Nâng cao chất lượng kiểm toán ngân hàng chính sách xã hội của kiểm toán nhà nước Việt Nam
TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN
NAÂNG CAO CHAáT lÖÔÏNG KIEåm TOAÙN NGAÂN HAØNG
CHÍNH sAÙCH XAÕ HOÄI CuÛA KIEåm TOAÙN NHAØ NÖÔÙC VIEÄT NAm
S. TRƯơNG ĐỨC THÀNH*
ài viết nghiên cứu về các hoạt động của kiểm toán nhà nước trong việc kiểm toán Ngân
hàng Chính sách xã hội Việt Nam cho các năm tài chính 2014, 2015 và 2017. Bằng việc thu
thập dữ liệu thứ cấp từ báo cáo kiểm toán của KTNN năm 2015, 2016 và 2018 cũng như
B
báo cáo tài chính của Ngân hàng Chính sách xã hội các năm 2014, 2015 và 2017 cùng các
văn bản Luật, nghị định, thông tư của Nhà nước Việt Nam có liên quan để phân tích thực trạng, ưu nhược
điểm của Kiểm toán nhà nước thông qua kiểm toán các hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội. Từ
thực trạng kiểm toán các hoạt động nghiệp vụ chính của Ngân hàng Chính sách xã hội và các ưu điểm,
hạn chế... bài viết đề xuất các nhóm giải pháp vi mô, vĩ mô nhằm tạo thêm điều kiện, môi trường để hoạt
động kiểm toán Ngân hàng Chính sách xã hội của Kiểm toán nhà nước Việt Nam đạt hiệu quả cao hơn,
qua đó nhằm tạo sự chuyển biến trong công tác quản lý và điều hành góp phần ổn định hệ thống tài chính
quốc gia.
Từ khóa: Chất lượng kiểm toán, Ngân hàng Chính sách xã hội, Kiểm toán nhà nước.
Improving the quality of the audit of Social Policy Bank of State Audit of Vietnam
is article researchs on activities of SAV on audit of Bank of Social Policies in financial years of 2014,
2015 and 2017. By collecting secondary data from audit reports of SAV in the year of 2015, 2016 and 2018 as
well as financial audit of Social Policies Bank in 2014, 2015 and 2017 and related laws, decrees and circulars
of Vietnam government to analysis situation, advantages and disadvantages of SAV through audit of Bank
of Social Policies. From there, the article suggests micro and macro solutions to create more conditions and
environment to enhance effective of audit of Bank of Social Policies of SAV, thereby, to create a change in the
management and administration, contributing to the stability of the national financial system.
Keywords: Audit quality, Bank for Social Policies, State Audit of Vietnam.
Giới thiệu
hiện chính sách phát triển của Nhà nước cũng như
đảm bảo an sinh, xã hội.
Ngân hàng Chính sách xã hội là ngân hàng của
Chính phủ hoạt động vì an sinh xã hội, không vì
mục đích lợi nhuận, là công cụ thực hiện chính
sách xã hội như cho vay hộ nghèo, khó khăn. Do
đó, hoạt động kiểm toán đối với việc thực hiện
chức năng nhiệm vụ của Ngân hàng Chính sách xã
hội hết sức quan trọng và cần thiết cho việc thực
Đối với một quốc gia, nếu hoạt động kiểm toán
tốt thì tiềm lực kinh tế của quốc gia sẽ được cải
thiện. Hoạt động kiểm toán của Kiểm toán nhà
nước tại Ngân hàng Chính sách xã hội đối với các
hoạt động liên quan đến quản lý, sử dụng tài chính
công, tài sản công là hoạt động được Kiểm toán
*Kiểm toán nhà nước Khu vực IX
24 Số 145 - tháng 11/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
nhà nước tiến hành thường xuyên định kỳ. Qua
hoạt động kiểm toán nhằm đánh giá việc tuân thủ
pháp luật, tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong
quản lý, sử dụng tài chính công, tài sản công; đánh
giá việc chấp hành các quy định của Nhà nước
trong việc cấp tín dụng ưu đãi, cho vay hộ nghèo,
khó khăn và các chương trình trợ cấp việc làm..
Với nhiệm vụ hết sức quan trọng với nhiều nội
dung cần được kiểm tra, xác nhận và đánh giá luôn
đòi hỏi hoạt động kiểm toán với chất lượng cao
đáp ứng được yêu cầu của hoạt động Kiểm toán
nhà nước.
động, mặt khác giúp cho các cơ quan nhà nước có
thẩm quyền ban hành các cơ chế chính sách đảm
bảo phù hợp với tình hình thực tiễn của nền kinh
tế. Qua hơn 25 năm xây dựng và phát triển, hoạt
động của Kiểm toán nhà nước ngày càng đáp ứng
yêu cầu của công cuộc đổi mới, tăng cường kiểm
tra, giám sát của Nhà nước trong quản lý, sử dụng
tài chính công, tài sản công. Mặc dù, đã có những
bước phát triển quan trọng nhưng trước yêu cầu
ngày càng cao của công cuộc đổi mới đất nước, tăng
cường kiểm soát quyền lực nhà nước, hoạt động
kiểm toán của Kiểm toán nhà nước cũng còn hạn
chế, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ trong
tình hình mới. Một trong những nguyên nhân dẫn
đến tình trạng trên là do phạm vi kiểm toán chưa
bao quát hết việc kiểm tra, kiểm soát mọi nguồn
lực tài chính nhà nước và tài sản công đã làm giảm
hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Kiểm toán nhà
nước với vị thế là cơ quan kiểm tra tài chính nhà
nước cao nhất của quốc gia.
Với địa vị pháp lý của Kiểm toán nhà nước đã
được quy định trong Hiến pháp 2013, Luật Kiểm
toán nhà nước 2015 với địa vị, vai trò mới đem lại
cho Kiểm toán nhà nước thẩm quyền rất lớn nhưng
trách nhiệm cũng rất cao, điều này đòi hỏi Kiểm
toán nhà nước phải tăng cường năng lực nội tại để
đáp ứng yêu cầu. Kết quả kiểm toán cũng từng bước
được nâng cao qua các lần kiểm toán, qua đó, một
mặt giúp cho đơn vị được kiểm toán chấn chỉnh
kịp thời các sai phạm trong quá trình tổ chức hoạt
Hiện nay, các nghiên cứu về Kiểm toán nhà
nước và nâng cao chất lượng của Kiểm toán nhà
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 145 - tháng 11/2019 25
TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN
nước có thể kể đến như đề tài nghiên cứu khoa học
cấp cơ sở của Nguyễn anh Huệ (2018) về “Hoàn
thiện hoạt động kiểm soát chất lượng kiểm toán của
Kiểm toán trưởng tại kiểm toán nhà nước”. Nghiên
cứu đã đã hệ thống được các vấn đề lý luận cơ bản
liên quan đến hoạt động kiểm soát chất lượng kiểm
toán; đi sâu phân tích các hạn chế, vi phạm hoạt
động kiểm soát chất lượng kiểm toán của Kiểm
toán trưởng tại cơ quan Kiểm toán nhà nước Việt
Nam giai đoạn 2013 – 2017. Nghiên cứu của Đỗ
Trung Dũng và Cù Hoàng Diệu (2017) về “Tăng
cường kiểm soát chất lượng kiểm toán nhằm nâng
cao chất lượng, hiệu lực kiểm toán ngân sách bộ,
ngành”. Nghiên cứu đã hệ thống được các vấn đề lý
luận liên quan đến công tác kiểm soát chất lượng
kiểm toán trong mối quan hệ với chất lượng, hiệu
lực kiểm toán ngân sách bộ ngành; đánh giá được
thực trạng công tác kiểm soát chất lượng kiểm toán
ngân sách bộ, ngành. Từ kết quả đạt được, những
hạn chế và nguyên nhân, đưa ra những định hướng
và giải pháp tăng cường kiểm soát chất lượng kiểm
toán nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực kiểm toán
ngân sách bộ, ngành ở 3 khía cạnh là: Hoàn thiện
môi trường kiểm soát chất lượng kiểm toán; hoàn
thiện tổ chức bộ máy kiểm soát chất lượng kiểm
toán và hoàn thiện cơ chế hoạt động kiểm soát chất
lượng kiểm toán.
diện tổ chức bộ máy và tổ chức công tác kiểm toán
ngân sách nhà nước do Kiểm toán nhà nước Việt
Nam thực hiện.
Ngoài ra, còn một số nghiên cứu khác có liên
quan của Vương Văn Quang (2013) nghiên cứu về
“Hoàn thiện Quy chế kiểm soát chất lượng kiểm
toán của Kiểm toán nhà nước”; nghiên cứu của
Vũ ị u Huyền (2019) về “Hoàn thiện công tác
kiểm toán hoạt động chi tiêu ngân sách của các
Bộ, ngành”... Có thể nói, các nghiên cứu đề cập ở
trên về cơ bản đã được ứng dụng trong hoạt động
kiểm toán Ngân hàng Chính sách xã hội của Kiểm
toán nhà nước, và hầu hết các nghiên cứu này chưa
đi sâu vào nghiên cứu lĩnh vực ngân hàng chịu sự
quản lý của nhà nước, cụ thể là Ngân hàng Chính
sách xã hội. Bài viết nhằm với mục đích đánh giá
thực trạng kiểm toán Ngân hàng Chính sách xã
hội của Kiểm toán nhà nước và các giải pháp,
khuyến nghị.
1. Cơ sở lý thuyết
1.1. Khái niệm kiểm toán
Kiểm toán xuất hiện vào thế kỷ thứ III trước
công nguyên và gắn liền với nền văn minh Ai
Cập và La Mã cổ đại. eo định nghĩa của Liên
đoàn Kế toán Quốc tế (International Federation
of Accountants –IFAC) thì “Kiểm toán là việc các
kiểm toán viên độc lập kiểm tra và trình bày ý kiến
của mình về các bản báo cáo tài chính”.
Nghiên cứu của Nguyễn Hữu Phúc (2009) về
“Tổ chức kiểm toán ngân sách nhà nước do Kiểm
toán nhà nước Việt Nam thực hiện”, trình bày thực
trạng tổ chức bộ máy kiểm toán ngân sách nhà
nước và tổ chức công tác kiểm toán, thông qua
thực hiện quy trình kiểm toán ngân sách nhà nước
do Kiểm toán nhà nước Việt Nam thực hiện trong
những năm qua và những tác động của việc đổi
mới tổ chức quản lý ngân sách nhà nước của Việt
Nam trong tương lai đến việc tổ chức kiểm toán
ngân sách nhà nước. Nghiên cứu cũng đề ra những
định hướng cơ bản và giải pháp hoàn thiện tổ chức
kiểm toán ngân sách nhà nước trên 02 phương
eo Alvin A.Rens và James K.Loebbecker
(1997) thì: “Kiểm toán là quá trình các chuyên gia
độc lập và có thẩm quyền thu thập và đánh giá các
bằng chứng về các thông tin có thể định lượng
được của một đơn vị cụ thể nhằm mục đích xác
nhận và báo cáo về mức độ phù hợp giữa các thông
tin này với các chuẩn mực đã được thiết lập”.
eo John Dunn (1996) thì: “Kiểm toán là thủ
pháp xem xét và kiểm tra một cách khách quan
về từng khoản mục bao gồm việc thẩm tra những
26 Số 145 - tháng 11/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
thông tin đặc trưng được xác định bởi kiểm toán
viên hoặc thiết lập bởi thực hành chung”. Có thể
nói mục đích của kiểm toán là trình bày ý kiến
hoặc đi đến kết luận về cái được kiểm toán.
kiểm toán nghiêm túc và đầy đủ; Cung cấp báo cáo
kiểm toán có giá trị, kịp thời; Báo cáo kiểm toán
thỏa mãn nhu cầu của các đối tượng khác nhau.
Quy chế Kiểm soát chất lượng kiểm toán
ban hành theo Quyết định 558/QĐ-KTNN ngày
22/3/2016 của Tổng Kiểm toán nhà nước lại cụ
thể hóa chất lượng kiểm toán cho một cuộc kiểm
toán: “Chất lượng cuộc kiểm toán phản ánh mức
độ thực hiện các mục tiêu kiểm toán, tuân thủ pháp
luật, tuân thủ chuẩn mực, quy trình kiểm toán và
vận dụng phù hợp các phương pháp chuyên môn,
nghiệp vụ nhằm đáp ứng yêu cầu về tính đúng đắn,
trung thực, khách quan, kịp thời của kết quả và kết
luận kiểm toán, đảm bảo cơ sở pháp lý và tính khả
thi của các kiến nghị kiểm toán”.
eo tác giả thì kiểm toán là quá trình các
chuyên gia độc lập và có thẩm quyền, có kỹ năng
nghiệp vụ, thu thập và đánh giá các bằng chứng
về các thông tin có thể định lượng của một đơn
vị nhằm mục đích xác nhận và báo cáo về mức độ
phù hợp giữa các thông tin này với các chuẩn mực
đã được xây dựng.
1.2. Khái niệm chất lượng kiểm toán
eo Ủy ban Chuẩn mực kiểm toán và dịch vụ
đảm bảo quốc tế (IAASB) thì chất lượng kiểm toán
là khả năng Kiểm toán viên đưa ra ý kiến hợp lý về
báo cáo tài chính được kiểm toán dựa trên việc thu
thập được bằng chứng kiểm toán đầy đủ, thích hợp
và cuộc kiểm toán được thực hiện đảm bảo: Tuân
thủ chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp kiểm toán bao
gồm các giá trị đạo đức và hành vi ứng xử phù hợp;
Có đủ kiến thức, kinh nghiệm và được bố trí thời
gian đầy đủ để thực hiện kiểm toán; áp dụng quy
trình, thủ tục kiểm toán và kiểm soát chất lượng
1.3. Các quan điểm khoa học về chất lượng
kiểm toán
eo các nghiên cứu trước có hai quan điểm
chính về chất lượng kiểm toán: ứ nhất là khả năng
phát hiện và báo cáo các sai phạm trọng yếu trên
các báo cáo tài chính được kiểm toán (Krishnan
và Schauer, 2001; Bradshaw, 2001; Francis, 2004;
Chen, Su và Wang, 2005); thứ hai là quan điểm
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 145 - tháng 11/2019 27
TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN
thực hành nhằm thỏa mãn đối tượng sử dụng dịch
vụ kiểm toán. eo Chuẩn mực Kiểm toán Việt
Nam số 220 (VSA 220) và Chuẩn mực Kiểm toán
Quốc tế số 220 (ISA 220), “Chất lượng kiểm toán là
mức độ thoả mãn về tính khách quan và độ tin cậy
vào ý kiến kiểm toán của những đối tượng sử dụng
dịch vụ kiểm toán đồng thời thoả mãn về mong
muốn có được những ý kiến đóng góp nhằm nâng
cao hiệu quả công tác quản lý tài chính, kế toán
của đơn vị được kiểm toán với thời gian định trước
và giá phí thích hợp”. Chất lượng kiểm toán ở đây
được hiểu trên khía cạnh mức độ thỏa mãn của đối
tượng sử dụng các báo cáo tài chính. Với đặc trưng
của kiểm toán các chức năng nhiệm vụ của ngân
hàng thương mại... thì đối tượng sử dụng dịch vụ
kiểm toán phổ biến nhất là các cơ quan quản lý và
các ngân hàng thương mại được kiểm toán, các nhà
đầu tư cá nhân và tổ chức khác có liên quan.
hội và hệ thống chuẩn mực kiểm toán, Quy trình
kiểm toán, Quy chế tổ chức và hoạt động của Đoàn
Kiểm toán nhà nước. Kết quả kiểm toán cũng chỉ
ra nhiều tồn tại, hạn chế tại đơn vị, từ đó đưa ra
được một số kiến nghị giúp đơn vị thực hiện đúng,
đầy đủ theo quy định của pháp luật.
Tuy nhiên, trong quá trình kiểm toán Ngân
hàng Chính sách xã hội, còn một số hạn chế sau:
Kiểm toán nhà nước chưa có những quy định,
hướng dẫn, tiêu chí cụ thể để đánh giá các nhóm
chính sách cụ thể như: Kiểm toán cho vay hộ nghèo;
kiểm toán chương trình cho vay học sinh, sinh viên
có hoàn cảnh khó khăn; kiểm toán nghiệp vụ cấp
bù lãi suất và chi phí quản lý... từ đó dẫn đến các ý
kiến nhận xét đánh giá chưa bao quát, chưa đầy đủ,
thiếu tính thống nhất giữa các kiểm toán viên trong
cùng đoàn kiểm toán.
Năng lực của kiểm toán viên chưa đồng đều;
một số kiểm toán viên còn hạn chế năng lực về lý
luận cũng như kinh nghiệm thực tiễn để tiến hành
kiểm toán. Từ đó, dẫn đến kết quả kiểm toán đối
với một số nội dung còn hạn chế.
Mặc dù, chất lượng kiểm toán được nhìn nhận
dưới các quan điểm khác nhau nhưng mục tiêu
kiểm toán vẫn phải được đảm bảo, đó là kiểm toán
viên phải đưa ra ý kiến đúng về độ tin cậy của các
báo cáo tài chính. Tóm lại, đối với hệ thống các tổ
chức tín dụng thì việc đảm bảo đảm chất lượng
kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, đặc biệt là đối
với Ngân hàng Chính sách xã hội là mối quan tâm
lớn nhất của các cơ quan quản lý.
Việc khảo sát, thu thập thông tin chưa được chú
trọng dẫn đến việc xác định mục tiêu, nội dung,
phạm vi, phương pháp kiểm toán khi lập kế hoạch
kiểm toán còn hạn chế: Mục tiêu kiểm toán chưa
rõ ràng; nội dung kiểm toán chưa đầy đủ; phương
pháp cách thức tiến hành kiểm toán đôi khi chưa
phù hợp.
2. ực trạng chất lượng kiểm toán tại Ngân
hàng Chính sách xã hội Việt Nam
Quá trình kiểm toán Ngân hàng Chính sách xã
hội, Kiểm toán viên nhà nước căn cứ vào các văn
bản như Luật Kiểm toán nhà nước, Luật Kế toán,
các văn bản pháp luật về quản lý kinh tế, tài chính,
kế toán, các văn bản pháp luật khác của Nhà nước
quy định về chính sách tín dụng đối với người
nghèo, cận nghèo, các đối tượng chính sách khác
và các văn bản pháp luật khác của Bộ Tài chính,
Ngân hàng Nhà nước, của các Bộ, ngành có liên
quan đến hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã
Kiểm toán nhà nước chưa có quy định, hướng
dẫn về mẫu báo cáo kiểm toán và cách trình bày
báo cáo kiểm toán riêng cho một số nội dung trong
cuộc kiểm toán, vì các nội dung này mang tính chất
đặc thù nên mỗi chính sách có những nội dung và
tiêu chí đánh giá khác nhau. Do vậy, việc đánh giá
về cùng một nội dung của mỗi kiểm toán viên, mỗi
Tổ kiểm toán trong cùng Đoàn kiểm toán đôi khi
khác nhau.
28 Số 145 - tháng 11/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
Báo cáo kiểm toán còn dài, thiếu tập trung nên
phần lớn chỉ tập trung vào phản ánh, đánh giá
thiếu sót, tồn tại và xác định trách nhiệm liên quan
nhưng chưa thực sự đánh giá công bằng những mặt
làm được cần phát huy và đặc biệt là chưa phân tích
những nguyên nhân dẫn đến những thiếu sót, bất
cập trong quản lý nhằm hướng tới mục tiêu hoàn
thiện chương trình, chính sách, hoạt động được
kiểm toán. Nhiều kiến nghị trong báo cáo kiểm
toán còn chung chung, thiếu bằng chứng nhiều khi
không có tính thực tiễn và chưa gắn kết với mục
tiêu, nội dung kiểm toán.
Nghiên cứu để chỉnh sửa ông tư số 21/2012/
TT-NHNN ngày 18/ 06 /2012 về “Quy định về hoạt
động cho vay, đi vay; mua, bán có kỳ hạn giấy tờ có
giá giữa các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng
nước ngoài” đã được ống đốc Ngân hàng nhà
nước ban hành ông tư số 18/2016/TT-NHNN
nhằm sửa đổi, bổ sung một số điều của ông tư
số 21/2012/TT-NHNN ngày 18/6/2012. Tuy nhiên,
chưa phù hợp với điều lệ về tổ chức và hoạt động
của Ngân hàng Chính sách xã hội tại Quyết định
của ủ tướng Chính phủ số 16/2003/QĐ-TTg
ngày 22 tháng 01 năm 2003. Cụ thể tại ông tư số
18/2016/TT-NHNN, Điều 2 “Đối tượng áp dụng”
đề nghị bổ sung thêm đối tượng cho vay và đi vay
là Ngân hàng Chính sách xã hội cho phù hợp với
Quyết định số 16/2003/QĐ-TTg tại Chương 2,
mục 1 Điều 4 “Nguồn vốn” tiểu mục 2 “Vốn huy
động” gồm: a) Tiền gửi có trả lãi của các tổ chức,
cá nhân trong và ngoài nước; b) Tiền gửi của các tổ
chức tín dụng nhà nước bằng 2% số dư nguồn vốn
huy động bằng đồng Việt Nam có trả lãi theo thoả
thuận; c) Tiền gửi tự nguyện không lấy lãi của các
tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; d) Phát hành
trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh, chứng chỉ tiền
gửi và các giấy tờ có giá khác; đ) Tiền tiết kiệm của
người nghèo.
3. Các giải pháp, khuyến nghị
Qua thực trạng cho thấy còn tồn tại tình trạng
chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật
liên quan đến hoạt động của Ngân hàng Chính
sách xã hội và sự hạn chế trong quá trình vận hành
hoạt động kiểm toán Ngân hàng Chính sách xã hội,
tác giả có một số giải pháp, khuyến nghị sau:
3.1. Nhóm giải pháp vĩ mô
Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Cần nghiên cứu
sửa đổi Luật Kiểm toán nhà nước và các văn bản
luật có liên quan để phân định rõ vị trí, chức năng
của Kiểm toán nhà nước với các cơ quan thanh tra,
kiểm tra giám sát khác của Nhà nước; đồng thời,
bảo đảm sự đồng bộ và phù hợp giữa Luật Kiểm
toán nhà nước với Luật Tổ chức Quốc hội, Luật
Tổ chức Chính phủ, Luật Ngân sách nhà nước...,
cụ thể:
Đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Tổ chức Chính
phủ số 76/2015/QH13 tại Điều 8 Chương 2 bổ
sung Mục 8: “Chỉ đạo, tổ chức và quản lý việc thực
hiện công tác kế toán và công tác thống kê của Nhà
nước” thành: “Chỉ đạo, tổ chức và quản lý việc thực
hiện công tác kế toán và công tác thống kê, công tác
kiểm toán của Nhà nước” để phù hợp với Luật Tổ
chức Quốc hội số 57/2014/QH13 tại Điều 6, Mục
2: “Quốc hội giám sát tối cao hoạt động của Chủ
tịch nước, Ủy ban ường vụ Quốc hội, Chính
phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân
dân tối cao, Hội đồng Bầu cử quốc gia, Kiểm toán
nhà nước và cơ quan khác do Quốc hội thành lập”,
nhằm khẳng định Kiểm toán nhà nước là cơ quan
Hoàn thiện hệ thống pháp luật: Đề xuất Chính
phủ sửa đổi, bổ sung Luật Dân sự số 91/2015/
QH13, Bộ luật Dân sự ngày 24 tháng 11 năm 2015
tại Điều 282: ực hiện nghĩa vụ định kỳ: “Nghĩa
vụ được thực hiện theo định kỳ theo thỏa thuận,
theo quy định của pháp luật hoặc quyết định của
cơ quan có thẩm quyền; Việc chậm thực hiện nghĩa
vụ theo từng kỳ cũng bị coi là chậm thực hiện nghĩa
vụ” phù hợp với các văn bản về thu hồi nợ vay.
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 145 - tháng 11/2019 29
TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN
nước) khi tính số dư nguồn vốn bình quân để tính
cấp bù lãi suất.
kiểm tra tài chính nhà nước cao nhất, hoạt động
độc lập và chỉ tuân theo pháp luật;
Đề nghị Bộ Tài chính rà soát, căn cứ vào số
quyết toán thực tế hàng năm để xem xét việc tạm
cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý hàng quý
cho Ngân hàng Chính sách xã hội, tránh tình trạng
tạm cấp thừa lớn, gây lãng phí nguồn vốn thuộc
ngân sách nhà nước.
Nghiên cứu sửa đổi một số quy định của Luật
Ngân sách nhà nước số 83/2015/QH13 tại Điều 23
bổ sung Mục 3: “am gia với Uỷ ban Tài chính,
Ngân sách và các cơ quan khác của Quốc hội,
Chính phủ trong việc xem xét, thẩm tra báo cáo
về dự toán ngân sách nhà nước, phương án phân
bổ ngân sách trung ương, phương án điều chỉnh
dự toán ngân sách nhà nước” thành “am gia
với Ủy ban Tài chính, Ngân sách và các cơ quan
khác của Quốc hội, Chính phủ trong việc xem xét,
thẩm tra báo cáo về dự toán ngân sách nhà nước,
phương án điều chỉnh dự toán ngân sách nhà nước
và phương án phân bổ ngân sách trung ương của
Kiểm toán nhà nước, thời hạn nộp báo cáo quyết
toán ngân sách năm của các bộ, các tỉnh, thành phố
trực thuộc trung ương” nhằm cho phù hợp với quy
định của Luật Kiểm toán nhà nước.
Bộ Tài chính cần có những chỉ đạo, đôn đốc
Ngân hàng Chính sách xã hội và các đơn vị được
kiểm toán thực hiện nghiêm túc, kịp thời các kiến
nghị của Kiểm toán nhà nước và báo cáo kết quả
thực hiện về Kiểm toán nhà nước. Đề nghị trong
Báo cáo kết quả thực hiện kiến nghị kiểm toán
cần nêu rõ: Những kiến nghị đã thực hiện; kiến
nghị đang thực hiện; kiến nghị chưa thực hiện với
những kiến nghị đã thực hiện cần ghi rõ tên bằng
chứng, đính kèm theo bản sao các chứng từ, tài
liệu... để chứng minh; với kiến nghị đang thực hiện
và kiến nghị chưa thực hiện phải giải thích rõ lý do.
Các khuyến nghị đối với Bộ Tài chính: Đề xuất
điều chỉnh, bổ sung ông tư số 24/2005/TT-BTC,
mặc dù Bộ Tài chính đã ban hành ông tư Số
102/2014/TT-BTC của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ
sung ông tư số 24/2005/TT-BTC việc điều chỉnh
này chưa sát với thực tế hoạt động tại Ngân hàng
Chính sách xã hội. Do đó, tác giả đề xuất chỉnh
sửa, bổ sung ông tư số 24/2005/TT-BTC theo
hai hướng, cụ thể:
Đề nghị Bộ Tài chính rà soát, căn cứ vào số
quyết toán thực tế hàng năm để xem xét việc tạm
cấp bù chênh lệch lãi suất và phí quản lý hàng quý
cho Ngân hàng Chính sách xã hội, tránh tình trạng
tạm cấp thừa lớn, gây lãng phí nguồn vốn thuộc
ngân sách nhà nước.
Các khuyến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước:
Đề nghị Ngân hàng Nhà nước quy định Ngân hàng
Chính sách xã hội chỉ được mở tài khoản tiền gửi
tại Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, các
tổ chức tín dụng nhà nước phải duy trì tiền gửi 2%
tại Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định để
đảm bảo khả năng chi trả, thanh toán và an toàn
theo ông tư số 23/2013 TT-NHNN quy định
việc tổ chức tín dụng nhà nước duy trì số dư tiền
gửi tại Ngân hàng Chính sách xã hội được Ngân
hàng Nhà nước ban hành ngày 19/11/2013. Đề
nghị Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chủ trì, phối
hợp với Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề
(i) Tại phần IV “Cấp bù chênh lệch lãi suất và phí
quản lý” khoản mục 3 “Xác định số cấp bù chênh
lệch lãi suất và phí quản lý thực tế” của ông tư
số 24/2005/TT-BTC đề nghị bổ sung, xác định số
dư nguồn vốn bình quân cần tính đến số dư nguồn
vốn ủy thác tạm thời nhàn rỗi chưa giải ngân.
(ii) Tại phần IV “Cấp bù chênh lệch lãi suất
và phí quản lý” khoản mục 3 “Xác định số cấp bù
chênh lệch lãi suất và phí quản lý thực tế” của ông
tư số 24/2005/TT-BTC đề nghị bổ sung xác định rõ
các khoản giảm trừ (khoản phải thu ngân sách nhà
30 Số 145 - tháng 11/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
tiêu, nội dung kiểm toán từ khâu lựa chọn chủ đề
kiểm toán, lập kế hoạch kiểm toán đến khâu thực
hiện kiểm toán để áp dụng hiệu quả trong các cuộc
kiểm toán. Tăng cường khảo sát, thu thập thông tin
ngay từ khâu khảo sát để có đủ dữ liệu và căn cứ
xây dựng kế hoạch kiểm toán ngân hàng. Kế hoạch
kiểm toán Ngân hàng Chính sách xã hội cần được
lập với đầy đủ các nội dung đảm bảo bao quát được
toàn bộ các hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã
hội, phù hợp tình hình thực tế trong hoạt động của
Ngân hàng Chính sách xã hội. Kiểm toán nhà nước
cần phải chủ động phối hợp với cơ quan thanh tra
các cấp để khắc phục được tình trạng chồng chéo,
trùng lặp giữa hoạt động thanh tra, kiểm tra của
các bộ, ngành, địa phương và hoạt động kiểm toán.
Kế hoạch kiểm toán được phổ biến thống nhất đến
từng thành viên đoàn kiểm toán và được triển khai
cụ thể và chi tiết ở từng tổ kiểm toán.
xuất phương án, biện pháp xử lý dứt điểm khoản
Ngân hàng Nhà nước cho Ngân hàng Chính sách
xã hội vay 9.000 tỷ đồng để cho vay học sinh sinh
viên theo chỉ đạo của ủ tướng Chính phủ tại Văn
bản số 51/VPCP-KTTH, ngày 08/01/2015 của Văn
phòng Chính phủ.
Các khuyến nghị đối với UBND các cấp: Tăng
cường bố trí vốn từ ngân sách địa phương và các
nguồn vốn khác để bổ sung nguồn vốn cho vay các
đối tượng chính sách xã hội trên địa bàn theo đúng
yêu cầu của Chỉ thị 40-CT/TW ngày 22/11/2014
của Ban Bí thư và Quyết định 401/QĐ-TTg ngày
14/3/2016 của ủ tướng Chính phủ.
3.2. Nhóm giải pháp nghiệp vụ
Chất lượng kiểm toán chịu ảnh hưởng bởi nhiều
yếu tố khác nhau và có nhiều giải pháp để nâng cao
chất lượng kiểm toán, nhưng một trong các giải
pháp quan trọng đó là liên quan đến nghiệp vụ và
quy trình kiểm toán của Kiểm toán nhà nước đối
với Ngân hàng Chính sách xã hội. Do đó, để nâng
cao chất lượng kiểm toán tại Ngân hàng Chính
sách xã hội, cuộc kiểm toán trước hết phải tuân
thủ đầy đủ các bước trong quy trình kiểm toán của
Kiểm toán nhà nước nói chung, trong đó cần đảm
các định hướng chung của Kiểm toán nhà nước
Việt Nam. Cụ thể, hoàn thiện quy trình kiểm toán
tại Ngân hàng Chính sách xã hội theo Quyết định
11/2017/QĐ-KTNN ngày 21/11/2017 của Tổng
Kiểm toán nhà nước về Quy trình kiểm toán các
tổ chức tài chính, ngân hàng của Kiểm toán nhà
nước như sau:
Tại bước 2: ực hiện kiểm toán: Các thành viên
đoàn kiểm toán tại Ngân hàng Chính sách xã hội
khi thực hiện kiểm toán cần phải tuân thủ kế hoạch
kiểm toán đã được ban hành, các chuẩn mực kiểm
toán của Kiểm toán nhà nước, quy trình kiểm toán
và các quy định về chuyên môn nghiệp vụ kiểm
toán, các quy định nghiệp vụ khác và pháp luật có
liên quan đối với các nghiệp vụ trong hoạt động
của Ngân hàng Chính sách xã hội. Các kiểm toán
viên thu thập được đầy đủ các bằng chứng kiểm
toán thích hợp để làm cơ sở cho việc hình thành
các ý kiến và kết luận kiểm toán. Các bằng chứng
kiểm toán khi thực hiện kiểm toán tại Ngân hàng
Chính sách xã hội đều là các tài liệu quan trọng gắn
với hoạt động của đơn vị do đó, việc thu thập cũng
khó khăn hơn. Vì vậy, để đảm bảo ý kiến đưa ra có
đủ cơ sở, kiểm toán viên cần sử dụng các biện pháp
thu thập bằng chứng theo đúng chuẩn mực về bằng
chứng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước;
Tại bước 1: Chuẩn bị kiểm toán: Kiểm toán nhà
nước cần phải tập trung các nội dung kiểm toán
có tính thời sự và quan tâm lớn của xã hội trong
lĩnh vực ngân hàng. Trong đó, hoạt động của Ngân
hàng Chính sách xã hội có tính chất quan trọng
trong việc an sinh xã hội, thúc đẩy phát triển hạ
tầng và đầu tư của xã hội phải được coi là nhiệm vụ
quan trọng. Ban hành hướng dẫn về xây dựng, mục
Tại bước 3: Lập và gửi báo cáo kiểm toán: Báo
cáo kiểm toán tại Ngân hàng Chính sách xã hội
NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN Số 145 - tháng 11/2019 31
TÖØ LYÙ LUAÄN ÑEÁN THÖÏC TIEÃN
phải phù hợp với chuẩn mực và các quy định về
báo cáo kiểm toán do Kiểm toán nhà nước ban
hành; phản ánh đầy đủ tình hình, kết quả kiểm
toán và kết quả kiểm toán thỏa mãn các mục tiêu
kiểm toán đã đề ra trong Kế hoạch kiểm toán, Đề
cương kiểm toán; những vấn đề sai sót, gian lận,
tồn tại của đơn vị được kiểm toán trình bày trong
báo cáo đã được xem xét, giải quyết thỏa đáng;
các ý kiến nhận xét, đánh giá, kết luận kiểm toán
được căn cứ vào những bằng chứng kiểm toán đầy
đủ, xác thực và tin cậy, phù hợp với pháp luật hiện
hành. Bố cục báo cáo cần trình bày cô đọng, súc
tích, logic và rõ ràng.
3. Báo cáo tài chính của Ngân hàng Chính sách
xã hội năm 2014, 2015, 2017;
4. Báo cáo kiểm toán của Kiểm toán nhà nước
năm 2015, 2016, 2018;
5. Chen, C. J. P., Su, X., Wu, X., 2005.
Abnormal audit fees and the improvement
of unfavorable audit opinion. China
Accounting and Finance Review 7: 1-28;
6. Đỗ Trung Dũng và Cù Hoàng Diệu (2017),
Tăng cường kiểm soát chất lượng kiểm toán
nhằm nâng cao chất lượng, hiệu lực kiểm
toán ngân sách Bộ, ngành. Đề tài nghiên
cứu khoa học Cơ sở , Kiểm toán nhà nước;
7. Francis, J. R. (2004). What do we know
about audit quality? e British Accounting
Review, 36(4), 345–368. doi:10.1016/j.
bar.2004.09.003;
Tại bước 4: eo dõi, kiểm tra việc thực hiện
kiến nghị kiểm toán: Quan tâm công tác theo dõi,
đôn đốc thực hiện theo kiến nghị của Kiểm toán
nhà nước. u thập đầy đủ bằng chứng thực hiện
kiến nghị của đơn vị được kiểm toán, kịp thời giải
quyết khiếu nại, thắc mắc của đơn vị được kiểm
toán nhằm đảm báo các kiến nghị được thực hiện
nghiêm túc. Nâng cao tính hiệu lực, hiệu quả trong
công tác kiểm toán.
8. John Dunn (1996). Auditing: eory and
Practice Hardcover . Prentice Hall Direct;
Subsequent edition (November 1).
9. Krishnan K, J. Raghunandan and V.R.
Dasarathe, 2001. Audit committee
composition, “Gray directions” and
Interaction with internal auditing
accounting horizons, 15 : 105;
10. INTOSAI (2004), Hệ thống Chuẩn mực kiểm
toán, Tài liệu dịch, Kiểm toán nhà nước;
Ngoài ra, cần nâng cao công tác đào tạo bồi
dưỡng công chức, kiểm toán viên về kiến thức liên
quan đến hoạt động ngân hàng; tập huấn, đào tạo
nâng cao nhận thức cho kiểm toán viên hiểu rõ bản
chất, nội dung của các chính sách mà Ngân hàng
Chính sách xã hội thực hiện. Từ đó, trang bị cho
các kiểm toán viên đầy đủ kiến thức, có cách nhìn
tổng thể về hoạt động ngân hàng.
11. Quyết định 558/QĐ-KTNN ngày
22/3/2016 Ban hành quy chế kiểm soát chất
lượng kiểm toán của Kiểm toán nhà nước;
12. Nguyễn Hữu Phúc (2009), Tổ chức kiểm
toán ngân sách nhà nước do Kiểm toán nhà
nước Việt Nam thực hiện, Luận án Tiến sĩ,
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân. Hà Nội;
13. Vũ ị u Huyền (2019), Hoàn thiện công
tác kiểm toán hoạt động chi tiêu ngân sách
của các bộ, ngành. Tạp chí Tài chính. http://
tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/
hoan-thien-cong-tac-kiem-toan-hoat-
dong-chi-tieu-ngan-sach-cua-cac-bo-
nganh-302166.html;
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Alvin A. Arens, James K. Loebbecke (1997).
Business & Economics. Prentice Hall;
2. Bradshaw, M. T., Richardson, S. A., & Sloan,
R. G. (2001). Do analists and auditors
use information in accruals? Journal of
Accounting Research, 39(1), 45–74. doi:
10.1111/1475-679x.00003;
14. Vương Văn Quang chủ nhiệm (2013),
Hoàn thiện Quy chế kiểm soát chất lượng
kiểm toán của Kiểm toán nhà nước, Đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Bộ, Hà Nội.
32 Số 145 - tháng 11/2019 NGHIÊN CỨU KHOA HỌC KIỂM TOÁN
Bạn đang xem tài liệu "Nâng cao chất lượng kiểm toán ngân hàng chính sách xã hội của kiểm toán nhà nước Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nang_cao_chat_luong_kiem_toan_ngan_hang_chinh_sach_xa_hoi_cu.pdf

