Một số đặc điểm của người Chăm ở Việt Nam hiện nay qua kết quả điều tra thực trạng kinh tế - Xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019

44  
Trần Thị Phương Anh  
Một số đặc điểm của người Chăm ở Việt Nam hiện nay  
qua kết qua điều tra thực trạng kinh tế - xã hội  
của 53 dân tộc thiểu số năm 2019  
Trần Thị Phương Anh  
Viện Nghiên cứu Tôn giáo  
Email liên hệ: [email protected]  
Tóm tắt: Nghiên cứu về người Chăm ở Việt Nam là một trong những chủ đề được quan  
tâm trong nhiều năm qua. Bài viết này, qua phân tích các dữ liệu khảo sát từ hai cuộc điều tra  
quy mô do Tổng cục thống kê thực hiện năm 2019, nhằm cung cấp những thông tin bao quát,  
khách quan và cập nhật về đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của người Chăm ở Việt Nam hiện  
nay. Các thông tin của bài viết chủ yếu tập trung vào một số vấn đề của người Chăm: Nhà ở,  
hôn nhân, học vấn, đời sống kinh tế, lao động- việc làm, chăm sóc sức khỏe và việc giữ gìn  
truyền thống văn hóa và tôn giáo. Các dữ liệu phân tích cho thấy cộng đồng này có sự phát  
triển khá đáng kể so với mặt bằng chung của 53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam trên nhiều chỉ  
báo. Đồng thời, với tỷ lệ theo tôn giáo cao, đây là yếu tố chi phối mạnh mẽ đến đời sống kinh  
tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng này.  
Từ khóa: Người Chăm, kinh tế, xã hội, văn hóa, tôn giáo  
Some characteristics of Cham people in Vietnam demonstrated by survey results of  
socio-economic situation in 53 ethnic minorities in 2019  
Abstract: Cham people in Vietnam have been one of the most interesting topics  
attracting much attention from scholars for many years. This article, based on analyzing  
survey data collected from two large-scale surveys conducted by the General Statistics Office  
in 2019, is aimed at providing comprehensive, objective, and up-to-date information about  
economic, cultural, and social life of Cham people in Vietnam. The data illustrates principal  
issues of the Cham community such as housing, marriage, education, economic life, labor-  
employment, health care, preservation of their cultural traditions and religion. Besides, the  
data indicates that the community has developed significantly compared to other ethnic  
minorities in Vietnam on several indicators. In addition, a large number of people practicing  
their own religion have made a profound impact on their economic, cultural, and social life.  
Key words: Cham people, society, economy, culture, religion  
Ngày nhận bài: 18/06/2020  
Ngày duyệt đăng: 10/07/2021  
1. Đặt vấn đề  
Theo Kết qua toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê,  
tổng dân số của 53 dân tộc thiểu số (DTTS) tại Việt Nam vào khoảng 14,1 triệu người, chiếm  
14,7% tổng dân số cả nước. Sau 10 năm, từ năm 2009 đến năm 2019, quy mô dân số của 53  
DTTS đã tăng gần 1,9 triệu người. Tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm giai đoạn 2009-2019  
45  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
của các DTTS là 1,42%, cao hơn tỷ lệ tăng dân số bình quân của cả nước (1,14%). Khu vực  
Trung du và miền núi phía Bắc có số lượng DTTS cao nhất với khoảng 7 triệu người, chiếm  
49,8% tổng số người DTTS của cả nước; Đứng thứ hai là khu vực Tây Nguyên với khoảng 2,2  
triệu người (chiếm 15,6%); Tiếp đến là khu vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung với hơn  
2 triệu người; Số còn lại tập trung ở khu vực Nam Bộ; Khu vực đồng bằng sông Hồng có số  
lượng DTTS cư trú chiếm tỷ lệ thấp nhất 3,3%, với 468.313 người. Một tộc người có thể sinh  
sống ở nhiều địa bàn khác nhau và hầu như không còn địa bàn (cấp thôn, bản) nào chỉ có  
thuần túy một tộc người. Cuộc điều tra này cho thấy, quy mô dân số của các tộc người không  
đồng đều: Các cộng đồng người Tày, Thái, Mường, Khmer, Nùng và Mông có trên một triệu  
người trong khi nhóm dân tộc Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo, Si La, Cống, Bố Y, Cơ Lao, Mảng, Lô  
Lô, Ngái chỉ có từ vài trăm đến dưới 5.000 người. Nơi cư trú của các DTTS ở Việt Nam chủ yếu  
ở nông thôn với 86,2%. Người Hoa là DTTS sống chủ yếu ở khu vực thành thị (với 69,7%). Chia  
theo giới tính, tỷ lệ nam và nữ các DTTS tương đối cân bằng (50,1% nam và 49,9% nữ) ngoại  
trừ nhóm dân tộc Sán Chay, Thổ, Pu Péo, Sán Dìu, Ngái và Ơ Đu có tỷ lệ nam giới cao hơn so với  
nữ (trên 52%). Về quy mô hộ gia đình, hộ DTTS có từ 3,5 đến 5,3 thành viên, bình quân một hộ  
có 4,1 người. Nhóm DTTS có quy mô hộ nhỏ (dưới 4 thành viên/hộ) bao gồm các dân tộc Brâu,  
Hrê, Rơ Măm, Ngái, Gié Triêng, và Tày. Các DTTS có quy mô hộ lớn (5 thành viên trở lên) bao  
gồm Pà Thẻn, Hà Nhì, La Chí, Mông. Đáng chú ý là nhóm DTTS Tày và Khmer mặc dù có quy  
mô dân số lớn, trên một triệu người nhưng quy mô hộ lại thuộc nhóm thấp nhất, chỉ khoảng  
4 thành viên/hộ. Dân tộc Mông thuộc nhóm dân tộc có quy mô hộ gia đình cao nhất trong tất  
cả các DTTS - trung bình có đến 5,3 thành viên/hộ cùng sinh sống.  
Dân tộc Chăm, với những điểm độc đáo trên nhiều phương diện về đời sống tinh thần  
và vật chất, đã thu hút rất nhiều nghiên cứu. Nghiên cứu về người Chăm được tiếp cận trên  
nhiều phương diện như khảo cổ học, lịch sử, dân tộc học, văn hóa, tôn giáo,… Trong đó, các  
công trình nghiên cứu về lịch sử, khảo cổ học, văn hóa, dân tộc học chiếm tỷ lệ chủ yếu như  
Văn hóa Chăm (Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp, 1991), Lễ hội của người Chăm (Sakaya,  
2003), Những vấn đề văn hóa - xã hội người Chăm ngày nay (Phan Văn Dốp, Phan Quốc Anh,  
Nguyễn Thị Thu, 2007); Gia đình và hôn nhân của người Chăm ở Việt Nam (Bá Trung Phụ, 2001);  
Lễ nghi cuộc đời của người Chăm (Sử Văn Ngọc, 2012)… Ngoài ra, nghiên cứu về người Chăm  
ở Việt Nam còn được tiếp cận theo địa bàn cư trú của dân tộc này như: Người Chăm ở Thuận  
Hai (Phan Xuân Biên, 1989), Nghi lễ vòng đời của người Chăm Ahiêr ở Ninh Thuận (Phan Quốc  
Anh, 2006); Đặc trưng văn hóa người Chăm ở Nam Bộ (Phú Văn Hẳn, 2019), Văn hóa người Chăm  
H’roi tỉnh Phú Yên (Lê Thế Vịnh, 2010),… hay tiếp cận trên phương diện tộc người như Ảnh  
hưởng của các yếu tố tộc người tới phát triển kinh tế - xã hội của dân tộc Chăm ở Ninh Thuận và  
Bình Thuận (Ngô Thị Chính, Tạ Long, 2007). Nghiên cứu về người Chăm ở Việt Nam qua nhiều  
năm đã làm rõ các phương diện về lịch sử, bản sắc văn hóa, tổ chức cộng đồng, sản xuất kinh  
tế, hôn nhân, lao động, việc làm,… Đặc biệt khía cạnh tôn giáo của cộng đồng này là chủ đề  
nhận được nhiều sự quan tâm của nhiều học giả.  
Tuy nhiên, các nghiên cứu này hoặc là chủ yếu sử dụng phương pháp định tính, hoặc có  
sử dụng phương pháp định lượng nhưng giới hạn về mẫu nghiên cứu. Sử dụng bộ dữ liệu từ  
cuộc Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019  
và một số dữ liệu từ cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, bài viết tập trung phân tích  
thực trạng kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng người Chăm ở Việt Nam hiện nay, trên các  
chiều cạnh: Nhà ở, hôn nhân, học vấn, đời sống kinh tế, lao động - việc làm, chăm sóc sức khỏe,  
việc giữ gìn truyền thống văn hóa và tôn giáo.  
46  
Trần Thị Phương Anh  
Theo số liệu từ Tổng cục Thống kê, tính đến thời điểm 01/4/2019, trên địa bàn cả nước  
có 14.119.256 người dân tộc thiểu số, tương ứng với 3.040.956 hộ gia đình. Trong số đó, người  
Chăm có 178.948 người, 46.573 hộ, chiếm tỷ lệ tương ứng là 1,26% tổng số người dân tộc thiểu  
số và hộ gia đình dân tộc thiểu số. Trong cuộc Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế  
- xã hội của 53 dân tộc thiểu số, số người Chăm tham gia khảo sát là 33.936 người, với tỷ lệ giới  
tính tương đối đồng đều là 16.492 nam giới (chiếm 48,6%) và 17.444 nữ giới (chiếm 51,4%).  
2. Một số đặc điểm cơ ban của người Chăm ở Việt Nam  
2.1. Về địa bàn cư trú  
Người Chăm ở Việt Nam cư trú khá tập trung, chủ yếu tại các tỉnh từ duyên hải Nam  
Trung Bộ trở vào phía Nam như Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Bình  
Phước, Đồng Nai, Tây Ninh, An Giang và thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, một số rất nhỏ  
người Chăm có sinh sống ở một số tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh thành khác trong cả nước. Về  
nơi cư trú, như phần lớn các dân tộc thiểu số khác, người Chăm chủ yếu sinh sống khu vực  
nông thôn. Kết quả từ cuộc điều tra cho thấy, có 30.721 người Chăm sinh sống ở khu vực nông  
thôn, chiếm 90,5% tổng dân số Chăm tại Việt Nam; số người Chăm sống ở thành thị là 3.215  
người, chiếm 9,5%.  
Xét theo vùng địa lý, kết quả từ cuộc Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã  
hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019 cho thấy, người Chăm ở Việt Nam chủ yếu cư trú ở khu  
vực Bắc Trung Bộ và Duyên hải Nam Trung Bộ với 25.722 người, chiến 75,8% dân số Chăm cả  
nước; tiếp đến là vùng Đông Nam Bộ với 4.744 người (14,0%) và Đồng bằng sông Cửu Long  
với 3.348 người (9,9%). Còn lại phân bố rải rác ở Tây Nguyên, đồng bằng sông Hồng và Trung  
du và miền núi phía Bắc. Kết quả này tương đồng với dữ liệu có được từ cuộc Tổng điều tra  
Dân số và Nhà ở năm 2019 (Ủy ban Dân tộc, 2020, 135).  
Bang 1. Dân số Chăm chia theo vùng kinh tế - xã hội  
Điều tra TTTT về  
Tổng điều tra Dân sô  
thực trạng KT-XH 53  
Dân sô Chăm chia theo vùng kinh tế  
- xã hội  
và Nhà ở 2019  
DTTS 2019  
Tỷ lệ  
(%)  
0
Tần sô  
Tần sô (người)  
Tỷ lệ (%)  
(người)  
Trung du và miền núi phía Bắc  
Đồng bằng sông Hồng  
Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung  
Tây Nguyên  
12  
-
89  
229  
0
0,1  
-
25.722  
110  
75,8  
0,3  
136.812  
2.211  
76,5  
1,2  
Đông Nam Bộ  
Đồng bằng sông Cửa Long  
Tổng số  
4.744  
3.348  
33.936  
14,0  
9,9  
100,0  
26.437  
13.170  
178.948  
14,8  
7,4  
100,0  
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2020)  
Phân bố theo địa phương, người Chăm ở Việt Nam tập trung đông nhất ở hai tỉnh Ninh  
Thuận (33,6%) và Bình Thuận (21,6%). Hai địa phương này chiếm tới hơn 50% số người Chăm  
ở Việt Nam. Người Chăm ở đây có đời sống kinh tế phát triển tốt hơn so với người Chăm ở các  
địa bàn khác và còn mang đậm dấu ấn văn hóa Chăm truyền thống. Người Chăm ở đây chủ  
yếu theo hai tôn giáo là đạo Bà La Môn và Hồi giáo (trong đó phần lớn là Hồi giáo Bà ni và một  
bộ phận nhỏ là Hồi giáo Islam). Những đặc trưng trong đời sống tôn giáo có sự chi phối mạnh  
47  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
đến các vấn đề về văn hóa, xã hội, kinh tế của người Chăm ở đây và tạo ra nhiều khác biệt so  
với người Chăm Nam Bộ chủ yếu theo Hồi giáo Islam.  
Tiếp đến là người người Chăm ở Phú Yên (chiếm 14,9%) và Bình Định (chiếm 5,7%). Chỉ  
riêng tại hai địa bàn này, tỷ lệ người Chăm chiếm 20,6% tổng số người Chăm trên cả nước.  
Điều kiện phát triển kinh tế của đồng bào Chăm ở đây còn khó khăn và phần lớn duy trì tín  
ngưỡng bản địa, duy trì chế độ mẫu hệ, không theo tôn giáo nào.  
Các tỉnh còn lại có tỷ lệ người Chăm cư trú thấp hơn. Trong đó, người Chăm ở An Giang  
chiếm tỷ lệ cao nhất (9,7%), tiếp đến là một số tỉnh như Đồng Nai (4,6%), Bình Dương (4,4%),  
thành phố Hồ Chí Minh (2,2%) và một số địa phương khác (3,3%). Người Chăm ở đây thích sống  
gần sông nước, chủ yếu làm nghề chài lưới, buôn bán nhỏ,… Một bộ phận sống ở thành phố,  
đời sống kinh tế tốt hơn, họ có cơ hội làm việc trong các khu công nghiệp hay nhận những  
công việc đòi hỏi được đào tạo, có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao hơn. Phần lớn người  
Chăm ở các địa phương này theo Islam giáo nên ứng xử trong môi trường xã hội, tập tục chịu  
sự chi phối mạnh mẽ của giáo luật, nhưng vẫn duy trì được nhiều nét văn hóa truyền thống  
thể hiện trong hình thái cư trú, tổ chức đời sống hay hoạt động kinh tế - xã hội của cộng đồng.  
Hình 1. Tỷ lệ người Chăm phân theo địa phương  
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2020)  
2.2. Về nhà ở  
Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, người Chăm hiện nay chủ yếu ở  
trong các loại nhà bán kiên cố, chiếm tỷ lệ 83,4%, ở nhà kiên cố chiếm 9,8% và nhà tạm chiếm  
tỷ lệ thấp nhất là 6,8%. Bảng 2 cho thấy, so với mặt bằng chung về loại hình nhà ở, tỷ lệ người  
Chăm sống trong nhà kiên cố và bán kiên cố (92,4%) cao hơn hẳn so với mức bình quân các  
DTTS (79,2%). Tuy nhiên, theo dữ liệu từ cuộc điều tra về Thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân  
tộc thiểu số năm 2015, loại hình nhà ở chủ yếu của người Chăm là loại nhà bán kiên cố, người  
Chăm sống ở nhà kiên cố chiếm tỷ lệ còn thấp. Phần lớn người Chăm sống ở nhà của chính  
mình với 91,3%, tỷ lệ này thấp hơn so với mức bình quân các DTTS là 3,7%. Diện tích nhà ở  
bình quân đầu người của người Chăm cũng thấp hơn bình quân các DTTS với 14,9m2/ người  
so với 16,9m2/ người.  
48  
Trần Thị Phương Anh  
Bang 2. Về loại hình nhà ở, tình trạng sở hữu nhà ở và diện tích nhà ở bình quân đầu  
người của 53 DTTS và người Chăm  
Về nhà ở  
Chung 53 DTTS Người Chăm  
Nhà kiên cố và bán kiên cố  
Nhà thiếu kiên cố  
Nhà đơn sơ  
Nhà riêng của hộ  
Nhà thuê mượn của nhà nước/  
tư nhân  
Nhà của tập thể  
Khác  
79,2  
5,4  
15,4  
95,0  
92,4  
1,3  
6,3  
Loại hình nhà ở (%)  
91,3  
4,6  
8,2  
Tình trạng sở hữu nhà  
ở (%)  
0,3  
0,1  
0,0  
0,5  
Diện tích nhà ở bình quân đầu người của hộ (m2/người)  
16,9  
14,9  
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2020)  
2.3. Về hôn nhân – gia đình  
Theo kết quả từ cuộc Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, quy mô hộ gia đình người  
Chăm là 4 người/ hộ gia đình. Tìm hiểu về tình trạng hôn nhân của người Chăm cho thấy, tỷ lệ  
đã kết hôn chiếm 58,8%, tỷ lệ chưa kết hôn là 33,2%, góa vợ hoặc chồng (5,9%), ly hôn (1,8%)  
và ly thân (0,3%). Các tỷ lệ này không có nhiều khác biệt so với tình trạng hôn nhân của 53  
DTTS. Tuy nhiên, số liệu điều tra cho thấy tỷ lệ kết hôn cận huyết của cộng đồng này khá cao  
so với mức bình quân các dân tộc thiểu số khác (1,4% so với 0,7%). Các số liệu điều tra 53 DTTS  
năm 2015 cũng cho thấy, tỷ lệ kết hôn cận huyết ở người Chăm cao hơn bình quân các DTTS.  
Theo phong tục, người Chăm cho phép kết hôn con chú, con dì. Đây là yếu tố góp phần khiến  
cho tỷ lệ kết hôn cận huyết ở dân tộc này còn cao. Trong khi đó, tỷ lệ tảo hôn của người Chăm  
(22,0%) lại thấp hơn so với tỷ lệ tảo hôn của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam (28,0%). Theo các  
nghiên cứu đã có về tình trạng tảo hôn thì giáo dục đóng vai trò quan trọng tác động đến tỷ  
lệ kết hôn trẻ em (tảo hôn). Những trẻ em gái không được đến trường có nguy cơ tảo hôn cao  
hơn gấp bảy lần so với các em gái tốt nghiệp trung học phổ thông và những em được sinh  
ra trong gia đình cha mẹ có trình độ học vấn cao hơn thường có nguy cơ tảo hôn thấp hơn  
(UNICEF, 2018: 5). Số liệu từ cuộc điều tra này cũng cho thấy, trình độ giáo dục của nữ dân tộc  
Chăm cao hơn so với nữ 53 DTTS ở trình độ từ trung cấp trở lên (xem bảng 4).  
Bang 3. Hôn nhân của người Chăm và 53 DTTS (%)  
Hôn nhân  
Chưa kết hôn  
Đã kết hôn  
Góa  
Chung 53 DTTS  
Người Chăm  
30,0  
62,7  
5,9  
33,2  
58,8  
5,9  
Tình trạng  
hôn nhân  
Ly hôn  
1,1  
1,8  
Ly thân  
0,3  
0,3  
Tình trạng kết hôn cận huyết  
Tuổi kết hôn trung bình lần đầu  
Tỷ lệ tảo hôn  
0,7  
20,7  
28,0  
1,4  
21,5  
22,0  
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2020)  
49  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
2.4. Về học vấn  
Phần lớn người Chăm có trình độ giáo dục phổ thông, trong đó trình độ tiểu học chiếm  
tỷ lệ cao nhất với 28,7%. Nhóm dân số có trình độ từ trung học phổ thông trở lên chiếm 20%.  
Bảng 4 cho thấy, không có khác biệt đáng kể về tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết  
giữa cộng đồng Chăm và cộng đồng 53 DTTS ở Việt Nam. Tuy nhiên, so sánh về giới cho thấy  
nam giới chiếm ưu thế hơn ở các mức học vấn cao hơn cũng như khả năng biết đọc, biết viết  
chữ phổ thông. Điều này được lý rằng, nam giới có nhiều lợi thế để tiếp cận và nâng cao trình  
độ học vấn của mình hơn so với nữ giới. Đáng chú ý là điều này vẫn đúng đối với những cộng  
đồng còn chịu ảnh hưởng của tư tưởng mẫu hệ như người Chăm.  
Bang 4. Người DTTS từ 15 tuổi trở lên theo trình độ giáo dục cao nhất đạt được và  
Người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông (%)  
Chung 53 DTTS  
Chung Nam Nữ  
Người Chăm  
Chung Nam  
Học vấn  
Nữ  
Dưới tiểu học  
Tiểu học  
Trung học cơ sở  
25,6  
26,1  
28,1  
20,4  
27,4  
30,5  
30,8  
24,8  
25,5  
28,4  
28,7  
22,0  
23,9  
30,7  
23,8  
32,7  
26,8  
20,4  
Người DTTS  
từ 15 tuổi  
trở lên theo  
trình độ  
Trung học phổ thông  
12,1  
10,2  
9,9  
10,3  
9,6  
11,1  
1,6  
2,5  
1,7  
3,3  
Sơ cấp  
2,0  
2,8  
1,4  
3,3  
1,3  
2,3  
1,9  
3,3  
1,2  
2,7  
2,9  
4,2  
1,3  
2,6  
2,5  
4,9  
1,0  
2,7  
3,2  
3,6  
giáo dục  
Trung cấp  
Cao đẳng  
Đại học trở lên  
cao nhất  
đạt được  
Người từ 15 tuổi trở lên biết đọc,  
biết viết chữ phổ thông  
80,9  
86,7  
75,1  
80,8  
86,7  
75,4  
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2020)  
2.5. Về lao động - việc làm  
Hình 2 cho thấy, tỷ lệ người lao động có trình độ ở người Chăm cao hơn so với bình quân  
các DTTS. Theo đó, tỷ lệ người có việc làm từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo của người Chăm là  
14,8% cao hơn 4,5% so với bình quân của các DTTS. Ở các trình độ từ cao đẳng, đại học trở lên,  
tỷ lệ này ở người Chăm cao hơn hẳn so với mức bình quân các DTTS. Cụ thể, tỷ lệ được đào tạo  
sơ cấp nghề là 3,6% ở người Chăm và 2,8% ở 53 DTTS; 3,3% được đào tạo trung cấp nghề ở  
người Chăm so với 2,8% ở 53 DTTS; 3% người lao động Chăm có trình độ cao đẳng so với 1,7%  
ở 53 DTTS và 4,9% người lao động Chăm có trình độ đại học so với 3% ở 53 DTTS.  
Xét theo lĩnh vực nghề nghiệp, mặc dù chủ yếu người Chăm vẫn làm việc trong lĩnh vực  
lao động giản đơn nhưng so với 53 DTTS thì tỷ lệ này ở người lao động Chăm thấp hơn hẳn  
(50% ở người Chăm so với 69,6% ở bình quân 53 DTTS). Xét theo khu vực kinh tế, ngành nông,  
lâm nghiệp và thủy sản vẫn là lĩnh vực chủ yếu của người lao động Chăm, chiếm 49,7% tổng số  
lao động. Lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và lĩnh vực dịch vụ chiếm tỷ lệ tương đương nhau,  
25,8% và 24,5%. Tuy nhiên, đặt trong tương quan so sánh với các DTTS thì tỷ lệ lao động người  
Chăm trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản thấp hơn hẳn so với tỷ lệ này ở bình quân  
53 DTTS (tương ứng là 49,7% so với 73,3%). Trong khi đó, tỷ lệ lao động Chăm ở hai lĩnh vực  
còn lại cao hơn hẳn so với mức bình quân của 53 DTTS. Trên thực tế, người Chăm tỏ ra thích  
ứng khá tốt với nền kinh tế thị trường (Võ Thị Mỹ, 2012) và có xu hướng năng động trong quá  
50  
Trần Thị Phương Anh  
trình tìm kiếm cơ hội cải thiện kinh tế hộ gia đình thông qua các công việc phi nông nghiệp  
như buôn bán, kinh doanh, cũng như tìm kiếm các cơ hội làm việc ở ngoài cộng đồng mình.  
Hình 2. Tỷ lệ lao động có việc làm từ 15 tuổi trở lên theo trình độ chuyên môn của 53  
DTTS và người Chăm (%)  
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2020)  
Kết quả điều tra cũng cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp ở nam giới Chăm thấp hơn hẳn so với  
nữ giới (2,98% so với 4,73%), trong khi tỷ lệ này ở 53 DTTS không có sự khác biệt đáng kể giữa  
2 giới (1,38% nam giới thất nghiệp so với 1,43% nữ giới thất nghiệp). Nói cách khác, nam giới  
có ưu thế hơn nữ giới trong tiếp cận việc làm ở cộng đồng người Chăm, mặc đây là tộc người  
theo truyền thống mẫu hệ.  
Bang 5. Thực trạng lao động – việc làm của 53 DTTS và dân tộc Chăm (%)  
Chung 53  
DTTS  
0,5  
Người  
Chăm  
0,2  
Thực trạng lao động – việc làm  
Nhà Lãnh đạo  
Chuyên môn kỹ thuật bậc cao  
Chuyên môn kỹ thuật bậc trung  
2,0  
4,2  
1,3  
3,3  
0,9  
Tỷ lệ lao động có việc  
Nhân viên  
0,5  
làm của người dân tộc  
thiểu số từ 15 tuổi trở  
lên theo nghề nghiệp  
Dịch vụ cá nhân, bảo vệ và bán hàng  
Nghề trong nông, lâm, ngư nghiệp  
Thợ thủ công và các thợ khác có liên quan  
Thợ lắp ráp và vận hành máy móc thiết bị  
Nghề giản đơn  
5,3  
10,8  
12,7  
8,8  
9,9  
6,6  
5,3  
9,2  
69,6  
73,3  
14,8  
50,0  
49,7  
25,8  
Nông, lâm nghiệp và thủy sản  
Công nghiệp và xây dựng  
Tỷ lệ người dân tộc  
thiểu số từ 15 tuổi trở  
lên có việc làm theo  
khu vực kinh tế  
Dịch vụ  
11,9  
1,4  
24,5  
3,79  
Tỷ lệ thất nghiệp của người dân tộc thiểu số từ 15 tuổi trở lên  
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2020)  
51  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
Chăn nuôi gia súc, gia cầm là đặc trưng sinh kế quan trọng của cộng đồng người Chăm.  
Kết quả điều tra ở bảng 6 cho thấy, người Chăm chỉ tập trung chủ yếu vào chăn nuôi bò, dê  
và cừu. Lợn, trâu là loài gia súc phổ biến nhưng ít được nuôi ở đồng bào người Chăm. Người  
Chăm ở Ninh Thuận có tỷ lệ chăn nuôi gia súc cao nhất (chiếm 47,3% số hộ người Chăm có  
chăn nuôi gia súc trên cả nước), tiếp đến là người Chăm ở Phú Yên (chiếm 19,4%) và người  
Chăm ở Bình Thuận (14,6%). Do đặc điểm về tự nhiên, khí hậu, thổ nhưỡng của địa bàn cư trú  
phù hợp với chăn nuôi cừu, dê, bò nên tỷ lệ nuôi những loại gia súc này ở đồng bào người  
Chăm cao hơn hẳn so với những DTTS khác. Ngoài ra, người Chăm theo đạo Bà la môn kiêng  
không ăn thịt bò (nhưng vẫn dùng sản phẩm từ sữa bò), nên việc nuôi bò, dê và cừu là nhằm  
phục vụ nhu cầu của cộng đồng.  
Đặc biệt, hình thức nuôi, nhốt gia súc, gia cầm dưới gầm nhà của người Chăm chiếm tỉ  
lệ nhỏ (16,5%) và thấp hơn hẳn so với các DTTS nói chung (24,1%). Điều này phản ánh thực  
tế rằng, tỷ lệ hộ gia đình người Chăm hiện nay sinh sống trong nhà sàn còn rất ít (bảng 9),  
chủ yếu ở vùng người Chăm An Giang, song nghề nghiệp chính của người Chăm ở đây vẫn là  
buôn bán, chài lưới nên tỷ lệ người Chăm còn nuôi nhốt gia súc, gia cầm dưới gầm nhà thấp  
hơn hẳn.  
Bang 6. Số lượng gia súc bình quân chia theo hộ gia đình;  
việc nuôi nhốt gia súc dưới gầm nhà  
Nội dung  
Trâu  
Bò  
bình quân một hộ Dê  
Chung 53 DTTS Người Chăm  
0.4  
0.5  
0.05  
0.8  
Số lượng gia súc  
0.2  
0.3  
(con/ hộ)  
Cừu  
Lợn  
0.01  
0.9  
0.4  
0.2  
Tỷ lệ hộ có nuôi, nhốt gia súc, gia cầm dưới gầm nhà (%)  
24,1  
16,5  
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2020)  
2.6. Về sưc khỏe  
Bảng 7 cho thấy, tuổi thọ bình quân của người Chăm vào khoảng 72,1 tuổi, cao hơn so  
với mức bình quân của các DTTS (70,7 tuổi). Trong đó, phụ nữ Chăm có tuổi thọ cao hơn hẳn so  
với nam giới. Tỷ suất chết thô ở người Chăm vào khoảng 6,15 người chết/ 1.000 dân, thấp hơn  
mức 7,65 người chết/ 1.000 dân ở các DTTS. Đồng thời, tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi ở  
người Chăm cũng thấp hơn hẳn so với mức bình quân 53 DTTS (tương ứng là 18,13 và 22,13).  
Bang 7. Tuổi thọ bình quân, tỷ suất chết thô và tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi  
Người Chăm  
Chung Nam  
Vấn đề sức khỏe  
Tuổi thọ bình quân  
Chung 53 DTTS  
Nữ  
74,9  
-
70,7  
7,65  
72,1  
6,14  
69,4  
-
Tỷ suất chết thô (người chết/1000 dân)  
Tỷ suất chết của trẻ em dưới 1 tuổi (người  
chết/1000 trẻ)  
22,13  
18,13  
20,43 15,72  
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2020)  
52  
Trần Thị Phương Anh  
Bảng 8 cho thấy, tỷ suất sinh thô của người Chăm là 21,28 trẻ sinh sống/ 1.000 dân, cao  
hơn đáng kể so với tỷ suất sinh của chung 53 DTTS (18,05 trẻ sinh sống/ 1.000 dân). Cùng với  
đó, tỷ lệ phụ nữ Chăm đến cơ sở y tế để sinh đẻ cũng cao hơn hẳn so với chị em phụ nữ ở các  
dân tộc thiểu số khác (98,6% so với 86,4%). Ngoài ra, tổng tỷ suất sinh (TFR) ở người Chăm cao  
hơn hẳn so với các DTTS. Đáng lưu ý, tình trạng sử dụng biện pháp tránh thai của người Chăm  
chỉ đạt 66,7% số phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ, thấp hơn mức bình quân chung của các DTTS.  
Bang  .  ớc lượng Tổng tỷ suất sinh (TFR) và Tỷ suất sinh thô (CBR)  
tính cho phụ nữ các dân tộc thiểu số từ 15 – 49 tuổi  
Vấn đề sức khỏe  
CBR (Trẻ sinh sống/ 1000 dân)  
TFR (Số con/ phụ nữ)  
Tình trạng có sử dụng biện pháp tránh thai (%)  
Cơ sở y tế  
Chung 53 DTTS Người Chăm  
18,05  
2,35  
68,9  
86,4  
3,9  
21,28  
2,53  
66,7  
98,6  
0,3  
Tại nhà mình, có cán bộ chuyên môn đỡ  
Tình trạng  
đến cơ sở y tế  
sinh đẻ (%)  
Tại nhà mình, không có cán bộ chuyên  
môn đỡ  
Khác  
9,5  
0,2  
0,8  
0,4  
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2020)  
2.7. Về giữ gìn truyền thông văn hóa Chăm  
Bảng 9 cho thấy, tỷ lệ người Chăm nói riêng và người DTTS ở Việt Nam nói chung hiện  
nay còn giữ gìn tiếng dân tộc của mình chiếm tỷ lệ khá cao (97,2% ở người Chăm so với 90,2%  
ở người DTTS nói chung). Tuy nhiên, tỷ lệ người DTTS nói được tiếng nói của dân tộc mình  
đang có xu hướng giảm dần khi so sánh dữ liệu từ cuộc Điều tra thực trạng kinh tế - xã hội của  
53 DTTS năm 2015. Đồng thời, tỷ lệ biết đọc, biết viết chữ của dân tộc mình cũng chiếm tỷ lệ  
nhỏ với 18,7% ở người Chăm và 15,9% ở người DTTS nói chung. Ngoài ra, tỷ lệ người Chăm  
biết bài hát, điệu múa truyền thống của dân tộc mình chiếm tỷ lệ cao hơn hẳn so với các DTTS  
khác. Điều này cho thấy, người Chăm rất quan tâm đến giữ gìn văn hóa truyền thống của tộc  
người mình (Bùi Minh Đạo, 2012).  
Tuy nhiên, số hộ người Chăm còn sinh sống trong nhà ở truyền thống của dân tộc chiếm  
tỷ lệ nhỏ và thấp hơn nhiều so với hộ gia đình thuộc các DTTS khác (7,3% so với 26,2%). Thực  
tế cho thấy, người Chăm Ninh Thuận, Bình Thuận hầu hết không còn sinh sống ở nhà sàn thấp  
truyền thống; tương tự người Chăm Nam Bộ không còn sinh sống ở nhà sàn cao truyền thống;  
có những nơi không còn nhà sàn nào, dấu tích nhà sàn còn lại chỉ là những cột to được tái sử  
dụng trong những căn nhà gạch mái tôn (Nguyễn Việt Cường, 2012).  
Bang 9. Việc giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc (%)  
Về việc giữ gìn truyền thống văn hóa dân tộc  
Có nói được tiếng dân tộc  
Người DTTS từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ dân tộc mình  
Biết sử dụng nhạc cụ truyền thống của dân tộc  
Biết hát bài hát truyền thống của dân tộc  
Chung 53 DTTS Người Chăm  
90,2  
15,9  
5,2  
97,2  
18,7  
4,9  
12,8  
23,6  
53  
Tạp chí Khoa học xã hội miền Trung, Số 04 (72) - 2021  
Biết múa điệu múa truyền thống của dân tộc  
12,4  
26,2  
70,4  
3,3  
24,8  
7,3  
92,0  
0,2  
Hộ có nhà  
ở truyền  
thống của  
dân tộc  
Nhà truyền thống của dân tộc  
Không phải nhà truyền thống của dân tộc  
Dân tộc không có nhà truyền thống  
Khác  
0,1  
0,5  
mình  
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2020)  
2.8. Về tôn giáo của người Chăm  
Bảng 10 cho thấy, người Chăm là dân tộc có tỷ lệ theo tôn giáo rất cao, gấp 4,5 lần so với  
bình quân các dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Người Chăm ở Việt Nam chủ yếu theo Hồi giáo(1)  
và đạo Bà La Môn (chiếm tới 98,4% số người Chăm có tôn giáo). Hai tôn giáo này có sự ảnh  
hưởng, chi phối đến mọi mặt trong đời sống của cộng đồng này, tạo nên cộng đồng dân tộc  
– tôn giáo gắn bó hết sức chặt chẽ. Đây cũng là dân tộc có tỷ lệ người theo Hồi giáo và đạo Bà  
La Môn cao nhất với 57,5% số người Chăm có tôn giáo theo Hồi giáo và 40,9% theo đạo Bà La  
Môn so với 4,2% và 3% số người DTTS có tôn giáo theo hai tôn giáo này. Ngoài ra, người Chăm  
còn theo Phật giáo, Công giáo, đạo Tin Lành và đạo Bah’ai song với tỷ lệ rất nhỏ.  
Bang 10. Tình trạng tôn giáo của các dân tộc thiểu số và người Chăm (%)  
Tình trạng tôn giáo  
Tỷ lệ người theo tôn giáo  
Phật giáo  
Chung 53 DTTS  
Người Chăm  
17,0  
28,2  
23,6  
40,3  
0,2  
-
76,4  
0,2  
0,5  
0,4  
-
Công giáo  
Tin Lành  
Cao Đài  
Phật giáo Hòa Hảo  
Hồi giáo  
-
4,2  
-
57,5  
0,6  
Bah’ai  
Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam  
Phật hội Việt Nam  
-
-
Tứ ân hiếu nghĩa  
Bà La Môn  
-
0
40,9  
0
3,0  
0,4  
Cơ đốc Phục lâm  
(Nguồn: Tổng cục Thống kê, 2020)  
3. Kết luận  
Sử dụng bộ dữ liệu từ cuộc Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của  
53 dân tộc thiểu số năm 2019 và một số dữ liệu từ cuộc Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm  
2019, bài viết tập trung phân tích thực trạng đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của cộng đồng  
người Chăm ở Việt Nam hiện nay, trên các chiều cạnh: Nhà ở, hôn nhân, học vấn, đời sống kinh  
tế, lao động - việc làm, chăm sóc sức khỏe, việc giữ gìn truyền thống văn hóa và tôn giáo. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy, tộc người Chăm có sự phát triển khá đáng kể về đời sống kinh tế,  
văn hóa, xã hội và y tế so với mặt bằng chung của 53 DTTS ở Việt Nam. Đặc biệt, người Chăm  
54  
Trần Thị Phương Anh  
có tỷ lệ theo tôn giáo khá cao. Theo đó, yếu tố tôn giáo hiện diện và chi phối rất lớn đến đời  
sống tinh thần và vật chất của cộng đồng, gắn bó chặt chẽ với quá trình hình thành và phát  
triển truyền thống văn hóa của tộc người.  
Chú thích:  
(1) Theo Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân tộc thiểu số  
năm 2019, khái niệm “Hồi giáo” được dùng để chỉ chung cho cả hai tôn giáo là đạo Bàni và  
Islam giáo.  
Tài liệu tham khao  
Phan Quốc Anh. (2004). Tôn giáo của người Chăm ở Ninh Thuận. Tạp chí Văn hóa nghệ  
thuật, số 8.  
Phan Quốc Anh. (2017). Giáo trình Văn hóa Chăm. Đại học Văn hóaThành phố Hồ Chí Minh.  
Phan Xuân Biên, Phan An, Phan Văn Dốp. (1991). Văn hóa Chăm. Nxb Khoa học xã hội.  
Hà Nội.  
Nguyễn Việt Cường. (2012). “Góp phần tìm hiểu văn hóa vật chất của người Chăm Tây  
Ninh”. In trong Một số vấn đề về dân tộc và tôn giáo ở Nam Bộ trong phát triển. Nxb Khoa học xã  
hội. Hà Nội.  
Phan Văn Dốp, Phan Quốc Anh, Nguyễn Thị Thu. (2007). Văn hóa phi vật thể của người  
Chăm Ninh Thuận. Nxb Nông nghiệp. Hà Nội.  
Bùi Minh Đạo. (2012). Thực trạng phát triển các dân tộc Trung Bộ và một số vấn đề đặt ra.  
NXB Từ điển Bách khoa.  
Vũ Ngọc Hà. (2016). Nhu cầu tinh thần của thanh niên các dân tộc thiểu số vùng Tây Nam  
Bộ - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Nxb Khoa học xã hội.  
Phú Văn Hẳn. (2004).“Islam giáo và các nghi lễ tập quán của người Chăm ở Nam Bộ”. Tạp  
chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 6.  
Phú Văn Hẳn (2019). Đặc trưng văn hóa người Chăm ở Nam Bộ. NXB Khoa học xã hội.  
Tạ Long (2008). “Tương đồng và biệt lập giữa các cộng đồng tôn giáo ở người Chăm  
thuộc hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận”. Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo. Số 5.  
Võ Thị Mỹ (2012). “Tổ chức cư trú và nghề nghiệp trong phát triển hiện nay của người  
Chăm ở Nam Bộ”. In trong Một số vấn đề về dân tộc và tôn giáo ở Nam Bộ trong phát triển. NXB  
Khoa học xã hội.  
Tổng cục Thống kê. (2020). Kết qua toàn bộ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, NXB  
Thống kê.  
UNICEF Việt Nam, UNFPA Việt Nam. (2018). Chấm dứt kết hôn trẻ em, trao quyền cho trẻ  
em gái - Hiểu rõ thực trạng kết hôn trẻ em tại Việt Nam. Lưu hành nội bộ.  
Ủy ban Dân tộc, Irish Aid, UNDP. (2017). Tổng quan thực trạng kinh tế - xã hội của 53 dân  
tộc thiểu số. Lưu hành nội bộ.  
Tổng cục Thống kê. (2020). Kết qua Điều tra thu thập thông tin về thực trạng kinh tế - xã hội  
của 53 dân tộc thiểu số năm 2019. Nxb Thống kê.  
pdf 11 trang baolam 30160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số đặc điểm của người Chăm ở Việt Nam hiện nay qua kết quả điều tra thực trạng kinh tế - Xã hội của 53 dân tộc thiểu số năm 2019", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_dac_diem_cua_nguoi_cham_o_viet_nam_hien_nay_qua_ket_q.pdf