chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân,  
đó là một nền công vụ hiện đại, dân chủ, có  
hiệu lực từ trung ương đến cơ sở. Theo Chủ  
tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, công chức là công  
bộc, có bổn phận phục vụ nhân dân, vì thế đạo  
đức công chức thể hiện tính dân chủ trong công  
vụ mà công chức thực hiện đối với nhân dân.  
Đạo đức công chức thể hiện qua những hành  
động cụ thể, qua công việc hằng ngày của  
người cán bộ công chức nhằm thực hiện các  
chuẩn mực đạo đức cụ thể. Đạo đức người cách  
mạng không phải là những giáo điều suông, mà  
là đạo đức của hành động, lời nói phải đi đôi  
với việc làm, nêu gương làm việc tốt, khắc  
phục thói hư, tật xấu. Theo tư tưởng Hồ Chí  
Minh, đạo đức công vụ được thể hiện trong  
những nguyên tắc đạo đức, chuẩn mực nhất  
định, đó là: 1) Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô  
tư; 2) Phải có tinh thần trách nhiệm cao; 3)  
Chấp hành nghiêm kỷ luật và có tinh thần sáng  
tạo trong thi hành công vụ; 4) Có ý chí cầu tiến  
bộ, luôn luôn phấn đấu trong công việc; 5) Có  
tinh thần thân ái, hợp tác với đồng nghiệp.  
Kế thừa có chọn lọc những giá trị truyền  
thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa  
của nhân loại, mặc dù không để lại những tác  
phẩm lớn về đạo đức nhưng những tư tưởng  
lớn của Hồ Chí Minh về đạo đức nằm trong  
những bài viết, bài nói ngắn gọn, súc tích và  
qua chính cuộc sống, lao động và học tập của  
Người. Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng  
định đạo đức là gốc, là nền tảng và là sức mạnh  
của người cách mạng, coi như cái gốc của cây,  
ngọn nguồn của sông nước. Người cách mạng  
phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài  
giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.  
Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh  
không có nghĩa là tuyệt đối hóa mặt đức, coi  
nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có  
đức là người vô dụng nhưng có đức mà không  
có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho nên, đức là  
gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để  
hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Có thể nói, sự  
thống nhất giữa tư tưởng đạo đức và hành động  
cách mạng, giữa lý luận và thực tiễn đã trở  
thành nét đặc trưng nổi bật của đạo đức Hồ Chí  
Minh. Hồ Chí Minh khẳng định: “Đạo đức  
cách mạng không phải từ trên trời sa xuống.  
Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày  
mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng  
mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”  
[1, tr.293]. Do vậy, phải rèn luyện và tu dưỡng  
đạo đức suốt đời, thường xuyên trong mọi hoạt  
động thực tiễn, từ đời tư đến những sinh hoạt  
cộng đồng trong mọi mối quan hệ xã hội dựa  
trên các chuẩn mực đạo đức.  
Tiếp đến, để thích ứng với điều kiện và  
tình hình mới, năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí  
Minh đã ký Sắc lệnh 76/SL ngày 20-5-  
1950 ban hành Quy chế công chức Việt Nam.  
Tại lời nói đầu, nội dung về công chức và đạo  
đức công vụ đã được thể hiện cụ thể: “Công  
chức Việt Nam là những công dân giữ một  
nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính  
quyền nhân dân…”. Chuẩn mực đạo đức công  
vụ của cán bộ, công chức Việt Nam được Bác  
Hồ xác định cô đọng là “cần”, “kiệm”, “liêm”,  
Những chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh  
đưa ra với mọi đối tượng xã hội, từ người công  
nhân đến trí thức, văn nghệ sỹ tới các bậc phụ  
lão, phụ nữ, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, từ  
25  
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG  
Số 24, Tháng 11 – 2020  
“chính”, “chí công vô tư”. Cần là cần cù, siêng  
năng, chăm chỉ trong học tập, trong lao động,  
trong chiến đấu và trong sản xuất; cần còn có  
nghĩa là làm việc có phương pháp, có khoa học  
và có trí tuệ. Kiệm là tiết kiệm thời gian, tiền  
bạc, của cải vật chất và tinh thần cho nhân dân,  
không lãng phí, tiêu dùng hợp lý nhằm mục  
đích mở rộng sản xuất và không ngừng nâng  
cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân  
dân. Liêm là liêm khiết, trong sáng, không  
tham của cải vật chất, địa vị, không tham sung  
sướng; không nịnh hót kẻ trên và cũng không  
thích người khác tâng bốc mình. Chính là luôn  
đấu tranh bảo vệ lẽ phải, lên án những cái xấu,  
cái sai trái. Chí công là rất mực công bằng,  
công tâm; vô tư là không được có lòng riêng,  
thiên tư đối với người, với việc, thắng được  
chủ nghĩa cá nhân trong công việc, đặt lợi ích  
của Tổ quốc, của nhân dân lên hàng đầu. Cần,  
kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với  
nhau và với chí công vô tư. Cần, kiệm, liêm,  
chính sẽ dẫn đến chí công vô tư, và ngược lại,  
đã chí công vô tư thì nhất định sẽ thực hiện  
được cần, kiệm, liêm, chính.  
chính, mà còn yêu cầu phải tích cực giáo dục  
đạo đức cách mạng. Giáo dục đạo đức cách  
mạng không có nghĩa phá bỏ tất cả, mà là phê  
phán, cải tạo, thay thế những gì cũ kỹ, lạc hậu,  
tiêu cực gây tác hại xấu đối với sự nghiệp cách  
mạng và bổ sung những giá trị, chuẩn mực đạo  
đức mới, hiện đại và phù hợp. Hồ Chí Minh là  
một tấm gương mẫu mực trong việc tiếp thu  
những chuẩn mực giá trị đạo đức được đúc kết  
bởi truyền thống dân tộc để xây dựng hệ thống  
giá trị đạo đức mới mang tính giai cấp, tính dân  
tộc trong thời đại mới.  
3. KẾT LUẬN  
Đoàn kết, gắn bó với quê hương, đất nước,  
sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc  
cũng như thương yêu con người, hành động vì  
lẽ phải, trung thực, cần cù, tiết kiệm; đề cao các  
giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc trở thành những  
chuẩn mực đạo đức trong truyền thống của dân  
tộc Việt Nam từ trong lịch sử đến thời đại Hồ  
Chí Minh. Những chuẩn mực đạo đức đó tạo  
nên những giá trị tốt đẹp để nhân dân ta vượt  
qua khó khăn trong cuộc sống cũng như để bảo  
vệ và xây dựng đất nước, hoàn thiện nhân cách  
của con người trong thời đại đấu tranh dựng  
nước, giữ nước cũng như trong thời đại ngày  
nay - khi chủ nghĩa yêu nước chân chính gắn  
bó với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.  
Trong giáo dục, xây dựng đạo đức cách  
mạng cho nhân dân, nhất là cán bộ và đảng  
viên, Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh sự  
cần thiết phải thực hiện cần, kiệm, liêm,  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.  
[2] Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, dịch theo bản khắc năm  
Chính Hòa thứ 18 (1697), tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.  
Ngày nhận bài: 19-10-2020. Ngày biên tập xong: 23-10-2020. Duyệt đăng: 27-11-2020  
26  
pdf 6 trang baolam 23100 Free
Bạn đang xem tài liệu "Chủ nghĩa yêu nước và văn hóa bản địa của dân tộc Việt Nam đối với sự hình thành các chuẩn mực đạo đức của người Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfchu_nghia_yeu_nuoc_va_van_hoa_ban_dia_cua_dan_toc_viet_nam_d.pdf