Phát triển và thử nghiệm công nghệ tự động hóa quan trắc gió

PHÁT TRIỂN VÀ THỬ NGHIỆM CÔNG NGHỆ TỰ ĐỘNG HÓA  
QUAN TRẮC GIÓ  
Nguyễn Viết Hân, Nguyễn Văn Hà, Nguyễn Minh Tuấn  
Viện Khoa học Khí tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu  
Ngày nhận bài: 5/10/2018; ngày chuyển phản biện: 6/10/2018; ngày chấp nhận đăng: 20/11/2018  
Tóm tắt: Nhu cầu tự động hóa trong quan trắc khí tượng thủy văn (KTTV) nói chung và quan trắc  
gió nói riêng, để phục vụ dự báo, cảnh báo lũ lụt, thiên tai và các hiện tượng thời tiết cực đoan ngày  
càng cấp bách trong bối cảnh diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu. Việc đáp ứng số liệu theo thời  
gian thực từ các trạm quan trắc gió cho mô hình dự báo là nhu cầu cấp bách hiện nay. Bài báo này  
trình bày thực trạng trang thiết bị quan trắc gió hiện nay của ngành KTTV, xây dựng mô hình và thử  
nghiệm việc chủ động công nghệ tự động hóa quan trắc gió phục vụ phòng chống thiên tai và phát  
triển công tác nghiệp vụ.  
Từ khóa: Tự động hóa quan trắc gió, công nghệ đo đạc KTTV, công nghệ truyền ꢀn.  
1. Mở đầu  
Chiến lược phát triển ngành khí tượng thủy  
dữ liệu khí tượng thủy văn đáp ứng các yêu cầu  
phục vụ công cộng, phòng tránh thiên tai, bảo  
vệ cuộc sống, tài sản cho toàn xã hội; đồng thời,  
khuyến khích xã hội hóa, thương mại hóa các  
hoạt động khí tượng thủy văn và tăng cường  
sử dụng thông ꢀn khí tượng thủy văn trong sản  
xuất, kinh doanh, dịch vụ nhằm mang lại hiệu  
quả kinh tế - xã hội thiết thực. Với mục ꢀêu tổng  
thể: Đến năm 2020, ngành khí tượng thủy văn  
Việt Nam đạt trình độ khoa học công nghệ ꢀên  
ꢀến của khu vực châu Á, có đủ năng lực điều  
tra cơ bản, dự báo khí tượng thủy văn, phục vụ  
yêu cầu phòng tránh và giảm nhẹ thiệt hại do  
thiên tai, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm  
quốc phòng, an ninh, khai thác, sử dụng hợp lý  
tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường trong  
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa  
đất nước.  
Gió là sự chuyển động của không khí trong  
khí quyển. Vận tốc gió vốn là đại lượng vector  
ba chiều, nhưng trong ngành khí tượng, gió bề  
mặt được xem xét như một đại lượng vector  
hai chiều, số liệu gió được biểu thị bằng hai chỉ  
số hướng và tốc độ. Tốc độ gió là quãng đường  
mà các phần tử không khí di chuyển được trong  
một đơn vị thời gian và thường được ꢁnh bằng  
mét trong một giây (m/s). Hướng gió là hướng  
(phương) mà từ đó gió thổi tới, thường được  
văn đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ  
phê duyệt tại Quyết định số 929/QĐ-TTg ngày  
22/6/2010 với nội dung chủ yếu: (1) Ngành khí  
tượng thủy văn có vị trí quan trọng trong sự  
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, củng cố quốc  
phòng, an ninh, đặc biệt là trong công tác phòng,  
tránh và giảm nhẹ thiên tai. Đầu tư cho ngành  
khí tượng thủy văn cần đi trước một bước để  
cung cấp kịp thời, chính xác thông ꢀn và luận cứ  
khoa học về khí tượng thủy văn cho sự phát triển  
bền vững của đất nước trong bối cảnh thiên tai  
ngày càng khắc nghiệt và gia tăng do biến đổi  
khí hậu; (2) Phát triển ngành khí tượng thủy văn  
đồng bộ theo hướng hiện đại hóa; lấy việc đầu  
tư cho khoa học, công nghệ và đào tạo nguồn  
nhân lực làm giải pháp chủ yếu để phát triển  
trên cơ sở kế thừa và phát huy tối đa nguồn lực  
hiện có; khai thác triệt để thành tựu khoa học,  
công nghệ trong nước, đồng thời ứng dụng chọn  
lọc những thành tựu khoa học công nghệ ꢀên  
ꢀến trên thế giới; (3) Đổi mới phương thức phục  
vụ của ngành khí tượng thủy văn theo hướng  
Nhà nước chịu trách nhiệm cung cấp thông ꢀn,  
Liên hệ tác giả: Nguyễn Viết Hân  
Email: hankꢁv@gmail.com  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
23  
Số 8 - Tháng 12/2018  
thể hiện qua la bàn 16 hướng hoặc góc phương  
vị, ꢁnh bằng độ trong thang từ 0 đến 360 độ.  
Gió là một trong những biểu hiện quan trọng  
của hoạt động khí quyển và từ lâu được con  
người quan tâm. Máy đo gió Anemometer bắt  
nguồn từ ꢀếng Hy Lạp là anemos có nghĩa - gió,  
là một thiết bị dùng để đo tốc độ và hướng của  
gió, là một trong những thiết bị có thể thấy từ  
xa xưa tại các trạm khí tượng.  
Tùy theo nguyên lý hoạt động, kết cấu máy  
đo gió được chia làm nhiều loại khác nhau:  
Máy đo gió theo nguyên lý chong chóng, áp  
suất, siêu âm, vô tuyến hay dạng cơ khí thủ  
công, dạng cơ điện hay dạng điện tử hoàn  
toàn. Các thiết bị đo gió đang đảm nhận hai  
chức năng chính là đo đạc điều tra cơ bản  
và phục vụ cho nghiệp vụ dự báo thời tiết,  
nghiên cứu khoa học. Do tầm quan trọng của  
việc giám sát thông tin về gió, nên tại các trạm  
khí tượng và một số trạm khác quan trắc gió  
là nhiệm vụ bắt buộc.  
Hiện nay, mạng lưới quan trắc phục vụ dự  
báo trên cả nước có 187 trạm khí tượng bề  
mặt, 250 trạm thủy văn, 29 trạm khí tượng  
nông nghiệp, 23 trạm khí tượng hải văn, 24  
trạm khí tượng cao không, gần 1.300 điểm/  
trạm đo mưa,…[1]. Trong số các trang thiết  
bị quan trắc trong ngành KTTV, quan trắc thủ  
công còn chiếm tỷ trọng khá lớn. Bên cạnh đó,  
tại một trạm quan trắc KTTV không phải yếu tố  
nào cũng được tự động hóa hoàn toàn từ khâu  
quan trắc đến truyền số liệu. Trạm khí tượng tự  
động mới chỉ đạt 18,04%, đo mưa tự động đạt  
49,27%, khí tượng cao không đạt 66,67%, thủy  
văn (đo mực nước) đạt 42,09%, thủy văn (đo  
lưu lượng nước) đạt 31,33% trên tổng số các  
trạm từng loại [2].  
Do mật độ trạm quan trắc còn khá thấp,  
nên dù đã có ứng dụng nhiều mô hình hiện đại  
trên thế giới, nhưng kết quả dự báo vẫn còn  
hạn chế. Việc dự báo các hiện tượng thời ꢀết  
cần kết hợp thêm các phương pháp khác để hỗ  
trợ như phân ꢁch ảnh vệ ꢀnh, ra đa thời ꢀết,...  
Sự thiếu đồng bộ giữa các thiết bị quan trắc  
tự động, bán tự động và thủ công cũng ảnh  
hưởng tới quá trình truyền số liệu, thu thập số  
liệu phục vụ dự báo, cảnh báo. Có thể nói, khả  
năng ứng dụng các công nghệ hiện đại trong  
quan trắc gió và các yếu tố KTTV khác ở nước  
ta còn nhiều bất cập. Cơ sở hạ tầng, trang thiết  
bị, con người đều chưa đáp ứng hợp lý trước  
những yêu cầu đặt ra về khả năng thu thập,  
truyền nhận, lưu trữ và phân ꢁch số liệu.  
2. Khảo sát đặc ꢀnh của các bộ cảm biến gió  
Hiện nay trên mạng lưới KTTV nước ta,  
việc quan trắc yếu tố gió hầu như dựa trên các  
thiết bị nhập ngoại. Về ꢁnh năng kỹ thuật có  
thể phân nhóm như sau: Máy đo gió thủ công  
Vild, máy gió cơ điện EL (Trung Quốc), máy đo  
gió Young (Hoa Kỳ), một số ít các thiết bị của  
hãng Diola (Pháp), NovaLynx, NRG System,… và  
khá nhiều trạm khí tượng tự động có đo yếu tố  
gió của dự án ODA Italia. Về số lượng, máy gió  
thủ công dạng cơ khí Vild, máy gió cơ điện EL  
đang được dùng nhiều nhất, sau đó là máy đo  
gió Young (Hình 1),... Còn các trạm khí tượng  
tự động trong ngành KTTV có đo yếu tố gió  
do nhiều hãng sản xuất với nhiều thế hệ, ꢁnh  
năng, chức năng và công nghệ khác nhau.  
Hình 1. Máy đo gió Vild, EL và Young  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
Số 8 - Tháng 12/2018  
24  
Máy gió Vild hoạt động ổn định, nhưng sai số  
khá cao và không đo được gió lớn, trên 40m/s.  
Ngoài ra, do việc quan trắc hoàn toàn thủ công  
nên rất khó khăn cho quan trắc viên, đặc biệt khi  
cần thêm chu kỳ đo hay trong lúc thời ꢀết xấu.  
Bên cạnh đó, việc tự động hóa dựa trên thiết  
bị này hầu như không thể thực hiện được. Tại  
các nước phát triển, thiết bị dạng này không còn  
được sử dụng.  
Máy gió cơ điện EL, đã được sử dụng khá lâu  
trong ngành KTTV nước ta, có nhiều ưu điểm  
như: Độ ổn định khá cao, dễ dàng khắc phục khi  
có sự cố, giá thành hợp lý,... Bên cạnh đó loại máy  
này còn có một số nhược điểm: Dải đo còn chưa  
rộng, chỉ đo được gió dưới 40m/s, do thông số  
đầu đo quyết định, việc quan trắc thủ công khó  
có thể đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành,  
chưa được số hóa,... Việc tự động hóa thiết bị  
đo gió EL có thể thực hiện được bằng công nghệ  
hiện nay của nước ta, qua đó khắc phục được  
nhược điểm chưa số hóa của thiết bị này.  
Sau nhiều năm sử dụng tại Việt Nam, theo  
đánh giá của nhiều chuyên gia trong và ngoài  
nước, thiết bị đo gió Young do Hoa Kỳ sản xuất  
có đầu đo với độ chính xác cao, sai số với tốc  
độ gió ±0,3m/s, với hướng gió ±3deg, dải đo  
rất rộng, từ 0-100m/s, kết cấu cơ khí bền vững,  
trọng lượng nhỏ (1kg), giá thành hợp lý và chịu  
được thời ꢀết khắc nghiệt của nước ta. Đặc biệt  
bộ cảm biến gió Young 05106MA được hãng  
thiết kế riêng cho môi trường biển và cho các  
vùng khí hậu khắc nghiệt nhất, rất phù hợp với  
khí hậu Việt Nam.  
KTTV của nước ta cần phải tăng lên rất nhiều,  
hàng chục, thậm chí hàng trăm lần so với hiện  
nay. Nhưng sau nhiều năm sử dụng, thực tế  
cho thấy, về cơ bản các trạm tự động nhập  
ngoại đã và đang thể hiện tốt ưu thế và phát  
huy vai trò tích cực trong nghiệp vụ chuyên  
môn của ngành. Bên cạnh đó vẫn còn các tồn  
tại khó khắc phục: Với sản phẩm nhập ngoại  
công nghệ cao, nhập khẩu từ nhiều hãng sản  
xuất, có nhiều mức công nghệ, mà các cán  
bộ của ta chưa có điều kiện làm chủ, nên khi  
có sự cố, việc khôi phục sẽ khó khăn, chi phí  
nhiều và sẽ làm gián đoạn khá dài việc quan  
trắc; chúng ta sẽ gặp rất nhiều khó khăn khi  
cần nâng cấp các sản phẩm nhập ngoại, như:  
Tăng thêm các yếu tố đo, mở rộng cấu hình,  
tăng cường khả năng truyền số liệu; giá thành  
thiết bị còn khá cao.  
2.1. Khảo sát ꢀn hiệu ra của tốc độ gió  
Các bộ cảm biến đo tốc độ gió chủ yếu theo  
nguyên lý cơ điện, khi có áp lực không khí lên  
cánh gió của cảm biến, gây ra chuyển động quay  
của trục có gắn nam châm, tạo ra xung điện.  
Thực hiện khảo sát ꢁn hiệu đặc thù của cảm biến  
đo tốc độ gió nguyên lý cơ điện, mà đại diện là  
Young 05106MA. Tín hiệu tốc độ gió, theo tài  
liệu của hãng Young, có giá trị điện áp và tần số  
thay đổi phụ thuộc vào vận tốc gió. Biên độ ꢁn  
hiệu trong khoảng từ 0-12,5v tương ứng với vận  
tốc 0-100m/s. Với biên độ lớn và thay đổi trong  
một khoảng rộng, do vậy, việc số hóa sẽ gặp khá  
nhiều khó khăn. Trong khi đó, giá trị tần số (chu  
kỳ ꢁn hiệu, thể hiện trên trục hoành) hầu như  
không biến đổi ứng với tốc độ cụ thể. Vì vậy để  
thuận lợi hơn cho quá trình xử lý số hóa, dự kiến  
sẽ sử dụng đặc ꢁnh tần số biến thiên theo tốc  
độ gió.  
Như vậy, để có thể đáp ứng nhu cầu phát  
triển kinh tế - xã hội và đảm bảo không quá  
tụt hậu so với các nước phát triển, trong thời  
gian tới dự kiến số trạm đo tự động các yếu tố  
Hình 2. Tín hiệu tốc độ gió khi mô phỏng tại: 0,3m/s, 0,5m/s và 5m/s  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
25  
Số 8 - Tháng 12/2018  
Quá trình khảo sát được ꢀến hành với tốc độ  
gió mô phỏng thay đổi liên tục trong khoảng từ  
0,1m/s đến 75m/s, phân ꢁch kết quả khảo sát đi  
tới một số nhận xét cơ bản như sau:  
Với tốc độ gió lớn hơn 1m/s (từ 1-75m/s)  
biên độ xung biến thiên và không ổn định, trong  
khi đó tần số của ꢁn hiệu khá ổn định khi tốc  
độ gió không thay đổi. Nhận định trên đây hoàn  
toàn phù hợp với khuyến cáo của nhà sản xuất.  
Và đây là cơ sở để xác định thông số cần thiết sẽ  
sử dụng trong quá trình số hóa tốc độ gió.  
Với tốc độ gió nhỏ hơn 1m/s, biên độ ꢁn hiệu  
và tần số cũng không được ổn định và đặc thù  
này là một khó khăn cần phải giải quyết. Việc  
khảo sát với vận tốc gió trong khoảng 0,1-1,0m/s  
với bước thay đổi 0,1m/s, được ꢀến hành một  
cách cẩn trọng nhằm có phương án kỹ thuật khắc  
phục ꢁnh không ổn định của tần số xung điện.  
Như vậy, sau khi khảo sát ꢁn hiệu tốc độ gió  
nếu thiết kế thêm bộ ghép nối hợp lý, sử dụng  
đặc ꢁnh tần số gần như tỷ lệ thuận với tốc độ  
gió, chúng ta có thể xác định được tốc độ gió.  
Việc đo được tốc độ gió nhỏ hơn 1m/s và đo  
được tốc độ gió lớn từ 60 đến 100m/s, với sai  
số khá nhỏ ±0,3m/s là bước cải thiện quan trọng  
cho nhu cầu cung cấp số liệu gió, đặc biệt cho  
vùng biển của nước ta.  
2.2. Khảo sát ꢀn hiệu ra của hướng gió  
Hầu hết cảm biến hướng gió thường ở dạng  
mã hóa nhị phân 8, 16 bits (mã Gray) hoặc dạng  
số chỉ thị 16 hướng, ví dụ như bộ cảm biến  
EL. Với bộ cảm biến gió Young 05106MA, việc  
xác định hướng gió nhờ biến trở dạng vòng vô  
hướng có giá trị 10 kilo-ôm được đặt trong thiết  
bị. Việc xác định hướng gió thực chất là xác định  
giá trị của biến trở này.  
2.3. Yêu cầu kỹ thuật cho khối giao diện  
Kết quả phân ꢁch tại các phần khảo sát trên  
cho thấy, khối giao diện có vai trò rất quan trọng  
trong việc bảo vệ, đảm bảo độ chính xác, mở  
rộng giới hạn đo.  
Hình 3. Sơ đồ khối giao diện đo yếu tố gió  
Hoạt động của khối giao diện như sau: Tín  
hiệu gió được đưa vào khối bảo vệ, sau khi được  
đảm bảo ở mức an toàn, cấp sang cho khối lọc  
nhiễu và khuếch đại, ꢁn hiệu sau khi đã “làm  
sạch” chuyển tới bộ phận tách xung, qua phần  
ổn định và cấp sang bộ phận đếm - xử lý. Khối  
bảo vệ ꢁn hiệu được thiết kế nhằm đảm bảo an  
toàn cho thiết bị, bao gồm chống sét lan truyền,  
chống nhiễu sơ cấp, cắt xung điện áp cao hơn 5v  
khi tốc độ quá lớn. Nhờ khối này, các bộ phận  
sau sẽ hoạt động với ꢁn hiệu đầu vào có đặc ꢁnh  
ổn định hơn.  
Khối lọc nhiễu và khuếch đại đảm bảo sự ổn  
định mức ꢁn hiệu cho đầu vào khối sau, nếu ꢁn  
hiệu yếu sẽ được lọc nhiễu và khuếch đại. Tín  
hiệu tại đầu ra của khối này có dạng hình sin  
đồng đều có chu kỳ tỷ lệ nghịch với tốc độ gió.  
Khối tách xung đảm bảo đầu ra của ꢁn hiệu luôn  
ở dạng chuẩn, xung vuông với biên độ 5v, chu kỳ  
(tần số) xung phụ thuộc vào tốc độ gió, sẵn sàng  
cung cấp cho bộ vi xử lý.  
3. Mô hình chủ động công nghệ cho quan trắc  
gió  
Xây dựng Bộ hiển thị, xử lý và lưu trữ số liệu  
(Datalogger) đảm bảo chức năng nhận thông  
ꢀn từ cảm biến gió, xử lý, ꢁnh toán và hiển thị,  
lưu trữ các dạng số liệu cần thiết. Ngoài ra,  
Datalogger còn phải đảm bảo khả năng giao ꢀếp  
với máy ꢁnh cá nhân, đồng thời sẵn sàng đáp ứng  
từ xa số liệu cho trung tâm và các nhà chuyên môn  
thông qua các loại modem, internet,…  
Công việc thử nghiệm, hiệu chỉnh các trạm  
đo, quan trắc gió dự kiến được triển khai trong  
khoảng 18 tháng tại các trạm khí tượng có các  
điều kiện hạ tầng, địa lý, ꢀểu khí hậu khác nhau.  
Việc lựa chọn vị trí lắp đặt thử nghiệm trạm đo  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
Số 8 - Tháng 12/2018  
26  
theo nguyên lý cụ thể có ꢁnh đến ꢁnh năng của  
đầu đo phù hợp. Thời gian thử nghiệm dự kiến  
cần thiết phải đủ dài để có thể hiệu chỉnh, thử  
nghiệm, chỉnh lý nhằm hoàn thiện ꢁnh năng hệ  
thống thiết bị trong môi trường của các mùa  
khác nhau.  
sản xuất để xuất khẩu được sản phẩm mang  
thương hiệu Việt Nam.  
Việc tự động giám sát từ xa quan trắc gió sử  
dụng công nghệ không dây là một bước ꢀến về  
mặt công nghệ trong nước. Sử dụng công nghệ  
không dây trong hệ thống này sẽ làm giảm đáng  
kể các ảnh hưởng của thời ꢀết cũng như điều  
kiện ngoại cảnh (sét, đứt dây cáp,…). Ngoài ra,  
việc hiển thị thông ꢀn tại trạm sẽ giảm bớt khó  
khăn cho các quan trắc viên khi làm nhiệm vụ  
trong thời ꢀết nguy hiểm. Hệ thống này được  
điều khiển, giám sát bằng máy ꢁnh trung tâm,  
trong khi đó thiết bị di động cầm tay cũng có thể  
làm được điều này.  
Việc chủ động công nghệ trong nước sẽ khắc  
phục được các hạn chế của sản phẩm nhập  
ngoại đã nêu ở trên, ngoài ra có nhiều lợi thế  
trong quá trình khai thác các trang thiết bị: Các  
cán bộ tại trạm được chỉ dẫn để trực ꢀếp điều  
khiển, sử dụng thiết bị, thuận lợi hơn cho công  
việc quan trắc nghiệp vụ; phù hợp hơn với các  
điều kiện hạ tầng và địa lý các trạm nước ta; khi  
triển khai giá thành thiết bị dự kiến thấp hơn so  
với thiết bị nhập ngoại cùng ꢁnh năng (ước ꢁnh  
chỉ khoảng 70-80% so với nhập ngoại); chủ động  
công nghệ ꢁch hợp thêm các yếu tố đo, công  
nghệ truyền ꢀn, cảnh báo; chủ động và giảm  
được khá nhiều chi phí trong quá trình duy trì  
các trang thiết bị, dự kiến chỉ còn 40-50% chi phí  
duy trì của sản phẩm nhập ngoại. Khi chủ động  
công nghệ trong nước chúng ta có thể tổ chức  
3.1. Chủ động công nghệ phần cứng  
Do đặc thù chuyên ngành KTTV, các thiết bị  
đo đạc thường gọn nhẹ, ꢀêu thụ ít năng lượng,  
hoạt động tại các vùng khí hậu khắc nghiệt, nên  
việc thiết kế Datalogger dựa trên các linh kiện  
đơn giản - dân dụng hầu như không thể. Để đáp  
ứng được ꢁnh năng trên Datalogger cần phải  
dựa trên bộ vi xử lý khá mạnh. Các khối chức  
năng chủ yếu được thể hiện tại Hình 4.  
Hình 4. Sơ đồ khối Datalogger gió  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
27  
Số 8 - Tháng 12/2018  
Tín hiệu gió của sensor gió sau khi xử lý tại  
khối giao diện, được đưa vào hệ vi xử lý công  
năng cao, tại đây ꢁn hiệu được số hóa và sẽ hiển  
thị trên màn ꢀnh thể lỏng 80 ký tự (4x20), đồng  
thời khi tới chu kỳ số liệu sẽ được lưu trữ tại bộ  
nhớ chống mất điện EEPROM. Đồng hồ thời gian  
Real Time Clock (RTC) đảm bảo việc đồng bộ cho  
mọi hoạt động của Datalogger theo giờ chuẩn và  
khi thiết bị không hoạt động, đồng hồ dùng pin  
riêng để đảm bảo cấp thời gian đúng khi thiết bị  
hoạt động trở lại. Giao ꢀếp theo chuẩn RS232C  
với máy ꢁnh cá nhân dùng cho việc cài đặt thông  
số cho thiết bị, đồng thời dùng để thu nhận dữ  
liệu (có khi của hàng trăm ngày) từ thiết bị. Cổng  
ra Modem dùng để giao ꢀếp và cung cấp số liệu  
với trung tâm từ xa. Nguồn nuôi Datalogger có  
thể được sử dụng điện lưới, pin mặt trời, acquy  
12V. Bình thường nguồn điện lưới hoặc pin mặt  
trời sẽ nạp đầy acquy và khi cả hai nguồn này  
bị mất, thiết bị vẫn hoạt động nhiều ngày nhờ  
năng lượng dự trữ từ acquy.  
Trong mạng lưới quan trắc gió của nước ta  
hiện nay, phần lớn các trang thiết bị đều được  
nhập ngoại và đang thể hiện tốt các ưu thế, phát  
huy vai trò ꢁch cực trong nghiệp vụ chuyên môn  
của ngành. Tuy nhiên, bên cạnh các vai trò ꢁch  
cực, các trang thiết bị này còn một số tồn tại khó  
khắc phục: (1) Với sản phẩm nhập ngoại công  
nghệ cao, nhập khẩu từ nhiều hãng sản xuất,  
có nhiều mức công nghệ, mà các cán bộ của  
ta chưa có điều kiện làm chủ, nên khi có sự cố,  
việc khôi phục sẽ khó khăn, chi phí lớn và sẽ làm  
gián đoạn khá dài việc quan trắc; (2) Đối với khả  
năng hiện đại hóa các sản phẩm nhập ngoại như  
tăng thêm các yếu tố đo, mở rộng cấu hình, tăng  
cường khả năng truyền số liệu,… chúng ta sẽ gặp  
rất nhiều khó khăn khi chưa nắm bắt được công  
nghệ; (3) Giá thành thiết bị còn khá cao.  
liệu qua RF, Wifi, SMS, GSM, 2G, 3G, 4G,… tùy  
thuộc vào điều kiện thực tế của điểm quan trắc.  
3.2. Chủ động công nghệ phần mềm  
Các phần mềm thu nhận, lưu trữ và phân ꢁch  
số liệu gió ở nước ta ngày càng phát triển. Do  
chủ động trong nước, giao diện phần mềm được  
thiết kế khá thân thiện và dễ dàng sử dụng. Các  
ꢁnh năng hiển thị, chiết xuất số liệu cũng được  
thiết kế trực quan phù hợp với người sử dụng  
và quản lý. Các số liệu được chiết xuất theo mẫu  
bảng biểu quy định của ngành. Tại Hình 5 là giao  
diện của chương trình thử nghiệm thu nhận số  
liệu đo gió, đo mực nước tại trung tâm điều hành  
do các cán bộ nghiên cứu của Viện Khoa học Khí  
tượng Thủy văn và Biến đổi khí hậu thiết kế:  
Các ꢁnh năng hiển thị, chiết xuất số liệu của  
chương trình được tạo nên dựa trên ý kiến góp  
ý của các chuyên gia đầu ngành trong việc thu  
thập số liệu KTTV. Qua đó góp phần cải thiện  
đáng kể việc quản lý, chiết xuất hệ thống số liệu  
khá lớn, tạo cơ sở xây dựng công cụ phân ꢁch và  
hỗ trợ phòng chống thiên tai và phát triển kinh  
tế xã hội. Việc ứng dụng các công nghệ phần  
mềm trong việc thu nhận, hiện thị và chiết xuất  
số liệu gió và yếu tố KTTV khác, là thế mạnh của  
các chuyên gia trong nước.  
3.3. Chủ động các thiết bị thu nhận và truyền  
ꢁn  
Để có thể làm chủ một hệ thống truyền nhận  
số liệu quan trắc KTTV hoàn chỉnh, cần hiểu rõ  
sơ đồ khối chức năng hoạt động toàn hệ thống.  
Sơ đồ khối hoạt động của hệ thống truyền ꢀn  
không dây điển hình phục vụ quá trình truyền  
ꢀn thường được sử dụng trong ngành KTTV,  
có kết hợp các dạng không dây cự ly dài và cự  
ly ngắn: Các thiết bị được triển khai tại các địa  
điểm khác nhau và kết nối với nhau bằng công  
nghệ vô tuyến và Mobile. Thiết bị đo - sensor tại  
điểm quan trắc, truyền ꢁn hiệu tới Datalogger I,  
ở đây giá trị quan trắc được hiển thị và lưu trữ,  
đồng thời truyền số liệu đo được qua ꢁn hiệu  
Radio RF tới Datalogger II đặt trong nhà trạm.  
Tại đây, Datalogger II sẽ thu nhận, hiển thị và lưu  
trữ giá trị quan trắc, đồng thời truyền ꢀn qua  
mạng điện thoại di động GSM/2G/3G/,... Wifi,  
hoặc Internet về trung tâm điều khiển thông qua  
Modem GSM/2G/3G, Wifi,... Công nghệ truyền  
Hiện nay, ở nước ta đã xuất hiện khá nhiều  
các sản phẩm trang thiết bị ꢁch hợp với các đầu  
đo của nước ngoài với ꢁnh năng tương đối ổn  
định, phù hợp với điều kiện của nước ta. Các  
sản phẩm do các chuyên gia của Việt Nam ꢁch  
hợp, nên chủ động công nghệ, việc sửa chữa,  
bảo dưỡng trang thiết bị cũng trở nên dễ dàng  
và thuận lợi hơn. Ngoài việc chế tạo ra các  
Datalogger thu nhận dữ liệu, các nhà nghiên  
cứu đã đưa ra các phương án truyền nhận dữ  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
Số 8 - Tháng 12/2018  
28  
Hình 5. Giao diện của chương trình tại trung tâm điều hành  
dữ liệu vô tuyến ngày càng phát triển, việc kết nối  
qua trung tâm điều hành, qua mạng, hay điện  
thoại cầm tay. Số liệu gió chuyên ngành KTTV  
(tức thì, trung bình 2 phút, trung bình 10 phút,  
gió giật, cự trị,...) được số hóa chi ꢀết, hỗ trợ  
hiệu quả cho việc lưu trữ, nghiên cứu và công  
tác điều tra cơ bản.  
không dây làm thuận lợi hơn cho việc triển khai  
thực tế, dễ kiểm soát thiết bị, tránh được hiện  
tượng đứt cáp thông ꢀn khi phải thi công tại các  
khu vực không thuận lợi [3, 4].  
4. Kết luận  
Nhờ chủ động công nghệ, quá trình bảo  
dưỡng hệ thống được thực hiện nhanh chóng,  
giảm tối đa các chi phí trong quá trình vận hành,  
bao gồm cả phần cứng và phần mềm. Ngoài ra,  
việc chủ động công nghệ sẽ là cơ sở thuận lợi khi  
có nhu cầu nâng cấp và mở rộng hệ thống.  
Sau thời gian dài thử nghiệm thành công và  
chuyển giao cho nhiều tỉnh ứng dụng, hệ thống  
đo gió theo mô hình này đã hỗ trợ đắc lực cho  
công tác phòng chống thiên tai. Khi hệ thống  
hoạt động, mọi diễn biến bất thường của yếu tố  
gió sẽ được cảnh báo cho người quản lý thông  
Tài liệu tham khảo  
1. Nguyễn Kiên Dũng (2015), Đề tài: Nghiên cứu xây dựng giải pháp quản lý các trạm khí tượng thủy  
văn và hải văn tự động, Bộ Tài nguyên và Môi trường.  
2. Dương Văn Khánh (2018), Đề tài: Nghiên cứu, xây dựng giải pháp tự động hóa quản lý hoạt động  
nghiệp vụ trạm khí tượng thủy văn và truyền ꢀn theo thời gian thực từ các trạm thủy văn truyền  
thống, Bộ Tài nguyên và Môi trường.  
3. Trần Thị Hương Trà (2011), Luận văn thạc sĩ: Nghiên cứu phương pháp tối ưu hóa trong mạng di  
động GSM, Trường Đại học Công nghệ.  
4. Nguyễn Hồng Sơn (2012), Kỹ thuật truyền số liệu, NXB Lao động - Xã hội.  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
29  
Số 8 - Tháng 12/2018  
DEVELOPMENT AND EXPERIMENT OF THE WIND  
AUTOMATIC MEASURING SYSTEM  
Nguyen Viet Han, Nguyen Van Ha, Nguyen Minh Tuan  
Viet Nam Insꢀtute of Meteorology, Hydrology and Climate change  
Received: 5/10/2018; Accepted: 20/11/2018  
Abstract: The needs for hydrometeorological monitoring automaꢀon in general and wind  
monitoring in parꢀcular for forecasꢀng floods and warning natural disastersand other hazardous weather  
phenomena are geꢂng more and more urgent in the rapidly changed context of climate change. Meeꢀng the  
demand of the real ꢀme data of wind observaꢀon staꢀon provided to the forecast model is an urgent task.  
This arꢀcle aims to present the current situaꢀon of wind monitoring devices/appliances/equipment used in  
hydrometeological services. It also offers acꢀve modeling, and piloꢀng an wind monitoring automaꢀon  
technology for natural disaster prevenꢀon.  
Keywords: Automaꢀon wind monitoring, hydrometeorological technology observaꢀon, informaꢀon  
technology.  
Tạp chí khoa học biến đổi khí hậu  
Số 8 - Tháng 12/2018  
30  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 87900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển và thử nghiệm công nghệ tự động hóa quan trắc gió", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_va_thu_nghiem_cong_nghe_tu_dong_hoa_quan_trac_gio.pdf