Hành trình “đi ra” hải ngoại của nữ nhà văn Trung Quốc đương đại - Tàn Tuyết

HNUE JOURNAL OF SCIENCE  
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0041  
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 3, pp. 3-11  
HÀNH TRÌNH “ĐI RA” HẢI NGOẠI  
CỦA NỮ NHÀ VĂN TRUNG QUỐC ĐƯƠNG ĐẠI - TÀN TUYẾT  
Nguyễn Thị Mai Chanh  
Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội  
Tóm tắt. Tàn Tuyết (1953-) là nhà văn Trung Quốc đương đại có tầm ảnh hưởng quốc tế,  
song tại Việt Nam dường như chỉ được biết đến qua không quá ba bản dịch tác phẩm. Sáng  
tác của nữ nhà văn này đã có mặt trong sách giáo khoa bậc trung học cũng như giáo trình  
đại học nước ngoài nhiều nhất so với sáng tác của các nhà văn đương đại Trung Quốc khác.  
Tính đến nay, Tàn Tuyết đã có tổng cộng không dưới ba mươi tập sách được dịch ra hơn  
mười thứ tiếng trên thế giới và được xuất bản ở nhiều nước như Anh, Pháp, Đức, Ý, Mĩ,  
Thụy Điển, Nhật... Nhiều nhà nghiên cứu, phê bình chuyên nghiệp và các học giả, các nhà  
Hán học ở phương Tây, Nhật Bản từng viết bài về tác phẩm của nhà văn này. Bài viết của  
chúng tôi tập trung giới thiệu tình hình dịch thuật, xuất bản tác phẩm của Tàn Tuyết tại hai  
quốc gia lớn: Nhật Bản và Hoa Kì trong khoảng thời gian hơn hai thập niên vừa qua.  
Từ khóa: Tàn Tuyết, tác phẩm, dịch thuật, xuất bản, văn học Trung Quốc.  
1. Mở đầu  
Ở Việt Nam, Tàn Tuyết dường như mới chỉ được biết đến qua số lượng ít ỏi là ba bản dịch  
tác phẩm được ấn hành bởi nhà xuất bản địa phương (Nxb Tổng hợp Đồng Nai) từ năm 2008 và  
một số bài viết mang tính chất giới thiệu khái quát về tác giả cũng như về tập truyện ngắn Đào  
nguyên ngoài cõi thế của nhà văn. Chẳng hạn các bài: “Tàn Tuyết: Tiếng nói độc đáo của văn  
học đương đại Trung Quốc” (Dạ Vũ, Tạp chí Zingnews, 15/7/2017) [1]; “Thế giới văn chương  
của nữ nhà văn Tàn Tuyết” (https://thuvientrithuc.net) [2]; hay “Tàn Tuyết: “Văn học thuần  
túy” bị ngoại biên hóa là một điều tốt” (Thuý Hạnh ghi lại bài phỏng vấn nhà văn theo Thanh  
niên Trung Quốc, Tạp chí văn nghệ Quân đội, 6/4/2020) [3]. Như vậy, con số độc giả Việt Nam  
biết đến nhà văn này là không thể so sánh được với con số những người biết đến Mạc Ngôn  
(nhà văn gốc Trung Quốc thứ hai đạt giải Nobel văn chương), dù Tàn Tuyết cũng từng là ứng  
viên đứng thứ tư trong danh sách các ứng viên giải Nobel văn chương năm 2019 (trên cả Haruki  
Murakami và Milan Kundera). Điều đáng chú ý là, ngay tại Trung Quốc đại lục, Tàn Tuyết nhìn  
chung cũng không phải nhà văn “được nhiều người biết”. Vì vậy, hai chữ “nổi tiếng” trong nhan  
đề bài viết mang tên “Tàn Tuyết - tác gia Trung Quốc còn nổi tiếng hơn Mạc Ngôn” đăng trên  
trang web Nghệ thuật Nam Phương (www.zgnfys.com) thực tế là nói đến sự nổi tiếng của nhà  
văn này ở bên ngoài Trung Quốc. Ngay đoạn đầu, bài viết đã cho thấy điều đó: “Mạc Ngôn nổi  
bật trong nước nhưng không được thế giới biết đến nhiều trước lúc có giải Nobel. Tàn Tuyết nói  
chung không quen thuộc cho lắm với bạn đọc trong nước nhưng lại không phải là người xa lạ  
đối với văn học thế giới đương đại. Tác phẩm của Tàn Tuyết được dịch ra rất nhiều thứ tiếng.  
Số lượng bạn đọc sáng tác của nhà văn này tại Trung Quốc lại ít hơn nhiều so với độc giả đọc  
Ngày nhận bài: 12/7/2021. Ngày sửa bài: 29/7/2021. Ngày nhận đăng: 10/8/2021.  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Thị Mai Chanh. Địa chỉ e-mail: [email protected]  
3
Nguyễn Thị Mai Chanh  
bà qua bản dịch” [4]. Tàn Tuyết không phải thuộc thế hệ sau Mạc Ngôn, tác phẩm của bà cũng  
không phải xuất bản muộn hơn tác phẩm của Mạc Ngôn. Hai nhà văn thực ra cùng trang lứa:  
Tàn Tuyết sinh năm 1953, Mạc Ngôn sinh năm 1955. Cả hai đều khởi đầu văn nghiệp cùng thời  
gian (từ nửa sau thập niên 80 của thế kỉ XX). Trong bài viết này, chúng tôi không nhằm cắt  
nghĩa nguyên do của những hiện tượng văn học sử kiểu như câu chuyện vừa đề cập, mà muốn  
tìm hiểu xem Tàn Tuyết nổi tiếng như thế nào ở “hải ngoại” - từ quen dùng ở Trung Quốc đại  
lục. Nói cách khác, bài viết đặt vấn đề tìm hiểu ảnh hưởng quốc tế của nữ nhà văn từng được tác  
giả Mỹ Robert Coover nhận định: “là tiếng nói sáng tạo nhất trong văn học Trung Quốc từ giữa  
thế kỉ XX cho đến hiện nay” [dẫn theo 5]. Nói về Tàn Tuyết, Bradford Morrow - người đã biên  
tập và xuất bản nhiều tác phẩm của bà trên tạp chí văn học Hoa Kì - nhận xét: “… Tàn tuyết là  
một nhà văn hạng nhất. Là một người đã dành 25 năm qua để tìm kiếm và xuất bản những nhà  
văn quan trọng nhất trong thời đại chúng ta, tôi có thể nói không chút do dự rằng được xuất bản  
tác phẩm của Tàn Tuyết là một vinh dự và đặc ân” [6]. Dịch giả, nhà phê bình văn học người  
Nhật - Kondo Naoko cũng đánh giá rất cao tài năng của nhà văn Trung Quốc: “Tàn Tuyết là nhà  
văn đáng chú ý nhất ở Trung Quốc kể từ lần đầu tiên xuất hiện trên văn đàn Trung Quốc vào  
giữa những năm 1980 (…). Ngày nay, ngày càng nhiều độc giả trí thức Trung Quốc và thế giới  
bắt đầu ghi nhận tài năng phi thường của Tàn Tuyết, nhưng tôi nghĩ Tàn Tuyết vẫn chưa nhận  
được sự tôn trọng mà nhà văn xứng đáng có được. Có hai lí do cho việc này. Một là do trình độ  
phê bình văn học ở Trung Quốc vẫn chưa theo kịp nhà văn lỗi lạc nhất của họ, do những hạn  
chế về lịch sử và chính trị. Hai là vì thế giới không có đủ dịch giả giỏi và sách của Tàn Tuyết  
được dịch, đặc biệt là bằng tiếng Anh - một ngôn ngữ phổ biến nhất hiện nay” [7]. Do điều kiện  
tư liệu, bài viết của chúng tôi giới hạn phạm vi khảo sát, tập trung giới thiệu sự xuất hiện và ảnh  
hưởng của Tàn Tuyết ở hai quốc gia là Hoa Kì và Nhật Bản.  
2. Nội dung nghiên cứu  
Tàn Tuyết tên thật là Đặng Tiểu Hoa. Bút danh “Tàn Tuyết” (残雪Can Xue) trong tiếng  
Trung có thể được cắt nghĩa theo hai cách. Hiểu theo nghĩa “tiêu cực”, đó là “tuyết bẩn không  
chịu tan” (ngoài đường hay ngoài bãi); còn theo nghĩa “tích cực” là “tuyết tinh khiết trên đỉnh  
núi cao”. Nữ văn sĩ vốn sinh ra và lớn lên tại thành phố Trường Sa, tỉnh Hồ Nam - miền Nam  
Trung Quốc; đến năm 2001, bà mới cùng chồng chuyển đến Bắc Kinh. Theo cách nói phổ biến  
tại Trung Quốc thời kì ấy, lí lịch của nhà văn thuộc diện “có vấn đề”: cha bà là một đảng viên  
Đảng Cộng sản Trung Quốc từng công tác tại Báo Tin tức Hồ Nam đã bị quy thành phần phái  
hữu và bị đưa đi cải tạo lao động năm 1957; mẹ của bà cũng là một người hoạt động trong lĩnh  
vực văn hóa (tác giả của cuốn Vĩnh Châu cựu sự), cũng từng bị đưa về vùng nông thôn lao động  
cải tạo. Như phần lớn thiếu niên cùng thế hệ, Tàn Tuyết vì thảm họa Đại cách mạng văn hóa  
nên thất học (bà chỉ mới tốt nghiệp tiểu học). Các công việc bà đã trải qua suốt những tháng  
năm tuổi trẻ tưởng chừng không liên quan tới nghề cầm bút (năm 1970, làm công nhân tại một  
công xưởng ngành đường sắt, làm thợ sắt, thợ lắp ráp, phụ trách toa xe; năm 1980, sau khi kết  
hôn với một người cũng từ nông thôn trở về thành phố sau Cách mạng văn hóa, bà cùng chồng  
đang làm nghề mộc, mở một tiệm may và kiếm sống bằng nghề “ngoài biên chế” này) song tất  
cả đều là những trải nghiệm quý báu góp phần hình thành nên các tác phẩm “viết không giống  
ai: tự đào sâu mình, mở cánh cửa bước đi, nhìn ra thế giới” [8], hay như chính sự mô tả của nhà  
văn, đó đơn giản là những tác phẩm “văn học tâm hồn”, “văn học cuộc sống”. Vốn kiến thức nói  
chung, vốn tiếng Anh nói riêng của Tàn Tuyết chủ yếu đến từ con đường tự học trong nhiều  
năm. Để đọc được văn học Anh bằng nguyên ngữ và giao tiếp được bằng vốn tiếng Anh tự học  
như Tàn Tuyết, có thể nói là điều trên thực tế không nhiều người làm được.  
4
Hành trình “đi ra” hải ngoại của nữ nhà văn Trung Quốc đương đại - Tàn Tuyết  
2.1. Tác phẩm của Tàn Tuyết tại Hoa Kì - dịch thuật và xuất bản  
Kể từ truyện ngắn đầu tay Bọt xà phòng trên nước bẩn 《污水里的肥皂泡》 đăng trên tạp  
chí Sáng tác mới năm 1985, chỉ trong vòng vài năm, với sự xuất hiện của các tác phẩm thuộc cả  
thể loại tiểu thuyết, truyện vừa và truyện ngắn, Tàn Tuyết đã thu hút ít nhiều sự chú ý của văn  
đàn trong nước. Điều đáng nói là, gần như trong cùng thời gian ấy, bút danh Tàn Tuyết cũng đã  
xuất hiện tại Mĩ nhờ bản dịch các thiên truyện: Những giọt mưa kẽ ngói 《瓦缝里的雨滴》, Nỗi  
sầu lo trong ngày nắng của A Mai 《阿梅在一个太阳天里的愁思》. Năm 1988, tập truyện ngắn  
Đối thoại trên thiên đường 《天堂里的对话》 của bà vừa được xuất bản trong nước (bởi Nxb  
Tác gia, Bắc Kinh), đã nhanh chóng được dịch và xuất bản tại Mĩ một năm sau đó với bản dịch  
của Roland Janssen và Jian Zhang (Dialogues in Paradise, Northwestern University Press,  
1989). Điều này phần nào cho thấy cái duyên “hải ngoại” của văn xuôi Tàn Tuyết, đồng thời  
cũng cho thấy sự phản ứng khá nhanh nhạy của độc giả Hoa Kì đối với sáng tác của cây bút  
Trung Quốc đại lục ngay từ khi nhà văn vừa bước lên văn đàn, khởi đầu văn nghiệp. Trong số  
các tác phẩm được dịch, xuất bản tại Hoa Kì, thiên truyện Nhà nhỏ trên núi 《山上的小屋》 (in  
lần đầu trên tạp chí Văn học nhân dân, số 8/1985) là một tác phẩm hết sức đặc biệt bởi sự xuất  
hiện trở đi trở lại của nó trong nhiều biên tuyển xuất bản tại đất nước này.  
Bản dịch sớm nhất thiên truyện Nhà nhỏ trên núi được in trên một tạp chí từ năm 1987 với  
nhan đề Hut on the Mountain (Zhong Ming dịch, Formations 3:3, Winter 1987). Độc giả Hoa Kì  
sau đó được đọc lại truyện này trong Tuyển tập văn học Trung Quốc hiện đại do Lưu Thiệu  
Minh, Joseph S.M. và Howard Goldblatt biên tuyển, Nxb Đại học Columbia ấn hành năm 2007  
(The Columbia Anthology of Modern Chinese Literature, Columbia University Press, New  
York, 2007). Một năm sau, thiên truyện này còn được tuyển in trong một tuyển tập khác được  
xuất bản bởi Rutgers University; do Chanin, Clifford và Aili Mcannon biên tuyển (Blooming  
through the Ashes, An International Anthology on Violence and the Human Spirit, Piscataway,  
Rutgers University Press, New Jersey, 2008). Thực ra, từ mười năm trước đó, Wang Jing  
(Vương Tĩnh) khi biên soạn cuốn China's Avant-Garde Fiction (Durham, NC: Duke University  
Press, 1998) gồm 283 trang, đã đưa bản dịch Anh ngữ thiên truyện Nhà nhỏ trên núi (vẫn với  
nhan đề Hut on the Mountain) vào tập sách như là một minh họa cho bàn luận về tác giả Tàn  
Tuyết ở đầu sách. Sớm hơn nữa, thiên truyện cũng đã được in trong một biên tuyển khác -  
Worlds of Modern Chinese Fiction, nhưng với nhan đề Hut on the Hill (Michael S. Duke biên  
tập, Armonk: M. E. Sharpe, 1990). Qua đây có thể thấy, ảnh hưởng sớm sủa và lâu dài của tác  
phẩm Nhà nhỏ trên núi của Tàn Tuyết trong giới nghiên cứu, phê bình và dịch thuật đương  
đại Hoa Kì.  
Ngoài trường hợp tác phẩm Nhà nhỏ trên núi, còn có nhiều sáng tác truyện vừa, truyện  
ngắn khác nữa của nữ văn sĩ xuất hiện trong các biên tuyển tác phẩm văn xuôi tự sự tiêu biểu  
của văn học đương đại Trung Quốc xuất bản tại Hoa Kì mấy thập niên vừa qua. Dưới đây,  
chúng tôi liệt kê theo thứ tự thời gian xuất bản các tuyển tập những tác phẩm nổi bật. Đầu tiên  
có thể kể đến tác phẩm Chốn đào nguyên ngoài trần thế 《世外桃源》 (bản dịch tiếng Việt: Đào  
nguyên ngoài cõi thế, Lưu Hồng Sơn dịch, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2008) được dịch sang Anh  
ngữ là The Land of Peach Blossoms, in trong The Mystified Boat: Postmodern Stories from  
China, do Frank Steward và Herbert J. Batt biên tuyển, xuất bản bởi Nxb Đại học Hawaii  
(University of Hawaii Press, Honolulu, 1988). Tiếp theo là truyện Đứa trẻ nuôi rắn độc 《饲养  
毒蛇的小孩》 với bản dịch The Child Who Raised Poisonous Snakes in trong The Art of the  
Story: An International Anthology of Contemporary Short Stories, do Daniel Halpern biên soạn,  
ấn hành bởi Nxb Viking, New York, 1999. Truyện này từng được dịch bởi Ronald R. Janssen và  
5
Nguyễn Thị Mai Chanh  
Jian Chang, in lần đầu năm 1992 (Conjunctions 18, Spring, 1992). Tiếp nữa là thiên truyện Đối  
thoại trên thiên đường (từng in trong tập truyện cùng tên ở trong nước) được Roland Janssen và  
Jian Zhang dịch với nhan đề Dialogues in Paradise (có ghi rõ là “Tuyển tập truyện ngắn” -  
Short Story Collections), được ấn hành bởi Nxb Northwestern University, 1989. Đến năm 1991,  
truyện này có thêm bản dịch Anh ngữ khác nhan đề Dialogues in Heaven in trong  
Contemporary Chinese Women Writers II (Beijing: Panda Books, 1991). Đây là ấn bản của  
Chinese Literature Press (Nxb Văn học Trung Quốc) - một nhà xuất bản thành lập từ năm 1951,  
trực thuộc Bộ văn hóa, đảm nhiệm công việc xuất bản tạp chí Văn học Trung Quốc cũng như  
các sách văn học thuộc tùng thư gọi là “Panda Books” bằng hai thứ tiếng Anh, Pháp (tương tự  
nhà xuất bản ngoại văn đối ngoại của Việt Nam).  
Có thể nói, Tàn Tuyết là nhà văn Trung Quốc hiện đại sớm có liên hệ cá nhân với các nhà  
xuất bản hải ngoại. Mối liên hệ hợp đồng bản quyền xuất bản bản dịch ấy hẳn cũng là một sự  
phản ánh tốt “giá trị” tác phẩm của nhà văn. Bởi lẽ, việc bán được sách ở thị trường sách nước  
ngoài nói chung không hề là chuyện đơn giản. Nhìn vào thông tin thời gian xuất bản tác phẩm  
của Tàn Tuyết, chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định, đây là nhà văn Trung Quốc đại lục có bản  
dịch xuất bản tại Mĩ đáng nể phục, nếu không muốn nói là nhiều nhất. Chúng ta có thể điểm  
được khối lượng lớn các tiểu thuyết, truyện vừa và tập truyện ngắn của bà được dịch, xuất bản  
tại Mĩ theo hình thức mua bản quyền trực tiếp với nhà văn. Đó là truyện Mây trời xưa bay 《苍  
老的浮云》 (đăng trên tạp chí Trung Quốc, 1986; bản dịch tiếng Việt tác phẩm này là Bảng lảng  
trời xanh, Nhân Văn dịch, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2008) - bản dịch Anh ngữ: Floating Cloud:  
Two Novellas (Ronald R. Janssen và Jian Zhang dịch, Northwestern University Press, 1991). Đó  
là hai truyện Ánh sáng xanh trên bầu trời 《天空里的蓝光》 và Đêm xóm núi 《山乡之夜》 - bản  
dịch Anh ngữ: Night in the Mountain Village và Blue Light in the Sky (Karen Gernant và Chen  
Zeping dịch, in trên Conjunctions 45, Fall, 2005; in lại trong Blue Light in the Sky and Other  
Stories, New York: New Directions Books, 2006). Đó là tập truyện Giày thêu hoa và nỗi phiền  
não của già Tứ 《绣花鞋及袁四老娘的烦恼》 - bản dịch Anh ngữ: The Embroidered Shoes and  
The Vexation of Old Lady Si (Ronald R. Janssen và Jian Chang dịch, in trên Conjunctions 18,  
Spring 1992). Đó là truyện vừa Chuyển động thẳng đứng 《垂直运动》 - bản dịch Anh ngữ:  
Vertical Motion (Karen Gernant và Chen Zeping dịch, Rochester, NY: Open Letter, 2011). Đó  
còn là một loạt tiểu thuyết như: Phố Ngũ Hương 《五香街》 - tên khác của tác phẩm Biểu diễn  
phá vây 《突围表演》 (Nxb Văn nghệ Hải Hiệp, 2002 và Nxb Tác gia, 2011) với bản dịch Anh  
ngữ Five Spice Street của Karen Gernant và Chen Zeping, Yale University Press, 2009; Người  
tình cuối cùng 《最后的情人》 (Nxb Hoa Thành, 2005) với bản dịch Anh Ngữ The Last Lover  
của Annelise Finegan Wasmoen, Yale University Press, 2014; Biên cương 《邊疆》 (Nxb Văn  
nghệ Thượng Hải, 2008) với bản dịch Anh ngữ Frontier của Karen Gernant và Chen Zeping -  
can-xue); Chuyện tình thế kỉ mới 《新世紀愛情故事》 (Nxb Tác gia, 2013) với bản dịch Anh  
ngữ Love in the New Millennium của Annelise Finegan Wasmoen, Yale University Press, 2018.  
2.2. Vị thế nổi bật của Tàn Tuyết tại Nhật Bản  
Không phải ngẫu nhiên ở Trung Quốc từng có ý kiến nhận xét, ảnh hưởng của Tàn Tuyết  
tại Nhật Bản còn lớn hơn rất nhiều so với ảnh hưởng của nhà văn này tại mảnh đất quê hương  
bà. Trên thực tế, tác phẩm của nữ nhà văn cũng từ rất sớm đã có bản dịch xuất bản tại nước  
6
Hành trình “đi ra” hải ngoại của nữ nhà văn Trung Quốc đương đại - Tàn Tuyết  
Nhật. Bà là nhà văn Trung Quốc được yêu thích nhất tại xứ sở Anh Đào. Vị thế của Tàn Tuyết ở  
Nhật được hình thành và củng cố qua nhiều sự kiện dịch thuật và xuất bản quan trọng.  
Trước hết, chúng ta không thể không nói tới các hoạt động văn hóa học thuật liên quan đến  
nhà văn Tàn Tuyết tại Nhật Bản. Năm 2008, nhà xuất bản Kawade Shobō Shinsha cho ra đời bộ  
Toàn tập văn học thế giới (Natsuki Ikezawa biên soạn) gồm 24 quyển, dành riêng quyển 6 cho  
các sáng tác của Tàn Tuyết (Naoko Kondo dịch) và Bảo Ninh - nhà văn Việt Nam (với Nỗi buồn  
chiến tranh, Kazuhisa Ikawa dịch). Bộ sách đã được Giải thưởng văn hóa xuất bản Mainichi  
lần thứ 64, Giải thưởng Asahi năm 2010. Tàn Tuyết là nhà văn Trung Quốc duy nhất có tác  
phẩm được tuyển vào bộ sách này. Tờ báo lớn của Nhật Yomiuri Shimbun (Độc Mại Tân văn,  
báo giấy khổ rộng) đã dành hẳn một trang để giới thiệu quảng cáo về bộ sách, còn thiết kế bộ  
ba hình đại diện của ba nhà văn: Milan Kundera, Tàn Tuyết và Mario Vargas Llosa vào trong  
một khung hình.  
Tháng 1 năm 2008, Hội nghiên cứu Tàn Tuyết được thành lập tại Tokyo. Một năm sau, hội  
nghiên cứu này đã xuất bản được số đầu tiên Tạp chí Nghiên cứu Tàn Tuyết phát hành trên  
phạm vi cả nước. Đây là một hội nghiên cứu học thuật duy nhất tại Nhật Bản định danh tên hội  
bằng cụm từ có tên một nhà văn Trung Quốc như là một cách chỉ rõ đối tượng nghiên cứu riêng  
của hội. Các thành viên của Hội nghiên cứu Tàn Tuyết tổ chức seminar mỗi cuối tháng một lần  
bàn về việc sắp xếp bài vở cho số tạp chí Nghiên cứu Tàn Tuyết sẽ xuất bản của năm. Hội quyết  
định mỗi năm ra một kì công bố các bài viết và bản dịch tác phẩm Tàn Tuyết. Tính từ năm 2009  
đến 2015, Hội đã xuất bản được 7 kì tạp chí. Hội nghiên cứu Tàn Tuyết có 10 thành viên, được  
thành lập bởi Naoko Kondo (1950-2015) - giáo sư Khoa Nghệ thuật và khoa học, Đại học  
Nihon. Bà là học giả, nhà phê bình, đồng thời cũng là một dịch giả. Naoko Kondo từng là chủ  
biên của tạp san Văn học hiện đại Trung Quốc - cầu nối lớn nhất các gia Trung Quốc với bạn  
đọc Nhật Bản đương đại. Liền trong hai kì của năm 2008, tạp san Văn học hiện đại Trung Quốc  
đều có bài giới thiệu tác phẩm Tàn Tuyết. Naoko Kondo giữ một mối cảm tình nồng hậu đặc  
biệt đối với nữ tác gia Trung Quốc. Không chỉ là dịch giả, Naoko Kondo còn là chuyên gia  
nghiên cứu tác phẩm Tàn Tuyết hàng đầu của Nhật Bản. Công trình của Naoko Kondo về Tàn  
Tuyết, tiêu biểu có: Tàn Tuyết - Người kể chuyện của đêm tối (残雪-夜の語り手, Kawade Shobo  
Shinsha, 1995); và hai cuốn sách xuất bản kế tiếp nhau Sự phủ định của Tàn Tuyết (残雪の否定,  
2001), Sự phủ định của Tàn Tuyết - Tiếp theo (続・残雪の否定, 2002) [9]. Bên cạnh đó, nhà  
nghiên cứu còn có cuốn chuyên luận Thưởng thức văn học Trung Quốc (中国文学を味わう)  
nghiên cứu văn học Trung Quốc thập niên 80 của thế kỉ XX, trong đó đề cập nhiều tới tác gia  
Tàn Tuyết. Cuốn sách này đã được dịch và xuất bản tại Trung Quốc, với bản dịch của Liêu Kim  
Cầu, được xuất bản bởi Nxb Nhân dân năm 2002. Sách phân thành hai tập, tập 1 gồm bốn  
chương; nghiên cứu về Tàn Tuyết tập trung ở chương 4 có nhan đề “Thế giới Tàn Tuyết”.  
Chương này khảo luận lần lượt các tác phẩm: Phố Hoàng Nê 《黄泥街》 (Bản dịch tiếng Việt:  
Hoàng Nê Phố, Nhân Văn dịch, Nxb Tổng hợp Đồng Nai, 2008), Biểu diễn phá vây 《突围表演》  
và Sói 《痕》.  
Tại Nhật Bản, đi liền với hoạt động dịch, xuất bản sách của Tàn Tuyết, báo chí và truyền  
thông nước này cũng không hiếm dịp đăng tin, in bài liên quan đến nữ nhà văn. Kênh BS2 Đài  
truyền hình NHK từng thực hiện và phát sóng nhiều cuộc phỏng vấn về chuyên đề Tàn Tuyết.  
Chỉ tính đến thời điểm 2015, Tàn Tuyết đã có 9 quyển sách độc lập xuất bản tại đây. Ngoài sáng  
tác, bà cũng đã có một tập lí  
luận phê bình văn học được dịch và xuất bản vào năm 2005. Nếu coi số lượng tác phẩm  
được dịch và sự quan tâm của giới học thuật (thể hiện ở bài viết và các hoạt động liên quan như  
7
Nguyễn Thị Mai Chanh  
phỏng vấn, bình luận trên tạp chí và các phương tiện truyền thông) là một chỉ số cho thấy tầm  
ảnh hưởng của một tác gia văn học nước ngoài tại một cộng đồng độc giả ngoại quốc, thì có thể  
nói ảnh hưởng của Tàn Tuyết tại Nhật Bản, rõ ràng vượt qua các nhà văn đương đại Trung Quốc  
khác và vượt cả Mạc Ngôn - nhà văn có danh tiếng cao trên văn đàn quốc tế. Điểm lược danh  
sách các tác phẩm của Tàn Tuyết được dịch, xuất bản tại Nhật, chúng tôi nhận thấy hầu hết  
chúng đồng thời cũng đã có bản dịch Anh ngữ xuất bản tại Hoa Kì. Và tất cả đều là những sáng  
tác quan trọng, đại biểu cho văn nghiệp của nhà văn này. Đó là các tác phẩm: Mây trời xưa bay  
- bản Nhật ngữ: 蒼老たる浮雲 (Naoko Kondo dịch, Kawade Shobō Shinsha xuất bản năm 1989;  
Hakusuisha xuất bản năm 2019); Nhà nhỏ trên núi - bản Nhật ngữ: カッコウが鳴くあの一瞬  
(Kawade Shobō Shinsha xuất bản năm 1991; Hakusuisha xuất bản năm 2019); Thoáng chim cu  
kêu 《布谷鸟叫的那一瞬间 (bản dịch Anh ngữ: The Instant When the Cuckoo Sings, Jian Zhang  
dịch, Formations 4:2, Fall 1987) - bản Nhật ngữ: カッコウが鳴くあの一瞬 (Naoko Kondo dịch,  
Kawade Shobō Shinsha xuất bản năm 1991; Hakusuisha xuất bản năm 2019); Phố Hoàng Nê -  
bản Nhật ngữ: 黄泥街 (Naoko Kondo dịch, Kawade Shobō Shinsha xuất bản năm 1992;  
Hakusuisha xuất bản năm 2018); Cây táo trồng ở hành lang - bản Nhật ngữ: 廊下に植えた林檎  
の木 (Naoko Kondo dịch, Kawade Shobō Shinsha xuất bản, 1995); tiểu thuyết Biểu diễn phá  
vây - bản Nhật ngữ: 突囲表演 (Naoko Kondo dịch, Bungeishunju xuất bản, 1997); Đêm đen -  
bản Nhật ngữ: 暗夜 (in ở quyển 6 bộ Toàn tập văn học thế giới 池澤夏樹=個人編集 世界文学  
全集, Kawade Shobō Shinsha xuất bản, 2008); Cõi mộng chưa từng miêu tả 《从未描述过的梦  
境》 - bản Nhật ngữ: かつて描かれたことのない境地 (Masumi Washisu, Asako Izumi, Mariko  
Ushima, Yuriko Tomioka, Mizuho Fukaya cùng dịch, Heibonsha xuất bản, 2013; đưa vào tập  
Cõi mộng chưa từng miêu tả - Toàn tập truyện ngắn Tàn Tuyết かつて描かれたことのない境地:  
傑作短篇集, Kawade Shobō Shinsha xuất bản, 2013); tiểu thuyết Người tình cuối cùng - bản  
Nhật ngữ: 最後の恋人 (Naoko Kondo dịch, Kawade Shobō Shinsha và Heibonsha xuất bản  
cùng năm 2014).  
Tàn Tuyết tại Nhật, nổi tiếng không chỉ là nhà văn sáng tác mà còn là nhà văn viết phê bình  
lí luận độc đáo. Bà từng tự so sánh mình với Franz Kafka, và giới nghiên cứu phê bình cũng vui  
lòng xem bà là một “Kafka của Trung Quốc”. Tập lí luận phê bình dài 453 trang - Lâu đài của  
linh hồn: Đọc hiểu Kafka của Tàn Tuyết được xem như là một diễn giải, đọc hiểu F. Kafka mới  
mẻ, bên cạnh các cách hiểu của các tác gia, nhà nghiên cứu phê bình phương Tây như Joyce  
Carol Oates (1938 - ), Milan Kundera (1929 - ). Giới nghiên cứu nhất trí nhìn nhận công trình  
này của Tàn Tuyết là một cách tái họa mới chân dung văn học F. Kafka. Cuốn sách là kết quả  
của một bút pháp nghiên cứu phê bình kết hợp với việc đọc hiểu, giải thích văn chương và sáng  
tác tản văn. Tác phẩm do Nxb Văn nghệ Thượng Hải ấn hành lần đầu vào tháng 9 năm 1999,  
sau được Nxb Đại học Sư phạm Hoa Đông in với tên sách “gọn” hơn: Lâu đài của linh hồn (có  
tu bổ và thêm lời bạt) vào năm 2008. Ai cũng biết, Lâu đài (nhan đề tiếng Đức Das Schloß) là  
tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn gốc Do Thái F. Kafka (1883-1924), được khởi bút từ năm  
1922, nhưng chưa hoàn thành thì tác giả qua đời. Bạn của nhà văn là Max Brod đã biên tập,  
chỉnh lí và xuất bản vào năm 1926. Nhan đề sách của Tàn Tuyết trong lần tái bản bởi Nxb Sư  
phạm Hoa Đông năm 2008 dù không chọn cách biểu thị rõ là nói về sáng tác của F. Kafka,  
nhưng nội dung cuốn sách chủ yếu bàn luận về tiểu thuyết Lâu đài và các tác phẩm khác của  
ông. Là một tái bản, Lâu đài của linh hồn được tu nhuận và bổ sung khá nhiều, nhiều thiên  
trong ấn bản cũ đã được “viết lại” - chủ yếu là các thiên viết về sáng tác nổi tiếng của F. Kafka,  
8
Hành trình “đi ra” hải ngoại của nữ nhà văn Trung Quốc đương đại - Tàn Tuyết  
chẳng hạn: “Về với cố hương của nghệ thuật: Phân tích văn bản Nước Mĩ” - phần 1; “Phong  
cảnh của linh hồn khai mở: Phân tích văn bản Nước Mĩ” - phần 2; “Khai sáng gian nan - Đọc Vụ  
Án” - phần 1; “Cuộc đọ sức giữa hai ý chí: Phân tích văn bản Vụ Án” - phần 2,… Điểm đặc biệt,  
từ khóa “lâu đài” (tên tác phẩm F. Kafka) xuất hiện trở đi trở lại trong rất nhiều nhan đề bài viết,  
một tần suất đủ để nhắc nhở người đọc ghi nhớ nhan đề chung toàn sách và cũng là một cách  
khắc sâu chân dung, hình tượng F. Kafka (như “Lâu đài của linh hồn”, “Ý chí Lâu đài”, “Khởi  
nguyên Lâu đài”, “Phương thức tư duy của Lâu đài”...). Cuối sách có bài “Tàn Tuyết và Kafka”  
thay cho lời bạt. Tập sách không chỉ gồm những bài đọc hiểu tiểu thuyết F. Kafka, mà các sáng  
tác thuộc thể loại khác của văn hào này cũng được đề cập. Chẳng hạn, quãng giữa sách chúng ta  
thấy có bài “Phiêu bạt mãi mãi - Đọc Thợ săn Gracchus” (Der Jäger Gracchus - truyện ngắn  
của F. Kafka, sáng tác năm 1917, xuất bản lần đầu ở Đức năm 1931, bản dịch Anh ngữ xuất bản  
lần đầu năm 1933). Bên cạnh các bài phê bình văn chương, tập sách của Tàn Tuyết còn gồm  
những thiên tản văn triết lí, như bài “Quan và dân”, “Vận mệnh và phản loạn”, “Trầm luân và  
siêu thoát”, “Gánh nặng kí ức”. Bài cuối cùng của tập sách là bài “Ghi lại sau khi dịch Lâu đài  
của linh hồn ra Nhật ngữ” cho biết sách đã có bản dịch xuất bản tại Nhật Bản. Cuốn sách được  
dịch giả, nhà nghiên cứu Naoko Kondo chuyển ngữ sang tiếng Nhật với nhan đề 魂の城カフカ解  
読 (Heibonsha xuất bản năm 2005) là cuốn ấn hành lần đầu mang tên Lâu đài của linh hồn: Đọc  
hiểu Kafka của Tàn Tuyết.  
Tóm lại, đúng như nhận định của tác giả bài viết “Lấy tác phẩm của Tàn Tuyết làm ví dụ  
để thấy sự lan tỏa của văn học Trung Quốc đương đại ở Nhật Bản” (Đại học Sư phạm Đông  
Bắc): “trong số các nhà văn Trung Quốc đương đại, tác phẩm của Tàn Tuyết được truyền bá ở  
Nhật Bản là tiêu biểu nhất. So với “ẩn số” của Tàn Tuyết ở Trung Quốc, các tác phẩm của bà có  
lượng độc giả lớn ở nước ngoài. Kể từ khi được dịch và xuất bản vào cuối những năm 1980,  
sáng tác của Tàn Tuyết đã được công nhận rộng rãi trong giới độc giả cũng như giới học thuật  
Nhật. Trong một cuộc khảo sát do Hiệp hội Nghiên cứu văn học Trung Quốc của Nhật Bản thực  
hiện, Tàn Tuyết cũng được độc giả và học giả Nhật đánh giá là một trong ba nhà văn đương đại  
quen thuộc nhất của Trung Quốc (...). Điều đáng chú ý hơn là Tàn Tuyết không chỉ được đánh  
giá cao với tư cách là một nhà văn, mà còn là một nhà phê bình văn học... Các tác phẩm phê  
bình văn học của Tàn Tuyết cũng được giới thiệu vào Nhật Bản với một số lượng lớn các bản  
dịch. Đặc biệt, việc Tàn tuyết giải thích các tác phẩm của Kafka đã thu hút sự chú ý và công  
nhận lớn hơn trong giới học thuật Nhật Bản” [10]. Chính vì được dịch, giới thiệu với mức độ  
cao và ổn định, tác phẩm của Tàn Tuyết ngày càng được độc giả Nhật đón nhận nồng nhiệt và  
được giới nghiên cứu Nhật quan tâm đặc biệt.  
3. Kết luận  
Chỉ tính trong khoảng một thập niên, từ giữa những năm 80 đến giữa những năm 90 của  
thế kỉ XX, thì thấy trong số 20 tác phẩm của Tàn Tuyết đã xuất bản, có đến 15 tác phẩm được  
xuất bản ở hải ngoại, bao gồm bản in chữ Hán phồn thể ở Đài Loan, Hong Kong và bản dịch ở  
Nhật, Mĩ; chỉ có 5 tác phẩm xuất bản ở trong nước (Trung Quốc đại lục). Cũng trong khoảng  
mười năm ấy, tác phẩm của Tàn Tuyết còn có thêm các bản dịch tiếng Pháp, tiếng Đức và tiếng  
Ý... Nhiều nhà phê bình đã có các bài bình luận, khảo cứu tác phẩm Tàn Tuyết trên các tờ báo,  
tạp chí khoa học. Sáng tác của Tàn Tuyết được đưa vào chương trình đào tạo của các trường đại  
học lớn như Đại học Harvard, Đại học Cornell, Đại học Columbia (Columbia University in the  
City of New York), Đại học Cornell (Mĩ), Đại học Trung ương Nhật Bản (中央大學 Chūō  
Daigaku), hay Viện đại học Quốc học Nhật Bản (國學院大學 Kokugakuin Daigaku)...  
9
Nguyễn Thị Mai Chanh  
Trong lịch trình sáng tạo của nữ nhà văn, năm 2015 là mốc đáng nhớ của hành trình “đi ra”  
hải ngoại của tác phẩm Tàn Tuyết. Đó là năm bà lần lượt đạt được các giải thưởng danh giá.  
Đầu tiên là giải Neustadt International Prize for Literature - giải thưởng Văn học quốc tế của  
Hoa Kì do Trường Đại học Oklahoma và tạp chí World Literature Today của trường tài trợ (tiền  
thưởng của giải này là 50.000 dollar Mỹ). Giải thưởng này được xem như “Giải Noben văn  
chương Mĩ”. Tàn Tuyết là tác gia Trung Quốc thứ hai đạt giải thưởng này (người đầu tiên là nhà  
thơ Đa Đa, 2010). Kế đó, Tàn Tuyết lại giành được giải Sách dịch hay nhất năm 2015 (Best  
Translated Book Award) trao cho tiểu thuyết Người tình cuối cùng (The Last Lover). Bà cũng là  
tác gia Trung Quốc duy nhất giành giải này (số tiền thưởng là 5000 bảng Anh cho cả tác giả và  
dịch giả).  
Như vậy, tính ra từ những năm đầu sáng tác là giữa thập niên 80 của thế kỉ XX cho đến  
thời điểm hiện tại - một quãng đường hơn ba thập niên, hầu như mỗi năm, tác gia Tàn Tuyết đều  
có tác phẩm xuất bản ở hải ngoại. Tên tuổi và sáng tác của bà được đề cập nhiều trên các  
phương tiện truyền thông ở các nước. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi chỉ đề cập tới sự  
hiện diện của Tàn Tuyết ở hai quốc gia Mĩ và Nhật. Hi vọng trong tương lai, chúng tôi sẽ tiếp  
tục quan tâm hơn tới vấn đề tiếp nhận nhà văn Trung Quốc đương đại có tác phẩm được dịch ra  
tiếng nước ngoài nhiều nhất này. Tại Việt Nam, xin nhấn mạnh lại, nếu không có ba bản  
dịch các tác phẩm Hoàng Nê Phố, Đào nguyên ngoài cõi thế, Bảng lảng trời xanh được xuất  
bản từ hơn mười năm về trước (2008), thì cho đến nay, có thể nói tiếp nhận Tàn Tuyết tại  
Việt Nam gần như vẫn là một khoảng trống. Chúng tôi cũng hi vọng trong tương lai, cùng  
với việc công bố nhiều hơn các bài viết về Tàn Tuyết, sẽ có thêm nhiều bản dịch mới tác  
phẩm của nhà văn này.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Dạ Vũ, 2017. “Tàn Tuyết: Tiếng nói độc đáo của văn học đương đại Trung Quốc”, Tạp chí  
[2] Thư viện tri thức, 2018. “Thế giới văn chương của nữ nhà văn Tàn Tuyết”,  
[3] Thúy Hạnh, 2020. “Tàn Tuyết: “Văn học thuần túy” bị ngoại biên hóa là một điều tốt”,  
Tạp chí văn nghệ Quân đội, 6/4/2020.  
[4] Xin xem “残雪:比莫言更有名的中国作家_南方艺术” (“Tàn Tuyết: tác gia Trung Quốc  
còn nổi tiếng hơn Mạc Ngôn”, Nghệ thuật Nam Phương), https://www.zgnfys.com, 2016-  
03-24.  
[5] Dạ Vũ, 2017. “Tàn Tuyết: Tiếng nói độc đáo của văn học đương đại Trung Quốc”, Tạp chí  
[6] Bradford Morrow, 2006. “Can Xue - Contemporary Chinese Writers” (“Tàn Tuyết - Nhà  
[7] Kondo Naoko, 2006. “Can Xue - Contemporary Chinese Writers” (“Tàn Tuyết - Nhà văn  
[8] Ngo Thuan Phat, 2019. “Tàn Tuyết và Nobel - Đồng mộng dị sàng”,  
10  
Hành trình “đi ra” hải ngoại của nữ nhà văn Trung Quốc đương đại - Tàn Tuyết  
[9] Xin xem柳慕云, 2016. 残雪在日本的译介与研究, 东北师范大学, 手机知网 (Bản dịch  
và nghiên cứu Tàn Tuyết tại Nhật Bản, Đại học Sư phạm Đông Bắc, cnki.net),  
[10] 柳慕云, 2019. “以残雪作品为例看中国当代文学在日本的传播”, 东北师范大学 (“Lấy  
tác phẩm của Tàn Tuyết làm ví dụ để thấy sự lan tỏa của văn học Trung Quốc đương đại ở  
Nhật Bản”, Đại học Sư phạm Đông Bắc), http://www.cctss.org/article/headlines/4646,  
2019-06-10.  
ABSTRACT  
The journey to “go global” of the contemporary Chinese woman writer Can Xue  
Nguyen Thi Mai Chanh  
The Faculty of Philology, Hanoi National University of Education  
Can Xue is a contemporary Chinese writer of international stature, while in Vietnam, it is  
assumed that no more than three translations of her works are noticed. This woman writer  
possesses the most literary works appearing in foreign high school and university textbooks  
compared with other contemporary Chinese writers. To date, no less than thirty volumes of hers  
have been translated into more than ten languages and published in a number of countries  
including the UK, France, Germany, Italy, Sweden, Japan, etc. A myriad of professional  
researchers, critics and scholars, Sinologists in the West and Japan have written papers on the  
author's creations. This writing places a priority on introducing the situation of translation and  
publication of Can Xue's works in two major countries, Japan and the United States, over the  
past two decades.  
Keywords: Can Xue, works, translation, publication, Chinese literature.  
11  
pdf 9 trang baolam 22720 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hành trình “đi ra” hải ngoại của nữ nhà văn Trung Quốc đương đại - Tàn Tuyết", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhanh_trinh_di_ra_hai_ngoai_cua_nu_nha_van_trung_quoc_duong_d.pdf