Nghiên cứu xói ngầm, cát chảy nền đê sông Hồng bằng phương pháp thí nghiệm hiện trường

NGHI N C U X I NGẦ   CÁT CH Y NỀN Đ  SÔNG H NG  
BẰNG PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆ  HIỆN TRƯỜNG  
BÙI VĂN TRƢỜNG*  
Study on the suffusion and quicksand in red river dyke foundation by in-situ  
testing method  
Abstract: The suffusion and quicksand are the typical permeable  
deformation forms occured on “discharge oppening” areas where  
underground seepage flows infiltrate through with the permeable pressure  
gradient overs limited permeable pressure gradient of soil. In order to  
forcasting the danger of permeable deformation for soils under dyke  
foundation, it needs to exactly determine the limited permeable pressure  
gradient caused suffusion (Ix ) and caused quicksand (Ic ).  
gh  
gh  
The paper presents results for determining the permeable deformation  
characteristics (Ixgh & Icgh) of the fine - silt sand layers belonging to Thai Binh  
and Hai Hung fomations under Red river dyke foundation by in-situ test.  
Keywords: Dyke ground foundation, suffusion, quicksand or running  
sand, in-situ test.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ *  
dòng thấm vƣợt quá gradien giới hạn của cát  
Trong xây dựng các công trình thu  lợi, thu  trong TCN thì tầng cát bị BDT, theo dòng thấm  
điện và các công trình ngầm,..., xói ngầm, cát trào lên mặt đất làm rỗng nền, dẫn đến sập đổ  
chảy là những quá trình địa chất động lực hết tầng phủ, nếu không phát hiện xử lý kịp thời sẽ  
sức nguy hiểm, xảy ra rất phổ biến. Nó có thể là dẫn đến vỡ đê. Để làm sáng tỏ quá trình BDT và  
nguyên nhân trực tiếp hoặc là tiền đề dẫn đến sự dự báo nguy cơ phát sinh BDT ở nền đê, cần  
cố các công trình đê. Khả năng phát sinh, phát nghiên cứu quá trình phát triển xói ngầm, cát  
triển những quá trình này phụ thuộc chủ yếu vào chảy, xác định gradien áp lực thấm (ALT) giới  
điều kiện thu  động lực của dòng thấm và tính hạn gây BDT ở tầng cát.  
chất của đất, đặc biệt là thành phần hạt và cấu  
trúc của đất.  
Hiện nay có nhiều phƣơng pháp (PP) xác  
định gradien ALT giới hạn gây xói ngầm, cát  
Quan sát thực tế biến dạng thấm (BDT) xảy chảy nhƣ tính toán lý thuyết, thí nghiệm trong  
ra ở nền đê cho thấy, dƣới áp lực của cột nƣớc phòng,... Tuy nhiên, PP tính toán lý thuyết còn  
trong tầng cát (tầng chứa nƣớc -TCN) nằm dƣới có những hạn chế vì chƣa xét tới một loạt yếu tố  
do mực nƣớc sông dâng cao trong mùa lũ, tầng thuộc về bản chất của đất nhƣ thành phần, tính  
phủ bị phá vỡ tại những điểm yếu (khuyết tật) chất, trạng thái của đất,... PP thí nghiệm trong  
tạo ―cửa thoát‖, từ đó nƣớc trào lên dƣới dạng phòng có ƣu điểm là khá đơn giản, dễ thực hiện  
mạch đùn (grifon), bãi đùn. Sau khi đã hình và ít tốn kém nhƣng có những hạn chế về kích  
thành mạch đùn, dòng thấm đi lên, nếu gradien thƣớc và tính nguyên trạng của mẫu thí nghiệm.  
Do đó gradien ALT giới hạn xác định đƣợc là  
* Trường Đại học Thủy lợi  
175 Tây Sơn - Đ ng Đa - Hà Nội  
DĐ: 0912135769  
không hoàn toàn tin cậy. Để khắc phục những  
nhƣợc điểm nêu trên, tác giả sử dụng PP thí  
nghiệm hiện trƣờng để xác định các đặc trƣng  
Email: buitruongtb@gmail.com  
ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 1-2016  
15  
BDT của cát ở vùng cửa thoát của đất nền đê.  
Thí nghiệm xói ngầm, cát chảy (BDT của cát  
Mục đích của thí nghiệm là xác định cơ chế , ở vùng cửa thoát) tại hiện trƣờng đƣợc tiến hành  
hình thức BDT và Ix và Icgh của cát ở nền đê  
bằng phƣơng pháp ép nƣớc vào giếng khoan qua  
gh  
và trong điều kiện tự nhiên.  
ống lọc, sơ đồ thí nghiệm đƣợc trình bày cụ thể  
ở hình 1, việc bố trí, lắp đặt hệ thống thiết bị  
đƣợc minh họa ở ảnh 01.  
2. THÍ NGHIỆM XÓI NGẦM, CÁT  
CHẢY TẠI HIỆN TRƢỜNG  
2.1. Mô hình thí nghiệm  
H2  
H3  
Hình 01. Sơ đồ mô hình thí nghiệm xói ngầm, cát chảy ở nền đê  
Ảnh 01. Thí nghiệm xói ngầm, cát chảy bằng phương pháp ép nước vào giếng khoan  
Trong đó, Máy bơm 1 có nhiệm vụ ép nƣớc 1.0m và 1.50m ngay dƣới đáy hố đào để quan  
vào giếng khoan để gia tăng áp lực thấm trong trắc biến đổi cột nƣớc áp lực ở vùng cửa thoát;  
tầng cát; Hố đào HĐ có kích thƣớc 0.5x0.7m Thùng, phao (9) và máy bơm (10) có nhiệm vụ  
đƣợc đào sâu bóc bỏ hoàn toàn tầng phủ; Các định hƣớng, chứa nƣớc và bơm nƣớc thoát ra từ  
ống đo áp H1, H2 & H3 lắp đặt ở độ sâu 0.5m, cửa thoát khi thí nghiệm.  
16  
ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 1-2016  
Đất nền đê tại các khu vực thí nghiệm gồm  
1.2. Quy trình thí nghiệm  
Cột nƣớc áp lực Ho trong giếng đƣợc tăng cát hạt bụi, cát hạt nhỏ của hệ tầng Thái Bình  
theo từng cấp 0.2, 0.4, 0,6m ..., cho đến khi (lớp 12&14) và hệ tầng Hải Hƣng (lớp 23&24).  
BDT trong cát phát triển mạnh, môi trƣờng Đặc trƣng cơ lý của các lớp đất nền đê đƣợc  
thấm bị phá hoại hoàn toàn. Mỗi cấp áp lực tiến trình bày ở bảng 2.  
hành quan trắc biến đổi cột nƣớc áp lực trong  
các ống đo áp H1, H2 & H3; quan trắc quá trình  
phát triển BDT và đo lƣu lƣợng (Q) thoát ra ở  
vùng cửa thoát.  
3. VỊ TRÍ THÍ NGHIỆM VÀ CÁC LOẠI  
ĐẤT THÍ NGHIỆM  
Thí nghiệm xói ngầm, cát chảy đƣợc lựa chọn  
tại 4 vị trí thuộc hệ thống đê sông Hồng (bảng 1).  
Đây là những nơi có tính đại diện về thành phần,  
tính chất của tầng đất cát ở nền đê và thuận lợi  
cho việc thực hiện thí nghiệm. Tại mỗi vị trí có  
mặt một loại cát thí nghiệm (bảng 2).  
Bảng 1. Các khu thí nghiệm  
Lớp đất  
Số  
TT  
Tuyến đê  
Vị trí  
thí nghiệm  
1
2
3
4
Tả Trà Lý  
Hữu Trà Lý  
Hữu Luộc  
Hữu Luộc  
K6.7  
K30.5  
K8.9  
12  
14  
23  
24  
K20.5  
Bảng 2. Đặc trƣng cơ lý các lớp cát nền đê tại vị trí thí nghiệm  
Trong đó:  
4. KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM  
Kết quả thí nghiệm đƣợc trình bày cụ thể  
trong bảng 3 & bảng 4.  
H1 - Mực nƣớc đo áp tại ống đo áp H1;  
H3 - Mực nƣớc đo áp tại ống đo áp H3;  
L- Chiều dài đƣờng thấm, khoảng cách từ  
đáy ống đo áp H1 đến đáy ống đo áp H3.  
Gradien áp lực thấm của cát ở vùng cửa thoát  
(I r) xác định theo công thức:  
H1 H3  
Ir   
L
ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 1-2016  
17  
3
Bảng 3. Kết quả thí nghiệm các lớp cát của hệ tầng Thái Bình(Q2 tb)  
Bảng 4. Kết quả thí nghiệm các lớp cát của hệ tầng Hải Hƣng (Q21-2hh)  
18  
ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 1-2016  
5. PH N TÍCH KẾT QUẢ THÍ NGHIỆM  
Từ kết quả thí nghiệm cho thấy, ở giai đoạn  
đầu khi áp lực thấm (ALT) trong tầng cát còn  
nhỏ, nƣớc từ tầng cát thoát ra trong, không  
mang theo các hạt bụi, sét. Ở giai đoạn tiếp  
theo, khi ALT trong tầng cát tăng lên đến một  
giá trị nhất định, nƣớc thoát ra mang theo các  
hạt sét, có màu nâu nhạt. Tiếp tục tăng ALT,  
nƣớc thoát ra đục hơn và chuyển dần từ màu  
nâu nhạt sang màu nâu sẫm, mang theo các hạt  
sét, hạt bụi và vẩn hữu cơ nhƣng với hàm lƣợng  
không nhiều (bảng 3 & 4). Điều đó chứng tỏ  
trong cát có phát triển xói ngầm nhƣng mức độ  
yếu. Khi gradien ALT tăng lên tới 0,81,0 thì kể  
cả cát hạt nhỏ và cát hạt bụi trong tầng cát thuộc  
hệ tầng Hải Hƣng (qh1) và Thái Bình (qh2) đều  
xuất hiện đùn cát. Ban đầu các hạt cát ở bề mặt  
bị nơi lỏng, bị đẩy lên, chìm xuống lơ lửng ở  
trong nƣớc. Khi ALT tăng, các hạt cát càng bị  
tung cao lên dần. Đến một giới hạn nhất định,  
lƣợng nƣớc thoát ra nhiều, các hạt cát, bụi, sét,  
mùn hữu cơ và vảy mica đều bị dòng thấm đẩy  
ra khỏi bề mặt. Khi mới xuất hiện mạch đùn,  
lƣợng cát đùn lên chƣa nhiều, tốc độ và phạm vi  
còn nhỏ. Nhƣng chỉ sau một khoảng thời gian  
nhất định, số lƣợng mạch đùn xuất hiện nhiều,  
kích thƣớc mạch đùn đƣợc mở rộng nhanh  
chóng, cát trong tâng cát bị đẩy ục lên bề mặt  
với khối lƣợng ngày càng lớn mang theo cả tạp  
chất hữu cơ, vảy mica, thậm chí cả vỏ sò hến  
chứa trong cát, môi trƣờng thấm bị phá vỡ hoàn  
toàn (ảnh 02). Tại một số vị trí thí nghiệm, trong  
tầng cát có kẹp các lớp mỏng sét pha, khi mạch  
đùn cát phát triển mạnh mang theo cả những  
mảng nhỏ bùn sét. Độ rỗng và hệ số thấm của  
cát ở vùng cửa thoát tăng nhanh. Cát ở trong  
phạm vi hố thí nghiệm đùn lên mạnh, còn cát ở  
xung quanh bị sập lở vào, đáy tầng phủ hình  
thành các khoảng rỗng phát triển dần. Hệ thống  
khe nứt ở tầng phủ phát triển mạnh và ăn sâu  
vào tầng phủ (ảnh 03), làm sập đổ tầng phủ  
xung quanh hố đào thí nghiệm, cấu trúc nền bị  
phá vỡ.  
Ảnh 02  Đùn cát ở vùng cửa thoát  
Ảnh 03  Khe nứt phát triển vào tầng phủ  
Nếu lấy gradien áp lực thấm (ALT) tƣơng  
ứng với cấp áp lực trƣớc khi phát sinh xói ngầm  
là gradien giới hạn gây xói ngầm (Ix ) và  
gh  
gradien ALT tƣơng ứng với cấp ấp lực trƣớc khi  
phát sinh cát chảy là gradien giới hạn gây cát chảy  
(Icgh) thì có thể xác định đƣợc gradien giới hạn  
gây BDT của các lớp cát ở nền đê nhƣ sau :  
3
- Cát hệ tầng Thái Bình (Q2 tb):  
+ Cát hạt bụi: Ix = 0,476; Icgh = 0,735  
gh  
+ Cát hạt nhỏ: Ix = 0,510; Icgh = 0,720  
gh  
- Cát hệ tầng Hải Hƣng (Q21-2hh):  
+ Cát hạt bụi: Ix = 0,433 ; Icgh = 0,742  
gh  
+ Cát hạt nhỏ: Ix = 0,453 ; Icgh= 0,709  
gh  
Phân tích biến đổi ALT theo chiều dài dòng  
thấm và biến đổi lƣu lƣợng nƣớc thoát ra theo  
gradien ALT (hình 2 & 3) cho thấy, ở giai đoạn  
đầu, khi nƣớc thoát ra còn trong, xói ngầm chƣa  
xuất hiện, các quan hệ này gần nhƣ tuyến tính,  
tổn thất áp lực theo chiều dài dòng thấm tƣơng  
đối đều, dòng thấm vận động ở chế độ ổn định,  
thể hiện quy luật thấm chảy tầng theo định luật  
ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 1-2016  
19  
thấm Darcy. Khi gradien ALT lớn hơn Ix , xói thấm chuyển sang chế độ không ổn định. Khi  
gh  
ngầm xuất hiện trong cát, các đƣờng quan hệ gradien ALT lớn hơn Ic , độ dốc của các đƣờng  
gh  
chuyển dần thành đƣờng cong, môi trƣờng thấm quan hệ tăng đột biến, khi đó không chỉ cát mà  
trong cát biến đổi, độ rỗng và độ thấm của cát cả các tạp chất trong cát đều bị dòng thấm cuốn  
tăng dần ở vùng của thoát, vận động của dòng theo, môi trƣờng thấm bị phá hu  hoàn toàn.  
Hình 02. Biến đổi cột nư c áp lực theo chiều dài dòng thấm  
Hình 03  Quan hệ giữa lưu lượng thoát v i gradien áp lực thấm  
20  
ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 1-2016  
Kết quả thí nghiệm chứng tỏ, cát chảy là phát sinh BDT ở nền đê và có thể tham khảo  
hình thức biến dạng thấm chủ yếu, còn xói để tính toán, xử lý cho các hố móng khi thi  
ngầm chỉ là thứ yếu, chỉ phát triển ở giai công trong vùng xói ngầm, cát chảy có nền là  
đoạn đầu, các hạt bị xói ngầm chủ yếu là hạt cát hạt nhỏ, cát hạt bụi tƣơng tự.  
sét, hạt bụi lẫn trong cát. Kết quả đó phù hợp  
với kết quả nghiên cứu của Ixtômina, phù hợp  
với đặc tính tƣơng đối đồng nhất về thành phần  
hạt của các loại cát thí nghiệm (hệ số không đều  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Phạm Văn Tỵ (1986), Một số ý kiến về  
hạt <10). Gradien giới hạn xác định đƣợc ở nguyên nhân biến dạng và những kiến nghị về  
hiện trƣờng (Icgh = 0,710,74) có giá trị nhỏ hơn nghiên cứu ĐCCT ở nền đê, Hội thảo về chất  
LT  
so với tính toán theo lý thuyết (Ic  
=
lƣợng nền đê, Hà Nội.  
gh  
0,830,90). Đó là do sự có mặt của các tạp chất  
[2]. Bùi Văn Trƣờng (2004), Nghiên cứu,  
hữu cơ trong cát. Chúng tồn tại ở dạng mùn, đánh giá khả năng ổn định thấm nền đê sông  
vẩn và các mảnh vụn, do có khối lƣợng thể tỉnh Thái Bình, Báo cáo đề tài khoa học cấp  
tích khô nhỏ hơn nhiều so với cát nên dƣới tác tỉnh, Thái Bình.  
dụng của dòng thấm, chúng bị đẩy nổi ở áp  
[3]. Bùi Văn Trƣờng, Phạm Văn Tỵ (2008),  
lực thấm thấp hơn. Sau khi các mảnh vụn, Biến dạng thấm nền đê sông tỉnh Thái Bình và  
mùn hữu cơ bị đẩy lên, cát xung quanh bị sắp một số kết quả nghiên cứu, Báo cáo tuyển tập  
xếp lại, độ rỗng của cát tăng và bị biến dạng công trình khoa học, Hội thảo khoa toàn quốc  
thấm ở gradien áp lực thấm (Igh) thấp hơn.  
6. KẾT LUẬN  
Tai biến địa chất và giải pháp phòng chống,  
Hà Nội.  
- Cát chảy là hình thức biến dạng thấm nguy  
[4]. Trƣờng Đại học Thu  Lợi (1966), Giáo  
hiểm, quyết định khả năng ổn định thấm ở nền trình cơ học đất nền và móng, Hà Nội.  
đê. Cát chảy xảy ra ở cửa thoát khi gradien ALT [5]. Tô Xuân Vu (2002), Nghiên cứu đánh  
vƣợt quá gradien ALT giới hạn của cát giá ảnh hƣởng đặc tính biến dạng thấm của một  
Icgh = 0,709 0,742.  
số trầm tích đến ổn định nền đê, Luận án tiến sỹ  
- Xói ngầm chỉ phát triển ở giai đoạn đầu, địa chất, Hà Nội.  
xảy ra khi gradien ALT vƣợt quá Ixgh = 0,433   
[6]. Mironenko V.A. và Sextakov V.M.. (1982),  
0,510, các hạt bị xói ngầm là hạt sét, hạt bụi Cơ sở thu  địa cơ. Nxb KHKT, Hà Nội.  
nhỏ, mùn thực vật.  
[7].Technical Advisory Committee on Water  
- Thí nghiệm xói ngầm, cát chảy bằng PP Defences (1991), Guide for the design of river  
hiện trƣờng cho kết quả phù hợp với kết quả dikes, Netherlands.  
giải bài toán ngƣợc theo số liệu quan trắc  
[8].Vietnamese Ministry of Agriculture and  
Rural Development (1996), Hanoi Subproject,  
mạch đùn trong mùa lũ. Có thể sử dụng Ix  
gh  
và Ic xác định đƣợc bằng thí nghiệm hiện Dyke Safety and Relief Wells, ADB Loan No.  
gh  
trƣờng làm cơ sở tính toán, dự báo khả năng 1259 VIE (SF).  
Người phản biện: GS.TS ĐOÀN THẾ TƢỜNG  
ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 1-2016  
21  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 20520 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghiên cứu xói ngầm, cát chảy nền đê sông Hồng bằng phương pháp thí nghiệm hiện trường", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghien_cuu_xoi_ngam_cat_chay_nen_de_song_hong_bang_phuong_ph.pdf