Đánh giá hiệu quả xử lý nước cấp nuôi trồng thủy sản bằng Plasma lạnh

Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(93)/2018  
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ XỬ LÝ NƯỚC  
CẤP NUÔI TRỒNG THỦY SẢN BẰNG PLASMA LẠNH  
Phạm ị Tuyết Ngân1, Nguyễn Hoàng Nhật Uyên1,  
Trần Trung Giang1, Nguyễn Văn Dũng2, Đặng Huỳnh Giao2  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu được thực hiện nhằm đáng giá khả năng cải thiện chất lượng nước nuôi trồng thủy sản của công nghệ  
plasma lạnh. Nghiên cứu gồm 3 thí nghiệm được thực hiện trên bể nước ngọt (thí nghiệm 1), nước lợ (thí nghiệm 2)  
và bể nuôi cá lóc thâm canh (thí nghiệm 3), mỗi thí nghiệm gồm 2 nghiệm thức lặp lại 3 lần. Mẫu nước được thu  
trước và sau khi xử lý định kỳ hàng ngày và theo dõi trong vòng 7 ngày để đánh giá chất lượng nước. Kết quả cho  
thấy tất cả các chỉ tiêu chất lượng môi trường nước ở các thí nghiệm đều nằm ở ngưỡng thích hợp cho nuôi trồng  
thủy sản. Plasma lạnh không làm thay đổi nhiệt độ nước, pH và DO. Ở thí nghiệm 1, plasma lạnh làm giảm COD,  
TAN và TSS trong khi đó làm tăng NO2. Đối với thí nghiệm 2 và 3, plasma lạnh tăng TAN và NO2. Ngoài ra, plasma  
lạnh còn làm giảm đáng kể mật độ tổng vi khuẩn, Bacillus spp. và Aeromonas spp. ở tất cả các thí nghiệm (P < 0,05).  
Trong suốt quá trình thí nghiệm, mật độ E.coli được ghi nhận luôn ở mức < 10 cfu/mL. Điều này cho thấy công nghệ  
plasma lạnh có tiềm năng sử dụng trong việc cải thiện chất lượng nước và đặc biệt là khả năng xử lý tốt các mầm  
bệnh vi sinh trong môi trường nước.  
Từ khóa: Plasma lạnh, chỉ tiêu chất lượng môi trường nước, mật độ vi khuẩn  
I. ĐẶT VẤN ĐỀ  
(Grinevich et al., 2011, Kuraica et al., 2006; Majeed  
et al., 2012; Rong et al., 2014). Tuy nhiên, việc nghiên  
cứu tác động của plasma lạnh đến chất lượng nước  
nuôi trồng thủy sản vẫn chưa được thực hiện tại  
nước ta. Do đó, nghiên cứu này tiến hành khảo sát  
tác động của plasma lạnh đến chất lượng nước cũng  
như vi sinh trong nước.  
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) gồm 13 tỉnh  
và thành phố với tổng dân số gần 18 triệu người.  
Hiện nay, tỷ lệ dân cư nông thôn được sử dụng nước  
đạt tiêu chuẩn còn ở mức thấp (Đoàn u Hà, 2013).  
Bên cạnh đó, ĐBSCL là vùng trọng điểm của cả  
nước về sản xuất nông nghiệp và thủy sản, các hoạt  
động nuôi trồng thủy sản hiện nay phát triển một  
cách ồ ạt, thiếu kiểm soát, chủ yếu là các vùng nuôi  
nhỏ lẻ. eo khảo sát của Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh  
Chung (2009) thì có khoảng 59,8% số hộ không xử  
lý nước trước khi cấp vào bể nuôi cá lóc, đây chính  
là điều kiện để cho mầm bệnh phát triển và lây lan.  
Tuy nhiên, do không có hệ thống xử lý nước đi kèm  
nên trong quá trình nuôi trồng thủy sản dễ bị nhiễm  
bệnh dẫn đến tỉ lệ hao hụt tăng và giảm quá trình  
tăng trưởng của động vật thủy sản. Do đó, việc tìm  
ra giải pháp hữu hiệu để xử lý nước cấp nuôi trồng  
thủy sản với chi phí hợp lý và thân thiện môi trường  
đang là một vấn đề cấp thiết hiện nay.  
Có nhiều phương pháp xử lý nước cung cấp  
cho nuôi trồng thủy sản. Mỗi phương pháp có ưu,  
nhược điểm và phạm vi ứng dụng khác nhau. Trong  
những năm gần đây, công nghệ plasma lạnh đã được  
nghiên cứu để xử lý nước. Do tác động tổng hợp của  
ozone, UV và các thành phần ôxy hóa khác mà công  
nghệ xử lý nước bằng plasma lạnh có hiệu quả cao  
hơn hẳn so với các phương pháp truyền thống như  
clorine, ozone, UV và vi sinh. Ngoài khả năng diệt  
khuẩn, plasma còn có khả năng diệt tảo và phân rã  
các chất độc hại như thuốc trừ sâu và bảo vệ thực vật  
II. VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
2.1. Vật liệu nghiên cứu  
Mẫu nước từ ao nuôi cá lóc và ao nuôi tôm thẻ  
(độ mặn 0‰ và 5‰) được sử dụng để thực hiện thí  
nghiệm. Mô hình xử lý nước cấp nuôi trồng thủy  
sản bằng công nghệ plasma lạnh với công suất xử lý  
3 m3/12 h (Hình 1). Mô hình này hoạt động như sau:  
đầu tiên, nước cần xử lý được bơm từ bể đầu vào qua  
bể lắng đứng. Nước từ bể lắng đứng chảy vào cột lọc  
thô do chênh lệch cột áp. Cột lọc thô chứa cát thạch  
anh có đường kính hạt 0,8 ÷ 1 mm dùng để lọc bớt  
các phù sa/cặn nhỏ không lắng được trong bể lắng  
đứng. Sau khi qua cột lọc thô, nước vào bể chứa 1.  
Từ bể chứa 1, nước được bơm vào các cột xử lý  
plasma với lưu lượng 2 lít/phút. Tại cột xử lý, plasma  
lạnh được tạo ra do hiện tượng phóng điện ở điện  
áp cao. Plasma tác động vào nước cần xử lý nhờ vào  
ozone, tia cực tím và điện tử năng lượng cao. Nhờ  
vào tác động tổng hợp của các thành phần này mà  
plasma có khả năng diệt khuẩn, mầm bệnh và các  
chất hữu cơ độc hại trong nước. Nước sau khi xử lý  
được lưu trong bình chứa khoảng 30 phút để phân rã  
hoàn toàn dư lượng ozone.  
1 Khoa ủy sản, Đại học Cần ơ; 2 Khoa Công nghệ, Đại học Cần ơ  
108  
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(93)/2018  
Bể lắng  
Cột lọc  
thô  
Bể đầu  
vào  
Tủ chứa  
cụm xử lý  
Bể  
Bể  
chứa 2  
chứa 1  
Hình 1. Mô hình thí nghiệm xử lý nước cấp nuôi trồng thủy sản bằng plasma lạnh (3 m3/12 h)  
2.2. Phương pháp nghiên cứu  
2.2.2. Phương pháp phân tích mẫu  
Mẫu nước được thu cách mặt nước khoảng 20  
- 30 cm. Các chỉ tiêu môi trường như nhiệt độ, pH  
và DO được đo bằng máy trực tiếp; hàm lượng TSS,  
TAN, NO2 và COD được phân tích theo phương  
pháp chuẩn (APHA, 1995).  
Mật độ tổng vi khuẩn, Bacillus spp., Aeromonas  
spp. và Escherichia coli được xác định bằng phương  
pháp đếm khuẩn lạc trên đĩa thạch của Baumann et  
al. (1980).  
2.2.1. Bố trí thí nghiệm  
Nghiên cứu gồm 3 thí nghiệm: thí nghiệm đánh  
giá tác động của plasma lạnh lên chất lượng nước và  
mật độ vi sinh vật bể nước ngọt (thí nghiệm 1), bể  
nước lợ (thí nghiệm 2) và bể cá lóc (thí nghiệm 3).  
Nguồn nước bố trí của thí nghiệm 1 được lấy từ  
ao nuôi cá lóc (độ mặn 0‰), nguồn nước của thí  
nghiệm 2 (độ mặn 5‰) được lấy từ ao nuôi tôm thẻ  
chân trắng. Cả 2 thí nghiệm đều được bố trí ngẫu  
nhiên trên các bể nhựa 500 lít gồm 2 nghiệm thức  
với 3 lần lặp lại: nghiệm thức đối chứng (không xử  
lý nước bằng plasma lạnh) và nghiệm thức xử lý  
(nước được xử lý bằng plasma lạnh). Hệ thống bể  
thử nghiệm được bố trí trong trại có mái che, được  
lắp sục khí liên tục và không thay nước trong suốt  
quá trình thử nghiệm.  
í nghiệm 3 được bố trí ngẫu nhiên gồm 2  
nghiệm thức với 3 lần lặp lại: nghiệm thức đối chứng  
(không xử lý nước bằng plasma lạnh) và nghiệm  
thức xử lý (nước được xử lý bằng plasma lạnh). Các  
nghiệm thức được bố trí trên bể nổi làm bằng bạt  
HDPE diện tích là 15 m2 và được bố trí ngoài trời.  
Sau khi nước được cấp vào các bể thí nghiệm thì thả  
cá lóc giống trực tiếp vào nuôi ở ngày thứ 2. Kích cỡ  
cá giống là 5 - 6 g, thả với mật độ 100 con/m2.  
Nguồn nước sau khi cung cấp vào hệ thống sẽ  
được thu mẫu nhằm đánh giá mật độ sinh vật và  
chất lượng nước ban đầu. Sau khi hệ thống plasma  
được bật để xử lý nước, mẫu nước được tiếp tục theo  
dõi định kỳ hàng ngày trong vòng 7 ngày để đánh  
giá hiệu quả xử lý nước của plasma lạnh. Các chỉ  
tiêu đánh giá mật độ sinh vật và chất lượng nước bao  
gồm mật độ tổng vi khuẩn; Bacillus spp.; Aeromonas  
spp., E. coli, giá trị pH, nhiệt độ, hàm lượng oxy hòa  
tan (DO), tổng vật chất lơ lửng (TSS), tiêu hao oxy  
hóa học (COD), tổng đạm amonia (TAN) và hàm  
lượng nitrite (NO2).  
2.2.3. Phương pháp phân tích số liệu  
Số liệu được tính giá trị trung bình và độ lệch  
chuẩn bằng chương trình Excel. Sự khác biệt giữa  
các nghiệm thức được kiểm tra bằng phép thử  
Independent T-test ở mức ý nghĩa 95% với phần  
mềm SPSS 16.0.  
2.3. ời gian và địa điểm nghiên cứu  
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 2 đến tháng  
6 năm 2018, mẫu nước được thu và phân tích tại Bộ  
môn ủy sinh học ứng dụng, Khoa ủy sản, Đại  
học Cần ơ.  
III. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1. Tác động của plasma lạnh lên chất lượng nước  
và mật độ vi sinh vật bể nước ngọt  
3.1.1. Chỉ tiêu chất lượng nước  
Kết quả theo dõi nhiệt độ nước của hai nghiệm  
thức biến động theo nhiệt độ của môi trường bên  
ngoài. Nhiệt độ trung bình ở cả hai nghiệm thức ở  
mức 28,3oC. Nhiệt độ và pH giữa hai nghiệm thức có  
sự khác biệt không đáng kể (P > 0,05) và thích hợp  
cho sự phát triển của đối tượng nuôi thủy sản nhiệt  
đới. Điều này cho thấy plasma lạnh không tác động  
lên nhiệt độ và pH của nước sau khi xử lý.  
109  
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(93)/2018  
Hình 2A cho thấy hàm lượng oxy hòa tan (DO)  
trong cả hai nghiệm thức ổn định và không khác  
biệt nhiều trong suốt thời gian thí nghiệm. Hàm  
lượng DO ở các bể luôn ở mức trung bình khá cao,  
dao động từ 4,2 đến 5,8 mg/L, thích hợp cho nhiều  
đối tượng nuôi thủy sản. Trong khi đó hàm lượng  
tiêu hao oxy hóa học (COD) có sự khác biệt giữa  
hai nghiệm thức từ ngày thứ 3 sau khi xử lý. Hàm  
lượng COD ở ao xử lý thấp và khác biệt có ý nghĩa  
thống kê so với ao đối chứng (P < 0,05) (Hình 2B).  
Hàm lượng COD nghiệm thức đối chứng dao động  
từ 4,7 đến 6,6 mg/L, ở nghiệm thức xử lý là 3,3 đến  
4,2 mg/L. Sau khi xử lý plasma lạnh, vật chất hữu cơ  
bị phân hủy dẫn đến hàm lượng COD giảm thấp.  
Như vậy, việc sử dụng hệ thống xử lý plasma lạnh  
trong nước nuôi trồng thủy sản đã góp phần giảm  
ô nhiễm môi trường nước. Tương tự nghiên cứu  
của Trần Ngọc Đảm và Lê Mạnh Hùng (2015) thì  
hàm lượng COD của nước sau khi xử lý bằng công  
nghệ plasma giảm đến 90,4%. Nghiên cứu khác của  
Majeed và cộng tác viên (2012) thì hệ thống xử lý  
nước thải bằng công nghệ plasma có thể làm giảm  
lượng COD trong nước đến 30% sau khi xử lý.  
A
B
Hình 2. Biến động nồng độ DO (A) và COD (B) trong bể nước ngọt  
Hàm lượng TAN (Hình 3A) ở cả hai nghiệm thức  
tương đối thấp và có xu hướng giảm dần về cuối thí  
nghiệm. Hàm lượng TAN không có sự khác biệt  
thống kê giữa hai nghiệm thức cho đến ngày thứ 4  
sau khi xử lý. Từ ngày thứ 4 đến cuối thí nghiệm,  
hàm lượng TAN ở nghiệm thức xử lý giảm nhanh  
còn 0,14 mg/L ở cuối thí nghiệm, và khác biệt thống  
kê so với đối chứng (P < 0,05). Hàm lượng TAN ở  
nghiệm thức xử lý thấp hơn là do việc xử lý nước  
bằng hệ thống plasma lạnh đã có ảnh hưởng đến  
việc chuyển hóa nitơ trong nước làm cho hàm lượng  
TAN giảm thấp.  
Hàm lượng vật chất hữu cơ lơ lửng (TSS) (Hình  
3C) ở hai nghiệm thức giảm mạnh trong 2 ngày đầu  
sau khi xử lý, đặc biệt ở nghiệm thức xử lý plasma  
và khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối chứng (P  
< 0,05). Kết quả này cho thấy việc xử lý nước bằng  
hệ thống plasma lạnh đã làm giảm hàm lượng TSS  
trong nước. Kết quả nghiên cứu phù hợp với kết quả  
của Trần Ngọc Đảm và Lê Mạnh Hùng (2015) khi  
nước được xử lý bằng hệ thống plasma làm giảm  
hàm lượng TSS đến 80,3%.  
3.1.2. Chỉ tiêu mật độ vi sinh  
Trong khi đó, hàm lượng NO2 (Hình 3B) có sự  
khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nghiệm thức đối  
chứng và xử lý (P < 0,05). Hàm lượng NO ở nghiệm  
thức xử lý giảm thấp ở ngày đầu tiên còn20,06 mg/L  
so với ban đầu bố trí thí nghiệm là 0,25 mg/L. Tuy  
nhiên, sang ngày thứ 2 thì lượng NO tăng cao đến  
khi kết thúc thí nghiệm, điều này cho 2thấy việc xử lý  
nước bằng hệ thống plasma lạnh đã có ảnh hưởng  
đến chuyển hóa NO2 trong nước. Nguyễn Văn Dũng  
(2015) đã báo cáo về việc xử lý nước bằng hệ thống  
plasma lạnh sẽ làm tăng rất mạnh hàm lượng nitrate  
và nitrite của nước sau xử lý do hiện tượng phóng  
điện màng chắn trong môi trường không khí ẩm.  
Mật độ tổng vi khuẩn (Hình 4A), Bacillus spp.  
(Hình 4B) và Aeromonas spp. (Hình 4C) ở nghiệm  
thức xử lý luôn thấp hơn đáng kể so với đối chứng,  
mật độ vi khuẩn giảm mạnh từ 1 đến 2 ngày sau khi  
xử lý bằng plasma lạnh và biến động nhẹ đến cuối thí  
nghiệm. Mật độ E. coli ở tất cả các bể dưới 10 cfu/mL.  
Kết quả cho thấy công nghệ plasma lạnh có khả năng  
diệt khuẩn nhanh và hiệu quả đối với hầu hết tất cả  
các loài vi sinh vật, và ngay cả đối với nhóm vi khuẩn  
có Gram dương có vách tế bào dày và có khả năng  
hình thành bào tử như Bacillus spp.  
110  
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(93)/2018  
A
B
C
Hình 3. Biến động hàm lượng TAN (A), NO2 (B) và TSS (C) trong bể nước ngọt  
A
B
C
Hình 4. Biến động mật độ tổng vi khuẩn (A), Bacillus spp. (B) và Aeromonas spp. (C) trong bể nước ngọt  
111  
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(93)/2018  
3.2. Tác động của plasma lạnh lên chất lượng nước  
và mật độ vi sinh vật bể nước lợ  
thống kê giữa hai nghiệm thức. Giá trị pH ở đối  
chứng tăng cao hơn so với nghiệm thức xử lý. Kết  
quả còn cho thấy hàm lượng DO (Hình 5A) và COD  
(Hình 5B) ở cả hai nghiệm thức đều có xu hướng  
giảm. COD dao động trong khoảng từ 5,5 đến 8,2  
mg/L thích hợp cho nuôi trồng thủy sản. COD sau  
khi xử lý bằng hệ thống plasma lạnh giảm từ 6,9 còn  
4,7 mg/L ở ngày thứ nhất và tăng nhẹ từ ngày thứ 3.  
3.2.1. Chỉ tiêu chất lượng nước  
Nhiệt độ nước của hai nghiệm thức không có sự  
khác biệt đáng kể, nằm trong khoảng từ 25,5oC đến  
29oC, trong ngưỡng nhiệt độ của các loài động vật  
thủy sản. Trong khi đó chỉ số pH có sự khác biệt  
A
B
Hình 5. Biến động hàm lượng DO (A) và COD (B) trong bể nước lợ  
Kết quả theo dõi hàm lượng TAN trong nước  
của hai nghiệm thức khác biệt có ý nghĩa thống kê  
(P < 0,05) (Hình 6A). Đối với nghiệm thức xử lý, hàm  
lượng TAN trung bình sau khi xử lý ít bị biến động và  
giữ ở mức ổn định đến ngày thứ 6 thì bắt đầu giảm  
mạnh. Dựa vào kết quả phân tích mật độ và thành  
phần các loài tảo (không trình bày số liệu trong bài)  
cho thấy hàm lượng TAN trong nước giảm ở hai  
nghiệm thức về cuối thí nghiệm một phần là do thực  
vật phù du đã sử dụng TAN làm nguồn dinh dưỡng.  
A
B
C
Hình 6. Biến động hàm lượng TAN (A), NO2 (B) và TSS (C) trong bể nước lợ  
112  
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(93)/2018  
Hàm lượng NO2 (Hình 6B) khi bắt đầu theo  
dõi là 0,24 mg/L và tăng dần ở cả hai nghiệm thức.  
Nghiệm thức đối chứng có hàm lượng NO2 biến  
động ở mức thấp (từ 0,09 đến 0,77 mg/L). Trong  
khi đó, hàm lượng NO2 ở nghiệm thức xử lý tăng  
mạnh ngay từ ngày thứ nhất và đạt giá trị cao nhất  
(1,61 mg/L) ở ngày thứ 6 sau khi xử lý bằng plasma  
lạnh, khác biệt thống kê so với đối chứng (P < 0,05).  
Hàm lượng TSS không có sự khác biệt nhiều giữa  
hai nghiệm thức cũng như ít biến động trong suốt  
thời gian thí nghiệm (Hình 6C), giá trị trung bình  
khoảng 22,9 mg/L.  
3.2.2. Chỉ tiêu mật độ vi sinh  
Tương tự kết quả thí nghiệm 1, mật độ tổng  
vi khuẩn (Hình 7A), Bacillus spp. (Hình 7B),  
Aeromonas spp. (Hình 7C) và E. coli ở các bể xử lý  
luôn thấp hơn đáng kể so với bể đối chứng.  
A
B
C
Hình 7. Biến động mật độ tổng vi khuẩn (A), Bacillus spp. (B) và Aeromonas spp. trong bể nước lợ  
3.3. Ảnh hưởng của plasma lạnh đến mật độ vi  
sinh vật và chất lượng nước trong bể nuôi cá lóc  
Nồng độ oxy hòa tan DO (Hình 8A) ở cả hai  
nghiệm thức giảm dần trong suốt thời gian thí  
nghiệm đặc biệt giảm mạnh ở nghiệm thức xử lý. Sự  
sụt giảm nồng độ DO diễn ra là do yêu cầu oxy cho  
hoạt động hô hấp của cá ngày càng tăng trong giai  
đoạn thí nghiệm. Trong khi đó, hàm lượng COD  
(Hình 8B) ở nghiệm thức xử lý thấp hơn đáng kể so  
với đối chứng (P < 0,05), hàm lượng COD nghiệm  
thức xử lý giảm mạnh từ 43,8 xuống còn 12,4 mg/L  
ở thời điểm kết thúc thí nghiệm. Hàm lượng COD  
ở các bể thí nghiệm khá cao nhưng vẫn nằm trong  
ngưỡng cho phép trong nuôi trồng thủy sản và có  
xu hướng tăng nhẹ vì hàm lượng TSS và hàm lượng  
chất hữu cơ ngày càng tăng trong môi trường bể  
nuôi cá.  
3.3.1. Chỉ tiêu chất lượng nước  
Nhiệt độ và giá trị pH của nước các bể nuôi cá lóc  
ít biến động trong suốt quá trình thí nghiệm, và cũng  
không có sự khác biệt đáng kể giữa các nghiệm thức  
(P > 0,05). Nhiệt độ dao động từ 26oC đến 28,2oC,  
giá trị pH từ 6,6 đến 7,2. eo Pillay (1990), nhiệt  
độ tối ưu cho sự tăng trưởng và phát triển của cá lóc  
từ 25 - 35oC. Courtenay và cộng tác viên (2004) cho  
rằng cá lóc có thể sống trong khoảng pH thấp 4 - 5  
và khoảng thích hợp 6,5 - 8,5. Do đó, khoảng nhiệt  
độ và pH của thí nghiệm nằm ở điều kiện tối ưu cho  
sự phát triển của cá lóc.  
113  
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(93)/2018  
A
B
Hình 8. Biến động nồng độ DO (A) và COD (B) trong bể cá lóc  
Tổng lượng đạm amôn TAN (Hình 9A) của cả  
giới hạn cho phép từ 0,014 - 0,093 mg/L. Nghiệm  
thức xử lý có xu hướng giảm còn bể đối chứng thì  
ngược lại. Qua đó cho thấy bể xử lý bằng hệ thống  
plasma lạnh có hàm lượng NO2 giảm thích hợp cho  
hệ thống nuôi thâm canh cá lóc trong bể bạt.  
hai nghiệm thức tăng dần trong suốt quá trình thí  
nghiệm do các chất hữu cơ, chất thải, thức ăn dư  
thừa, cặn bã tích tụ ngày càng nhiều trong bể nuôi  
cá. Kết quả thí nghiệm cũng cho thấy hàm lượng  
NO2 (Hình 9B) ở cả 2 nghiệm thức đều nằm trong  
A
B
C
Hình 9. Biến động hàm lượng TAN (A), NO2 (B) và TSS (C) trong bể cá lóc  
3.3.2. Chỉ tiêu mật độ vi sinh  
(Nguyễn Hữu ọ, 2001). Trong khi đó, mật độ  
Bacillus spp. (Hình 10B) ở cả hai nghiệm thức lại  
giảm nhẹ. Điều đáng lưu ý là mật độ tổng vi khuẩn,  
Bacillus spp. và Aeromonas spp. ở nghiệm thức xử  
lý sụt giảm mạnh sau 1 ngày nước được xử lý bằng  
plasma lạnh, khác biệt có ý nghĩa thống kê so với đối  
Mật độ tổng vi khuẩn (Hình 10A) và Aeromonas  
spp. (Hình 10C) ở tất cả nghiệm thức có khuynh  
hướng tăng dần trong suốt thời gian thí nghiệm  
do quá trình tích lũy vật chất hữu cơ là môi trường  
thuận lợi cho tất cả các loài vi sinh vật phát triển  
114  
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(93)/2018  
chứng (P < 0,05) mặc dù có khuynh hướng tăng dần  
trở lại từ ngày thứ 3 trở về cuối thí nghiệm. Mật độ  
để xử lý nước đã làm cho mật độ vi sinh vật trong  
nước giảm đáng kể do đó thích hợp cho việc nuôi  
tổng vi khuẩn giảm từ 6,7 103 CFU/mL còn 5,67  
trồng thủy sản. Tuy nhiên, phương pháp xử lý nước  
˟
˟
102 cfu/mL, trong khi đó hầu như không phát hiện  
được Aeromonas spp. (mật độ < 10 cfu/mL) ở ngày  
đầu tiên sau khi xử lý nước. eo Anderson (1993),  
mật độ tổng vi khuẩn trong nước sạch là ít hơn 103  
và trong nước bẩn là nhiều hơn 107 cfu/mL. Từ kết  
quả thí nghiệm cho thấy việc sử dụng plasma lạnh  
bằng plasma lạnh với công suất hiện tại và chỉ xử lý  
nước ở giai đoạn cấp nước vẫn chưa phát huy hết  
hiệu quả trong bể nuôi cá lóc khi quá trình tích lũy  
vật chất hữu cơ ngày càng tăng trong suốt thời gian  
thí nghiệm.  
A
C
Hình 10. Biến động mật độ tổng vi khuẩn (A), Bacillus spp. (B) và Aeromonas spp. (C) trong bể cá lóc  
IV. KẾT LUẬN  
Plasma lạnh có khả năng diệt khuẩn (tổng vi  
khuẩn, Bacillus spp. và Aeromonas spp.).  
Các yếu tố môi trường nước như nhiệt độ, giá trị  
pH, hàm lượng oxy hòa tan (DO), tiêu hao oxy hóa  
học (COD), tổng đạm amonia (TAN), hàm lượng  
nitrite (NO2) và tổng vật chất lơ lửng (TSS) của các  
bể thí nghiệm nằm trong ngưỡng thích hợp cho nuôi  
trồng thủy sản.  
Plasma lạnh không làm thay đổi nhiệt độ nước,  
pH và hàm lượng DO nhưng làm giảm COD trong  
nước ngọt và tăng COD trong nước lợ.  
Trong suốt quá trình thí nghiệm, mật độ E.coli  
được ghi nhận chỉ ở mức < 10 cfu/mL qua các đợt  
thu mẫu.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Nguyễn Văn Dũng, 2015, Nghiên cứu ứng dụng công  
nghệ plasma lạnh trong xử lý nước: tổng hợp tài liệu.  
Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Cần ơ, 36, trang  
106-111.  
Trần Ngọc Đảm và Lê Mạnh Hùng, 2015. iết kế và  
chế tạo hệ thống xử lý nước uống đóng chai công  
suất 07 m3/ngày bằng công nghệ lọc trao đổi ion và  
Plasma. Tạp chí Khoa học Giáo dục Kỹ thuật, Trường  
Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. HCM.  
TAN và TSS giảm sau khi được xử lý bằng plasma  
lạnh trong bể nước ngọt nhưng tăng trong bể thực  
nghiệm nuôi cá lóc.  
Plasma lạnh làm tăng hàm lượng NO2 trong nước.  
115  
Tạp chí Khoa học Công nghệ Nông nghiệp Việt Nam - Số 8(93)/2018  
Đoàn u Hà, 2013. Đánh giá hiện trạng cấp nước nông  
thôn vùng đồng bằng sông Cửu Long và đề xuất giải  
pháp phát triển. Tạp chí Khoa học thủy lợi và Môi  
trường, trang 43.  
Lê Xuân Sinh và Đỗ Minh Chung, 2009. Khảo sát các  
mô hình nuôi cá lóc (Channa micropeltes và Channa  
striatus) ở Đồng bằng sông Cửu Long. Kỷ yếu Hội  
nghị khoa học thủy sản toàn quốc, Đại học Nông Lâm  
TP HCM. 436-447.  
Nguyễn Hữu ọ, 2001, Biến động của sulfite,  
ammonia, nitrite, BOD, COD, chlo hữu cơ trong môi  
trường nước ảnh hưởng đến khả năng xảy ra bệnh  
đốm trắng, bệnh đàu vàng trên tôm nuôi ở Khánh  
Hòa. Tạp chí ủy sản, 43, Bộ ủy sản-Trung tâm  
Nghiên cứu thủy sản III, trang 5-15.  
Courtenay, W.R., Jr., J.D. Williams., R. Britz,  
M.N. Yamamoto., P.V. Loiselle, 2004. Identity  
of Introduced Snakeheads (Pisces, Channidae)  
in Hawaii and Madagascar, with comments on  
Ecological concern. Bishop Museum Occasional  
Papers, 77: 13.  
Grinevich V.I., E.Y. Kvitkova, N.A. Plastinia and  
V.V. Rybkin, 2011. Application of dielectric barrier  
discharge for waste water purification. Plasma  
Chemistry and Plasma Process. 31: 573-583.W.S.A.  
Kuraica, M. M., Obradović, B., Manojlović, D.,  
Ostojić, D. R., and Purić, J., 2006. Application of  
coaxial dielectric barrier discharge for potable and  
waste water treatment. Ind. Eng. Chem. Res, 45, 882-  
905.  
Anderson, I., 1993. e veterinary approach to marine  
prawns. In: Aquaculture for veterinarians: fish  
husbandry and medicine (Editor Brown L.): 271-296.  
APHA, 1995. Standard Methods for the Examination  
of Water and Wastewater. 19th Edition, American  
Public Health Association Inc., New York.  
Majeed W.S.A., E. Karunakaran, C.A Biggs., W.B.  
Zinmmerman, 2012. Application of cascade  
dielectric barrier discharge plasma atomizers  
for waste water treatment. Proceeding of the 6th  
InternationalConference on Environmental Science  
and Technology. American science press.  
Rong S.P., Y.B. Sun and Z.H. Zhao, 2014.  
Degradation of sulfadiazine antibiotics by  
water falling film dielectric barrier discharge. Chinese  
Chemical Letter. 25: 187-192.  
Baumann, P., L. Baumann, S.S. Bang, and M.J.  
Woolkalis, 1980. Reevaluation of the taxonomy of  
Vibrio, Beneckea, and Photobacterium: abolition of  
the genus Beneckea. Curr. Microbiol. 4:127-132.  
Efficiency of cold plasma in aquaculture water treatment  
Pham i Tuyet Ngan, Nguyen Hoang Nhat Uyen,  
Tran Trung Giang, Nguyen Văn Dung, Dang Huynh Giao  
Abstract  
is study was conducted to evaluate ability of cold plasma technology for improving water quality. e study included  
3 experiments with three replications: in fresh water tanks (experiment 1), in brackish water tanks (experiment 2)  
and in intensive fish tanks (experiment 3). Water samples collected before and afer water treatment by cold plasma  
during 7-day experiment were analyzed to determine the efficiency of cold plasma in improving water quality. e  
results showed that all water quality parameters in experiments were suitable for aquaculture. e cold plasma did  
not affect water temperature, pH and DO. In experiment 1, the cold plasma decreased COD, TAN and TSS. However,  
it was found that the cold plasma increased NO2. In experiments 2 and 3, the cold plasma increased TAN, and NO2.  
In addition, the cold plasma has shown its ability in decreasing density of bacteria (total bacteria, Bacillus spp. and  
Aeromonas spp.). Besides, the density of Escherichia coli in water was recorded under 10 cfu/mL. ese results proved  
that cold plasma has potential in improving water quality and removing bacterial pathogens in water.  
Keywords: Cold plasma, water quality parameters, bacterial density  
Ngày nhận bài: 19/7/2018  
Ngày phản biện: 25/7/2018  
Người phản biện: PGS.TS. Ngô ị u ảo  
Ngày duyệt đăng: 15/8/2018  
116  
pdf 9 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 55980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá hiệu quả xử lý nước cấp nuôi trồng thủy sản bằng Plasma lạnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_hieu_qua_xu_ly_nuoc_cap_nuoi_trong_thuy_san_bang_pl.pdf