Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm thời trang thông qua livestream của sinh viên khoa kinh tế, trường Đại học Đồng Tháp

226(18): 270 - 277  
TNU Journal of Science and Technology  
RESEARCH ON FACTORS AFFECTING THE DECISION TO BUY  
FASHION PRODUCTS THROUGH LIVESTREAM OF STUDENTS  
OF THE FACULTY OF ECONOMICS, DONG THAP UNIVERSITY  
Tran Thach*, Vo Thi Hoc Truong, Nguyen Dang Vinh Phuc, Huynh Quoc Tuan  
Dong Thap University  
ARTICLE INFO  
ABSTRACT  
This study was conducted to examine the factors affecting the decision  
to buy fashion products, which are clothes through the form of "live  
stream" of students of the Faculty of Economics, Dong Thap  
University. Based on a review of previous studies, the author has built a  
questionnaire and conducted an online survey of 400 students of the  
Faculty of Economics, Dong Thap University. The results obtained 365  
responses, including 332 valid responses and the author conducted  
coding, data entry and preparation for analysis. Besides, the author used  
data analysis methods such as: Cronbach's Alpha reliability test,  
exploratory factor analysis, correlation test and multiple linear regression  
analysis with the support of SPSS software tool. Research results show  
that there are 04 factors: trust, electronic word of mouth, seller  
attractiveness and price suitability that have a positive impact on  
purchasing decisions. In particular, trust is the factor that has the strongest  
influence on students' purchasing decisions. At the same time, in this  
study, the influence of the factor "seller knowledge" has not been found  
on students' purchasing decisions.  
Received:  
Revised:  
05/12/2021  
28/12/2021  
28/12/2021  
Published:  
KEYWORDS  
Live stream  
Ecommerce  
Fashion  
Decide to buy  
Dong Thap University  
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH  
MUA SẢN PHẨM THỜI TRANG THÔNG QUA LIVESTREAM  
CỦA SINH VIÊN KHOA KINH TẾ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG THÁP  
Trần Thạch*, Võ Thị Học Trường, Nguyễn Đặng Vĩnh Phúc, Huỳnh Quốc Tuấn  
Trường Đại học Đồng Tháp  
THÔNG TIN BÀI BÁO  
Ngày nhận bài: 05/12/2021  
Ngày hoàn thiện: 28/12/2021  
Ngày đăng: 28/12/2021  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu này thực hiện nhằm xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến  
quyết định mua sản phẩm thời trang là quần áo thông qua hình thức  
“live stream” của sinh viên khoa Kinh tế, trường Đại học Đồng Tháp.  
Trên cơ sở lược khảo các nghiên cứu trước đó, tác giả đã xây dựng  
bảng hỏi và tiến hành khảo sát trực tuyến 400 sinh viên khoa Kinh tế,  
trường Đại học Đồng Tháp. Kết quả thu về 365 phản hồi, trong đó có  
332 phản hồi hợp lệ và được tác giả tiến hành mã hóa, nhập liệu và  
chuẩn bị cho phân tích. Bên cạnh đó, tác giả sử dụng các phương pháp  
phân tích dữ liệu như: kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha, phân  
tích nhân tố khám phá, kiểm định tương quan và phân tích hồi quy  
tuyến tính bội với sự hỗ trợ của công cụ là phần mềm SPSS. Kết quả  
nghiên cứu cho thấy có 04 nhân tố là: niềm tin, truyền miệng điện tử,  
sự hấp dẫn của người bán và sự phù hợp về giá có tác động tích cực  
đến quyết định mua hàng. Trong đó, niềm tin là yếu tố ảnh hưởng  
mạnh nhất đến quyết định mua của sinh viên. Đồng thời, trong nghiên  
cứu này cũng chưa tìm thấy sự ảnh hưởng của yếu tố “sự hiểu biết của  
người bán” đến quyết định mua hàng của sinh viên.  
TỪ KHÓA  
Live stream  
Thương mại điện tử  
Thời trang  
Quyết định mua  
Đại học Đồng Tháp  
* Corresponding author. Email: [email protected]m  
270  
226(18): 270 - 277  
TNU Journal of Science and Technology  
1. Giới thiệu  
“Live stream” bán hàng xuất hiện tại Việt Nam từ cuối năm 2018 nhưng phải tới cuối năm  
2019 mới bước vào thời kỳ cực thịnh. Hình thức bán hàng này dần trở thành ưu tiên lựa chọn của  
các nhà bán lẻ bên cạnh các kênh bán hàng truyền thống. Theo báo cáo của công ty nghiên cứu  
thị trường Asia Plus năm 2018 cho thấy các sản phẩm được bán trực tuyến phổ biến nhất là đồ  
thời trang (39%) (bao gồm quần áo, phụ kiện, túi xách,..), mỹ phẩm (28%) và đồ ăn, thức uống  
(25%) [1]. Khảo sát này cho thấy người tiêu dùng Việt Nam phần lớn mua sắm trực tuyến cho  
các sản phẩm thời trang. Tuy nhiên có một vấn đề chính mà các nhà cung cấp sản phẩm thời  
trang phải đối mặt là mức độ quyết định mua hàng của người tiêu dùng vẫn còn thấp thông qua  
thương mại điện tử. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng có 4 xu hướng chính của người tiêu dùng Việt  
Nam, đó là: mua sắm nhiều hơn, mua sắm cho bản thân, luôn vận động và nhu cầu kết nối cao  
[2]. Đặc biệt, hành vi mua hàng trên các trang bán hàng trực tuyến của người tiêu dùng trẻ Việt  
Nam đang gia tăng mạnh. Bên cạnh đó, theo Đặng Thị Thanh Minh [3] cũng chỉ ra ảnh hưởng  
của hình thức nội dung (hình ảnh và video) đối với quyết định mua của khách hàng.  
Quá trình mua của người tiêu dùng là một vấn đề phức tạp với nhiều yếu tố bên trong và bên  
ngoài tác động đến quyết định mua của người tiêu dùng. Khi mua một sản phẩm, hành vi mua  
của người tiêu dùng thường trải qua các giai đoạn: nhận biết nhu cầu, tìm kiếm thông tin, đánh  
giá - lựa chọn phương án và quyết định mua sắm [4].  
Nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua hàng qua “live stream” thu hút sự  
quan tâm của nhiều tác giả trong và ngoài nước, có thể kể đến:  
Nhóm tác giả Shantanu Prasad và cộng sự trong nghiên cứu “Sử dụng phương tiện truyền thông  
xã hội, truyền miệng điện tử và sự tham gia vào quyết định mua hàng” đã chỉ ra việc sử dụng  
phương tiện truyền thông xã hội và EWOM có tác động tích cực đến việc tham gia vào quyết định  
mua hàng và niềm tin trực tuyến đóng một vai trò trung gian quan trọng trong bối cảnh này [5].  
Tác giả Chen và Lee trong nghiên cứu “Thúc đẩy hành vi mua trong thương mại phát trực tiếp  
dựa trên khung kích thích - tổ chức - phản hồi” đã chỉ ra các yếu tố: sự thích thú, tính hữu ích, sự  
hấp dẫn, sự thuận tiện và chuyên môn có ảnh hưởng tích cực đến hành vi của người tiêu dùng  
bằng các yếu tố kích thích nhất định [4].  
Nhóm tác giả Ming và cộng sự trong nghiên cứu "Sự hiện diện thuộc về truyền thông xã hội  
ảnh hưởng như thế nào đến hành vi mua hàng ngẫu hứng trong thương mại trực tuyến? Vai trò  
của Lý thuyết S-O-R" đã chỉ ra rằng ba khía cạnh của sự hiện diện xã hội (sự hiện diện trên mạng  
xã hội của nền tảng phát trực tiếp, của người xem, của những người phát trực tiếp) và khả năng  
nghe từ xa có ảnh hưởng tích cực và đáng kể đến lòng tin của người tiêu dùng và dòng trạng thái  
hoạt động, do đó gây ra hành vi mua hàng ngẫu hứng của người tiêu dùng [6].  
Trong các nghiên cứu trên đã chỉ ra phần lớn những yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua  
hàng thông qua hình thức “live stream” bao gồm: niềm tin, truyền miệng điện tử, hấp dẫn của  
người bán, hiểu biết của người bán và sự phù hợp về giá.  
Thứ nhất, niềm tin là một điều quan trọng trong thương mại điện tử vì để giảm bớt nhận thức  
về sự không chắc chắn và sẽ ảnh hưởng tích cực đến quyết định mua hàng. Niềm tin được chia  
thành ba khía cạnh cụ thể là khả năng tin cậy, lòng nhân từ tin cậy và tính toàn vẹn của lòng tin  
[7]. Niềm tin là một đặc điểm tâm lý được hình thành từ thuở ấu thơ và phát triển trong suốt thời  
kỳ của cuộc đời. Do đó, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến niềm tin của người tiêu dùng [7]. Một  
yếu tố quan trọng là nó có ảnh hưởng đáng kể đến việc hình thành những điều mới mẻ trong xu  
hướng tin tưởng hoặc không tin điều gì đó của một người. Việc chia sẻ thông tin thường xuyên có  
thể làm tăng tình bạn và sự tin cậy giữa các thành viên, đồng thời nó cũng có thể làm tăng ý định  
tiến hành các hoạt động thương mại [8].  
Thứ hai, truyền miệng điện tử (EWOM) là phương tiện truyền thông để chia sẻ thông tin về  
sản phẩm hoặc dịch vụ đã được tiêu dùng giữa những người tiêu dùng không quen biết và gặp  
nhau trước; EWOM bao gồm ba khía cạnh là cường độ, giá trị của ý kiến và nội dung [9]. Các  
nền tảng mạng xã hội đã trở thành một công cụ vượt qua thách thức tiếp thị. Nó tạo điều kiện  
271  
226(18): 270 - 277  
TNU Journal of Science and Technology  
thuận lợi cho việc chuyển các mối quan hệ của người tiêu dùng với thương hiệu và những người  
tiêu dùng khác thành sự ủng hộ thương hiệu được gọi là EWOM [10].  
Thứ ba, sự hấp dẫn là một yếu tố có thể nhận biết được. Rất nhiều người theo dõi bị thu hút  
bởi các sản phẩm hoặc thương hiệu được xác nhận bởi những người phát trực tiếp [4]. Sự hấp dẫn  
của những người “live stream” là một yếu tố kích thích nội dung quan trọng trong bối cảnh  
thương mại phát trực tiếp. Sự hấp dẫn của họ trong môi trường “live stream” là một yếu tố kích  
thích quan trọng [11].  
Thứ tư, sự hiểu biết của người bán được định nghĩa là mức độ am hiểu của người bán về các kiến  
thức liên quan đến sản phẩm, dịch vụ, cũng như khả năng giải đáp những thắc mắc khi người mua yêu  
cầu [12]. Người tiêu dùng có nhiều khả năng tương tác với những người dùng khác, những người hiểu  
biết về thương hiệu và sản phẩm [4].  
Thứ năm, sự phù hợp về giá đề cập đến chiến lược khuyến mại trong đó các nhà cung cấp  
giảm chi phí bán lẻ của một số mặt hàng để thu hút người tiêu dùng. Chiết khấu càng lớn hoặc  
càng thuyết phục nhân viên bán hàng và các chuyên gia tốt, thì càng có nhiều khả năng thúc đẩy  
người tiêu dùng sẽ mua hàng theo [13]. Người tiêu dùng mua hàng trong các buổi “live stream”  
vì họ cho rằng ở đây cung cấp một mức giá rẻ hơn.  
Trên cơ sở lược khảo các nghiên cứu liên quan, cũng như nhận thấy tầm quan trọng của hành vi  
mua hàng qua “live stream” của khách hàng nói chung và sinh viên nói riêng là vấn đề đáng được  
quan tâm. Hơn thế nữa, tác giả chưa tìm thấy bất kỳ nghiên cứu nào đã thực hiện trước đó về việc  
xác định các yếu tố tác động đến quyết định mua sản phẩm thời trang thông qua “live stream” của  
sinh viên khoa Kinh tế trường Đại học Đồng Tháp (ĐHĐT). Bên cạnh đó, việc thực hiện nghiên  
cứu này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng đối với hoạt động kinh doanh và bán hàng thông qua hình  
thức “live stream” của các cá nhân, tổ chức. Bởi lẽ, kết quả nghiên cứu là dữ liệu quan trọng giúp  
cá nhân, tổ chức kinh doanh và bán hàng hiểu được phần nào hành vi mua hàng của người tiêu  
dùng. Do đó tác giả quyết định thực hiện nghiên cứu với mục tiêu xem xét tác động của các yếu tố  
đến quyết định mua hàng “live stream” của sinh viên khoa Kinh tế trường ĐHĐT.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Thông qua việc lược khảo các tài liệu trước đó, đặc biệt các nghiên cứu của Ming và cộng sự  
[6], Almana [14], Chen và Lee [4], tác giả đã kế thừa 05 yếu tố bao gồm: niềm tin của khách  
hàng, truyền miệng điện tử, sự hấp dẫn của người bán, sự hiểu biết của người bán và sự phù hợp  
về giá. Từ đó các giả thuyết, cũng như mô hình nghiên cứu (Hình 1) được đề xuất:  
Niềm tin  
Truyền miệng điện tử  
Sự hấp dẫn của người bán  
Quyết định mua sản  
phầm thời trang  
Sự hiểu biết của người bán  
Sự phù hợp về giá  
Hình 1. Mô hình nghiên cứu đề xuất  
H1: Niềm tin tác động tích cực đến quyết định mua sản phẩm thời trang thông qua hình thức  
“live stream” của sinh viên;  
H2: Truyền miệng điện tử tác động tích cực đến quyết định mua sản phẩm thời trang thông  
qua hình thức “live stream” của sinh viên;  
H3: Sự hấp dẫn của người bán tác động tích cực đến quyết định mua sản phẩm thời trang  
thông qua hình thức “live stream” của sinh viên;  
H4: Sự hiểu biết của người bán về sản phẩm tác động tích cực đến quyết định mua sản phẩm  
thời trang thông qua hình thức “live stream” của sinh viên;  
272  
226(18): 270 - 277  
TNU Journal of Science and Technology  
H5: Sự phù hợp về giá tác động tích cực đến quyết định mua sản phẩm thời trang thông qua  
hình thức “live stream” của sinh viên.  
Thang đo mà nhóm tác giả sử dụng đo lường các khái niệm nghiên cứu dựa trên kế thừa từ các  
thang đo của các nghiên cứu trước đó. Cụ thể: đối với thang đo “Niềm tin” được đo lường gồm  
các biến quan sát: NT1, NT 2, NT3, NT4 dựa vào Ming và cộng sự [6]; thang đo “Truyền miệng”  
gồm các biến EWOM1, EWOM2, EWOM3, EWOM4, EWOM5 dựa vào Almana [14]; thang đo  
“Sự hấp dẫn của người bán” gồm các biến HD1, HD2, HD3, HD4, HD5 dựa vào Lee và Chen  
[4]; thang đo “Sự hiểu biết của người bán về sản phẩm” gồm các biến HB1, HB2, HB3, HB4 dựa  
vào [4]; thang đo “Sự phù hợp về giá” gồm các biến G1, G2, G3 dựa vào Lee và Chen [4]; thang  
đo “Quyết định mua” gồm các biến QD1, QD2, QD3, QD4, QD5 dựa vào Lee và Chen [4].  
Dữ liệu được thu thập bằng các bảng câu hỏi dùng thang đo Likert 5 điểm. Mẫu được chọn  
theo phương pháp thuận tiện, bảng câu hỏi được gửi cho những sinh viên khoa Kinh tế trường đại  
học Đồng Tháp và đã từng mua sản phẩm thời trang thông qua hình thức live - stream. Tổng cộng  
400 phiếu được gửi đi và thu về 365 phiếu (trong đó có 332 phiếu hợp lệ).  
Dữ liệu thu được sau khi khảo sát sẽ tiến hành phân tích qua 5 bước. Thứ nhất, thống kê mô tả  
tổng quát sẽ được tiến hành để khái quát được đặc điểm của mẫu nghiên cứu. Các tiêu chí thống  
kê mô tả trong nghiên cứu này gồm giới tính, ngành học, và năm học. Thứ hai, kiểm định  
Cronbach’s Alpha sẽ được tiến hành nhằm kiểm tra mức độ tin cậy của thang đo. Thông qua đó,  
nghiên cứu có thể giữ lại những biến quan sát đáng tin cậy và loại bỏ những biến không phù hợp.  
Thứ ba, phân tích nhân tố khám phá EFA sẽ được sử dụng để rút gọn các biến quan sát thành một  
tập hợp các nhân tố có ý nghĩa hơn. Phân tích EFA sẽ cho biết số nhân tố được gộp lại trên thực  
tế có phù hợp với lý thuyết hay không. Thứ tư, kiểm định hệ số tương quan Pearson được thực  
hiện nhằm kiểm tra mối liên hệ tuyến tính giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc trước khi đưa  
vào hồi quy. Cuối cùng, phân tích hồi quy tuyến tính bội được sử dụng nhằm xác định mức độ ảnh  
hưởng của các biến độc lập đến biến phụ thuộc, từ đó giúp kiểm định các giả thuyết nghiên cứu.  
3. Kết quả và thảo luận  
3.1. Thông tin mẫu nghiên cứu  
Cỡ mẫu chính thức là 332 quan sát, thông tin về mẫu nghiên cứu được thể hiện dựa trên 03  
đặc điểm: giới tính, ngành học và năm sinh viên. Cụ thể, thông tin về mẫu nghiên cứu được tác  
giả trình bày như Bảng 1.  
Bảng 1. Thông tin mẫu nghiên cứu  
Số lượng  
Tỷ lệ  
Giới tính  
Nam  
Nữ  
70  
262  
21,1%  
78,9%  
Ngành học  
Quản trị kinh doanh  
Kế toán  
Tài chính ngân hàng  
Năm sinh viên  
Năm hai  
132  
111  
89  
39,8%  
33,4%  
26,8%  
68  
87  
177  
332  
20,5%  
26,5%  
53,3%  
100%  
Năm ba  
Năm tư  
Tổng  
(Nguồn: Kết quả từ phân tích dữ liệu của tác giả, 2021)  
3.2.Kiểm định thang đo  
Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha đối với các thang đo của các khái niệm nghiên cứu trong  
mô hình cho thấy có 03 biến quan sát lần lượt bị loại là: NT4, EWOM1 và QD4 vì có hệ số tương  
quan biến tổng < 0,3. Đồng thời, nhìn vào Bảng 2 ta thấy: (1) hệ số tương quan biến tổng nhỏ  
nhất của các biến quan sát đều lớn hơn 0,3 và (2) hệ số Cronbach’s Alpha của thang đo đều lớn  
273  
226(18): 270 - 277  
TNU Journal of Science and Technology  
hơn 0,6 nên có thể kết luận rằng các thang đo đảm bảo bộ tin cậy và sẵn sàng cho bước phân tích  
nhân tố khám phá (EFA).  
Bảng 2. Đánh giá độ tin cậy thang đo  
Số biến quan sát  
Hệ số tương quan  
biến tổng nhỏ nhất Cronbach’s Alpha  
Hệ số  
Thang đo  
đạt yêu cầu  
Niềm tin  
Truyền miệng điện tử  
Sự hấp dẫn của người bán  
Sự hiểu biết của người bán  
Sự phù hợp về giá  
03  
04  
05  
04  
03  
04  
0,616  
0,363  
0,642  
0,582  
0,661  
0,616  
0,813  
0,625  
0,849  
0,842  
0,850  
0,767  
Quyết định mua sản phẩm thời trang  
(Nguồn: Kết quả từ phân tích dữ liệu của tác giả, 2021)  
Phân tích EFA được sử dụng để phân nhóm cho 19 biến quan sát của các thành phần tác động  
đến quyết định mua vào các nhóm nhân tố. Sau nhiều lần loại biến (lần lượt loại biến có hệ số tải  
nhân tố (Factor loading) < 0,5), có 3 biến quan sát bị loại theo thứ tự là: HB4, HB3 và NT2.  
Bảng 3 trình bày kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA và thấy các biến đều có giá trị  
eigenvalues lớn hơn 1; KMO đạt 0,811 (KMO > 0,5), chứng tỏ phân tích EFA là phù hợp; kiểm  
định Bartlett cho kết quả 2361,973 với mức ý nghĩa Sig. < 0,05, chứng tỏ các biến quan sát có  
tương quan cao với nhân tố đại diện và tổng phương sai rút trích là 57,92% > 50%, điều này có  
nghĩa là 5 nhân tố rút trích giải thích được 57,92% sự biến thiên của tập dữ liệu.  
Bảng 3. Kiểm định KMO – Bartlett  
Kaiser-Meyer-Olkin Measure of Sampling Adequacy.  
Approx. Chi-Square  
Df  
Sig.  
(Nguồn: Kết quả từ phân tích dữ liệu của tác giả, 2021)  
0,811  
2361,973  
136  
Bartlett's Test of Sphericity  
0,000  
Bảng 4 trình bày kết quả sau khi sử dụng ma trận xoay, 17 biến quan sát trên thực tế đã được  
chia làm 5 nhóm tương ứng với 5 biến độc lập trong giả thuyết.  
Bảng 4. Phân tích nhân tố khám phá  
1
2
3
4
5
HD4  
HD1  
HD3  
HD5  
HD2  
HB1  
HB2  
HB3  
HB4  
G1  
0,787  
0,770  
0,766  
0,616  
0,562  
0,878  
0,783  
0,741  
0,641  
0,919  
0,815  
0,711  
G3  
G2  
NT2  
NT3  
NT1  
EWOM4  
EWOM3  
0,834  
0,733  
0,691  
0,669  
0,553  
(Nguồn: Kết quả từ phân tích dữ liệu của tác giả, 2021)  
3.3. Kiểm định giả thuyết nghiên cứu  
Trước khi thực hiện phân tích hồi quy tuyến tính bội để kiểm định giả thuyết nghiên cứu,  
kiểm định tương quan Pearson được tiến hành. Kết quả được trình bày ở Bảng 5.  
274  
226(18): 270 - 277  
TNU Journal of Science and Technology  
Bảng 5. Kiểm định tương quan Pearson  
NT  
1
EWOM  
HD  
HB  
G
QD  
Tương quan Pearson  
Mức ý nghĩa  
NT  
Tương quan Pearson  
Mức ý nghĩa  
Tương quan Pearson  
Mức ý nghĩa  
Tương quan Pearson  
Mức ý nghĩa  
Tương quan Pearson  
Mức ý nghĩa  
0,283**  
0,000  
0,543**  
0,000  
0,042  
0,451  
0,009  
0,869  
0,644**  
0,000  
1
EWOM  
HD  
HB  
0,290**  
0,000  
1
-0,023  
0,672  
0,047  
0,396  
-0,037  
0,506  
0,557**  
0,000  
1
-0,126*  
0,022  
0,120*  
0,028  
0,081  
0,141  
1
G
Tương quan Pearson  
Mức ý nghĩa  
0,399**  
0,000  
0,056  
0,305  
1
QD  
**. Tương quan có ý nghĩa thống kê tại mức 0,01 (2-phía)  
*. Tương quan có ý nghĩa thống kê tại mức 0,05 (2-phía)  
(Nguồn: Kết quả từ phân tích dữ liệu của tác giả, 2021)  
Để xác định các yếu tố, cũng như mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến quyết định mua sản  
phẩm thời trang của sinh viên thông qua “live-stream”, tác giả đã thực hiện phân tích hồi quy bội.  
Kết quả như được trình bày ở Bảng 6.  
Bảng 6. Kết quả phân tích hồi quy  
Biến phụ  
thuộc  
Mức tác Kiểm định Mức ý nghĩa  
Kiểm định  
giả thuyết  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận Lần đầu  
Bác bỏ  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Chấp nhận  
Biến độc lập  
Giả thuyết  
Ghi chú  
động  
0,443  
0,210  
0,256  
0,046  
0,083  
0,444  
0,209  
0,258  
0,088  
t
thống kê  
0,000  
0,000  
0,000  
0,240  
0,035  
0,000  
0,000  
0,000  
0,024  
NT  
EWOM  
HD  
HB  
G
NT  
EWOM  
HD  
9,568  
5,139  
5,505  
1,177  
2,122  
9,587  
5,106  
5,552  
2,274  
H1  
H2  
H3  
H4  
H5  
H1  
H2  
H3  
H5  
QD  
(R2 hiệu  
chỉnh =  
0,513)  
QD  
(R2 hiệu  
chỉnh =  
0,512)  
Lần  
cuối  
G
(Nguồn: Kết quả từ phân tích dữ liệu của tác giả, 2021)  
Kết quả kiểm định hồi quy cho thấy, mô hình đề xuất còn lại 4 biến độc lập có khả năng giải  
thích 51,2% sự biến thiên của biến phụ thuộc (quyết định mua sản phẩm thời trang). Mô hình  
được đánh giá là phù hợp với F = 87,901 (sig = 0,000). Hệ số phóng đại phương sai VIF nhỏ hơn  
10 cho thấy không có hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến.  
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Thứ nhất “Niềm tin” có ảnh hưởng đến quyết định mua hàng  
thông qua hình thức “live stream”, kết quả này không quá ngạc nhiên vì có sự đồng thuận với  
nghiên cứu trước đó [4], [6], đặc biệt đây là yếu tố tác động mạnh nhất đến quyết định mua hàng  
thời trang của sinh viên so với 03 yếu tố còn lại, điều này rất phù hợp với bối cảnh thị trường  
mua sắm “live stream” hiện nay khi mà các nhà bán lẻ để thu hút người tiêu dùng, những người  
“live stream” có thể tung ra thông tin sai lệch, bao gồm số lượt theo dõi, người xem trực tuyến,  
lượt thích và lượng giao dịch. Một số tranh chấp diễn ra trong quá trình giao dịch khi mà khách  
hàng phát hiện sản phẩm mua về là hàng giả, hàng kém chất lượng và các vấn đề khác sau khi  
mua hàng. Những vấn đề đó làm giảm niềm tin của người tiêu dùng đối với thương mại phát trực  
tiếp. Do đó khách hàng sẽ tập trung theo dõi vào các “live stream” mà họ tin tưởng, từ đó thúc  
đẩy họ đưa ra quyết định mua hàng. Thứ hai, “Truyền miệng điện tử” có ảnh hưởng đến quyết  
định mua hàng, kết quả nghiên cứu này không đáng ngạc nhiên vì có sự đồng thuận với một số  
nghiên cứu trước đó [15], [12], [16], nghĩa là khi khách hàng cảm thấy rằng các thành viên khác  
đã quan tâm đến việc cung cấp thông tin hữu ích, vì họ cảm thấy có nghĩa vụ phải chia sẻ thông  
275  
226(18): 270 - 277  
TNU Journal of Science and Technology  
tin mua sắm có giá trị với những người khác, từ đó giúp các khách hàng có thêm nhiều niềm tin  
và thúc đẩy việc ra quyết định nhanh chóng. Thứ ba, “Sức hấp dẫn của người bán” có ảnh hưởng  
tích cực đến quyết định mua, kết quả nghiên cứu này không đáng ngạc nhiên vì có sự đồng thuận  
với một số nghiên cứu trước đó [2], [4], [6]. Có nghĩa là, khi người bán tương tác một cách thân  
thiện, cuốn hút và nội dung trong buổi "live stream" thật sự hấp dẫn sẽ mang lại cho người tiêu  
dùng cảm giác tích cực, làm tăng niềm tin, đồng thời qua lời dẫn của người bán sẽ tạo cho người  
tiêu dùng cảm giác quyền lực cao hơn. Từ đó, thông qua sự hấp dẫn của người bán sẽ thôi thúc họ  
ra quyết định mua hàng nhanh hơn. Cuối cùng, "sự phù hợp về giá" có ảnh hưởng đến quyết định  
mua sản phẩm thời trang thông qua hình thức live - stream, kết quả nghiên cứu này không đáng  
ngạc nhiên vì có sự đồng thuận ở các nghiên cứu trước đó [4], [17], nghĩa là sự phù hợp về giá sẽ  
được khách hàng so sánh giá giữa các buổi live - stream khác nhau, cũng như nhận thức của họ về  
sự phù hợp của giá bán sản phẩm sẽ thúc đẩy việc đưa ra quyết định mua hàng.  
4. Kết luận  
Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm thời trang của sinh viên khoa  
Kinh tế, trường ĐHĐT, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra có 04 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua,  
bao gồm: (1) niềm tin, với kết quả nghiên cứu này để gia tăng niềm tin cho khách hàng, người  
bán cần cung cấp thông tin đầy đủ và đúng sự thật về sản phẩm, cũng như cam kết giao hàng  
đúng mẫu, khách được kiểm tra hàng trước khi thanh toán; (2) truyền miệng điện tử, với kết quả  
nghiên cứu này những người bán có thể thúc đẩy quyết định mua thông qua hiệu ứng từ truyền  
miệng điện tử bằng cách quản lý những chia sẻ tích cực của khách hàng về sản phẩm, tạo sự liên  
kết giữa trang bán hàng với các trang bình luận để khách hàng có thể tiếp cận, (3) sự hấp dẫn của  
người bán, với kết quả nghiên cứu này ngụ ý rằng để thúc đẩy quyết định mua hàng, người bán  
cần quan tâm đến thái độ bán hàng, cần tạo sự thân thiện với khách hàng, ngay cả khi khách hàng  
thắc mắc, thậm chí báo hủy đơn hàng,... và (4) sự phù hợp về giá, với kết quả nghiên cứu này  
người bán cần có sự thuyết phục và chứng minh về sự tương xứng giữa giá trị mà khách hàng  
nhận được khi mua sản phẩm so với giá mà khách hàng phải trả, cụ thể: chất lượng sản phẩm,  
nguồn gốc xuất xứ rõ ràng,... Bên cạnh những kết quả đạt được, trong nghiên cứu này cũng còn  
một số hạn chế nhất định: Thứ nhất, 04 yếu tố đưa vào mô hình chỉ giải thích được 51,2% sự biến  
thiên của quyết định mua, có nghĩa là vẫn còn những yếu tố khác có thể giải thích cho sự biến  
thiên quyết định mua đối với sản phẩm thời trang mà chưa được đưa vào mô hình. Do đó, các  
nghiên cứu tiếp theo cần khám phá những yếu tố mới này. Thứ hai, nghiên cứu này chưa chứng  
minh được sự khác biệt về quyết định mua sản phẩm thời trang của sinh viên dựa trên tiêu thức  
nhân khẩu học,... nên các nghiên cứu tiếp theo cần thực hiện phân tích để hoàn thiện hơn lý  
thuyết về lĩnh vực bán hàng “live stream” và để các nhà bán lẻ có cơ sở đưa ra các chiến lược bán  
hàng phù hợp và hiệu quả.  
Lời cảm ơn  
Nghiên cứu này được hỗ trợ bởi đề tài mã số SPD2021.02.06.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO/ REFERENCES  
[1] N. H. Nguyen and T. T. P. Tran, “The Factors Affecting the Intention to Repurchase Online Products  
in Fashion Industry,” Commerce Science, vol. 148, pp. 65-77, 2020.  
[2] Q. T. Pham and N. H. H. Nguyen, “Factors affecting online impulse buying behavior of consumers in Ho  
Chi Minh City,” Ho Chi Minh City Open University Journal of Science, vol. 12, no. 3. pp. 3-15, 2017.  
[3] T. T. M. Dang, “Measuring customer’s engagement on the enterprises’ facebook sites: an empirical  
study of the engagement by type of content and media type,” Journal of Science and Technology, Da  
Nang University, vol. 19, no. 4, pp. 1-7, 2021.  
[4] C. -H. Lee and C. -W. Chen, “Impulse Buying Behaviors in Live Streaming Commerce Based on the  
Stimulus-Organism-Response Framework,” Information, vol. 12, no. 241, pp. 1-7, 2021.  
[5] S. Prasad, I. C. Gupta, and N. K. Totala, “Social media usage, electronic word of mouth and purchase-  
276  
226(18): 270 - 277  
TNU Journal of Science and Technology  
decision involvement,” Asia-Pacific Journal of Business Administration, vol. 9, no. 2, pp. 134-145, 2017.  
[6] J. Ming, Z. Jianqiu, and M. Bilal, “How social presence influences impulse buying behavior in live  
streaming commerce? The role of S-O-R theory,” International Journal of Web Information Systems,  
vol. 17, no. 4, pp. 300-320, 2021.  
[7] M. Brengman and F. P. Karimov, “The effect of web communities on consumers’ initial trust in B2C  
e-commerce websites,” Management Research Review, vol. 35, no. 9, pp. 791-817, 2012.  
[8] T. P. Liang, Y. T. Ho, Y. W. Li, and E. Turban, “What drives social commerce: The role of social  
support and relationship quality,” International Journal of Electronic Commerce, vol. 16, no. 2, pp.  
69-90, 2011.  
[9] N. B. Puspitasari, W. P. Nugroho Susatyo, D. N. Amyhorsea, and A. Susanty, “Consumer’s Buying  
Decision-Making Process in E-Commerce,” E3S Web of Conferences, vol. 31, pp. 1-6, 2018.  
[10]G. Morrison and A. Humlen, “People powered brands: How companies can inspire consumer action,”  
Journal of Brand Stratrgy, vol. 4, no. 3, pp. 201-216, 2015.  
[11]L. Labrecque, J. Esche, C. Mathwick, T. Novak, and C. Hofacker, “Consumer Power: Evolution in the  
Digital Age Lauren,” Journal of Interactive Marketing, vol. 27, pp. 257-269, 2013.  
[12]L. Xiang, X. Zheng, M. K. O. Lee, and D. Zhao, “Exploring consumers’ impulse buying behavior on  
social commerce platform: The role of parasocial interaction,” Journal of Interactive Marketing, vol.  
36, no. 3, pp. 333–347, 2016.  
[13]K. Hassanein and M. Head, “Manipulating perceived social presence through the web interface and its  
impact on attitude towards online shopping,” International Journal of Human-Computer Studies, vol.  
65, pp. 689-708, 2007.  
[14]A. Almana and A. Mirza, “The impact of electronic word of mouth on consumers purchasing intention,”  
Journal of Theoretical and Applied Information Technology, vol. 98, no. 2. pp. 183-193, 2020.  
[15]T. -P. Liang, Y. -T. Ho, Y. -W. Li, and E. Turban, “What Drives Social Commerce: The Role of Social  
Support and Relationship Quality,” International Journal of Electronic Commerce, vol. 16, no. 2, pp.  
69-90, 2011.  
[16]R. Goldsmith, “The influence of consumer decision- making styles on online apparel consumption by  
college students,” International Journal of Consumer Studies, vol. 31, pp. 639-647, 2007.  
[17]A. Kim and K. K. Johnson, “Power of consumers using social media: Examining the influences of  
brand-related user-generated content on Facebook,” Computers in Human Behavior, vol. 58, pp. 98-  
108, 2016.  
277  
pdf 8 trang baolam 25380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định mua sản phẩm thời trang thông qua livestream của sinh viên khoa kinh tế, trường Đại học Đồng Tháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_cac_yeu_to_anh_huong_den_quyet_dinh_mua_san_pham.pdf