Hiệu quả hoạt động của nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Đồng Tháp

HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NHÂN VIÊN CÔNG TÁC XÃ HỘI TẠI  
TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI TỈNH ĐỒNG THÁP  
SV.Lê Hoài Nam  
SV.Nguyễn Thị Ý Nhi – SV.Nguyễn Thanh Nhã  
Lớp: CTXH14A  
GVHD: ThS. Trần Văn Luận  
Tóm tắt: Bài báo này khái quát kết quả nghiên cứu tại Trung tâm Bảo trợ xã  
hội tỉnh Đồng Tháp. Qua các khảo sát thực tế từ hoạt động chăm sóc và bảo vệ trẻ  
em tại đây, nhóm nghiên cứu cho rằng nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm đã  
hoàn tốt nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ trẻ em, tuy nhiên xét ở nhiều khía cạnh  
chuyên môn của Công tác xã hội, nhân viên tại đây chủ yếu thể hiện vai trò chăm  
sóc là chính, nhiều vai trò khác vẫn còn chưa rõ hoặc còn những hạn chế nhất định  
Từ khóa: Nhân viên công tác xã hội, Trung tâm Bảo trợ xã hội, vai trò  
1. Đặt vấn đề  
Hiện nay, ngành Công tác xã hội đã có nhiều đóng góp quan trọng trong công  
tác với trẻ em, thanh thiếu niên, đặc biệt là nhóm trẻ em mồ côi và trẻ em có hoàn  
cảnh đặc biệt khó khăn. Bên cạnh những trợ giúp của xã hội và cộng đồng về mặt  
kinh tế, tài chính thì những đóng góp về mặt chức năng xã hội, tâm lý, tình cảm, các  
kỹ năng đối phó với thách thức của công tác xã hội đối với trẻ em là không thể phủ  
nhận. Vì vậy, Đảng và nhà nƣớc ta đã tăng cƣờng sự quan tâm, chăm sóc đặc biệt  
tới nhóm trẻ em mồ côi thông qua các chƣơng trình, chính sách có liên quan. Các đề  
án có nội dung về chăm sóc và bảo vệ trẻ em đƣợc phê duyệt tạo điều kiện hình  
thành những mô hình chăm sóc thiết thực cho các em, giúp các em đƣợc sống trong  
gia đình thay thế nhƣ: các trung tâm bảo trợ xã hội, các trại trẻ mồ côi, nhà tình  
thƣơng, mái ấm… Tại đây, các em không chỉ đƣợc sống một cuộc sống đầy đủ vật  
chất mà còn ấm áp về tinh thần, các em luôn đƣợc tạo mọi điều kiện để có thể đến  
trƣờng nhƣ các bạn đồng trang lứa. Tuy nhiên, theo sự quan sát thì nhân viên tại  
Trung tâm chỉ làm nhiệm vụ chăm sóc và nuôi dƣỡng các em ở đây theo cái tâm và  
thực hiện theo chuyên ngành của bản thân chứ chƣa thật sự làm đúng với chuyên  
ngành công tác xã hội. Nhận thức đƣợc vai trò quan trọng của nhân viên xã hội trong  
chăm sóc bảo vệ trẻ em tại các cơ sở chăm sóc tập trung nên nhóm tác giả chọn đề tài  
105  
nghiên cứu “ Hiệu quả hoạt động của nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm Bảo trợ xã  
hội Tỉnh Đồng Tháp” để làm rõ hơn nữa tính hiệu quả trong thực hiện nhiệm vụ của nhân  
viên xã hội tại đây, từ đó đƣa ra các giải pháp góp phần cải thiện chất lƣợng chăm sóc trẻ  
em tại các cơ sở này.  
2. Nội dung chính  
2.1. Phương pháp nghiên cứu  
Phƣơng pháp thu thập số liệu: nhóm nghiên cứu đã tiến hành thu thập thông  
tin bằng cách thăm dò ý kiến của 14 trẻ có độ tuổi từ 8 tuổi trở lên trong đó có 8 trẻ  
em nam và 6 trẻ em nữ hiện tại đang đƣợc nuôi dƣỡng và sinh sống tại Trung tâm  
Bảo trợ xã hội tỉnh Đồng Tháp. Bên cạnh đó nhóm nghiên cứu tiến hành phỏng vấn  
sâu đối với 1 cán bộ quản lý và 2 nhân viên chăm sóc của Trung tâm.  
Phƣơng pháp phân tích và xử lý số liệu: Thống kê mô tả và so sánh dữ liệu  
thu thập đƣợc.  
2.2. Kết quả nghiên cứu  
2.2.1. Vai trò người chăm sóc, cung cấp các điều kiện sống cơ bản  
2.2.1.1. Về dinh dƣỡng  
Song song với việc chăm sóc thì chế độ dinh dƣỡng của các em cũng phải  
đƣơc đảm bảo đủ chất lƣợng và an toàn. Vì các em đang trong giai đoạn của sự  
phát triển, cả về thể chất lẫn trí tuệ. Bên cạnh đó, chế độ dinh dƣỡng của các em  
không những phải đƣợc đáp ứng bình thƣờng mà cần phải quan tâm nhiều hơn.  
Cũng giống nhƣ câu “ Ăn không chỉ để no mà ăn còn để lo cho sức khỏe”. Vì  
vậy, dinh dƣỡng đóng một vai trò hết sức quan trọng đối với đời sống mỗi con  
ngƣời mà đặc biệt hơn đó là đối với trẻ em. Do đó biểu đồ sau để thể hiện cho  
việc chăm sóc dinh dƣỡng cho các em tại Trung tâm.  
Trên thực tế khảo sát thì buổi ăn trong ngày của các em đƣợc chia thành ba  
buổi chính với tổng số 14 lƣợt trả lời cho câu hỏi này chiếm 100% đáp ứng đầy đủ  
các buổi ăn trong ngày của một trẻ. Bên cạnh đó thì việc đáp ứng chế độ dinh dƣỡng  
cũng rất quan trọng, không phải cứ mỗi một ngày ăn ba buổi ăn là có thể đáp ứng  
đƣợc đầy đủ dinh dƣỡng nên có bảng số liệu sao khảo sát về điều này.  
106  
Biểu đồ 1: Thể hiện buổi ăn sáng và buổi ăn tối của trẻ em  
Từ biểu đồ trên ta thấy đƣợc sự đáp ứng nhu cầu dinh dƣỡng cho trẻ đảm bảo  
đƣợc mức độ ăn uống hàng ngày của một đứa trẻ. Có thể nói mỗi con ngƣời điều có  
nhu cầu và mong muốn về món ăn khác nhau nên cần phải thay đổi món ăn thƣờng  
xuyên để đáp ứng đƣợc nhu cầu của đứa trẻ đồng thời việc thay đổi bữa ăn nhƣ vậy  
sẽ đảm bảo đƣợc chế độ dinh dƣỡng. Phỏng vấn cán bộ nữ 32 tuổi, nhân viên chăm  
sóc cho biết “hàng ngày sẽ thay đổi khẩu phần ăn, thức ăn gồm những loại rau, cá  
và thịt, mỗi bữa ăn thì có hai món”. Số liệu cho thấy vào buổi ăn trƣa thì có 3 lƣợt  
trả lời không ngon lắm chiếm 21%, có 11 ngƣời trả lời là ngon chiếm 78%. Đối với  
buổi ăn tối trong ngày thì có 12 lƣợt trả lời ăn ngon chiếm 85,7%, có 2 lƣợt không  
có ý kiến chiếm 14.3%. Từ số liệu trên ta nhận thấy chế độ dinh dƣỡng để đáp ứng  
nhu cầu của các trẻ đã đảm bảo cho sự phát triển của trẻ.  
2.1.1.2. Chăm sóc sức khỏe  
Chăm sóc sức khỏe cho trẻ em là vấn đề đƣợc ƣu tiên hàng đầu ở mỗi gia  
đình và cộng đồng. Với Trung tâm bảo trợ xã hội, vấn đề chăm sóc trẻ lại càng phải  
đƣợc quan tâm hơn bởi tính chất sống tập trung, phòng ở đông đúc, chật chội dễ  
phát sinh và lây lan các bệnh truyền nhiễm. Liên quan vấn đề này chúng tôi tiến  
hành khảo sát và cho ra kết quả theo biểu đồ sau:  
107  
Biểu đồ 2: Thể hiện việc khám chữa bệnh định kì của các em  
Khảo sát mỗi năm các em đƣợc khám định kì, chữa bệnh. Tổng số có 12 lƣợt  
trả lời có tổ chức khám định kì, chữa bệnh cho các em chiếm 85.7%, có 5 lƣợt trả  
lời đi khám định kì, chữa bệnh 1 lần mỗi năm chiếm 35.7%, 6 lƣợt trả lời đi khám  
định kì, chữa bệnh 2 lần mỗi năm chiếm 42.9%, có 1 lƣợt trả lời đi khám định kì,  
chữa bệnh 4 lần mỗi năm chiếm 7.1%. và có 2 lƣợt không trả lời đi khám định kì,  
chữa bệnh mỗi năm chiếm 14.3%.  
Vậy qua bảng số liệu cho thấy có tổng 14 lƣợt các em trả lời cho việc đi  
khám định kì, chữa bệnh mỗi năm chiếm 100%. Nhìn chung số liệu qua bảng cho  
thấy số lƣợt khám định kì, chữa bệnh cho các em cũng đƣợc sự quan tâm lo lắng  
của các nhân viên quản lí tại Trung tâm, nhƣng bên cạnh đó bản thân của các em  
chƣa hiểu đƣợc về việc chăm sóc sức khỏe cho mình nên các em vẫn cần đƣợc hỗ  
trợ và tƣ vấn thêm vấn đề sức khỏe cho các em đƣợc tốt hơn, theo lời của nữ cán bộ  
32 tuổi là nhân viên chăm sóc tại Trung tâm “ việc khám chữa bệnh cho các em  
tại Trung tâm chỉ có một trung cấp y sĩ do đó việc chăm sóc và hỗ trợ tư vấn  
sức khỏe cho các em vẫn còn gặp khó khăn”.  
2.1.1.3. Việc đáp ứng các chế độ sinh hoạt, vui chơi, giải trí  
Các em đƣợc cấp phát toàn bộ sinh hoạt phí và đồ dùng cá nhân nhƣ: xà  
phòng, kem đánh răng, thau, chậu rửa mặt, khăn mặt, dầu gội đầu… Những đồ dùng  
sinh hoạt này đƣợc Trung tâm cấp phát theo nhu cầu sử dụng chứ không theo định kỳ.  
108  
Hàng tuần các em đƣợc ra ngoài Trung tâm để đi học, sinh hoạt với các bạn  
trong lớp, sinh hoạt cá nhân, tham gia các hoạt động xã hội do nhà trƣờng tổ chức  
dƣới sự cho phép của nhân viên tại Trung tâm, quá trình phỏng vấn sâu nữ cán bộ,  
32 tuổi, là nhân viên chăm sóc các trẻ em tại Trung tâm “trước khi ra ngoài để làm  
việc gì, các em đều phải xin phép cô, chú quản lí tại Trung tâm, được sự cho phép  
các em mới được đi”.  
Hàng năm đối với các em có gia đình thì trung tâm sẽ tạo điều kiện cho các  
em về chơi với gia đình, không chỉ vào các ngày lễ, dịp tết mà ngay cả trong tuần,  
trong tháng nếu các em có nhu cầu mong muốn đƣợc về thăm gia đình, Trung tâm  
sắp xếp hỗ trợ cho các em đƣợc về thăm gia đình.  
Ngoài việc tổ chức cho các em học văn hóa, nâng cao kiến thức, nhân viên  
xã hội ở Trung tâm còn kết hợp với một số công ty, doanh nghiệp, thanh niên tình  
nguyện để tổ chức các buổi giao lƣu văn nghệ, thể dục thể thao, các trò chơi mang  
tính giáo dục giúp các em rèn luyện về thể lực, đạo đức, hòa nhập với cộng đồng.  
Do nhu cầu sinh hoạt vui chơi giải trí là điều cần thiết để đảm bảo cho sự phát triển  
và tồn tại của mỗi cá nhân đặc biệt là các trẻ em đang sống trong một môi trƣờng  
tập thể, nếu nhƣ nhu cầu đƣợc thỏa mãn tạo cảm giác thoải mái và an toàn cho sự  
phát triển toàn diện, nhân viên xã hội cần là ngƣời đáp ứng những nhu cầu cần thiết  
đó, ngƣợc lại nếu không đáp ứng đƣợc những nhu cầu mong muốn vui chơi giải trí,  
thể dục thể thao, văn nghệ sẽ gây sự căng thẳng và sẽ dẫn đến hậu quả không theo  
mong muốn. Vì thế nhu cầu mong muốn đƣợc đáp ứng sẽ là động lực kích thích cá  
nhân hoạt động một cách tích cực hơn “nhu là cần thiết, cầu là đòi hỏi, mong muốn,  
nhu cầu là một yếu tố cần thiết, tất yếu để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của  
cá nhân”.  
2.1.1.4. Về sự quan tâm, chia sẻ tình yêu thương  
Trẻ em mồ côi không nơi nƣơng tựa, trẻ em bị bỏ rơi, nguy cơ bị rối nhiễu tâm  
lý còn cao hơn rất nhiều so với trẻ em khác do ảnh hƣởng từ những biến cố gia đình,  
bản thân. Các nguy cơ có thể dẫn đến rối nhiễu tâm lý ở trẻ nhƣ thay đổi hoàn cảnh  
sống, sự miệt thị, chê bai từ những ngƣời xung quanh, mối liên kết gia đình lỏng lẻo,  
lây nhiễm các luồng tƣ tƣởng không lành mạnh.  
109  
Qua nghiên cứu, tìm hiểu tại Trung tâm, chúng tôi nhận thấy phần lớn các  
em có hoàn cảnh gia đình hết sức thiệt thòi: bố, mẹ mất sớm, ly hôn, bỏ nhà đi  
không trở về, mắc các chứng bệnh liên quan đến thần kinh, đang trong thời gian thi  
hành án lâu năm... Trƣớc khi vào sống tại Trung tâm, các em không những ăn uống  
không đảm bảo dinh dƣỡng, nơi ở tạm bợ mà còn thiếu thốn tình yêu thƣơng của  
các thành viên trong gia đình, sự bảo vệ, che chở trƣớc những biến cố, rủi ro. Hoàn  
cảnh gia đình thiệt thòi ngay từ nhỏ là nguyên nhân khiến cho các em luôn cảm thấy  
tự ti, mặc cảm về số phận, e ngại tiếp xúc, chia sẻ thậm chí xa lánh mọi ngƣời.  
Ðể đảm bảo các em không gặp phải sự chêu trọc, đùa giỡn, miệt thị từ  
phía bạn bè, nhân viên xã hội thƣờng xuyên trao đổi với cô giáo chủ nhiệm cùng  
chỉ bảo, uốn nắn các em từng lời ăn tiếng nói, cách cƣ xử đúng mực và thái độ  
tôn trọng những ngƣời xung quanh. Với mỗi hành vi nói bậy, chửi thề bị phát  
hiện, trung tâm đều đƣa ra hình thức xử lý thích đáng tùy theo mức độ và số lần  
tái phạm. Ở mức độ nhẹ, các em phải xin lỗi bà hoặc mẹ và viết bản kiểm điểm  
nộp lên cho bà. Nếu mức độ vi phạm cao, để lại ảnh hƣởng xấu đến Trung tâm  
và các bạn trong Trung tâm, các em phải viết cam kết không tái phạm, thậm chí  
bị buộc trở về địa phƣơng. Cho đến nay, chƣa có bất kỳ trƣờng hợp nào tái phạm  
mức độ nặng tới mức Trung tâm phải trả các em về địa phƣơng.  
2.2.2. Vai trò người bảo vệ, phòng ngừa nguy cơ thương tích  
Trẻ em sinh sống tại các Trung tâm và cơ sở bảo trợ xã hội có nguy cơ cao bị  
thƣơng tích do tính chất sống và sinh hoạt tập trung cũng nhƣ mức độ quan tâm,  
theo dõi không cao từ ngƣời lớn. Trong nghiên cứu của chúng tôi tại Trung tâm, có  
một ý kiến cho rằng mình bị bắt nạt trong vòng 06 tháng qua, khi các em bị bắt nạt  
thì nhân viên chăm sóc là ngƣời đứng ra bảo vệ các em.  
Qua tìm hiểu, đƣợc biết tại Trung tâm và nhà tình thƣơng hiện nay vẫn  
không có bảo vệ, tức là không có ngƣời trông coi và quản lí những ngƣời ra vào  
Trung tâm, vì vậy sẽ dễ dẫn đến những mối đe dọa cho các em mà các nhân viên tại  
Trung tâm khó lƣờng trƣớc đƣợc vấn đề nguy hiểm đến sức khỏe và tinh thần của  
các em. Nhƣ chia sẽ của cán bộ nam trong Trung tâm, 47 tuổi, nhân viên văn phòng  
thì vấn đề giám sát sự an toàn của trẻ em do những nhân viên làm việc tại Trung  
tâm đảm nhận, “vừa làm việc tại Trung tâm vừa phải quan sát các đối tượng ra vào  
110  
Trung tâm”. Mức độ an toàn của trẻ em chƣa đƣợc đáp ứng có thể do điều kiện về  
kinh phí mà Trung tâm nên chƣa có thuê ngƣời bảo vệ để đảm bảo sự an toàn này.  
2.2.3. Vai trò người biện hộ  
Trong lĩnh vực luật pháp, biện hộ có nghĩa là bênh vực, bào chữa cho đƣơng  
sự ở trƣớc toà án. Trong Công tác xã hội, ngƣời biện hộ là ngƣời bảo vệ quyền lợi  
cho thân chủ để họ đƣợc hƣởng những dịch vụ xã hội, chính sách xã hội, ƣu đãi  
theo pháp luật.  
Đối với trẻ em mồ côi không nơi nƣơng tựa, trẻ em bị bỏ rơi tại Trung tâm  
bảo trợ xã hội, bên cạnh sự thiếu thốn về tình yêu thƣơng trong gia đình các em còn  
thiệt thòi về cơ hội đƣợc tiếp cận và thụ hƣởng các dịch vụ xã hội, chính sách xã hội  
của các cơ quan, tổ chức và cộng đồng dành cho các em. Nguyên nhân cơ bản là do  
các em thiếu nguồn thông tin về các dịch vụ, chính sách đó cũng nhƣ thiếu ngƣời  
chỉ bảo, hƣớng dẫn cho các em. Đây là một thực trạng khá phổ biến đang diễn ra  
trên nhiều địa bàn, nhất là những khu vực vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc  
thiểu số.  
Xem xét với tƣ cách là ngƣời biện hộ, chúng tôi nhận thấy cán bộ, nhân viên  
tại Trung tâm đã thực hiện khá tốt vai trò ngƣời biện hộ. Điều đó thể hiện qua các  
chỉ báo: 100% các em có chứng nhận khai sinh, đƣợc miễn học phí, đƣợc cấp thẻ  
khám chữa bệnh miễn phí, đƣợc hỗ trợ tham gia các câu lạc bộ thiếu nhi của Thành  
Sa Đéc. Tuy vậy, ở khía cạnh chăm sóc sức khỏe tinh thần, chúng tôi thấy cần phát  
huy hơn nữa vai trò ngƣời biện hộ quyền trẻ em đƣợc tiếp cận và thụ hƣởng các  
dịch vụ về tƣ vấn, tham vấn và trị liệu tâm lý.  
Thách thức đặt ra đối với cán bộ, nhân viên tại Trung tâm với tƣ cách ngƣời  
biện hộ phải là những ngƣời am hiểu và có năng lực vận dụng luật pháp, chính sách  
xã hội, các dịch vụ xã hội dành cho trẻ em có hoàn cảnh mồ côi không nơi nƣơng  
tựa, bị bỏ rơi tại Trung tâm bảo trợ xã hội. Với đội ngũ nhân lực của Trung tâm còn  
thiếu và yếu nhƣ hiện nay thì đây là vấn đề không dễ giải quyết trong tƣơng lai gần.  
Điều đó đòi hỏi đội ngũ cán bộ, nhân viên phải không ngừng học hỏi, trao dồi kiến  
thức về luật pháp, chính sách dành cho trẻ em. Bên cạnh đó, kết hợp với các tổ  
chức, cá nhân có năng lực, điều kiện cùng tham gia biện hộ, đảm bảo quyền và lợi  
ích hợp pháp cho các em.  
111  
2.3.4. Vai trò người tổ chức, quản lý  
Tổ chức, quản lý đời sống sinh hoạt tập thể cho các em tại Trung tâm bảo trợ  
xã hội là một công việc hết sức khó khăn đòi hỏi nhân viên xã hội tính kiên trì, bền  
bỉ trong khoảng thời gian dài. Bên cạnh các điều kiện thiếu thốn từ phía Trung tâm  
bảo trợ còn có các yếu tố liên quan đến gia đình và bản thân các em. Thứ nhất, nền  
tảng giáo dục truyền thống gia đình ở các em cũng rất đa dạng. Thứ hai, các em về  
đây sinh sống từ nhiều địa bàn với những thói quen, nếp sống đặc trƣng. Thứ ba,  
hầu hết các em đều mang nặng tâm lý mặc cảm, tự ti, bất cần.  
Đối với cán bộ lãnh đạo, vai trò quản lý, điều phối các hoạt động của Trung  
tâm đƣợc đảm bảo. Các hoạt động nuôi dƣỡng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em diễn ra  
thƣờng xuyên, đều đặn; chƣa từng xảy ra các tình trạng thiếu lƣơng thực, thực  
phẩm, mất điện, mất nƣớc, ngộ độc thực phẩm, cháy nổ nghiêm trọng.  
Tuy vậy, vai trò tổ chức, bố trí nhân sự của cán bộ lãnh đạo còn tồn tại một số  
hạn chế nhất định nhƣ: chƣa đảm bảo số lƣợng cán bộ, nhân viên một cơ sở bảo trợ  
xã hội trẻ em, chƣa có những quy định về tuyển dụng bằng văn bản cụ thể, hình thức  
tuyển dụng chủ yếu thông qua giới thiệu từ những ngƣời thân quen với cán bộ, nhân  
viên trong Trung tâm.  
Đối với nhân viên xã hội, vai trò tổ chức, quản lý thể hiện ở hoạt động tổ  
chức cuộc sống các em hàng ngày theo nội quy, quy chế của Trung tâm. Ở vai  
trò này, nhân viên xã hội tại Trung tâm đã làm khá tốt vai trò của mình. Đời sống  
sinh hoạt, học tập, vui chơi của các em đƣợc tổ chức khá nề nếp, khuôn mẫu.  
Các chế độ sinh hoạt trong ngày đƣợc diễn ra theo những khung thời gian nhất  
định, không xảy ra các hiện tƣợng xáo trộn thời gian sinh hoạt của các em trừ  
những trƣờng hợp đặc biệt nhƣ bão lụt, ốm đau…  
Tóm lại, công tác nhân sự của Trung tâm hiện chƣa đáp ứng đƣợc một số  
tiêu chuẩn theo quy định về một trung tâm bảo trợ xã hội trẻ em. Mặc dù với sự  
nỗ lực, cố gắng và tâm huyết của đội ngũ cán bộ, nhân viên tại đây, Trung tâm  
đã đạt đƣợc những kết quả rất đáng ghi nhận trong công tác bảo vệ trẻ em nhƣng  
với đội ngũ nhân lực nhƣ vậy Trung tâm rất khó ứng phó tốt trƣớc các biến cố  
nhƣ hỏa hoạn, trộm cƣớp, HIV/AIDS… đang diễn biến hết sức phức tạp bên  
ngoài Trung tâm.  
112  
2.3.5. Vai trò người kết nối nguồn lực  
Trong điều kiện các chế độ, chính sách hỗ trợ, ƣu đãi chƣa thể đảm bảo cho  
các em có một cuộc sống chất lƣợng cao, môi trƣờng sống an toàn lành mạnh, các  
cơ hội đƣợc phát triển thì sự hỗ trợ từ phía các cá nhân, tổ chức, cộng đồng là nhân  
tố quan trọng phù hợp với xu hƣớng phát triển và tinh thần nhân văn sâu sắc. Tuy  
vậy, không phải bất cứ nơi nào, thời điểm nào có nhu cầu cần hỗ trợ là có thể tìm  
thấy những nguồn lực tƣơng ứng, nhất là trong bối cảnh lòng tin đang dần mai một  
bởi một số đối tƣợng vụ lợi cá nhân. Do đó, công tác kết nối nhằm huy động các  
nguồn lực hỗ trợ cho trẻ em, Trung tâm bảo trợ xã hội dành cho trẻ em hết sức quan  
trọng và cần thiết.  
Vai trò kết nối còn gọi là vai trò môi giới, vai trò trung gian bắc cầu là một  
trong những vai trò điển hình của nhân viên xã hội tại Trung tâm bảo trợ xã hội trẻ  
em. Vai trò kết nối thể hiện qua các hoạt động tuyên truyền, giới thiệu, vận động,  
tạo điểu kiện để các em có thể tiếp cận đƣợc với các nguồn lực cần thiết, đảm bảo  
sự phát triển toàn diện cho trẻ và Trung tâm bảo trợ xã hội. Ở chiều ngƣợc lại, công  
tác kết nối góp phần cung cấp thông tin thiết yếu cho những tổ chức, cá nhân có  
điều kiện tìm đến đúng đối tƣợng trợ giúp.  
Nhân viên xã hội tại Trung tâm đã thực hiện tốt vai trò kết nối góp phần giúp  
các em tiếp cận các nguồn lực cần thiết. Điều đó thể hiện qua các chỉ báo: Về học  
tập – có các anh chị tình nguyện đến từ đoàn thanh niên dạy phụ đạo cho các em các  
độ tuổi, nhất là những em đang trong giai đoạn thi chuyển cấp học; nhận đƣợc một  
số học bổng từ các doanh nghiệp dành tặng các em có thành tích học tập tốt; nhận  
đƣợc các đồ dùng học tập, sách, truyện vào các dịp khai giảng hoặc ngày Quốc tế  
Thiếu nhi; Về chăm sóc sức khỏe: có các đoàn y bác sĩ đến khám chữa bệnh cho các  
em tại Trung tâm, hƣớng dẫn phòng tránh dịch bệnh vào mùa hè; cấp phát thuốc  
miễn phí; Về vui chơi, giải trí: đƣợc tặng các dụng cụ vui chơi ngoài trời nhƣ cầu  
trƣợt, bập bênh, đu quay; Về cơ sở vật chất – nhận đƣợc sự hỗ trợ sửa mái nhà, làm  
lại sân chơi và chiếu che nắng; Về hỗ trợ việc làm: liên hệ với một số cơ sở dạy  
nghề, các doanh nghiệp để giúp cho các em tốt nghiệp các trƣờng đại học, cao đẳng,  
trung cấp và học nghề...  
113  
Mặc dù công tác kết nối đã mang lại những nguồn lực rất hữu ích đối với các  
em và Trung tâm nhƣng chủ yếu dựa trên mối quan hệ cá nhân của cán bộ lãnh đạo  
và sự quan tâm, tìm đến từ phía cá nhân, tổ chức, cộng đồng. Vai trò kết nối của các  
nhân viên tại Trung tâm chƣa đƣợc thể hiện rõ nét mà chỉ nằm ở các hoạt động tạo  
điều kiện thuận lợi khi các đoàn thể ghé thăm dƣới sự chỉ đạo của cán bộ quản lý.  
Đây là thách thức đối với các nhân viên trong vai trò kết nối.  
3. Khuyến nghị và kết luận  
3.1. Khuyến nghị  
Trên cơ sở lý luận và khảo sát thực tiễn thực trạng hiệu quả hoạt động của  
nhân viên công tác xã hội nhóm chúng tôi xin đƣa ra một số khuyến nghị sau:  
- Cần nghiên cứu, đánh giá một cách đầy đủ, có hệ thống về các cơ sở bảo  
trợ xã hội dành cho trẻ em. Trên cơ sở đó, xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ, ƣu  
đãi một cách linh hoạt đối với mỗi loại hình chăm sóc, bảo vệ trẻ em, trong đó đặc  
biệt chú trọng đến cơ chế tài chính và chính sách thu hút nguồn nhân lực có kiến  
thức, năng lực và tâm huyết với hoạt động bảo vệ trẻ em.  
- Tiếp tục đào tạo, tập huấn nâng cao kiến thức, kỹ năng về bảo vệ trẻ em,  
rèn luyện phẩm chất, đạo đức cho đội ngũ cán bộ, nhân viên làm việc tại cơ sơ bảo  
trợ xã hội để kịp thời đáp ứng yêu cầu nhân sự đối với cơ sở bảo trợ xã hội.  
- Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động bảo vệ trẻ em hƣớng đến bảo vệ trẻ em  
tại cộng đồng.  
- Thiết lập mạng lƣới bảo vệ trẻ em sau khi các em rời khỏi Trung tâm bảo  
trợ, hòa nhập vào xã hôi.  
3.2. Kết luận  
Ngành công tác xã hội ở Việt Nam đang ngày càng phát triển và đang phát  
huy đƣợc những thế mạnh của mình. Để hoạt động công tác xã hội tại Trung tâm  
Bảo trợ xã hội Đồng Tháp đạt đƣợc hiệu quả tốt bên cạnh những kiến thức nghề  
nghiệp chuyên môn, nhân viên công tác xã hội cần phải đặc biệt quan tâm đến nhu  
cầu của từng trẻ em cụ thể và để làm đƣợc điều này nhân viên xã hội cần phải biết  
lắng nghe ý kiến, mong muốn của mỗi nhóm trẻ em. Ngoài ra nhân viên công tác xã  
hội cần phải biết tạo mọi điều kiện thuận lợi để cho các trẻ em phát triển một cách  
114  
toàn diện cả thể chất và tinh thần. Nhân viên công tác xã hội cần nắm rõ các chính  
hỗ trợ cho từng đối tƣợng nói chung và trẻ em nói riêng, các văn bản pháp luật quy  
định quyền lợi của các trẻ em, từ đó có thể chia sẽ thông tin hỗ trợ giúp đỡ cho trẻ  
em giải quyết khó khăn mà các em đang gặp phải. Nhân viên công tác xã hội cần  
biết đƣợc những cơ quan có thể giúp đỡ và hỗ trợ các em từ đó đóng vai trò là cầu  
nối để các em tiếp cận với các nguồn lực một cách dễ dàng hơn. Vì vậy vai trò của  
nhân viên công tác xã hội là hết sức quan trọng nhằm hỗ trợ các vấn đề mà các em  
đã và đang gặp phải, hỗ trợ về thể chất và tinh thần, đem lại tình yêu thƣơng đối với  
các em một cách vô điều kiện, để các em thấy rằng mình chƣa bao giờ thiếu sự yêu  
thƣơng từ tất cả mọi ngƣời.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Nguyễn Thị Kim Dung (2016), Công tác xã hội nhóm đối với trẻ em mồ côi từ  
thực tiễn làng trẻ em BIRLA Hà Nội, Luận văn thạc sĩ, Học viện khoa học xã  
hội Việt Nam.  
[2]. Nguyễn Thị Huỳnh (2014), Nghiên cứu mô hình công tác xã hội tại trung tâm  
nuôi dƣỡng trẻ mồ côi, Luận văn thạc sĩ, Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[3]. Nguyễn Phƣơng Lan (2010), “Nuôi con nuôi thực tế - thực trạng và giải pháp”.  
Tạp chí khoa học, Trƣờng Đại học Luật Hà Nội.  
[4]. Võ Thị Diệu Quế (2014), Công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt  
từ thực tiễn các Trung tâm bảo trợ xã hội trên địa bàn tỉnh Bình Định, Luận văn  
thạc sĩ, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam.  
[5].  
em-mo-coi-tu-thuc-tien-lang-tre-em-birla-ha-noi.htm  
hoi-doi-voi-tre-em-mo-coi-tai-trung-tam-nuoi-duong-tre-em-mo-coi-ha-cau-ha-  
dong-ha-noi.htm  
hoan-canh-dac-biet-tu-thuc-tien-cac-trung-tam-bao-tro-xa-hoi-tren-dia-ban-  
tinh-binh-dinh.htm  
115  
pdf 11 trang baolam 27540 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hiệu quả hoạt động của nhân viên công tác xã hội tại Trung tâm Bảo trợ xã hội tỉnh Đồng Tháp", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhieu_qua_hoat_dong_cua_nhan_vien_cong_tac_xa_hoi_tai_trung_t.pdf