Chủ nghĩa yêu nước và văn hóa bản địa của dân tộc Việt Nam đối với sự hình thành các chuẩn mực đạo đức của người Việt
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Thị Thùy Duyên
CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC VÀ VĂN HÓA BẢN ĐỊA
CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM ĐỐI VỚI SỰ HÌNH THÀNH
CÁC CHUẨN MỰC ĐẠO ĐỨC CỦA NGƯỜI VIỆT
PATRIOTISM AND INDIGENOUS CULTURE OF THE VIETNAMESE NATION WITH
THE FORMATION OF VIETNAMESE ETHICAL STANDARDS
NGUYỄN THỊ THÙY DUYÊN
TÓM TẮT: Chuẩn mực đạo đức của người Việt trong lịch sử có những biểu hiện của sự lựa chọn
về mặt đạo đức của con người và cách thể hiện triết lý đạo đức của người Việt Nam. Đặc điểm này
có sự định hình từ chủ nghĩa yêu nước và văn hóa bản địa truyền thống của dân tộc Việt Nam, tạo
thành những quy tắc được ghi nhận bằng lời, bằng các biểu trưng để dựa vào đó xã hội định
hướng hành vi của các thành viên.
Từ khóa: chuẩn mực đạo đức; chủ nghĩa yêu nước; văn hóa bản địa.
ABSTRACT: The Vietnamese ethical standards in history have shown manifestations of human
moral choice and the expression of the ethical philosophy of the Vietnamese people. This feature
takes shape from the patriotism and traditional indigenous culture of the Vietnamese Nation,
forming rules recognized by words, by symbols on which the society orients behaviors of its
members.
Key words: ethical standards; patriotism; the indigenous culture.
trong lịch sử có những biểu hiện của sự lựa
chọn về mặt đạo đức của con người và cách thể
hiện triết lý đạo đức của người Việt Nam. Đặc
điểm này có sự định hình từ chủ nghĩa yêu
nước và văn hóa bản địa truyền thống của dân
tộc Việt Nam.
1. ĐẶT VẤN ĐỀ
Chuẩn mực đạo đức (Code of Ethics/
Ethical Code) là một quan niệm về chuẩn mực,
bao gồm hệ thống các nguyên tắc có ảnh hưởng
chi phối hành vi đạo đức được chấp nhận bởi
xã hội. Trong sự phát triển của lịch sử cộng
đồng người Việt Nam, các chuẩn mực đạo đức
được hình thành như là sự tổng hòa của những
mong đợi, những yêu cầu, những quy tắc của
xã hội được ghi nhận bằng lời, bằng các biểu
trưng để dựa vào đó xã hội định hướng hành vi
của các thành viên. Nghiên cứu các chuẩn mực
đạo đức của người Việt trong bản chất tự nhiên
của đạo đức, luân lý, nhân cách, có thể nhận
thấy, chuẩn mực đạo đức của người Việt Nam
2. NỘI DUNG
Chủ nghĩa yêu nước là sản phẩm tinh thần
cao quý nhất của dân tộc Việt Nam, giữ vị trí
chuẩn mực cao nhất của đạo lý và đứng đầu bậc
thang giá trị của bản sắc dân tộc. Lịch sử Việt
Nam đã thể hiện sức mạnh lớn lao của chủ
nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc chân chính
trong cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ tổ
quốc. Yêu nước là một trong những tình cảm
TS. Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh,
Nghiên cứu được tài trợ bởi Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong khuôn khổ Đề tài mã số
B2019-18b-02.
21
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 24, Tháng 11 – 2020
sâu sắc nhất, được củng cố qua hàng nghìn năm
lịch sử, mang tính phổ biến của nhân dân các
quốc gia, dân tộc trên thế giới. Tình cảm yêu
nước xuất phát từ tình yêu gia đình, yêu quê
hương xứ sở, phát triển lên thành chủ nghĩa yêu
nước cùng với sự phát triển của ý thức xã hội,
trở thành cơ sở lý luận chi phối quan niệm
sống, tồn tại và phát triển của cả dân tộc, trong
đó có quan điểm đạo đức. Do vậy, chủ nghĩa
yêu nước Việt Nam mà nội dung là tình yêu và
lòng trung thành với tổ quốc, là lòng tự hào về
quá khứ và hiện tại của tổ quốc, ý chí bảo vệ
những lợi ích của tổ quốc là nền tảng cho các
quy tắc, chuẩn mực xã hội mà nhờ đó con
người tự giác điều chỉnh hành vi của mình cho
phù hợp với lợi ích của cộng đồng, xã hội. Hồ
Chí Minh đã nói: “Nhân dân Việt Nam có
truyền thống yêu nước nồng nàn. Lịch sử ngàn
năm của dân tộc Việt Nam đã ghi những trang
oanh liệt của nhân dân trong đấu tranh để xây
dựng nước nhà và bảo vệ nền độc lập của tổ
quốc mình” [1, tr.313].
Việt Nam trong cộng đồng gia đình - làng, xã -
tổ quốc.
Tình yêu nước còn đưa đến hình thành
chuẩn mực đạo đức truyền thống của người
Việt, đó là ý thức sâu sắc về độc lập, tự chủ,
bảo vệ toàn vẹn chủ quyền quốc gia và bản sắc
văn hóa dân tộc. Trong bối cảnh lịch sử liên tục
bị ngoại xâm, nhân dân Việt Nam sớm hình
thành ý thức về độc lập, tự chủ, bảo vệ toàn vẹn
chủ quyền quốc gia. Nguyễn Trãi viết “Bình
Ngô đại cáo” khẳng định nền văn hiến của Đại
Việt ta từ trước, núi sông bờ cõi đã chia, phong
tục Bắc Nam cũng khác. Hồ Chí Minh trong
Tuyên Ngôn độc lập cũng chỉ rõ: Toàn thể dân
tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực
lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền
tự do, độc lập ấy. Người viết: “Tôi khuyên đồng
bào đoàn kết chặt chẽ và rộng rãi. ...Trong mấy
triệu người cũng có người thế này thế khác,
nhưng thế này hay thế khác đều dòng dõi của
tổ tiên ta. Vậy nên ta phải khoan hồng đại độ.
Ta phải nhận rằng đã là con Lạc cháu Hồng thì
ai cũng có ít hay nhiều lòng ái quốc. Đối với
những đồng bào lạc lối lầm đường, ta phải lấy
tình thân ái mà cảm hóa họ. Có như thế mới
thành đại đoàn kết, có đại đoàn kết thì tương
lai chắc sẽ vẻ vang” [1, tr.280-281]. Nhận thức
rõ chân lý “đoàn kết là sức mạnh” trong suốt
tiến trình giữ vững nền độc lập của dân tộc,
nhân dân ta đã biến tinh thần đoàn kết ấy thành
động lực kết nối toàn thể dân tộc vào một khối
thống nhất, tạo nguồn sức mạnh vật chất phi
thường. Sức mạnh ấy không chỉ được hô hào,
ngưng đọng trong tâm tư, tình cảm của nhân
dân, mà được thực thi cụ thể bằng hành động
với những thành tựu thu được trong lao động
sản xuất và chiến đấu chống xâm lược và xây
dựng đất nước thời bình.
Yêu quê hương, xứ sở, gắn bó trong cộng
đồng dân tộc là chuẩn mực đạo đức được người
Việt hun đúc từ chủ nghĩa yêu nước. Nền văn
minh nông nghiệp lúa nước đã tạo nên sự gắn
kết các thành viên trong cộng đồng xã hội với
nhau, từ đơn vị gia đình đến làng xã, đến tổ
quốc, giữ làng là để giữ nước, việc làng là việc
nước. Trong cộng đồng ấy, dân được coi là gốc
nước, là tiềm lực to lớn về quân sự và kinh tế
để đảm bảo quyền tự chủ và nền độc lập cho
đất nước, do vậy, có thương dân, lo cho dân thì
cả nước mới chung lòng góp sức tạo sức mạnh.
Lịch sử chứng kiến, Trần Quốc Tuấn của thời
Trần thế kỷ XIII đề nghị vua Trần “khoan thư
sức dân”, nuôi dưỡng sức dân, tranh thủ sự
đồng tình của nhân dân là kế sâu rễ bền gốc, là
điều kiện tiên quyết để giữ nước. Tình cảm
thương nước, thương nhà, thương người,
thương mình, lấy lợi ích chung đặt trên lợi ích
riêng, đó là chất keo gắn chặt các thế hệ người
Yêu nước, yêu thương con người chính là
cơ sở để hành động, để giữ cho dân tộc không
bị đồng hóa về tư tưởng và văn hóa, “đánh cho
để răng đen, đánh cho để dài tóc” như quan
điểm của Quang Trung - Nguyễn Huệ. Ý thức
22
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Thị Thùy Duyên
ấy bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc mình khiến
các vua chúa triều Trần “xuống chiếu cho quân
và dân không được mặc áo, chải đầu theo
người phương Bắc và bắt chước tiếng nói của
các nước Chiêm, Lào” [2, tr.158], Trần Bình
Trọng trong lúc cận kề cái chết vẫn khẳng định:
Ta thà làm ma nước Nam chứ không thèm làm
vương đất Bắc. Trong khi bảo vệ bản sắc văn
hóa dân tộc, các thế hệ người Việt Nam không
cô lập, kỳ thị mà tiếp thu những cái hay, cái
đẹp của nền văn hóa khác, góp phần làm giàu
bản sắc dân tộc. Xuất phát từ vị trí địa lý, lãnh
thổ của đất nước, ngay từ buổi đầu dựng nước,
tư tưởng của người Việt nói chung đã chịu ảnh
hưởng của nhiều trào lưu văn minh, văn hóa
khác nhau trên thế giới như Phật giáo, Nho
giáo, Đạo giáo, Thiên chúa giáo…. Tuy nhiên,
so với các quốc gia khác trên thế giới, các nền
văn hóa, tôn giáo bên ngoài du nhập Việt Nam
khá thuận lợi, hòa bình. Trong lịch sử phát triển
của dân tộc ta, hiện tượng những tôn giáo lớn
khi du nhập Việt Nam bị bản địa hóa theo tín
ngưỡng, lối sống và cách tư duy của người Việt
Nam không phải là điều hiếm gặp. Cách thức tư
duy mềm dẻo, hài hòa đã trở thành nhân tố
quan trọng quy định chuẩn mực ứng xử, lối
sống, nhân sinh quan của cư dân Việt trong lịch
sử. Đó là lối sống hài hòa, dung hợp, chấp nhận
các yếu tố trái ngược nhau trên nguyên tắc
cùng tồn tại, không bài trừ nhau. Điều này bắt
nguồn từ thái độ khoan dung và linh hoạt trong
cách tiếp nhận văn hóa từ bên ngoài của người
Việt. Dưới tác động của điều kiện tự nhiên và
xã hội, trong tiến trình lịch sử của mình, dân
tộc Việt Nam đã nhiều lần tiếp nhận các học
thuyết triết học, chính trị và tôn giáo từ bên
ngoài vào. Trong các cuộc giao lưu văn hóa đó,
tư tưởng đạo đức của người Việt tiếp thu có
chọn lọc những giá trị đạo đức “từ, bi, hỷ, xả”,
“cứu nhân độ thế” của Phật giáo, chuẩn mực
đạo đức “nhân - trí - dũng” của Nho giáo, lối
sống hòa hiếu và hòa hợp với thiên nhiên của
Đạo giáo… Trong khi đó, đạo Công giáo - một
tôn giáo có nguồn gốc từ phương Tây được du
nhập vào nước ta, buổi đầu đã không thể phát
triển mạnh mẽ như Phật giáo, Nho giáo hay
Đạo giáo, nhưng càng về sau, khi đạo Công
giáo đã chứng minh được những giá trị tích cực
của nó, đạo Công giáo nói riêng và văn hóa
phương Tây nói chung đã được tiếp thu và dần
có những ảnh hưởng nhất định đến đời sống
tinh thần của người Việt. Với sự mềm dẻo, biện
chứng vốn có trong tâm thức của cư dân nông
nghiệp vùng lúa nước, người dân đã tự tìm cho
mình con đường chuyển hóa linh hoạt, tiếp
nhận những giá trị có ích của văn hóa phương
Tây, đồng thời biến đổi chúng cho phù hợp với
lối sống của mình. Đây cũng là một yếu tố góp
phần củng cố những chuẩn mực đạo đức của
người Việt. Người Việt không tiếp thu nguyên
xi, mà biết bản địa hóa, lĩnh hội và phát huy
những cái hay, cái tiến bộ của từng tôn giáo
trong cuộc sống, làm cho các tôn giáo hỗ trợ,
bổ sung mà không mâu thuẫn với nhau. Do đó,
trong quá trình xâm nhập và bị bản địa hóa, các
giá trị văn hóa ngoại lai du nhập Việt Nam có
thể “chung sống” hòa bình với nhau, hòa cùng
văn hóa bản địa của cư dân người Việt. Những
giá trị đó nằm ngoài tính xung đột gay gắt,
đồng thời được dung hòa, điều chỉnh bởi các
chuẩn mực về đạo đức, trong đó lợi ích cộng
đồng, quốc gia, dân tộc là chuẩn mực cao nhất.
Nhờ đó, các chuẩn mực đạo đức này tiếp tục
được hun đúc bởi tính cố kết cộng đồng và lối
sống tình cảm của người dân. Chính vì vậy,
khoan dung văn hóa, khoan dung tôn giáo, hội
nhập nhưng không hòa tan, không bị đồng hóa
tư tưởng và văn hóa cũng là những chuẩn mực
đạo đức đáng trân trọng được hình thành từ khá
sớm trong lịch sử của dân tộc Việt Nam.
Quá trình lao động sản xuất và thích nghi
với điều kiện tự nhiên đã dẫn đến sự hình thành
những quan niệm về thế giới xung quanh, về xã
hội và về con người của người Việt trong lịch
sử. Những quy tắc, chuẩn mực xã hội được
người Việt Nam tạo dựng nhằm điều chỉnh
23
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 24, Tháng 11 – 2020
cách đánh giá và cách ứng xử của con người
trong quan hệ với tự nhiên và quan hệ với xã
hội sao cho phù hợp với lợi ích của cộng đồng
xã hội. Những quy tắc, chuẩn mực này được
đúc kết thành các nguyên tắc làm nên chuẩn
mực đạo đức của người Việt như yêu lao động
sản xuất, trọng tình nghĩa cũng như rất cần cù,
sáng tạo trong lao động và giản dị, tiết kiệm
trong cuộc sống. Những giá trị này cùng với
các giá trị: yêu nước, thương nòi, kiên cường,
bất khuất, đoàn kết, tự lực, tự cường… làm nên
hệ giá trị cốt lõi, chuẩn mực định hướng cho tư
tưởng đạo đức của người Việt.
nhân, cá nhân với cộng đồng, xã hội, thì yêu
cầu mà dư luận xã hội đặt ra là các cá nhân
sống trong xã hội phải giữ lấy mình, không làm
điều gì tổn hại đến lợi ích, danh dự của bản
thân cũng như gia đình, dòng họ hay cộng
đồng, xã hội. Những ai làm được điều tốt, có
nhân, có nghĩa sẽ được ngợi ca, được xem như
là tấm gương để mọi người xung quanh học
hỏi, noi theo. Nếu con trong gia đình mà làm
được, có tài, có đức hơn cha thì được xem là
“nhà có phúc”, hoặc con cái thì phải luôn ghi
nhớ công ơn cha mẹ. Đặc biệt, con người Việt
Nam dù trong hoàn cảnh nào cũng phải hết sức
giữ gìn phẩm giá của mình, phải “Đói cho sạch,
rách cho thơm”, đối với với nhau cũng phải nhẹ
nhàng, đắn đo suy nghĩ trước sau “ăn có nhai,
nói có nghĩ”, vừa là để không làm tổn thương
nhau, vừa nhằm giáo dục con người sống ngày
càng tốt hơn, đề cao phẩm giá của con người.
Chuẩn mực trung thực, tiết kiệm cũng là những
phẩm chất đạo đức của con người Việt Nam từ
trước tới nay. Trong đó, trung thực là một trong
những đặc trưng cơ bản tạo nên bản chất đạo
đức của con người, nó luôn được người dân
Việt Nam coi trọng, đề cao, coi đó là một trong
những tiêu chuẩn, nguyên tắc để đánh giá đạo
đức, nhân cách con người, là một trong những
yếu tố quan trọng nhất hình thành nên chữ “tín”
trong đời sống xã hội. Nhờ có tính trung thực
mà con người tạo dựng niềm tin, xử lý tốt các
quan hệ xã hội hiện có cũng như sẵn sàng đón
nhận và vượt qua mọi khó khăn, khẳng định
bản thân mình trong cộng đồng, xã hội. Còn
cần cù, tiết kiệm thể hiện ở tinh thần chịu đựng
gian khổ, khắc phục khó khăn, vượt qua thử
thách trong lao động, trong hoạt động sản xuất
ra của cải vật chất và tinh thần cho xã hội cũng
như biết chắt chiu, sử dụng các thành quả lao
động do chính mình làm ra một cách hợp lý của
nhân dân ta. Trong khi cần cù, siêng năng trong
lao động, trong thực hiện có hiệu quả nội dung
công việc một cách hợp lý nhất có thể nhằm tạo
ra nhiều của cải, vật chất phục vụ cho nhu cầu
Trên một địa bàn đất đai nhỏ hẹp, sản xuất
nông nghiệp khó khăn, thiên nhiên khắc nghiệt,
lại luôn bị nạn ngoại xâm trong suốt chiều dài
lịch sử dựng nước và giữ nước, nhân dân Việt
Nam sớm có tinh thần yêu lao động sản xuất,
hiếu học. Con người Việt Nam là con người
ham học hỏi. Dù là ở thời đại nào, con người
Việt Nam luôn biết làm giàu bản thân mình
thông qua việc tiếp nhận tri thức, kinh nghiệm
từ các thế hệ trước đó, từ những người xung
quanh, từ thực tiễn sản xuất, chiến đấu và từ sự
tự lực học tập. Hệ thống đê điều hùng vĩ trên
dải đất dày đặc các con sông và bị chi phối bởi
khí hậu nhiệt đới gió mùa, cách thức mưu dũng
đánh giặc thắng lợi của dân tộc hơn ngàn năm
lịch sử giữ nước… là minh chứng lịch sử quan
trọng nói lên sự cần cù, sáng tạo của dân tộc ta.
Hiếu học và coi trọng người thầy cũng là chuẩn
mực đạo đức được người Việt Nam từ xa xưa
cho đến nay rất trân trọng. Người Việt quý mến
và luôn ghi nhớ đến công lao người thầy theo
tinh thần “nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, “muốn
sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì
yêu lấy thầy”. Còn ở phương diện đối nhân xử
thế, người Việt luôn coi trọng chữ tình, không
chỉ là sống phải có trước, có sau, phải chí
nghĩa, chí tình, mà còn không được làm gì tổn
hạn đến mối quan hệ này “Đói lòng mà vẫn
chơi se, miễn sao được bụng bạn bè mới thôi”.
Trong các mối quan hệ giữa cá nhân với cá
24
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Nguyễn Thị Thùy Duyên
của cá nhân và cộng đồng, xã hội, thì tiết kiệm
để phòng khi thiên tai, địch họa, con người vẫn
có cái để mà sử dụng. Tất cả làm nên các chuẩn
mực đạo đức trọng nghĩa tình, nhân hậu, thủy
chung, hào hiệp… và cao hơn nữa là chủ nghĩa
nhân đạo, nhân văn.
đồng bào dân tộc đến đồng bào các tôn giáo,
nhà tu hành… Nhưng những nội dung đạo đức
của cán bộ, đảng viên, hay nói chung là đạo
đức công vụ là nội dung chiếm phần chủ yếu
nhất trong tư tưởng đạo đức của Người. Hiến
pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng
hòa năm 1946 đã ghi nhận ý tưởng sâu sắc của
Hồ Chí Minh về thiết lập một nền công vụ
mạnh mẽ, sáng suốt của dân, hoạt động vì nhân
dân và chịu sự kiểm tra, giám sát của nhân dân,
đó là một nền công vụ hiện đại, dân chủ, có
hiệu lực từ trung ương đến cơ sở. Theo Chủ
tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, công chức là công
bộc, có bổn phận phục vụ nhân dân, vì thế đạo
đức công chức thể hiện tính dân chủ trong công
vụ mà công chức thực hiện đối với nhân dân.
Đạo đức công chức thể hiện qua những hành
động cụ thể, qua công việc hằng ngày của
người cán bộ công chức nhằm thực hiện các
chuẩn mực đạo đức cụ thể. Đạo đức người cách
mạng không phải là những giáo điều suông, mà
là đạo đức của hành động, lời nói phải đi đôi
với việc làm, nêu gương làm việc tốt, khắc
phục thói hư, tật xấu. Theo tư tưởng Hồ Chí
Minh, đạo đức công vụ được thể hiện trong
những nguyên tắc đạo đức, chuẩn mực nhất
định, đó là: 1) Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư; 2) Phải có tinh thần trách nhiệm cao; 3)
Chấp hành nghiêm kỷ luật và có tinh thần sáng
tạo trong thi hành công vụ; 4) Có ý chí cầu tiến
bộ, luôn luôn phấn đấu trong công việc; 5) Có
tinh thần thân ái, hợp tác với đồng nghiệp.
Kế thừa có chọn lọc những giá trị truyền
thống tốt đẹp của dân tộc và tinh hoa văn hóa
của nhân loại, mặc dù không để lại những tác
phẩm lớn về đạo đức nhưng những tư tưởng
lớn của Hồ Chí Minh về đạo đức nằm trong
những bài viết, bài nói ngắn gọn, súc tích và
qua chính cuộc sống, lao động và học tập của
Người. Từ rất sớm, Hồ Chí Minh đã khẳng
định đạo đức là gốc, là nền tảng và là sức mạnh
của người cách mạng, coi như cái gốc của cây,
ngọn nguồn của sông nước. Người cách mạng
phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài
giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân.
Quan niệm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh
không có nghĩa là tuyệt đối hóa mặt đức, coi
nhẹ mặt tài. Người cho rằng có tài mà không có
đức là người vô dụng nhưng có đức mà không
có tài thì làm việc gì cũng khó. Cho nên, đức là
gốc nhưng đức và tài phải kết hợp với nhau để
hoàn thành nhiệm vụ cách mạng. Có thể nói, sự
thống nhất giữa tư tưởng đạo đức và hành động
cách mạng, giữa lý luận và thực tiễn đã trở
thành nét đặc trưng nổi bật của đạo đức Hồ Chí
Minh. Hồ Chí Minh khẳng định: “Đạo đức
cách mạng không phải từ trên trời sa xuống.
Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày
mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng
mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”
[1, tr.293]. Do vậy, phải rèn luyện và tu dưỡng
đạo đức suốt đời, thường xuyên trong mọi hoạt
động thực tiễn, từ đời tư đến những sinh hoạt
cộng đồng trong mọi mối quan hệ xã hội dựa
trên các chuẩn mực đạo đức.
Tiếp đến, để thích ứng với điều kiện và
tình hình mới, năm 1950, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã ký Sắc lệnh 76/SL ngày 20-5-
1950 ban hành Quy chế công chức Việt Nam.
Tại lời nói đầu, nội dung về công chức và đạo
đức công vụ đã được thể hiện cụ thể: “Công
chức Việt Nam là những công dân giữ một
nhiệm vụ trong bộ máy nhà nước của chính
quyền nhân dân…”. Chuẩn mực đạo đức công
vụ của cán bộ, công chức Việt Nam được Bác
Hồ xác định cô đọng là “cần”, “kiệm”, “liêm”,
Những chuẩn mực đạo đức Hồ Chí Minh
đưa ra với mọi đối tượng xã hội, từ người công
nhân đến trí thức, văn nghệ sỹ tới các bậc phụ
lão, phụ nữ, thanh niên, thiếu niên, nhi đồng, từ
25
TẠP CHÍ KHOA HỌC ĐẠI HỌC VĂN LANG
Số 24, Tháng 11 – 2020
“chính”, “chí công vô tư”. Cần là cần cù, siêng
năng, chăm chỉ trong học tập, trong lao động,
trong chiến đấu và trong sản xuất; cần còn có
nghĩa là làm việc có phương pháp, có khoa học
và có trí tuệ. Kiệm là tiết kiệm thời gian, tiền
bạc, của cải vật chất và tinh thần cho nhân dân,
không lãng phí, tiêu dùng hợp lý nhằm mục
đích mở rộng sản xuất và không ngừng nâng
cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân
dân. Liêm là liêm khiết, trong sáng, không
tham của cải vật chất, địa vị, không tham sung
sướng; không nịnh hót kẻ trên và cũng không
thích người khác tâng bốc mình. Chính là luôn
đấu tranh bảo vệ lẽ phải, lên án những cái xấu,
cái sai trái. Chí công là rất mực công bằng,
công tâm; vô tư là không được có lòng riêng,
thiên tư đối với người, với việc, thắng được
chủ nghĩa cá nhân trong công việc, đặt lợi ích
của Tổ quốc, của nhân dân lên hàng đầu. Cần,
kiệm, liêm, chính có quan hệ chặt chẽ với
nhau và với chí công vô tư. Cần, kiệm, liêm,
chính sẽ dẫn đến chí công vô tư, và ngược lại,
đã chí công vô tư thì nhất định sẽ thực hiện
được cần, kiệm, liêm, chính.
chính, mà còn yêu cầu phải tích cực giáo dục
đạo đức cách mạng. Giáo dục đạo đức cách
mạng không có nghĩa phá bỏ tất cả, mà là phê
phán, cải tạo, thay thế những gì cũ kỹ, lạc hậu,
tiêu cực gây tác hại xấu đối với sự nghiệp cách
mạng và bổ sung những giá trị, chuẩn mực đạo
đức mới, hiện đại và phù hợp. Hồ Chí Minh là
một tấm gương mẫu mực trong việc tiếp thu
những chuẩn mực giá trị đạo đức được đúc kết
bởi truyền thống dân tộc để xây dựng hệ thống
giá trị đạo đức mới mang tính giai cấp, tính dân
tộc trong thời đại mới.
3. KẾT LUẬN
Đoàn kết, gắn bó với quê hương, đất nước,
sẵn sàng hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc
cũng như thương yêu con người, hành động vì
lẽ phải, trung thực, cần cù, tiết kiệm; đề cao các
giá trị văn hóa, bản sắc dân tộc trở thành những
chuẩn mực đạo đức trong truyền thống của dân
tộc Việt Nam từ trong lịch sử đến thời đại Hồ
Chí Minh. Những chuẩn mực đạo đức đó tạo
nên những giá trị tốt đẹp để nhân dân ta vượt
qua khó khăn trong cuộc sống cũng như để bảo
vệ và xây dựng đất nước, hoàn thiện nhân cách
của con người trong thời đại đấu tranh dựng
nước, giữ nước cũng như trong thời đại ngày
nay - khi chủ nghĩa yêu nước chân chính gắn
bó với chủ nghĩa quốc tế trong sáng.
Trong giáo dục, xây dựng đạo đức cách
mạng cho nhân dân, nhất là cán bộ và đảng
viên, Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh sự
cần thiết phải thực hiện cần, kiệm, liêm,
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Hồ Chí Minh (2002), Toàn tập, tập 9, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
[2] Viện Khoa học Xã hội Việt Nam (1998), Đại Việt sử ký toàn thư, dịch theo bản khắc năm
Chính Hòa thứ 18 (1697), tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
Ngày nhận bài: 19-10-2020. Ngày biên tập xong: 23-10-2020. Duyệt đăng: 27-11-2020
26
Bạn đang xem tài liệu "Chủ nghĩa yêu nước và văn hóa bản địa của dân tộc Việt Nam đối với sự hình thành các chuẩn mực đạo đức của người Việt", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
chu_nghia_yeu_nuoc_va_van_hoa_ban_dia_cua_dan_toc_viet_nam_d.pdf

