Một số quan điểm đương đại về thế tục hóa tôn giáo

Một số quan điểm đương đại  
về thế tục hóa tôn giáo  
Nguyễn Thị Lê(*)  
Tóm tắt: Quá trình mang tính lịch sử nhằm khai sáng hiểu biết của con người và tiếp  
theo đó là làm suy yếu hoặc giảm thiểu vai trò của tôn giáo trong thời hiện đại, đặc biệt  
tại châu Âu, được mô tả là quá trình thế tục hóa. Tuy nhiên, nhiều quan điểm phản đối  
cho rằng lý thuyết thế tục hóa có thể không áp dụng được cho những khu vực đa tôn giáo,  
thậm chí còn đang bị thách thức trước sự gia tăng của chủ nghĩa cực đoan tôn giáo và  
tính tôn giáo trong đời sống xã hội và chính trị thế giới trong những năm gần đây. Bài  
viết tổng hợp một số quan điểm, nhận định của các học giả quốc tế về tính thế tục của tôn  
giáo trong bối cảnh thế giới hiện nay.  
Từ khóa: Tính thế tục, Thế tục hóa, Thị trường tôn giáo, Lý thuyết sự lựa chọn hợp lý,  
Phản thế tục, Hậu thế tục, Giải thế tục  
Abstract: An historic process to enlighten the people initially and to undermine or  
diminish religion’s role in modern times subsequently, especially in Europe, is interpreted  
as secularization. However, several opposing perspectives suggest that the secularization  
theory may not be applicable to multi-religious regions, even being challenged by the rise  
of religious extremism and the religiousity in social life and world politics in recent years.  
The paper summarizes prominent viewpoints and comments of international scholars on  
the secularity in the current global context.  
Keywords: Secularity, Secularization, Religious Market, Reasonable Choice Theory,  
Counter-secularism, Post-secularism, De-secularization  
Mở đầu 1  
Từ thế kỷ XIX, nhiều học giả đã bàn tới  
trong đời sống cộng đồng ngày càng bị thu  
hẹp và tôn giáo bị dồn ép vào trong phạm vi  
hoạt động cá nhân (Peter Connolly, 2018).  
Tuy nhiên, những dự đoán về tính thế tục  
này của tôn giáo đang bị thách thức trước  
sự gia tăng của chủ nghĩa cực đoan tôn giáo  
và sự gia tăng tính tôn giáo trong đời sống  
xã hội và chính trị ở khắp nơi trên thế giới  
trong những năm gần đây.  
số phận của tôn giáo trước ảnh hưởng của  
tính hiện đại trong bối cảnh xã hội châu Âu  
- quá trình thế tục hóa. Theo họ, sự thay đổi  
xã hội cùng với quá trình đô thị hóa và công  
nghiệp hóa khiến tầm ảnh hưởng của tôn  
giáo ngày càng giảm, vai trò của tôn giáo  
(*) ThS., Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện Hàn  
lâm Khoa học xã hội Việt Nam;  
Lý thuyết thế tục hóa bắt nguồn từ lịch  
sử châu Âu, có thể không áp dụng được cho  
Một số quan điểm…  
31  
những khu vực đa tôn giáo như châu Á. Do tại nhà thờ dần mai một, các tín đồ không  
vậy, những người phản đối lý thuyết thế tục tuân theo các nghi lễ tôn giáo khiến ý nghĩa  
hóa (phản thế tục) đã sử dụng mô hình thị xã hội của các giáo phái bị suy yếu. Từ đó,  
trường tôn giáo và lý thuyết sự chọn lựa hợp tín đồ không còn tích cực tham gia vào các  
lý để giải thích cho sự tồn tại của tôn giáo tổ chức tôn giáo được xây dựng trên niềm  
trong thời hiện đại. Bên cạnh đó, có những tin tôn giáo.  
học giả tán thành lý thuyết thế tục hóa trong  
Trong thế kỷ XIX, những thành tựu nổi  
thập niên 60 của thế kỷ XX nhưng đến nay bật về khoa học - kỹ thuật - công nghệ cùng  
đã thay đổi quan điểm. Họ mô tả tình hình với sự ra đời của chủ nghĩa tư bản hiện đại,  
hiện nay không phải là thế tục hóa mà là sự sản xuất công nghiệp đã tác động sâu rộng  
trở lại của tôn giáo - là sự thay đổi sang một tới đời sống xã hội nói chung, đời sống tôn  
kiểu xã hội mới sau thời kỳ thế tục (hậu thế giáo nói riêng. Các hiện tượng huyền bí, siêu  
tục) hay một thời đại hoàn toàn mới (giải nhiên, những tai ương, dịch bệnh, lũ lụt…  
thế tục).  
1. Lý thuyết thế tục hóa  
đều được giải thích theo khoa học. Quan  
điểm duy lý dần làm suy yếu nền móng của  
Lý thuyết thế tục hóa (secularization) những tín điều cốt lõi mang tính chất siêu  
về sự suy giảm vai trò của tôn giáo đặt cơ hình. Hay nói cách khác, con người ngày  
sở trên hai luận điểm chính.  
càng tin vào khoa học, vào những tri thức  
Thứ nhất là sự hình thành một thế giới và luận thuyết có thể chứng minh bằng kinh  
quan duy lý dẫn đến sự xói mòn niềm tin nghiệm thay vì đặt niềm tin vào tôn giáo  
vào tôn giáo được Max Weber đề cập trong hay các tri thức và luận thuyết siêu nghiệm.  
hai tác phẩm Nền đạo đức Tin lành và tinh Theo Weber, đó là “sự giải mê thế giới” -  
thần của chủ nghĩa tư bản (The Protestant thế giới không còn bí ẩn, linh thiêng để con  
ethic and the spirit of capitalism, 1904) người kính phục và quy phục. Các chức sắc  
và Kinh tế học và xã hội (Economics and tôn giáo mất đi uy quyền của thần thánh.  
society, 1933). Weber sử dụng thuật ngữ Đồng thời, sự phân chia giữa Giáo hội Công  
“thế tục hóa” để ám chỉ sự giảm sút của giáo và nhà nước, và sự ra đời của hệ thống  
tính tôn giáo trong xã hội, hoặc ám chỉ giai hành chính thế tục với đại diện là các cấp  
đoạn chuyển từ tính tôn giáo sang tính thế chính quyền đã thay thế vai trò của các lãnh  
tục, hoặc ám chỉ sự mất quyền kiểm soát tụ tinh thần và các thiết chế của Giáo hội  
của tôn giáo trong một vài lĩnh vực của đời Công giáo. Đó là quá trình phân biệt hóa  
sống xã hội. Hay nói cách khác, ông dùng các định chế do Talcott Parsons đề xướng -  
thuật ngữ “duy lý hóa” (rationalisation) - khiến định chế tôn giáo mất vai trò chủ đạo  
khuynh hướng duy lý hóa của thời hiện đại và bao trùm. Do vậy, sự tách biệt giữa nhà  
(Nguyễn Xuân Nghĩa, 1996). Các nhà xã nước và Giáo hội Công giáo trong các chế  
hội học như Peter L. Berger, David Martin độ dân chủ hiện đại làm cho việc thuộc về  
và Bryan Wilson đã góp phần thúc đẩy một tôn giáo nào đó chỉ là vấn đề tự nguyện  
quan điểm duy lý này. Theo đó, những tín của cá nhân (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2003).  
điều do Giáo hội Công giáo đưa ra đã mất  
Thứ hai, sự chuyên biệt hóa chức năng  
đi tính hợp lý trong xã hội hiện đại. Sự mất xã hội trong xã hội công nghiệp hóa dẫn đến  
niềm tin được cho là nguyên nhân dẫn đến sự suy yếu chức năng của các tổ chức tôn  
việc tôn giáo bị phá vỡ, tập quán sinh hoạt giáo đối với đời sống xã hội và tiếp theo  
Thông tin Khoa học xã hội, số 10.2020  
32  
là sự suy yếu của chính tôn giáo, được bắt tôn giáo, từ đó khiến các tôn giáo rơi vào  
nguồn từ quan điểm của Émile Durkheim một tình huống giống như cuộc cạnh tranh  
trong tác phẩm Những hình thức sơ đẳng trên thị trường thương mại, điều này trở  
của đời sống tôn giáo (The Elementary thành mối đe dọa đối với tương lai của tôn  
forms of the religious life, 1912). Theo giáo (Nguyễn Xuân Nghĩa, 2016: 3-22).  
Durkheim, tôn giáo có nguồn gốc từ xã hội, 2. Quan điểm phản thế tục: Mô hình thị  
nơi mà nghi lễ sẽ mang đến những thực hành trường tôn giáo và lý thuyết sự chọn lựa  
tôn giáo và niềm tin về một sức mạnh bên hợp lý  
ngoài con người. Luận điểm này cũng được  
Những người có quan điểm chống lại lý  
các lý thuyết gia như Steve Bruce, Thomas thuyết thế tục hóa (phản thế tục - counter-  
Luckmann và Karel Dobbelaere vận dụng secularization) lập luận rằng, không chắc  
để giải thích vai trò của tôn giáo. Họ cho chắn số lượng tín đồ sẽ giảm khi xã hội phát  
rằng, tôn giáo không chỉ là một hệ thống triển, và đại bộ phận vẫn tin có Thượng đế  
tín điều và quan niệm, mà còn là một hệ thì không thể nói rằng các nước ở châu Âu  
thống hành vi bao gồm những nghi thức và có mức độ thế tục cao. Theo đó, họ sử dụng  
lễ nghi mang tính biểu tượng để đánh dấu mô hình các thị trường tôn giáo (model  
những mốc lớn trong cuộc đời con người of religious markets) và lý thuyết sự chọn  
như sinh tử và hôn nhân, cũng như những lựa hợp lý (rational choice theory) để giải  
nghi lễ định kỳ trong năm, đóng vai trò duy thích về sự tồn tại của tôn giáo nói chung  
trì sự đoàn kết và cố kết xã hội, duy trì trật và tại sao tôn giáo vẫn có sức sống trong  
tự và ổn định, do đó mang lại những lợi ích các xã hội hiện đại. Luận điểm này gắn với  
chung (Phan Ngọc Chiến, 2010). Trong các tên tuổi của nhiều học giả tiêu biểu như  
xã hội công nghiệp chuyên biệt hóa chức Rodney Stark, Lawrence R. Iannaccone,  
năng, các tổ chức và giới chức chuyên môn William Sims Bainbridge, Roger Finke. Cả  
đảm nhận các chức năng chăm sóc y tế, giáo hai lý thuyết đều thống nhất về khái niệm  
dục, chính trị… thay thế phần lớn công việc “nền kinh tế tôn giáo”, đều xem các giáo  
một thời của các tu viện, giáo sĩ, giáo xứ. hội như là những “xí nghiệp”, các tôn giáo  
Như thế, khi các tổ chức tôn giáo bị tước tranh giành tín đồ trong một thị trường tôn  
mất mục đích xã hội cốt lõi thì vai trò tâm giáo (Phan Ngọc Chiến, 2010).  
linh và luân lý của nó sẽ suy yếu, và có thể  
dần biến mất.  
Để hiểu được quan điểm lựa chọn hợp  
lý về số phận của tôn giáo trong các xã hội  
Ngoài ra, theo Peter Berger trong tác hiện đại, cần xem xét các giả định kinh tế  
phẩm Mái vòm linh thiêng; Những yếu cơ bản trong quan điểm này. Các nhà lý  
tố của một lý thuyết xã hội học về tôn thuyết về sự lựa chọn hợp lý cho rằng, khi  
giáo (The Sacred canopy; Elements of a khái niệm hóa lĩnh vực tôn giáo của bất kỳ  
sociological theory of religion, 1967), tình xã hội nào là một nền kinh tế tôn giáo sẽ  
trạng đa nguyên tôn giáo phá vỡ mái vòm giải thích được sự tồn tại và thay đổi của  
linh thiêng của một xã hội, làm giảm quyền tôn giáo. Nền kinh tế tôn giáo bao gồm tất  
uy của tất cả các truyền thống tôn giáo. cả các hiện tượng tôn giáo trong một xã hội  
Tính đa nguyên tôn giáo buộc các cấu trúc nhất định và bao gồm thị trường tôn giáo.  
tôn giáo hợp lý phải cạnh tranh và tước bỏ Trong các thị trường tôn giáo, các xí nghiệp  
vị thế được cho là hiển nhiên của tất cả các tôn giáo sản xuất và bán “hàng hóa tôn giáo”  
Một số quan điểm…  
33  
để đáp ứng “nhu cầu tôn giáo” của “người trên thị trường tăng lên, giá cả hàng hóa tôn  
tiêu dùng” (Iannaccone, 1991; 1992). Theo giáo sẽ giảm xuống. Còn theo quy luật bàn  
giả định, các xí nghiệp tôn giáo và người tay vô hình: thị trường không được điều tiết  
tiêu dùng đều rất lý trí ở chỗ: các xí nghiệp tạo ra nhiều phúc lợi hơn so với những thị  
tôn giáo tham gia vào thị trường khi họ trường được điều tiết. Do đó, các tổ chức tôn  
nhìn thấy tiềm năng “lợi nhuận” có thể đạt giáo độc quyền (religious monopoly), các  
được và ngừng sản xuất khi không có lãi; nhóm tổ chức tôn giáo độc quyền (religious  
còn người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm tôn oligopoly) hoặc các chế độ hỗn hợp sẽ không  
giáo một cách hợp lý theo sở thích và khả hoạt động hiệu quả bằng thị trường tôn giáo  
năng về ngân sách. Bên cạnh đó, một giả không được điều tiết.  
định tiên quyết liên quan đến người tiêu  
Trong khuôn khổ trên, cần thiết phải  
dùng là nhu cầu tôn giáo của họ là không phân biệt rõ ràng giữa hai khái niệm giải  
đổi, được giải thích theo thuyết tước đoạt1: thiêng hóa (desacralization) và thế tục hóa  
vì hàng hóa tôn giáo bù đắp cho sự thiếu (secularization). Giải thiêng hóa có nghĩa  
thốn vật chất và/hoặc phi vật chất (như: tiền là các thể chế phi tôn giáo vốn có (như: gia  
của, tình cảm, địa vị xã hội, cuộc sống vĩnh đình, hệ thống chính trị, kinh tế, hệ thống  
hằng,...), và vì những “phần thưởng” của y tế), nếu trước đây mang các loại biểu  
“thế giới này” và “thế giới bên kia (kiếp tượng, đặc trưng của tôn giáo thì giờ đây  
sau)” vẫn trong tình trạng khan hiếm nên không còn nữa. Quá trình thiêng hóa thì  
các cá nhân đã, đang và sẽ luôn luôn có nhu ngược lại, tức là có khả năng khi một tôn  
cầu về hàng hóa tôn giáo.  
giáo được tôn lên vị trí độc quyền thì các  
Trên thực tế, thị trường tôn giáo hoạt thể chế phi tôn giáo lại mang đầy các loại  
động giống như các thị trường thương mại biểu tượng, đặc điểm của tôn giáo đó, do  
khác, tất cả những quy luật kinh tế học có thể vậy có thể đánh bật các đối thủ cạnh tranh  
được sử dụng để phân tích và giải thích các tôn giáo ra khỏi thị trường bằng cách thiết  
hiện tượng tôn giáo. Chẳng hạn, áp dụng quy lập mối quan hệ chặt chẽ với nhà nước và  
luật cung và cầu: nếu các yếu tố khác không các tiểu hệ thống xã hội khác. Khi địa vị  
thay đổi (ceteris paribus), một tôn giáo ít tốn này không còn được công nhận là hợp pháp  
kém hơn hoặc cho phép người ta tiếp cận với (ví dụ, do sự đa dạng hóa của lĩnh vực tôn  
những điều tốt đẹp của thế giới bên kia dễ giáo), thì quá trình giải thiêng hóa sẽ xảy  
dàng hơn thì có nhiều khả năng được tiêu ra. Nhóm tôn giáo phải rút lại các yếu tố  
dùng hơn; và nếu lượng hàng hóa tôn giáo mang tính biểu trưng của mình ra khỏi các  
thể chế xã hội khác và vị thế độc quyền tôn  
giáo bị phá vỡ. Do đó, giải thiêng hóa là  
1
Thuyết tước đoạt (Deprivation theory) cho rằng,  
một quá trình đi kèm với việc bãi bỏ quy  
phong trào xã hội phát sinh khi nhiều người cảm  
định tôn giáo, theo đó độc quyền tôn giáo  
thấy họ bị tước đoạt những gì cần thiết đối với  
được chuyển thành thị trường tôn giáo tự  
do. Mặc dù điều này ám chỉ sự đánh mất  
ý nghĩa tôn giáo nhất định trong một số bộ  
phận xã hội, nhưng sẽ dẫn đến tính tôn giáo  
nói chung ngày càng tăng. Trong khi đó, thế  
tục hóa chỉ đơn giản là việc các xí nghiệp  
hạnh phúc của mình. Những thứ đó có thể là quyền  
lợi kinh tế, quyền lợi chính trị, giá trị xã hội... Do  
vậy, họ tham gia vào các phong trào xã hội nhằm  
giành được những gì mà họ cho là công bằng hơn  
doi/abs/10.1111/j.2044-8309.1984.tb00645.x).  
Thông tin Khoa học xã hội, số 10.2020  
34  
(nhóm) tôn giáo hạ thấp các giả định siêu luận điểm hậu thế tục, tức là xem xét lại lý  
nhiên, điều này khiến “hàng hóa tôn giáo” thuyết thế tục hóa cổ điển từ một góc nhìn  
của họ kém hấp dẫn hơn. Về lâu dài, những khác. Họ đã đưa ra những cách tiếp cận mới  
xí nghiệp này sẽ mất dần các thành viên và và mở ra khía cạnh thảo luận mới, không  
thị phần của họ. Tuy nhiên, bởi nhu cầu tôn chỉ để tôn giáo thích ứng trong một thời  
giáo gần như không đổi, các đối thủ cạnh đại thế tục, mà còn đặt nghi vấn về chính  
tranh tôn giáo khác với hàng hóa tôn giáo luận đề thế tục nhằm hiểu biết thêm về tôn  
“tốt hơn” sẽ thế chỗ (phục hưng, đổi mới giáo. Nói cách khác, mô hình chủ nghĩa thế  
tôn giáo). Do đó, thế tục hóa chỉ là một tục đã được chuyển từ quan điểm lý thuyết  
mặt (thuộc về bên thua cuộc) của sự luân về việc thừa nhận tầm quan trọng của tôn  
chuyển liên tục trên thị trường tôn giáo.  
giáo trong đời sống thế tục hiện đại sang  
Mô hình thị trường tôn giáo và lý thuyết một quan điểm mới nhằm xem xét lại thế  
sự chọn lựa hợp lý có một số ưu, nhược điểm tục như một điều kiện tiên quyết để nhận ra  
quan trọng nhất định. Trước hết, bởi mô tầm quan trọng của tôn giáo.  
hình này dựa trên thuyết cá nhân phương  
Habermas là người đầu tiên phổ biến  
pháp luận (cá nhân luận - methodological thuật ngữ “hậu thế tục” (post-secularism)  
individualism) và chấp nhận cách diễn giải (Xem: Habermas, 2008). Giai đoạn trước  
theo xã hội học nên có thể giải thích được sự những năm 1980, do chịu ảnh hưởng của  
tồn tại của tôn giáo trong thời hiện đại khi chủ nghĩa mác xít, ông cho rằng tôn giáo  
mà mọi hoạt động của con người đều bị chi sẽ biến mất trong các xã hội hiện đại với  
phối bởi cơ chế thị trường (Nguyễn Xuân quá trình duy lý hóa và phân biệt hóa định  
Nghĩa, 2008), nghiên cứu so sánh đồng đại chế của xã hội: lý luận khoa học ngày nay  
giữa nhiều quốc gia và nghiên cứu lịch sử dựa trên tri thức thực chứng và quan hệ  
về những thăng trầm của tôn giáo tại một nhân quả thay thế cho ý tưởng rằng thế  
quốc gia theo lịch đại (Phan Ngọc Chiến, giới đi theo một trật tự của thần thánh. Đến  
2010). Tuy nhiên, lý thuyết sự chọn lựa hợp giai đoạn 1985-2000, ông thiên về quan  
lý lại không giải thích được thực trạng về điểm cho rằng, tôn giáo là vấn đề riêng tư  
sự giảm sút vai trò xã hội của các tôn giáo cá nhân, là một điều cần thiết trong cuộc  
đang diễn ra ở châu Âu. Có thể thấy, sự độc sống của mỗi con người. Vào những năm  
quyền của một tôn giáo trong một xã hội cuối thập niên 1990, tư tưởng của ông về  
nhất định cũng không phải là nguyên nhân tôn giáo có sự thay đổi lớn, nhấn mạnh  
của hiện tượng thế tục hóa. Hơn nữa, giả quan điểm “công cộng hóa” tôn giáo, tức  
định về nhu cầu tôn giáo là không đổi có thể là tôn giáo không nên bị giới hạn trong  
dễ dàng bị bác bỏ, các khái niệm lợi ích, phí lĩnh vực riêng của cá nhân, mà nó phải  
tổn cũng khó áp dụng được trong lĩnh vực can dự vào lĩnh vực công và sử dụng các  
tâm linh. Chính bởi vậy, trên thực tế, mô truyền thống của mình để tinh chỉnh lại  
hình thị trường tôn giáo vẫn chưa được chấp “trực giác đạo đức”. Quan điểm này cho  
nhận rộng rãi trong khoa học xã hội.  
rằng, xã hội sẽ trở thành “xã hội hậu thế  
3. Quan điểm của Jürgen Habermas và tục” (post-secular society) (Nguyễn Xuân  
Charles Taylor về hậu thế tục  
Nghĩa, 2012).  
Hai biến cố lớn trong thời đại ngày nay  
Jürgen Habermas, Charles Taylor đã có  
những đóng góp đáng kể vào việc xây dựng làcuộccáchmạngsinhhọcvàsựtrỗidậycủa  
Một số quan điểm…  
35  
các trào lưu chính thống (fundamentalism)1 xác quyết tôn giáo sẽ mất đi trong quá trình  
đã làm thay đổi tư tưởng của Habermas. hiện đại hóa, quan điểm này không còn cơ  
Theo ông, hậu thế tục không phải là sự kết sở” (Theo: Nguyễn Xuân Nghĩa, 2012).  
thúc của quá trình thế tục hóa. Công cụ khái  
Đồng tình với quan điểm của Habermas,  
niệm mới này được phát triển để phân tích song Taylor (2007) không sử dụng thuật ngữ  
sự trở lại dường như bất ngờ của tôn giáo, “hậu thế tục” như Habermas, mà chỉ gọi là  
tức là chủ nghĩa phục hưng tôn giáo. Thời “thời đại thế tục” (secular age), trong đó ông  
đại của chủ nghĩa hậu thế tục không bác đề xuất xem xét lại các luận điểm truyền  
bỏ quá trình thế tục hóa đang diễn ra, cũng thống về thế tục hóa bằng cách phân tích mối  
không phải sự quay trở lại thời kỳ thống quan hệ giữa tính hiện đại thế tục và tôn giáo  
trị của thần học thời Trung cổ. Xã hội hậu (cụ thể là Ki-tô giáo) ở phương Tây. Theo  
thế tục hàm ý thực tế rằng tôn giáo tiếp tục đó, tính hiện đại thế tục đã định hình và rồi  
tự khẳng định vai trò và “các cộng đồng lại tái định hình Ki-tô giáo trong những năm  
tôn giáo tiếp tục tồn tại trong môi trường qua, nhưng nó không loại bỏ hoàn toàn Ki-tô  
ngày càng thế tục” (Habermas, 2009). Điều giáo. Thay vào đó, Taylor nhấn mạnh rằng  
này được minh chứng qua việc tôn giáo Ki-tô giáo được thấm nhuần với quá trình  
vẫn phát triển ở châu Phi và Mỹ La tinh; hình thành lịch sử và tính ưu việt của nền  
do tính đa văn hóa và xuyên quốc gia, Giáo văn minh phương Tây nói chung, văn hóa  
hội Công giáo vẫn thích ứng tốt với quá Hoa Kỳ nói riêng. Trong luận điểm về thế  
trình toàn cầu hóa; khuynh hướng cực đoan tục hóa đã được sửa đổi của mình, Taylor  
phát triển ở Islam giáo và xuất hiện khuynh không nhận thấy mối quan hệ mâu thuẫn  
hướng bạo lực với các mục tiêu chính trị giữa tôn giáo và tính hiện đại thế tục. Ngược  
(khủng bố); tôn giáo có ảnh hưởng trong lại, tính hiện đại thế tục là điều kiện thiết  
không gian công cộng ở cả cấp quốc gia, yếu để quản lý sự đa dạng của tôn giáo. Ông  
khu vực và quốc tế; sự va chạm văn hóa, lập luận rằng, tôn giáo sẽ không biến mất;  
tôn giáo với người di cư dẫn đến thay đổi ý đúng hơn, tôn giáo là một nhu cầu thường  
thức tôn giáo của người phương Tây… Từ trực về một “quyền lực cao hơn” hay nhu  
đó, Habermas đi đến nhận định, quá trình cầu tột cùng của “cảm giác no đủ/viên mãn”  
thế tục hóa không hoàn tất và cũng không phổ biến trong con người hiện đại. Một nhà  
thể được hoàn tất. Đồng thời, ông kết luận: nước thế tục không nhất thiết phải chống lại  
“Trong các xã hội này, tôn giáo vẫn giữ tôn giáo hoặc hoàn toàn tách biệt khỏi thế  
được tính thích hợp và ảnh hưởng đến cộng giới tôn giáo; Nhà nước thế tục là cần thiết  
đồng, trong khi quan điểm duy thế tục vốn trong việc đảm bảo sự tham gia bình đẳng,  
sự chung sống hài hòa và hạnh phúc tối đa  
của tất cả những người theo tôn giáo, không  
theo tôn giáo hoặc chống lại tôn giáo trong  
thế giới hiện đại (Taylor, 2007).  
4. Quan điểm của Peter Berger và  
Vyacheslav Karpov về giải thế tục hóa  
Berger là một trong những học giả đã  
từng nhiệt thành ủng hộ lý thuyết thế tục  
hóa, tuy nhiên đến nay quan điểm của ông  
1
Các phong trào tôn giáo bảo thủ với đặc trưng  
là ủng hộ việc tuân thủ nghiêm ngặt các văn bản  
thánh kinh. Cụm từ này từng dành riêng để ám  
chỉ những người theo đạo Tin lành Hoa Kỳ khăng  
khăng về tính chất nguyên thủy của Kinh thánh,  
bắt đầu từ cuối thế kỷ XX được áp dụng rộng  
rãi hơn cho nhiều phong trào tôn giáo khác nhau  
fundamentalism).  
Thông tin Khoa học xã hội, số 10.2020  
36  
cũng có những biến chuyển lớn. Theo ông, sự kiện theo trình tự thời gian giữa tính  
lý thuyết thế tục hóa không hoàn toàn sai thế tục và sự trở lại của tôn giáo, do vậy  
lầm và vẫn phù hợp với một số nơi trên thế nó không phù hợp với tình huống mà tôn  
giới (đặc biệt là Tây Âu), và đối với một giáo luôn luôn hiện diện suốt chiều dài lịch  
số nhóm công dân (như tầng lớp trí thức sử; (ii) Thế tục hóa và sự đảo ngược của  
quốc tế). Hầu hết thế giới ngày nay đều quá trình này không phải là các lực lượng  
mang tính tôn giáo, với những sự kiện tôn phi ngã (không có mối liên hệ với con  
giáo gây ảnh hưởng mạnh mẽ (như: mức độ người), mà luôn có các tác nhân cụ thể và  
ảnh hưởng của Tin lành Phúc âm và Islam lợi ích của chúng thúc đẩy cả hai quá trình  
giáo hồi sinh được thể hiện qua số lượng (Karpov, 2010).  
khổng lồ tín đồ chuyển đạo và tỷ lệ sinh  
Karpov (2010) cho rằng, giải thế tục hóa  
cao). Theo quan điểm hiện tại của Berger, là một quá trình chống lại lý thuyết thế tục  
sai lầm cơ bản của lý thuyết thế tục gây hóa (phản thế tục - counter-secularization),  
tranh cãi này là ở chỗ họ sử dụng cái mà qua đó tôn giáo tái khẳng định ảnh hưởng xã  
các nhà logic học gọi là thuyết ngụy biện hội của mình nhằm đáp trả các quá trình thế  
“lấy một phần để mô tả toàn bộ” (pars pro tục hóa đã có và/hoặc đang cùng xảy ra. Quá  
toto) (lấy sự suy giảm của tôn giáo ở Tây trình này được biểu hiện qua một vài hoặc  
Âu để mô tả cho số phận tôn giáo trên toàn tất cả các xu hướng sau: a) Sự nối lại liên kết  
thế giới). Tính hiện đại - biểu hiện qua tất giữa những định chế thế tục hóa và những  
cả những thành tựu khoa học và công nghệ chuẩn mực tôn giáo, cả trên bình diện chính  
được ứng dụng trong cuộc sống đã trở thành thức và phi chính thức; b) Sự trỗi dậy của  
một phần thiết yếu của xã hội đương đại - niềm tin và thực hành tôn giáo; c) Sự trở lại  
chắc chắn là một diễn ngôn thế tục mạnh của tôn giáo trên không gian công cộng (giải  
mẽ. Berger (2015) cho rằng, lý thuyết đa riêng tư hóa - de-privatization); d) Sự hồi  
nguyên nên thay thế cho lý thuyết thế tục sinh của nội dung tôn giáo trong nhiều tiểu  
hóa không thể kiểm chứng. Tuy vậy, ông hệ thống văn hóa như nghệ thuật, triết học,  
nhấn mạnh phải kiểm soát hai khía cạnh đa văn học và sự suy giảm vị thế của nền khoa  
nguyên, đó là: đa nguyên tôn giáo, thường học so với vai trò hồi sinh của tôn giáo trong  
được hiểu là một số tôn giáo cùng tồn tại việc xây dựng và duy trì thế giới; e) Những  
trong một xã hội; và đa nguyên diễn ngôn, thay đổi liên quan đến tôn giáo trong các lớp  
tức là một số diễn ngôn tôn giáo cùng tồn nền của xã hội (ví dụ như thay đổi nhân khẩu  
tại với diễn ngôn thế tục mạnh mẽ.  
học, xác định lại lãnh thổ và dân số theo các  
Berger lần đầu tiên sử dụng thuật ngữ dòng tôn giáo, sự tái xuất hiện các cấu trúc  
giải thế tục hóa (desecularization) chỉ đơn vật chất liên quan đến tín ngưỡng, thị phần  
giản hàm ý sự hiện diện mạnh mẽ của tôn gia tăng của các hàng hóa liên quan đến tôn  
giáo trong thế giới hiện đại. Tuy nhiên, ông giáo trên thị trường kinh tế tổng thể, v.v...).  
sử dụng thuật ngữ này có phần bất cẩn khi Tạm kết  
quan sát về thế giới giải thế tục không bao  
Tóm lại, các quan điểm về quá trình thế  
gồm châu Âu, và có lẽ là cả Hoa Kỳ (Xem: tục hóa, phản thế tục, hậu thế tục hay giải  
Berger, 1999). Vyacheslav Karpov làm sâu thế tục hóa đều hết sức phức tạp và vẫn còn  
sắc thêm thuật ngữ này với hai luận điểm: nhiều tranh cãi. Điều này tùy thuộc vào biểu  
(i) giải thế tục hóa ngụ ý rằng có một chuỗi hiện khác nhau của các tôn giáo khác nhau,  
Một số quan điểm…  
37  
trong những thời kỳ khác nhau tại các khu  
vực khác nhau trên thế giới. Đây là kết quả  
tất yếu của một tiến trình lịch sử lâu dài. Tuy  
quá trình thế tục hóa có thể khiến tôn giáo ít  
“The Consequences of religious  
market structure: Adam Smith and the  
economics of religion”, Rationality and  
Society, Vol. 3(2): 156-177.  
nhiều mất đi tầm quan trọng và ảnh hưởng 6. Iannaccone, Lawrence R. (1992),  
vốn có của nó trong xã hội, làm cho đời sống  
xã hội loài người ngày càng ít chịu sự chế  
ước của quan niệm, giáo lý và thực tiễn tôn  
“Religious markets and the economics  
of religion”, Social Compass, Vol. 39  
(1), p. 123-131.  
giáo, từ đó số người không có tín ngưỡng, 7. Karpov,  
Vyacheslav  
A
(2010),  
conceptual  
tôn giáo trong xã hội tăng lên, nhưng cũng  
lại thôi thúc tôn giáo đổi mới để thích ứng  
với thời đại. Từ đó, lý thuyết thế tục hóa có  
“Desecularization:  
framework”, Journal of Church and  
State, 2010, Vol. 52, Issue 2.  
thể không còn phù hợp, thay vào đó ngày 8. Nguyễn Xuân Nghĩa (1996), “Tôn giáo  
càng có nhiều quan điểm đưa ra những góc  
nhìn mới, trong đó, sự phục hưng của tôn  
và quá trình thế tục hóa”, Tạp chí Xã  
hội học, số 1 (53), tr. 8-14.  
giáo được diễn giải là sự thay đổi sang một 9. Nguyễn Xuân Nghĩa (2003), “Tôn giáo  
kiểu xã hội hoặc một thời đại mới  
trong thời hiện đại, thế tục hóa hay phi  
thế tục hóa”, Tạp chí Nghiên cứu tôn  
giáo, số 2, tr. 21.  
Tài liệu tham khảo  
1. Berger, Peter L. (1999), The 10. Nguyễn Xuân Nghĩa (2008), “Lý thuyết  
desecularization of the world: resurgent  
religion and world politics, Ethnic and  
Public Policy Center, Wm.B. Eerdmans  
Publishing Co.  
chọn lựa hợp lý và việc giải thích hiện  
tượng tôn giáo”, Tạp chí Khoa học xã  
hội, số 2 (114), tr. 69-79.  
11. Nguyễn Xuân Nghĩa (2012), “Tư tưởng  
của Jürgen Habermas về tôn giáo”, Tạp  
chí Nghiên cứu tôn giáo, số 6, tr. 18.  
2. Berger,  
“Desecularization”, The American  
Interest,  
Peter  
L.  
(2015),  
https://www.the-american- 12. Nguyễn Xuân Nghĩa (2016), “Giới  
interest.com/2015/5/13/desecularization/,  
truy cập ngày 01/8/2020.  
3. Phan Ngọc Chiến (2010), “Hai quan  
điểm đối nghịch về tôn giáo: Thuyết  
thiệu tư tưởng xã hội học Peter Berger  
về tôn giáo và những biến chuyển”, Tạp  
chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 2 (152),  
tr. 3-22.  
thế tục hóa và mô hình thị trường tôn 13. Peter Connolly (chủ biên), Tôn giáo  
giáo”, in trong: Bùi Thế Cường (chủ  
biên, 2010), Phương pháp nghiên cứu  
học từ nhiều cách tiếp cận (Chu Tiến  
Ánh dịch, 2018), Nxb. Tri thức, Hà Nội.  
xã hội và lịch sử, Nxb. Từ điển Bách 14. Taylor, Charles (2018), A Secular  
Khoa, Hà Nội.  
Age, The Bellknap Press of Harvard  
4. Habermas, Jürgen (2008), “A post-  
University Press, Cambridge, MA.  
secular society - what does that mean?”, 15. https://www.britannica.com/topic/  
secular-society-what-does-that-mean/, 16. https://onlinelibrary.wiley.com/doi/abs/  
truy cập ngày 01/8/2020.  
10.1111/j.20448309.1984.tb00645.x,  
5. Iannaccone, Lawrence R. (1991),  
truy cập ngày 01/8/2020.  
pdf 8 trang baolam 26520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số quan điểm đương đại về thế tục hóa tôn giáo", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_quan_diem_duong_dai_ve_the_tuc_hoa_ton_giao.pdf