Nghiên cứu, vận dụng phương pháp quản lý trường hợp trong hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ em lao động sớm từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi ở khu vực nông thôn

Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 109-120  
NGHIÊN CỨU, VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP QUẢN LÝ TRƯỜNG HỢP  
TRONG HỖ TRỢ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO TRẺ EM LAO ĐỘNG SỚM  
TỪ 15 TUỔI ĐẾN DƯỚI 18 TUỔI Ở KHU VỰC NÔNG THÔN  
Lê Thị Hồng Hạnh  
Trung tâm Nghiên cứu Khoa học xã hội và Nhân văn, Trường Đại học An Giang,  
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh  
Lịch sử bài báo  
Ngày nhận: 08/3/2021; Ngày nhận chỉnh sửa: 04/5/2021; Ngày duyệt đăng: 28/8/2021  
Tóm tắt  
Quản lý trường hợp là một trong những phương pháp thực hành của công tác xã hội. Phương pháp  
này là chủ đề được nghiên cứu và ứng dụng rộng khắp ở các quốc gia trên thế giới trong nhiều lĩnh vực  
khác nhau của công tác xã hội, trong đó có lĩnh vực hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho các đối  
tượng yếu thế. Dựa trên các tài liệu nghiên cứu về quản lý trường hợp và hỗ trợ đào tạo nghề, bài viết cung  
cấp cơ sở lý luận và khuyến nghị các bước cần thiết để thực hiện quản lý trường hợp trong hỗ trợ đào tạo  
nghề cho trẻ em lao động sớm (lao động trẻ em) trong bối cảnh phát triển nông thôn ở Việt Nam hiện nay.  
Từ khóa: Hỗ trợ đào tạo nghề, quản lý trường hợp, trẻ em lao động sớm (lao động trẻ em).  
--------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------------  
A RESEARCH ON APPLYING CASE MANAGEMENT METHOD  
IN VOCATIONAL TRAINING FOR IN-SERVICE CHILDREN  
AGED 15 TO UNDER 18 IN RURAL AREAS  
Le Thi Hong Hanh  
Social Sciences and Humannities Research Center, An Giang University,  
Viet Nam National University, Ho Chi Minh City  
Article history  
Received: 08/3/2021; Received in revised form: 04/5/2021; Accepted: 28/8/2021  
Abstract  
Case management is one of the social work methods in practice. It is researched and applied worldwide  
in several fields of social work; including vocational trainings and job creating for the vulnerable people.  
Based on the relevant literature, the article provides conceptualizations and recommends necessary steps for  
case management in vocational trainings for in-service children (child labour) in current Vietnam’s rural  
development context.  
Keywords: Case management, child labour, vocational training support.  
Trích dẫn: Lê Thị Hồng Hạnh. (2022). Nghiên cứu, vận dụng phương pháp quản lý trường hợp trong hỗ trợ đào tạo nghề cho  
trẻ em lao động sớm từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi ở khu vực nông thôn. Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, 11(1), 109-120.  
109  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
1. Đặt vấn đề  
em ngoài nhà trường, sự lựa chọn nghề nghiệp của  
trẻ bị ảnh hưởng bởi chuẩn mực giới, trẻ ít hứng thú  
trong học tập và sau đào tạo, các doanh nghiệp ít khi  
tuyển dụng trẻ từ 15 đến 18 tuổi vì trẻ thiếu kỹ năng  
chuyên môn và lo ngại về thủ tục pháp lý.  
Công tác dạy nghề được Đảng và Nhà nước ta  
xem là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm  
nâng cao chất lượng lao động, đáp ứng nhu cầu phát  
triển kinh tế - xã hội, củng cố an ninh quốc phòng,  
phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa  
Quản lý trường hợp (QLTH) là một trong những  
đất nước. Vì vậy, trong những năm qua, hệ thống các công cụ can thiệp của công tác xã hội (CTXH) thực  
cơ sở giáo dục nghề nghiệp (GDNN) ở nước ta đã hành. Hiện nay, phương pháp này đã và đang được  
được phát triển rộng khắp từ thành thị đến nông thôn nhân viên xã hội chuyên nghiệp ứng dụng để hỗ trợ  
và ngày càng được đầu tư, sắp xếp, quy hoạch theo cá nhân, gia đình tiếp cận với các nguồn lực và dịch  
hướng mở, linh hoạt, đáp ứng được nhu cầu nhân lực vụ an sinh xã hội cũng như giải quyết vấn đề, tăng  
của thị trường lao động. Theo báo cáo GDNN Việt cường năng lực và phát triển bản thân. Trong tiến  
Nam năm 2018 của Viện Khoa học GDNN (2019), trình làm việc, nhân viên xã hội sẽ đánh giá nhu cầu  
tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2018, Việt Nam có của đối tượng, xác định điểm mạnh, điểm yếu của cá  
tổng số 1.948 cơ sở GDNN. Sau một năm tiếp tục nhân, gia đình và cộng đồng cũng như nguồn lực của  
triển khai đề án sắp xếp mạng lưới cơ sở GDNN trên họ để điều phối, kết nối, tổ chức thực hiện, giám sát  
cả nước, đến năm 2020, Việt Nam còn 1.917 cơ sở, và lượng giá tiến trình giúp đỡ. Trong phát triển xã  
trong đó có 400 trường cao đẳng, 492 trường trung hội, QLTH được xem là phù hợp để thực hiện các hoạt  
cấp và 1025 trung tâm GDNN (Đỗ Hòa, 2009). Ở khu động của CTXH tại bệnh viện, trường học và cộng  
vực nông thôn, trong 10 năm qua (từ năm 2009 đến đồng (điều phối và nâng cao chất lượng của các dịch  
năm 2019), đã có 9,6 triệu lao động nông thôn được vụ xã hội tại cộng đồng). Nhiều nghiên cứu lý luận và  
học nghề, trong đó số lao động nông thôn được hỗ trợ thực tiễn trên thế giới về CTXH cho thấy QLTH có  
đào tạo trình độ sơ cấp, đào tạo nghề dưới 3 tháng là khả năng áp dụng ở nhiều lĩnh vực khác nhau, trong  
5,59 triệu người, đạt 87% mục tiêu của Đề án “Đào đó có lĩnh vực giáo dục nhân cách, giáo dục trung  
tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020” (Đề học phổ thông, giáo dục hòa nhập, học hỏi suốt đời,  
án 1956), (Đức Tùng, 2020). Tuy nhiên, trong tổng số đào tạo nghề nghiệp cũng như trợ giúp việc làm cho  
lao động nông thôn được hỗ trợ đào tạo nghề thì tỷ lệ người chưa thành niên, người nhập cư, di cư, người  
trẻ vị thành niên (từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi) được ưu chịu ảnh hưởng của thiên tai, biến đổi khí hậu và dịch  
tiên tham gia học nghề còn hạn chế do kết quả đầu bệnh…. Các hoạt động này có thể được thực hiện ở  
ra của các chương trình này đều yêu cầu ít nhất 80% cả nông thôn, thành thị cũng như được vận hành bởi  
học viên học nghề phải tìm thấy việc làm hoặc áp nhiều tổ chức, cá nhân với nguồn lực tài chính khác  
dụng kiến thức đã học vào công việc hiện tại, trong nhau (công hoặc tư). Tại Việt Nam, QLTH vẫn còn là  
khi đó, trẻ vị thành niên chưa đủ tuổi lao động chính một phương pháp can thiệp khá mới trong thực hành  
thức, kinh nghiệm còn non trẻ nên các doanh nghiệp CTXH, đặc biệt là trong hoạt động hỗ trợ đào tạo  
địa phương thường không muốn thuê các em, kể cả nghề cho lực lượng lao động nông thôn, trong đó có  
những công việc nhẹ nhàng theo quy định của Luật người chưa thành niên (trẻ em) ở khu vực này.  
Lao động. Thêm vào đó, trẻ vị thành niên, đặc biệt  
là với những trẻ em đã bỏ học hoặc học lực kém và  
thuộc hộ nghèo/cận nghèo phải tham gia lao động phụ  
giúp gia đình thì việc đăng ký vào học tại các trường  
cao đẳng hoặc trung cấp nghề, cơ sở GDNN khác là  
không dễ dàng. Theo báo cáo “Đào tạo nghề, hướng  
nghiệp và việc làm cho trẻ vị thành niên (người từ đủ  
15 đến dưới 18 tuổi)” của Viện Khoa học GDNN và tổ  
chức UNICEF (2019) cho thấy công tác đào tạo nghề  
được tích hợp vào nhiều chính sách khác nhau nhằm  
hỗ trợ trẻ em từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi, nhưng các cơ  
sở GDNN vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận các  
2. Hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ em lao động  
sớm ở khu vực nông thôn  
2.1. Khái niệm trẻ em và lao động trẻ em  
Trong pháp luật quốc tế, trẻ em được định nghĩa  
là người dưới 18 tuổi (Điều 1 Công ước Liên Hợp  
Quốc về quyền trẻ em, 1989 (CRC) và Điều 2 Công  
ước 182 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về xóa  
bỏ những hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, 1999).  
Trong Luật Trẻ em 2016 của Việt Nam, trẻ em  
được định nghĩa là người dưới 16 tuổi (Quốc hội,  
2016). Bên cạnh khái niệm trẻ em, pháp luật Việt  
110  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 115-126  
Nam còn có khái niệm “người chưa thành niên”. Tùy đến tinh thần và các chất gây nghiện khác), khoản 1  
theo từng ngành luật cụ thể như dân sự, hành chính,  
hình sự, hôn nhân gia đình, lao động thì khái niệm  
người chưa thành niên được sử dụng ít nhiều khác  
nhau, song có một đặc điểm chung của người chưa  
thành niên là người lao động dưới 18 tuổi (Theo Điều  
18 Bộ luật Dân sự 2015 quy định: Người chưa đủ 18  
tuổi là người chưa thành niên (Quốc hội, 2015); Còn  
theo qui định tại Điều 161 Bộ luật Lao động 2012  
thì người lao động chưa thành niên là người lao động  
dưới 18 tuổi (Quốc hội, 2012).  
Điều 165 của Bộ luật Lao động 2012 (không sử dụng  
lao động chưa thành niên để mang, vác, nâng các vật  
nặng vượt quá thể trạng; sản xuất, sử dụng hoặc vận  
chuyển hóa chất, khí gas, chất nổ; bảo trì, bảo dưỡng  
thiết bị, máy móc; phá dỡ các công trình xây dựng;  
nấu, thổi, đúc, cán, dập, hàn kim loại; Lặn biển, đánh  
bắt cá xa bờ; công việc khác gây tổn hại cho sức khỏe,  
an toàn hoặc đạo đức) và Mục II Thông tư 10/2013/  
TT-LĐTBXH (Trực tiếp nấu rót và vận chuyển kim  
loại lỏng, tháo dỡ khuân đúc làm sạch sản phẩm đúc  
ở các lò; Cán kim loại nóng; Trực tiếp luyện quặng  
kim loại màu (đồng, chì thiếc, thủy ngân, kẽm, bạc;  
Đốt và ra lò luyện cốc; Đốt lò đầu máy hơi nước;  
Vận hành nồi hơi; Vận hành hệ thống điều chế và  
nạp axetylen, oxy, hydro, clo và các khí hóa lỏng...).  
Lao động trẻ em được nhận diện thông qua độ  
tuổi, giờ làm việc, loại công việc, nơi làm việc được  
xem là nguy hại cho người dưới 18 tuổi theo Công  
ước 138 (tuổi lao động tối thiểu) và 182 (xóa bỏ mọi  
hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất) của Tổ chức  
Lao động quốc tế. Dựa trên Công ước 138, Công  
ước 182 và các qui định có liên quan trong các văn  
bản pháp luật của Việt Nam thì trẻ em và người chưa  
thành niên được coi là lao động trẻ em nếu rơi vào  
một trong các bối cảnh bất kỳ sau đây:  
Đối với người chưa thành niên dưới 18 tuổi  
đều bị xem là lao động trẻ em nếu làm việc ở nhưng  
nơi cấm sử dụng lao động chưa thành niên quy định  
tại khoản 1 Điều 163, khoản 2 Điều 165 Bộ luật  
Lao động 2012 và Mục I Thông tư 10/2013/TT-  
LĐTBXH. Theo khoản 1 Điều 163 Bộ luật Lao động  
2012 quy định: không được sử dụng lao động chưa  
thành niên làm những công việc nặng nhọc, độc hại,  
nguy hiểm hoặc chỗ làm việc, cộng việc ảnh hưởng  
xấu tới nhân cách theo danh mục do Bộ LĐTBXH  
chủ trì phối hợp với Bộ Y tế ban hành. Theo khoản  
Trẻ em dưới 13 tuổi bị xem là lao động trẻ em  
nếu làm bất kỳ công việc nào khác ngoài những công  
việc được quy định tại Thông tư số 11/2013/TT-  
LĐTBXH (Diễn viên: múa, hát xiếc, điện ảnh, sân  
khấu kịch, tuồng, chèo, cải lương, múa rối (trừ múa  
rối dưới nước) và vận động viên năng khiếu: thể dục  
dụng cụ, bơi lội, điền kinh (trừ tạ xích), bóng bàn, 2 Điều 165 Bộ luật Lao động 2012, cấm sử dụng lao  
cầu lông, bóng rổ, bóng ném, bi-a, bóng đá, các môn động chưa thành niên làm việc ở: Dưới nước, dưới  
võ, đá cầu, cầu mây, cờ vua, cờ tướng, bóng chuyền) lòng đất, trong hang động, trong đường hầm; công  
và thời gian làm việc vượt quá 04 giờ/ngày và tổng  
cộng vượt quá 20 giờ/tuần (Bộ Lao động - Thương  
binh và Xã hội (LĐTBXH), 2013).  
trường xây dựng; Cơ sở giết mổ gia súc; Sòng bạc,  
quán bar, vũ trường, phòng hát karaoke, khách sạn,  
nhà nghỉ, phòng tắm hơi, phòng xoa bóp; Nơi làm  
việc khác gây tổn hại đến sức khỏe, sự an toàn và đạo  
đức của người chưa thành niên. Theo Mục I Thông  
tư 10/2013/TT-LĐTBXH cấm sử dụng người chưa  
thành niên làm việc ở những nơi tiếp xúc với các yếu  
tố vệ sinh môi trường lao động không đạt quy chuẩn,  
tiêu chuẩn vệ sinh cho phép theo qui định của pháp  
luật hiện hành; tiếp xúc với các loại chất, tia phóng  
xạ, bức phóng xạ X; tiếp xúc với các yếu tố gây bệnh  
truyền nhiễm; Trên giá cao hoặc dây treo cao hơn 3m  
so với mặt sàn làm việc; địa hình đồi núi dốc trên 30  
độ (Bộ LĐTBXH, 2013).  
Trẻ em từ đủ 13 đến dưới 15 tuổi sẽ bị xem là  
lao động trẻ em nếu làm bất kỳ công việc và hoạt  
động kinh tế nào khác ngoài những công việc được  
qui định tại thông tư số 11/2013/TT-LĐTBXH (Các  
nghề truyền thống; các nghề thủ công mỹ nghệ; đan  
lát, làm các đồ gia dụng, đồ thủ công mỹ nghệ từ  
nguyên liệu tự nhiên; nuôi tằm; gói kẹo dừa) và thời  
gian làm việc vượt quá 04 giờ/ngày và tổng cộng  
vượt quá 20 giờ/tuần.  
Người chưa thành niên từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi  
sẽ bị xem là lao động trẻ em nếu làm các công việc  
nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm bị cấm sử dụng lao  
động chưa thành niên tại khoản 4 Điều 163 (không  
được sử dụng lao động chưa thành niên để sản xuất  
và kinh doanh cồn, rượu, bia, thuốc lá, chất tác động  
Đối với người chưa thành niên dưới 18 tuổi sẽ  
bị xem là lao động trẻ em nếu làm những công việc  
nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Công việc nặng nhọc,  
độc hại và nguy hiểm là những công việc và nơi làm  
111  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
em năm 2018 cho thấy trong 1.754.066 trẻ em hoạt  
động kinh tế thì có 1.031.944 (chiếm tỷ lệ 58,8%) lao  
động trẻ em, trong đó có 512.139 (chiếm tỷ lệ 49,6%)  
lao động trẻ em làm công việc không nặng nhọc, độc  
hại, nguy hiểm và 519.805 (chiếm tỷ lệ 50,4%) lao  
động trẻ em làm công việc nặng nhọc, độc hại và nguy  
hiểm (chủ yếu là trẻ em ở độ tuổi từ 15-17 tuổi). Tỷ  
lệ trẻ em trai tham gia lao động cũng gia tăng theo  
mức độ nặng nhọc của công việc (67,2% trẻ em trai).  
Đa số (84%) lao động trẻ em tại Việt Nam tập trung  
ở vùng nông thôn và hơn một nửa trong số đó làm  
việc trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp, số còn  
việc bị cấm sử dụng lao động chưa thành niên theo  
qui định tại khoản 4 Điều 163, khoản 2 Điều 165 Bộ  
luật Lao động năm 2012, thông tư số 10/2013/TT-  
BLĐTBXH (phụ lục 2, 3), khoản d Điều 3 Công ước  
182 của Tổ chức Lao động quốc tế. Trẻ em và người  
chưa thành niên từ 15 đến dưới 18 tuổi được xem là  
lao động nặng nhọc độc hại nếu làm việc trong khoảng  
sau 10 giờ đêm đến 6 giờ sáng hôm sau. Đồng thời  
người chưa thành niên dưới 18 tuổi, đều bị xem là  
lao động trẻ em nếu làm những công việc tồi tệ được  
quy định trong Công ước số 182 của Tổ chức Lao  
động quốc tế như mọi hình thức nô lệ hoặc tương tự  
nô lệ (buôn bán trẻ em, gán nợ, lao động khổ sai, lao lại làm việc trong khu vực dịch vụ, công nghiệp và  
động cưỡng bức…); sử dụng, dụ dỗ hoặc lôi kéo trẻ xây dựng (Tổ chức Lao động quốc tế, Bộ LĐTBXH;  
em làm mại dâm, tham gia sản xuất văn hóa phẩm Viện Khoa học Lao động và xã hội, 2018). Nhận thấy,  
khiêu dâm, biểu diễn khiêu dâm; sử dụng, dụ dỗ và  
lôi kéo trẻ em tham gia các hoạt động bất hợp pháp.  
hậu quả nặng nề trên, chính phủ và các tổ chức quốc  
tế, cụ thể là các bộ, ngành, viện nghiên cứu, tổ chức  
ILO, tổ chức UNICEF... đã thực hiện nhiều nghiên  
cứu về trẻ em, thanh thiếu niên cũng như có nhiều  
chương trình, chính sách quan tâm hỗ trợ đến việc  
tiếp cận giáo dục và hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ em  
lao động sớm.  
Nhìn chung, lao động trẻ em có thể được hiểu  
là trẻ em và người chưa thành niên làm các công việc  
trái quy định của pháp luật về lao động, cản trở hoặc  
tác động tiêu cực đến sự phát triển thể chất, trí tuệ,  
nhân cách của trẻ em. Lao động trẻ em được thể hiện  
dưới nhiều hình thức, diễn ra ở nhiều nơi, cả trong gia  
đình và ngoài xã hội, cả trong khu vực chính thức và  
phi chính thức, có tính công khai hoặc không công  
khai, tập trung hoặc phân tán.  
Báo cáo “Điều tra đánh giá các mục tiêu trẻ em  
và phụ nữ 2014 (Mục tiêu thiên niên kỷ)” của Tổng  
cục Thống kê và UNICEF (2014) đã cho thấy bên  
cạnh những tiến bộ Việt Nam đạt được trong việc  
hoàn thành mục tiêu thiên niên kỷ thì Việt Nam vẫn  
còn có những mục tiêu chưa hoàn thành liên quan đến  
cuộc sống và phúc lợi của nhóm trẻ em và phụ nữ dễ  
bị tổn thương, trong đó chú trọng đến nhóm phụ nữ  
trong độ tuổi 15-49 và trẻ em dưới 5 tuổi, riêng nhóm  
trẻ từ 14 đến dưới 18 tuổi chưa được nghiên cứu sâu.  
Các nhà khoa học, tâm lý học, các nhà nghiên  
cứu nhìn nhận về mặt sinh học, tâm lý học, xã hội học  
của thanh niên cho rằng thanh niên trong độ tuổi từ  
đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi là một giai đoạn của quá  
trình xã hội hóa, là thời kỳ chuyển tiếp từ tuổi không  
còn là “trẻ con” sang giai đoạn “chưa hẳn là người  
lớn” có đặc trưng riêng về tâm sinh lý. Thanh niên ở  
độ tuổi này thường ham học hỏi, thích tìm tòi, khám  
phá những điều mới mẻ nhưng lại chưa hoàn thiện  
nhân cách, lập trường nên các em cần có sự giáo dục,  
giúp đỡ của Nhà nước, gia đình, nhà trường và xã  
hội. Đặc biệt là các em còn thuộc nhóm trẻ có hoàn  
cảnh đặc biệt hoặc có nguy cơ rơi vào nhóm trẻ đặc  
biệt và cần sự trợ giúp của xã hội. Trong bài viết này,  
hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ em lao động  
là hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề cho những trẻ em  
có độ tuổi từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi ở khu vực  
nông thôn của Việt Nam.  
Báo cáo “Sự chuyển tiếp sang thị trường lao  
động của thanh niên Việt Nam” của Tổng cục Thống  
kê và Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) (2015) đã  
cung cấp thông tin tổng quan về tình hình chuyển  
tiếp từ nhà trường sang thế giới lao động của thanh  
niên và nhấn mạnh đến yêu cầu thay đổi nền giáo  
dục đào tạo để kết nối giữa đào tạo với nhu cầu của  
người học và yêu cầu của thị trường lao động. Tuy  
nhiên, nghiên cứu lại tập trung vào đối tượng thanh  
niên từ 15-29 tuổi.  
Báo cáo về “trẻ em ngoài nhà trường” năm 2016  
của tổ chức UNICEF và Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt  
Nam (2016) đã chỉ ra rằng tỷ lệ trẻ em được đi học  
tăng lên hàng năm, song do nhiều rào cản như hoàn  
cảnh gia đình nghèo, chi phí cho giáo dục vượt quá  
2.2. Thực trạng trẻ em lao động sớm và công  
tác hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ em  
Theo kết quả điều tra quốc gia về lao động trẻ  
112  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 115-126  
khả năng của gia đình trẻ... dẫn đến nhiều trẻ em trong (65 hộ gia đình) và doanh nghiệp (72 doanh nghiệp)  
độ tuổi vị thành niên không đến trường hoặc bỏ học, tại Hà Nội, Điện Biên, An Giang và Kom Tum. Kết  
đặc biệt là việc huy động trẻ em ở độ tuổi 15 đến 17 quả cho thấy, rào cản lớn nhất khiến các em từ đủ 15  
đi học vẫn khó khăn hơn với các độ tuổi nhỏ hơn.  
đến dưới 18 tuổi không đến trường là do điều kiện  
kinh tế gia đình khó khăn, không có tiền đóng học  
phí, ở nhiều gia đình các em trong độ tuổi này còn là  
lực lượng lao động chính của gia đình.  
Gần đây có báo cáo “Tổng quan chính sách phúc  
lợi cho thanh niên tại Việt Nam” của Tổ chức Hợp  
tác và Phát triển Kinh tế (2017) đã phân tích tổng  
quan và các tác động của những chính sách đối với  
thanh niên đồng thời đưa ra những khuyến nghị để  
cải cách chính sách phúc lợi cho thanh niên cần được  
thực hiện trên nhiều mặt. Hay báo cáo về “Tương lai  
việc làm Việt Nam: Khai thác xu hướng lớn cho sự  
phát triển thịnh vượng hơn” của Ngân hàng Thế giới  
(WB) (2018) đã đưa ra các xu hướng mới có thể ảnh  
hưởng đến thị trường lao động việc làm gồm sự thay  
đổi của các xu hướng thương mại, tiêu dùng; sự phát  
triển của nền kinh tế tri thức toàn cầu, già hóa dân  
số, tự động hóa. Đồng thời, việc thiếu trình độ, kỹ  
năng hiện nay sẽ gia tăng khi các xu hướng lớn bắt  
đầu có ảnh hưởng đến bức tranh việc làm. Ngay cả  
những lao động có kỹ năng phù hợp cũng chưa chắc  
tìm được những việc làm phù hợp với trình độ hay  
sở thích của mình.  
Với việc học nghề, nhiều trẻ cho biết các em  
không tìm được trường học/khóa học phù hợp, thiếu  
thông tin về các khóa học, đồng thời các cơ sở GDNN  
chưa đa dạng được ngành nghề đào tạo phù hợp với  
đặc thù lứa tuổi từ đủ 15 đến dưới 18, phù hợp với địa  
phương và nhu cầu của thị trường lao động. Nhu cầu  
học nghề đối với trẻ em từ đủ 15 đến dưới 18 đang ở  
ngoài nhà trường tương đối thấp (khoảng 36% trong  
tổng số các em trả lời) và các em chỉ muốn học nghề  
dưới 3 tháng hoặc chỉ học những kỹ năng cần thiết  
đáp ứng yêu cầu công việc mà các em đang làm hoặc  
dự kiến tìm việc làm. Các hộ gia đình đang sinh sống  
ở miền núi có nguyện vọng tổ chức đào tạo nghề tại  
địa phương do điều kiện đi lại khó khăn, các nghề có  
nhu cầu đào tạo là các nghề nông nghiệp, sửa chữa  
ô tô, xe máy, may...  
Bên cạnh các nghiên cứu trên, Việt Nam cũng  
đã thực hiện nhiều nghiên cứu khác như nghiên cứu  
về thanh thiếu niên Việt Nam (2013, 2015), những  
thách thức về việc làm cho thanh niên ở Việt Nam  
(2003),... Các báo cáo trên đã đề cập đến thực trạng  
giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe... của trẻ em,  
phụ nữ và việc làm của thanh niên cũng như sự tham  
gia của thanh niên vào quá trình xây dựng và thực thi  
chính sách. Tuy nhiên, các nghiên cứu thường được  
lồng ghép trong phạm vi nhóm tuổi rộng mà chưa có  
nghiên cứu tập trung riêng vào lứa tuổi từ đủ 15 đến  
dưới 18 tuổi cũng như việc khảo sát, đánh giá tình  
hình đào tạo nghề, nhu cầu đào tạo nghề và lao động  
việc làm cho riêng nhóm đối tượng này.  
Chính sách hỗ trợ phổ biến nhất mà các phụ  
huynh mong muốn là được hỗ trợ phương tiện, công  
cụ hoặc tài chính để tự tạo việc làm, tiếp đến là các  
chính sách hỗ trợ giới thiệu việc làm sau học nghề;  
hỗ trợ học phí, đi lại, ăn ở. Còn các em đang đi học  
(trẻ trong nhà tường) lại có nhu cầu học tiếp rất cao  
(khoảng 95% trong tổng số các em đã có định hướng  
đi học tiếp). Báo cáo cũng cho thấy hàng năm có hàng  
nghìn trẻ em ở độ tuổi từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi  
tốt nghiệp trung học cơ sở nhưng không theo học  
trung học phổ thông hoặc cơ sở GDNN mà tham gia  
thị trường lao động hoặc ở nhà phụ giúp công việc  
gia đình. Hầu hết các em không có trình độ chuyên  
môn kỹ thuật nên chỉ làm những công việc giản đơn  
trong các doanh nghiệp nhỏ, cơ sở sản xuất kinh  
doanh, nông nghiệp/hộ gia đình và nhận mức lương  
thấp hơn so với mức lương bình quân của lao động  
bình thường.  
Khắc phục các khoảng trống trên, năm 2019,  
Viện Khoa học GDNN và tổ chức UNICEF (2019) đã  
thực hiện nghiên cứu về đào tạo nghề, hướng nghiệp  
và việc làm cho trẻ vị thành niên (người từ đủ 15 đến  
18 tuổi). Nghiên cứu thực hiện phân tích, đánh giá  
thực trạng rào cản, nguyên nhân không tiếp tục đi học,  
công tác hướng nghiệp, tình hình việc làm, học nghề  
đối với các trẻ em từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi. Nghiên  
cứu thu thập số liệu thuộc 5 nhóm đối tượng mục  
tiêu: trẻ em ngoài nhà trường (331 trẻ), trẻ em đang  
đi học (363 trẻ), cơ sở GDNN (47 cơ sở), phụ huynh  
Bên cạnh đó, báo cáo cũng cho thấy mặc dù  
công tác đào tạo nghề cho trẻ em từ đủ 15 đến 18 tuổi  
đã được tích hợp vào nhiều chính sách khác nhau,  
nhưng các cơ sở GDNN vẫn gặp khó khăn trong quá  
trình tuyển sinh, đào tạo và sau đào tạo, học sinh ít  
hứng thú với chương trình học. Trong khi đó cơ sở  
113  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
đình lại không có đất sản xuất, không đủ nguồn lực  
để đầu tư khởi nghiệp.  
vật chất, trang thiết bị học tập và nguồn kinh phí còn  
thiếu và chưa nhận được sự hỗ trợ cao từ phía doanh  
nghiệp trong việc phát triển các lĩnh vực đào tạo. Kết  
quả của công tác hướng nghiệp, công tác tư vấn về  
nghề nghiệp và việc làm còn nhiều hạn chế do khó  
tiếp cận trẻ em ngoài nhà trường và bị ảnh hưởng bởi  
chuẩn mực giới (trẻ em trai và trẻ em gái được hướng  
nghiệp theo các con đường sự nghiệp khác nhau).  
Đặc biệt là sau khi học nghề xong, các doanh nghiệp  
ít khi tuyển dụng trẻ từ 15 đến 18 tuổi vì trẻ thiếu kỹ  
năng chuyên môn và lo ngại về thủ tục pháp lý. Đây  
là một nghiên cứu đầy đủ và sâu về rào cản, nhu cầu  
học nghề, hướng nghiệp, thị trường lao động, đào tạo  
nghề và việc làm cho trẻ từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi  
cả trong nhà trường và ngoài nhà trường. Tuy nhiên  
kết quả nghiên cứu mới chỉ đại diện cho 5 thành phố,  
tỉnh/63 tỉnh, thành phố của Việt Nam và quy mô mẫu  
còn hạn chế, chưa có những đánh giá cụ thể về việc  
đào tạo nghề và việc làm ở nhóm trẻ từ 15 tuổi đến  
dưới 18 tuổi tham gia lao động sớm.  
Về việc tổ chức lớp học nghề tại khu vực nông  
thôn còn nhiều hạn chế về cơ sở vật chất, trang thiết  
bị học tập và kinh phí chi trả cho giáo viên. Đặc biệt,  
nhiều trẻ em lao động sớm và gia đình các em có tâm  
lý không thích đi học nghề, chỉ muốn đi làm kiếm tiền  
phụ giúp gia đình mà không muốn tiếp tục đi học.  
Với các em đã nghỉ học, được hỗ trợ đi học nghề thì  
lại quen với việc được “tự do”, trong khi môi trường  
đào tạo nghề yêu cầu kỷ luật và nỗ lực học tập nên  
dễ khiến trẻ nản lòng và bỏ cuộc, nhất là đối với các  
em có khả năng tiếp thu chậm.  
Ngoài ra, trẻ em ở độ tuổi vị thành niên và có  
hoàn cảnh gia đình khó khăn thường muốn làm việc  
ngay để kiếm tiền nhanh chóng cho chi phí của mình  
và đóng góp vào thu nhập gia đình nên các em có thể  
bỏ học nghề giữa chừng nếu cảm thấy không thích  
hoặc không có cơ hội việc làm. Vì vậy, nếu hỗ trợ đào  
tạo nghề cho trẻ em lao động sớm theo phương pháp  
hiện tại thì rất khó có thể huy động được trẻ đến lớp,  
duy trì sỉ số và đạt được kết quả cuối cùng trong việc  
đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho nhóm trẻ này.  
Nhìn chung, công tác đào tạo nghề cho trẻ em  
lao động sớm ở khu vực nông thôn hiện nay được  
lồng ghép trong các chương trình đào tạo nghề cho  
lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg  
của Thủ tướng Chính phủ (27/11/2009) (Đề án 1956)  
và các chính sách ưu đãi khác như chính sách hỗ trợ  
cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn, trẻ khuyết tật, trẻ  
mồ côi, miễn phí học phí học nghề trong các trường  
trung cấp... Đồng thời, Chính phủ và các ban, ngành  
đoàn thể cũng đã chủ động phối hợp với các tổ chức  
phi chính phủ nước ngoài và các doanh nghiệp trong  
nước để hỗ trợ đào tạo nghề, giới thiệu thực tập, việc  
làm cho trẻ vị thành niên nói chung và trẻ em lao  
động sớm nói riêng.  
3. Phương pháp QLTH  
3.1. Khái niệm  
QLTH hay còn gọi là quản lý ca (tiếng Anh là  
Case Management). Rapp (1992) cho rằng QLTH là  
“hỗ trợ bệnh nhân tái nhận thức về các nguồn lực bên  
trong như sự thông minh, tài năng và khả năng giải  
quyết vấn đề; thiết lập và thương lượng các quy tắc  
làm việc và giao tiếp giữa bệnh nhân và các nguồn  
lực bên ngoài; và biện hộ vận động các nguồn lực  
bên ngoài để tăng cường tính liên tục, khả năng tiếp  
cận, tinh thần trách nhiệm và tính hiệu quả của những  
nguồn lực đó”. Theo Luise Johnson (1995), QLTH là  
“sự điều phối các dịch vụ và trong quá trình này nhân  
viên xã hội làm việc với thân chủ để xác định dịch  
vụ cần thiết, tổ chức và theo dõi sự chuyển giao các  
dịch vụ đó tới thân chủ có hiệu quả”. Theo Ballew và  
Mink (1996) thì QLTH là sự “giúp đỡ những người  
mà cuộc sống của họ không thỏa mãn hay không  
phong phú do gặp nhiều vấn đề cần sự trợ giúp cùng  
lúc của nhiều nơi giúp đỡ”.  
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được,  
công tác hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ em lao động  
sớm ở khu vực nông thôn vẫn gặp nhiều khó khăn.  
Trong kế hoạch dạy nghề của một số địa phương  
không có chỉ tiêu đào tạo nghề cho trẻ em lao động  
sớm và không bố trí kinh phí riêng để tổ chức dạy  
nghề, tạo việc làm cho độ tuổi này. Trẻ em có nhu  
cầu học nghề sẽ học các lớp đào tạo nghề ngắn hạn  
cùng với các đối tượng khác, tuy nhiên nhiều em học  
một số nghề phi nông nghiệp nhưng không tìm được  
việc làm do thị trường tại chỗ không có nhu cầu và  
Riêng Robert Lee Barker (1999), soạn giả trị liệu  
do tay nghề của các em chưa đáp ứng được yêu cầu tâm lý về CTXH cho rằng QLTH là một tiến trình  
thực tế; một số em học nghề nông nghiệp nhưng gia nhân viên xã hội thay mặt thân chủ lập kế hoạch, tìm  
114  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 115-126  
kiếm và giám sát các dịch vụ từ các tổ chức xã hội. được hiểu là một quá trình trợ giúp của CTXH, bao  
gồm các hoạt động đánh giá nhu cầu học nghề của  
trẻ, đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của trẻ, tư vấn hướng  
nghiệp cũng như xác định, kết nối và điều phối các  
nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp trẻ em lao động sớm  
tiếp cận, duy trì, hoàn thành khóa học nghề và tìm  
kiếm được việc làm phù hợp. Ngoài ra, QLTH cũng  
hỗ trợ trẻ lao động sớm và gia đình các em tiếp cận  
được với các dịch vụ xã hội hiện có tại địa phương  
để giải quyết các vấn đề đang gặp phải.  
Theo tiến trình thời gian và mục đích ứng dụng, quan  
điểm về QLTH cũng được điều chỉnh để phù hợp với  
từng lĩnh vực cụ thể hoặc theo sự phát triển của xã  
hội. Hiệp hội CTXH thế giới định nghĩa QLTH là sự  
điều phối mang tính chuyên nghiệp các dịch vụ xã  
hội và dịch vụ khác nhằm giúp cá nhân hay gia đình  
đáp ứng nhu cầu được bảo vệ hay chăm sóc (lâu dài)  
(National Association of Social Workers, 08/2010).  
Trong khi đó Hiệp hội các nhà QLTH của Mỹ  
cho rằng QLTH là quá trình tương tác, điều phối bao  
gồm các hoạt động đánh giá, lên kế hoạch và tổ chức  
điều động về chính sách/quan điểm, dịch vụ, nguồn  
lực nhằm đáp ứng nhu cầu của thân chủ sao cho sự  
cung cấp dịch vụ tới cá nhân có hiệu quả với chi phí  
giảm và có chất lượng (Case Management Society of  
America (CMSA), 2017).  
3.2. Ưu, nhược điểm của phương pháp QLTH  
QLTH là phương pháp không thể thiếu của  
CTXH thực hành và nó được vận dụng rộng rãi  
trong nhiều lĩnh vực liên quan đến con người. Đặc  
biệt là đối với các cá nhân có những nhu cầu phức  
tạp, nguồn lực bản thân hạn chế thì việc can thiệp,  
trợ giúp bằng phương pháp QLTH sẽ đem lại hiệu  
quả hơn so với các phương pháp can thiệp khác. Bởi  
lẽ, phương pháp QLTH là một phương pháp có khái  
niệm, lý thuyết, kỹ thuật, kỹ năng và tiến trình cụ thể  
nên dễ vận dụng, áp dụng trên thực tiễn. Đồng thời,  
phương pháp này còn giúp cho nhân viên CTXH có  
được quy trình quản lý, hỗ trợ cho khách hàng/thân  
chủ một cách xuyên suốt từ tiếp nhận, đánh giá nhu  
cầu, tổ chức thực hiện, cung cấp dịch vụ và giám sát  
đánh giá. Đặc biệt là việc áp dụng quy trình QLTH  
giúp giải quyết các vấn đề phức tạp và đa dạng hiện  
nay của nhiều nhóm khách hàng, nhất là trong khâu  
kết nối, điều phối và hỗ trợ khách hàng tiếp cận được  
các dịch vụ cần thiết có chất lượng và có hiệu quả.  
Ở Việt Nam, tổ chức USAID, WWO và Trường  
Đại học Lao động - Xã hội, cơ sở II thành phố Hồ  
Chí Minh (ULSA2) (2010) cho rằng QLTH là một  
tiến trình trợ giúp mang tính chuyên môn và tiến trình  
QLTH với trẻ em được xác định gồm có 06 bước, cụ  
thể là tiếp nhận ca, đánh giá, lập kế hoạch can thiệp,  
thực hiện kế hoạch can thiệp, giám sát - lượng giá  
và kết thúc ca.  
Riêng Nguyễn Trung Hải và cs. (2013), Nguyễn  
Hồi Loan và cs. (2014) cho rằng “QLTH là một quá  
trình trợ giúp của CTXH”, “một tiến trình hợp tác  
giữa các nhà chuyên môn với các hoạt động đánh giá  
nhu cầu thân chủ (cá nhân, gia đình), xác định, kết  
nối và điều phối các nguồn lực, dịch vụ nhằm giúp  
thân chủ tiếp cận nguồn lực để giải quyết vấn đề và  
đáp ứng nhu cầu một cách hiệu quả”, trong đó tiến  
trình QLTH với người nghiện ma túy sẽ bao gồm 05  
bước cụ thể là xây dựng mối quan hệ và đánh giá  
khách hàng, xây dựng kế hoạch; hỗ trợ khách hàng  
thực hiện kế hoạch; giám sát hỗ trợ khách hàng và  
lượng giá, kết thúc.  
Ngoài ra, QLTH cũng giúp cho nhân viên CTXH  
ghi chép, lưu giữ hồ sơ của khách hàng một cách an  
toàn, bảo mật và theo quy trình chuyên nghiệp, đồng  
nhất. Tuy nhiên, QLTH chỉ là một phương pháp của  
CTXH, vì thế để có thể cung cấp các dịch vụ tốt cho  
khách hàng/thân chủ, nhân viên CTXH vẫn cần nắm  
chắc và kết hợp linh hoạt các phương pháp thực hành  
chính của CTXH bao gồm CTXH cá nhân, CTXH  
nhóm và phát triển cộng đồng. Hơn nữa, nhu cầu,  
ước muốn và sự quan tâm của khách hàng/thân chủ  
thường mang tính đặc thù, đa dạng và phức tạp nên  
ngoài việc thực hiện công việc chuyên môn, nhân  
Mặc dù có nhiều định nghĩa khác nhau về  
QLTH, song các định nghĩa này đều nhấn mạnh rằng  
QLTH là một quá trình hỗ trợ, giúp đỡ mang tính  
chuyên môn nhằm giúp thân chủ tiếp cận được với  
các nguồn lực để giải quyết vấn đề của mình một cách viên CTXH cần phải xây dựng được một mạng lưới  
hiệu quả. Và với mỗi đối tượng/ khách hàng hoặc lĩnh dịch vụ phong phú để việc cung cấp các dịch vụ cho  
vực trợ giúp khác nhau thì tiến trình QLTH lại được khách hàng/thân chủ được hữu hiệu (cần kết nối với  
thực hiện theo từng bước cụ thể. Trong phạm vi của  
bài viết này, QLTH trong hỗ trợ đào tạo nghề cho  
trẻ em từ 15 đến dưới 18 tuổi ở khu vực nông thôn  
hệ thống cung cấp dịch vụ xã hội trong cộng đồng và  
được sự đồng thuận và cam kết của các cơ sở cung  
cấp dịch vụ này).  
115  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
4. Vận dụng phương pháp QLTH trong hỗ hoặc phải được áp dụng theo phương pháp QLTH  
trợ đào tạo nghề cho trẻ em lao động sớm ở khu trong việc cung cấp dịch vụ cho nhóm trẻ này.  
vực nông thôn  
Bên cạnh đó, phương pháp QLTH còn tạo nên  
sự gắn kết, phối hợp bền chặt của nhiều bên liên quan,  
do các hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề cần sự tham gia  
và cam kết của nhiều địa phương, các cơ quan và cá  
nhân trong cộng đồng. Do đó, nó góp phần huy động  
được nhiều nguồn lực hơn để hỗ trợ trẻ em từ cơ sở  
dạy nghề và các chính sách của Chính phủ đối với  
việc miễn, giảm học phí đào tạo hoặc các chính sách  
cho gia đình của các em.  
4.1. Ý nghĩa của hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ  
lao động sớm ở khu vực nông thôn bằng phương  
pháp QLTH  
Trẻ em lao động sớm là nhóm trẻ có hoàn cảnh  
đặc biệt và dễ bị tổn thương. Hầu hết các em đều xuất  
thân từ những gia đình nghèo, khó khăn, mồ côi cha  
hoặc mẹ hoặc mồ côi cả cha lẫn mẹ, cha mẹ ly hôn.  
Trong khi đó, hệ thống bảo vệ chăm sóc, hỗ trợ về  
thể chất, tâm lý, cơ hội tiếp cận giáo dục phổ thông,  
giáo dục chuyên nghiệp và học nghề, việc làm cho  
nhóm trẻ này lại chưa hoàn thiện, còn chồng chéo.  
Đôi khi, chính sách đã được ban hành và nguồn lực  
đã có sẵn tại địa phương nhưng lại chưa kết nối được  
với các em, thậm chí có những trẻ và gia đình trẻ lại  
không có khả năng tiếp cận với các nguồn lực để giải  
quyết vấn đề, nhu cầu và mong muốn chính đáng  
của mình. Sống trong điều kiện hoàn cảnh khó khăn,  
không được đáp ứng nhu cầu cơ bản, trẻ em tham gia  
lao động sớm sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc phát  
triển thể chất, tâm lý cũng như cơ hội tiếp cận với  
giáo dục phổ thông và GDNN. Điều này ảnh hưởng  
đến tương lai của trẻ cũng như tác động tiêu cực đến  
chất lượng nguồn nhân lực tương lai của đất nước.  
Đặc điểm của trẻ em lao động sớm là dễ nản lòng  
và bỏ cuộc, và thường muốn làm công việc nào đó  
bất chấp nhân công rẻ để kiếm tiền nhanh chóng cho  
chi phí của bản thân hoặc đóng góp vào thu nhập của  
gia đình. Do đó, họ sẵn sàng bỏ nếu không còn cảm  
thấy quan tâm đến việc học hoặc nếu có cơ hội việc  
làm. Vì vậy việc cộng tác chặt chẽ và thường xuyên  
với các cơ sở đào tạo nghề, mạng lưới hỗ trợ trẻ trong  
toàn bộ quá trình học nghề của mỗi trẻ sẽ giúp cho  
việc theo dõi chặt chẽ tình hình học tập của các em  
cũng như tạo sự gần gũi và cung cấp cho các em lời  
khuyên, sự động viên, biện pháp can thiệp kịp thời  
để chúng theo đuổi việc học nghề thành công. Điều  
này giúp cho việc hỗ trợ đào tạo nghề và giải quyết  
việc làm cho trẻ trở nên hiệu quả hơn.  
4.2. Các bước thực hiện QLTH trong hỗ trợ  
đào tạo nghề cho trẻ em lao động sớm ở khu vực  
nông thôn  
Với những ưu điểm của mình, phương pháp  
QLTH được xem là một phương pháp phổ biến và  
hữu hiệu của CTXH dùng để quản lý và điều phối  
việc cung cấp các dịch vụ giáo dục và việc làm cho  
Trong bối cảnh hiện nay, khi mà các dịch vụ xã  
nhóm trẻ lao động sớm. Những hoạt động như điều hội thường phân tán và không thể đáp ứng toàn diện  
các nhu cầu của thân chủ hoặc thân chủ không biết  
đến các dịch vụ mà họ thuộc diện được hưởng lợi thì  
QLTH là một quy trình hoạt động đem lại cho thân  
chủ một sự hỗ trợ hiệu quả và toàn diện.  
phối, vận động, biện hộ, tăng năng lực, kết nối nguồn  
lực, lấy thân chủ làm trọng tâm, xây dựng mạng lưới  
trong QLTH sẽ giúp trẻ em lao động sớm và gia đình  
các em dễ dàng tiếp cận được với những dịch vụ và  
nguồn lực mà trẻ hoặc gia đình trẻ không tiếp cận  
được để giải quyết hay đáp ứng nhu cầu của mình.  
Trong công tác hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ em  
lao động sớm ở khu vực nông thôn, nhân viên QLTH  
sẽ đóng vai trò điều phối và giám sát hoạt động để  
thúc đẩy tiến trình hoạt động đáp ứng nhu cầu của  
các em. Trong tiến trình hỗ trợ này, nhân viên QLTH  
cần tiếp cận đa bên để có sự tham gia và cam kết của  
nhiều cơ quan, doanh nghiệp, nhà trường, gia đình  
và cá nhân trong việc hỗ trợ trẻ hoàn thành khóa học  
nghề và có việc làm ổn định. Nhân viên QLTH trong  
hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ em lao động sớm có thể  
là nhân viên chuyên trách hoặc cán bộ lao động,  
thương binh, xã hội xã/phường/thị trấn có kiến thức  
Điều đặc biệt, phương pháp QLTH là phương  
pháp mang tính toàn diện và phù hợp với các đặc trưng  
văn hóa, điều kiện kinh tế, nguồn lực, điểm mạnh của  
trẻ lao động sớm, gia đình trẻ và cả địa phương nơi  
trẻ sinh sống. Hơn nữa, mỗi trẻ lao động sớm có khả  
năng khác nhau, mức độ tiếp nhận kiến thức và hoàn  
cảnh gia đình khác nhau, do đó nhu cầu học nghề của  
mỗi trẻ là khác nhau và cách dạy nghề cho mỗi trẻ  
cũng là khác nhau. Điều đó, yêu cầu việc hỗ trợ đào  
tạo nghề cho nhóm trẻ này phải theo từng trường hợp  
116  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 115-126  
và kỹ năng chuyên môn về CTXH và QLTH. Tuy hợp cho những trẻ em lao động sớm mà mình quản  
nhiên, nếu là nhân viên chuyên trách thì cần phải có lý (đáp ứng nhu cầu học nghề đa dạng của từng em,  
mối quan hệ phối hợp chặt chẽ với cán bộ phụ trách xây dựng chương trình đào tạo nghề phù hợp và hiệu  
gia đình và trẻ em ở địa phương để đem lại hiệu quả quả, tổ chức đào tạo nghề cho các em); cộng tác một  
giúp đỡ cao nhất cho trẻ.  
cách chặt chẽ và thường xuyên với các cơ sở đào tạo  
nghề trong quá trình hỗ trợ từng trẻ và gia đình các  
em nhằm theo dõi sát sao tình hình học tập và những  
biến động trong cuộc sống của trẻ để đưa ra các biện  
pháp can thiệp cần thiết, kịp thời, đảm bảo trẻ hoàn  
thành khóa học nghề theo kế hoạch đề ra. Ngoài ra,  
căn cứ vào tình trạng của trẻ và các quy định cụ thể  
tại địa phương, nhân viên QLTH cần tìm hiểu thông  
tin về các dịch vụ sẵn có để giới thiệu, kết nối khi trẻ  
và gia đình các em có nhu cầu (như hỗ trợ phát triển  
kinh tế hộ gia đình và tăng thu nhập cho các hộ gia  
đình có trẻ em tham gia học nghề, nâng cao năng lực  
của các hộ sản xuất kinh doanh, phát triển, cải thiện  
thiết kế mẫu mã sản phẩm và tìm thị trường cho các  
sản phẩm nông nghiệp...).  
Nhóm trẻ em lao động sớm ở khu vực nông thôn  
là nhóm trẻ mang nhiều nét đặc thù riêng cả về hoàn  
cảnh gia đình (gia đình nghèo không có khả năng đầu  
tư cho trẻ học nghề) và tâm sinh lý. Vì vậy, nhu cầu  
học nghề của các em cũng rất đa dạng và việc hỗ trợ  
đào tạo nghề cho các em cần được miễn phí.  
Dựa trên trình độ học vấn, nhu cầu học nghề của  
từng em, các loại hình hỗ trợ đào tạo nghề thích hợp  
cần xem xét đến độ tuổi, nhu cầu học nghề và trình độ  
học vấn của từng trẻ. Đối với trẻ em lao động sớm đã  
tốt nghiệp trung học cơ sở và có nhu cầu học nghề, học  
văn hóa thì cần cung cấp dịch vụ đào tạo chính thức,  
học thuật và kết nối gửi trẻ đến các trường trung cấp,  
cao đẳng GDNN (các trường này có chính sách miễn,  
giảm học phí). Riêng với trẻ em học vấn thấp, kinh  
tế khó khăn, phải tham gia lao động kiếm sống và là  
người đem lại thu nhập chính trong gia đình, không  
thể theo học ở các trường học thì cần cung cấp dịch  
vụ học nghề ngắn hạn dành cho trẻ từ 17 đến dưới 18  
tuổi, và dịch vụ học nghề, thực tập nghề/học việc tại  
các doanh nghiệp, cửa hàng địa phương (phù hợp với  
điều kiện đi lại, hoàn cảnh và công việc) cho trẻ có độ  
tuổi từ 15 đến dưới 17 tuổi. Để hỗ trợ đào tạo nghề  
cho trẻ em lao động sớm ở khu vực nông thôn được  
hữu hiệu, nhân viên QLTH cần phải phối hợp với  
các bên liên quan thực hiện tham vấn hướng nghiệp  
cho từng trẻ và gia đình trẻ để các em có những định  
hướng, quyết định tương lai phù hợp với khả năng,  
năng lực của mình. Đồng thời, nhân viên QLTH cần  
tiếp cận, tư vấn, tác động thay đổi nhận thức của  
phụ huynh về tầm quan trọng của giáo dục và đào  
tạo nghề đối với sự phát triển lâu dài của trẻ và vai  
trò của họ trong việc khuyến khích, thúc đẩy con cái  
học nghề phù hợp. Về kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề  
cho trẻ, nhân viên quản lý ca có thể kết nối từ nhiều  
nguồn khác nhau, bao gồm cả các hỗ trợ từ chương  
trình của chính phủ (như chương trình năm 1956)  
và các tài trợ từ doanh nghiệp, dự án phi chính phủ  
để trẻ em lao động sớm ở khu vực nông thôn có thể  
tiếp cận được các khóa học chất lượng tại các trường  
học, doanh nghiệp có uy tín. Bên cạnh đó, nhân viên  
QLTH cần tìm kiếm và làm việc, hợp tác với các cơ  
sở đào tạo nghề khác nhau để cung cấp dịch vụ phù  
Các bước vận dụng phương pháp QLTH trong  
hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ em lao động sớm:  
Bước 1: Hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ em lao  
động sớm là một quá trình hỗ trợ lâu dài, trước khi  
thực hiện, nhân viên QLTH cần phải thu thập thông  
tin ban đầu của từng trẻ như họ tên, tuổi, trình độ học  
vấn, tình trạng sức khỏe, xác định thông tin về mức  
độ lao động trẻ em, điều kiện làm việc của các em,  
thời gian làm việc, tình hình học tập, nguyên nhân  
các em phải tham gia lao động, việc làm của cha mẹ,  
nguồn thu nhập của gia đình, nhu cầu hỗ trợ học nghề  
của trẻ và gia đình các em, xác định năng khiếu, khả  
năng nghề nghiệp của trẻ, lập hồ sơ của từng trẻ có  
nguyện vọng và đủ điều kiện học nghề.  
Bước 2: Từ kết quả khảo sát thông tin ban đầu  
của từng trẻ, nhân viên QLTH cần làm việc với các  
bên liên quan như lãnh đạo địa phương, các cơ sở  
giáo dục, các doanh nghiệp, nhà tài trợ, các tổ chức  
chính trị xã hội... để xác định nhu cầu lao động của  
địa phương, hướng phát triển, chính sách, chương  
trình hỗ trợ cho trẻ em lao động sớm và cả cơ chế  
phối hợp, giải pháp cải thiện điều kiện làm việc, tạo  
việc làm phù hợp với độ tuổi của trẻ em. Đồng thời,  
tổ chức, thực hiện tham vấn/ tư vấn hướng nghiệp  
cho trẻ và cha mẹ của các em để thảo luận về nguyện  
vọng, mong muốn học nghề của các em và gia đình,  
trao đổi các khó khăn, thách thức; đồng thời yêu cầu  
gia đình và trẻ em cam kết sẽ hợp tác trong thực hiện  
hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ và các hỗ trợ khác nếu  
117  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
có. Việc tư vấn/tham vấn hướng nghiệp có thể tổ trong việc xây dựng chương trình dạy nghề cho trẻ  
chức tập trung hoặc theo nhóm nhỏ hoặc tham vấn em lao động sớm (tiêu chí về nơi học cần dễ tiếp cận,  
cá nhân hoặc kết hợp nhiều phương pháp. Trong các tính khả thi của nghề nghiệp; chương trình, thời gian  
buổi tham vấn, ngoài nhân viên quản lý ca, trẻ em và học hợp lý; phương pháp đào tạo gây hứng thú và thu  
gia đình trẻ thì cần có sự tham gia của doanh nghiệp,  
cơ sở GDNN, quản lý địa phương để lắng nghe các  
nguyện vọng và nhu cầu của trẻ; cung cấp thông tin về  
quyền trẻ em, lao động trẻ em, luật pháp về lao động  
trẻ em, tầm quan trọng của giáo dục và đào tạo nghề  
để có việc làm bền vững, các chính sách hỗ trợ, các  
ngành nghề phù hợp, thị trường việc làm cũng như  
thảo luận cách thức hỗ trợ phù hợp và đưa ra những  
yêu cầu về việc cam kết hợp tác giữa trẻ, gia đình  
trẻ với các tổ chức, cá nhân thực hiện hỗ trợ đào tạo  
nghề cho các em. Từ đó, giúp trẻ và gia đình xem  
xét, lựa chọn học nghề phù hợp với khả năng, năng  
lực và nguồn lực của mình.  
hút sự tham gia của trẻ em và gia đình; cách học thực  
hành, thực tập; trình độ đầu ra, loại chứng chỉ và hỗ  
trợ toàn diện cho trẻ sau đào tạo).  
Bước 5: Gửi trẻ đến cơ sở đào tạo nghề phù hợp,  
ký kết hợp đồng, cam kết hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ  
với các doanh nghiệp, cơ sở dạy nghề và thực hiện  
theo dõi, giám sát, đánh giá quá trình học nghề của trẻ  
thường xuyên và hỗ trợ trẻ khi họ có nhu cầu. Trong  
bước này, nhân viên QLTH, trẻ và cơ sở đào tạo nghề  
có thể điều chỉnh kế hoạch nghề nghiệp của trẻ cho  
phù hợp với điều kiện và tình hình thực tế.  
Bước 6: Cùng với trẻ, cơ sở dạy nghề lượng giá,  
đánh giá trình độ và kỹ năng tay nghề của trẻ, xem  
xét đến việc chuyển tiếp sang giai đoạn thực tập, tốt  
nghiệp và thử việc/ phụ việc (đối với những trẻ từ 15  
đến dưới 18 tuổi) hoặc đi làm đối với những trẻ đủ  
18 tuổi trở lên (nên hỗ trợ, theo dõi và giám sát trẻ  
phụ việc hoặc đi làm ít nhất là 3 tháng).  
Bước 3: Sau khi trẻ quyết định được nghề sẽ theo  
học, nhân viên QLTH cùng với trẻ lập kế hoạch nghề  
nghiệp cá nhân. Kế hoạch nghề nghiệp này cần phải  
được định hướng dựa trên sự quan tâm, nhu cầu và  
những ước muốn của trẻ em lao động sớm theo hướng  
“lấy thân chủ làm trung tâm”. Kế hoạch phải được  
tập trung và dẫn dắt bởi chính nhu cầu của trẻ, quan  
trọng hơn, bản thân trẻ phải cảm nhận được mình là  
chủ của bản kế hoạch nghề nghiệp của chính các em.  
Bởi vậy, kế hoạch được lập với sự “lựa chọn” tham  
gia của trẻ, từ đó tăng các cơ hội và khả năng thành  
công trong việc hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ em lao  
động sớm. Đồng thời, nhân viên QLTH cần thực hiện  
lập hồ sơ QLTH, nhập cơ sở dữ liệu/ thông tin quản  
lý và giám sát, hỗ trợ cho trẻ trên hệ thống phần mềm  
quản lý. Bên cạnh đó, nhân viên QLTH cũng cần làm  
việc với các bên liên quan để trao đổi về việc lựa chọn  
cơ sở đào tạo nghề phù hợp và có khả năng đáp ứng  
được những yêu cầu và tiêu chí dạy nghề cho nhóm  
trẻ em lao động sớm, và huy động, lồng ghép nguồn  
lực hỗ trợ cho lớp học nghề từ các chương trình hiện  
có để hỗ trợ một cách tốt nhất cho từng trẻ (trẻ đã tốt  
nghiệp trung học cơ sở có nhu cầu học trung cấp, cao  
đẳng nghề và trẻ ngoài nhà trường). Để bảo bảo tính  
bền vững, nhiều gia đình có trẻ em tham gia lao động  
trái quy định của pháp luật còn cần được xem xét,  
kết nối học nghề để ổn định sinh kế, tăng thu nhập...  
Bước 7: Kết thúc quá trình hỗ trợ đào tạo nghề  
của trẻ hoặc tiếp tục hỗ trợ trẻ nếu trẻ có nhu cầu.  
5. Kết luận  
Trẻ em nói chung và trẻ em lao động sớm ở  
khu vực nông thôn nói riêng đều là tương lai của đất  
nước. Chính vì vậy, các em cần được tạo điều kiện,  
cơ hội để phát triển toàn diện cả về thể lực, trí lực và  
nuôi dưỡng ước mơ của mình. Bên cạnh các chương  
trình, chính sách chăm sóc và bảo vệ trẻ em, trẻ em  
lao động sớm ở độ tuổi từ 15 đến dưới 18 tuổi cần  
được quan tâm hỗ trợ đào tạo nghề nghiệp để các em  
có một tương lai vững chắc, bước vào thế giới việc  
làm đàng hoàng khi trưởng thành, vươn lên thoát  
nghèo và đóng góp tích cực cho xã hội, cho gia đình  
và cho cộng đồng. Nhận biết được vai trò của đào  
tạo nghề cho trẻ em lao động sớm, trong những năm  
qua, nhiều hoạt động hỗ trợ học nghề cho trẻ từ đủ  
15 tuổi đến dưới 18 tuổi đã được thực hiện thông qua  
những chương trình, chính sách về đào tạo nghề cho  
lao động nông thôn, chính sách hướng nghiệp, phân  
luồng và đào tạo nghề cho học sinh tốt nghiệp trung  
học cơ sở. Tuy nhiên, cách triển khai các lớp học vẫn  
chưa thể hiện được sự tham gia có trách nhiệm của  
liên ngành, sự lồng ghép, huy động nguồn lực của nhà  
nước và địa phương, sự tham gia, hỏi ý kiến của trẻ  
Bước 4: Sau khi đã lựa chọn được cơ sở đào tạo  
nghề phù hợp với từng trẻ, nhân viên QLTH làm việc  
với các cơ sở GDNN này để thảo luận về nội dung,  
cách thức hỗ trợ đào tạo nghề, các tiêu chí quan trọng  
118  
Tạp chí Khoa học Đại học Đồng Tháp, Tập 11, Số 1, 2022, 115-126  
em và gia đình các em nên số lượng trẻ lao động sớm Barker, R. L. (1999). The Social work dictionary (4th  
tham gia học nghề còn hạn chế, một số em tham gia  
khóa học lại chưa tìm được việc làm phù hợp hoặc  
bỏ học nghề giữa chừng do gia đình gặp khó khăn  
về tài chính, bản thân trẻ gặp áp lực và trách nhiệm  
kinh tế với gia đình....  
ed). National Association of Social Workers.  
Washington, DC, 65.  
Bộ LĐTBXH. (2013). Thông tư Ban hành danh mục  
và nơi làm việc cấm sử dụng lao động là người  
chưa thành niên. Ban hành ngày 10/06/2013.  
Số 10/2013/TT - BLĐTBXH.  
QLTH là một phương pháp can thiệp của ngành  
CTXH. Với phương pháp này, các cơ quan, ban  
ngành, đoàn thể, tổ chức, cá nhân sẽ được huy động,  
liên kết để tạo điều kiện tốt nhất, phù hợp nhất cho  
trẻ lao động sớm được tham gia học nghề phù hợp  
với năng lực và nguồn lực của địa phương. Đồng  
thời, trẻ lao động sớm sẽ được chủ động và là trọng  
tâm trong kế hoạch phát triển nghề nghiệp của mình  
dưới sự hỗ trợ của nhân viên QLTH. Tuy nhiên, để  
ứng dụng phương pháp quản lý ca trong hỗ trợ đào  
tạo nghề cho trẻ em lao động sớm ở khu vực nông  
thôn đạt kết quả tốt thì bên cạnh những kiến thức, kỹ  
năng chuyên môn, nhân viên QLTH cần nỗ lực kiên  
trì cùng với địa phương vận động cha mẹ các em nghỉ  
ngày làm việc để tham gia tập huấn hay truyền thông  
về lao động trẻ em, ảnh hưởng của lao động trẻ em,  
tầm quan trọng của nghề nghiệp đối với tương lai  
của trẻ; kiên trì phối hợp các ngành, các cấp trong tất  
cả các khâu; tìm kiếm giải pháp để duy trì số lượng  
và chất lượng tham gia học nghề có chất lượng của  
trẻ; nỗ lực vận động, tham vấn, truyền thông, giám  
sát chặt chẽ hoạt động học nghề, và kết nối với kế  
hoạch phát triển về kinh tế, văn hóa cũng như truyền  
thống nghề của chính quyền địa phương, của các đối  
tác và gia đình các em. Bên cạnh đó, ngoài việc hỗ  
trợ cho thân chủ (trẻ em lao động sớm), nhân viên  
QLTH cần kết nối nguồn lực để hỗ trợ sinh kế ổn  
định cho gia đình trẻ nhằm giúp các gia đình có thể  
Bộ LĐTBXH. (11/06/2013). Thông tư Ban hành danh  
mục công việc nhẹ được sử dụng người dưới 15  
tuổi làm việc. Số 11/2013/TT - LĐTBXH.  
Case Management Society of America (CMSA).  
(2017). What is a case manager?. Cmsa.  
who-we-are/what-is-a-case-manager/.  
Đỗ Hòa. (20/9/2009). Cả nước có gần 2.000 cơ sở  
GDNN. Haiquanonline. Truy cập từ https://  
haiquanonline.com.vn/ca-nuoc-co-gan-2000-  
co-so-giao-duc-nghe-nghiep-111905.html.  
Đức Tùng. (30/7/2020). Khó khăn trong công tác  
đào tạo nghề cho lao động nông thôn và một số  
kiến nghị. Laodongxahoi. Truy cập từ http://  
laodongxahoi.net/kho-khan-trong-cong-tac-  
dao-tao-nghe-cho-lao-dong-nong-thon-va-mot-  
so-kien-nghi-1316210.html.  
Luise, J. (1995). Social work practice - General  
approach. Brooks/Cole Publishing Company.  
National Association of Social Workers (NASW).  
(08/2010). Standard for Social work case  
management. Naswdc. Retrieved from http://  
mgmt.asp.  
thay đổi cách thức và điều chỉnh công việc của con Liên Hiệp Quốc. (2015). Báo cáo Thanh thiếu niên  
em họ, và góp phần đưa trẻ em ra khỏi lao động trẻ  
em. Ngoài ra, hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ chưa thành  
niên cần phải tính đến nhu cầu của các em, và việc  
dạy nghề chỉ hiệu quả khi gắn với việc làm bền vững  
cho các em sau này, khi đến tuổi lao động được luật  
pháp cho phép./.  
Việt Nam - những thách thức về việc làm cho  
thanh niên ở Việt Nam.  
Liên Hợp Quốc. (2/9/1990). Công ước về quyền trẻ  
em (CRC). Việt Nam phê chuẩn ngày 20/2/1990.  
Ngân hàng Thế giới (WB). (2018). Tương lai việc  
làm Việt Nam: Khai thác xu hướng lớn cho sự  
phát triển thịnh vượng hơn.  
Tài liệu tham khảo  
Ballew, J. R. and Mink, G. (1996). Case management  
in social work: Developing the professional  
skills needed forwork with multi problem clients  
(2nd ed.). Springfield, IL: Charles C Thomas  
Publisher, 3.  
Nguyễn Hồi Loan và cs. (2014). Tài liệu QLTH với  
người sử dụng ma túy (Tài liệu tập huấn cho  
cán bộ cơ sở). Trường Đại học Lao động - Xã  
Hội: NXB Lao động - Xã hội.  
119  
Chuyên san Khoa học Xã hội và Nhân văn  
Nguyễn Trung Hải và cs. (2013). Giáo trình QLTH  
với người sử dụng ma túy (dùng cho hệ đại học).  
Trường Đại học Lao động - Xã Hội, 14.  
đánh giá các mục tiêu trẻ em và phụ nữ 2014  
(Mục tiêu thiên niên kỷ).  
Tổng cục Thống kê và Tổ chức Lao động Quốc tế  
(ILO). (2015). Sự chuyển tiếp sang thị trường  
lao động của thanh niên Việt Nam.  
Quốc hội. (18/6/2012). Bộ Luật Lao động năm 2012,  
số 10/2012/QH13.  
Thủ tướng Chính phủ. (27/11/2009). Quyết định  
Phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động  
nông thôn đến năm 2020, số 1956/QĐ-TTg  
(Đề án 1956).  
Quốc hội. (05/4/2016). Luật Trẻ em 2016, số  
102/2016/QH13.  
Quốc hội. (24/11/2015). Bộ Luật Dân sự 2015, số  
91/2015/QH13.  
UNICEF và Bộ Giáo dục và Đào tạo Việt Nam.  
(2016). Báo cáo về “trẻ em ngoài nhà trường”  
năm 2016.  
Rapp et al. (1992). Case Management: Systems and  
Practice. Social Casework, 83.  
Tổ chức Lao động quốc tế, Bộ LĐTBXH; Viện Khoa  
học lao động và xã hội. (2018). Điều tra Quốc  
gia về lao động trẻ em.  
USAID, WWO và Trường Đại học Lao động - Xã  
hội, cơ sở II thành phố Hồ Chí Minh (ULSA2).  
(2010). Tài liệu Quản lý ca - Dự án nâng cao  
năng lực các Dịch vụ hỗ trợ tâm lý - xã hội cho  
trẻ em dễ bị tổn thương.  
Tổ chức Lao động quốc tế. (1999). Công ước  
Nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ  
các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất (công  
ước 182).  
Viện Khoa học GDNN. (2019). Báo cáo GDNN Việt  
Nam 2018. Hà Nội: NXB Thanh niên.  
Tổ chức Lao động quốc tế. (1973). Công ước về tuổi  
lao động tối thiểu (Công ước 138), Việt Nam  
gia nhập ngày 24/6/2003.  
Viện Khoa học GDNN và tổ chức UNICEF. (2019).  
Đào tạo nghề, hướng nghiệp và việc làm cho  
trẻ vị thành niên (người từ đủ 15 đến 18 tuổi).  
Hà Nội.  
Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD).  
(2017). Tổng quan chính sách phúc lợi cho  
thanh niên tại Việt Nam.  
Vũ Xuân Hùng (chủ biên) và cs. (2017). Báo cáo  
GDNN Việt nam 2015, Viện Khoa học GDNN.  
Tổng cục GDNN. Hà Nội: NXB Thanh niên.  
Tổng cục Thống kê và UNICEF. (2014). Điều tra  
120  
pdf 12 trang baolam 27560 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu, vận dụng phương pháp quản lý trường hợp trong hỗ trợ đào tạo nghề cho trẻ em lao động sớm từ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi ở khu vực nông thôn", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_van_dung_phuong_phap_quan_ly_truong_hop_trong_ho.pdf