Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú thâm canh ở tỉnh Cà Mau

Tap̣ chı Khoa hoc̣ Trương Đaị hoc̣ Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 46 (2016): 87-94  
̀
́
DOI:10.22144/ctu.jvn.2016.546  
PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ TÀI CHÍNH CỦA MÔ HÌNH NUÔI TÔM SÚ THÂM CANH  
Ở TỈNH CÀ MAU  
Nguyễn Thanh Long  
Khoa Thủy Sản, Trường Đại học Cần Thơ  
ABSTRACT  
Thông tin chung:  
Ngày nhận: dd/mm/yyyy  
Ngày chấp nhận: 26/10/2016  
Tôm sú là một trong những đối tượng nuôi chủ lực của tỉnh Cà Mau.  
Nghiên cứu được thực hiện từ tháng 5 đến tháng 12/2014. Phương pháp  
phỏng vấn trực tiếp được áp dụng trên 45 hộ nuôi tôm sú thâm canh ở  
huyện Đầm Dơi, Phú Tân và thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau nhằm đánh  
giá hiệu quả kỹ thuật và tài chính của mô hình nuôi và xác định những  
thuận lợi và khó khăn của mô hình sản xuất. Kết quả khảo sát cho thấy  
diện tích ao nuôi trung bình 0,27 ha/ao, tổng lượng thức ăn viên sử dụng  
trung bình là 6.656±2.302 kg/ha. Tôm được nuôi với mật độ trung bình là  
27,9±4,85 con/m2 và phần lớn con giống thả nuôi có nguồn gốc từ miền  
Trung. Năng suất tôm và lợi nhuận trung bình của mô hình nuôi thâm  
canh tôm sú lần lượt là 5.246±1.401 kg/ha/vụ và 551±342 triệu  
đồng/ha/vụ. Nghề nuôi tôm sú thâm canh hiện đang còn gặp nhiều khó  
khăn như thời gian nuôi lâu, sự tăng lên về giá thức ăn, dịch bệnh và giá  
thuốc cao.  
Title:  
Analyzing effectiveness of  
financial of the intensive  
black tiger shrimp system in  
Ca Mau province  
Từ khóa:  
Tôm sú, thâm canh, tài chính,  
kỹ thuật, Cà Mau  
Keywords:  
Black tiger shrimp, intensive,  
financial, technical, Ca mau  
TÓM TẮT  
Black tiger shrimp is one of the main target species of Ca Mau province.  
The study was conducted from May to December 2014. The interview  
method was applied directly on 45 households of intensive tiger shrimp  
systems in Dam Doi, Phu Tan districts and Ca Mau City of Ca Mau  
province in order to evaluate the effectiveness of technical, financial and  
advantages and disadvantages of the model. Results of the survey showed  
that the average pond area of 0.27 ha/pond, the average of total pellet  
feeds were supplied about 6.656±2.302 kg/ha. Shrimp seeds were stocked  
at average density of 27.9±4.85 individuals/m2 and mostly originating from  
Central region of Vietnam. The average of yield and profit of intensive  
tiger shrimp system were 5.246±1.401 kg/ha/crop and 551±342 million  
VND/ha/crop, respectively. Intensive tiger shrimp system currently faces  
many difficulties, such as longer culture period, the increase in the feed  
price, diseases and high medicine prices.  
Trích dẫn: Nguyễn Thanh Long, 2016. Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú thâm canh ở  
tỉnh Cà Mau. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ. 46b: 87-94.  
hàng đầu của đất nước (Tổng cục Thủy sản, 2013).  
1 GIỚI THIỆU  
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) là nơi có  
điều kiện phát triển nuôi trồng thủy sản, năm 2012  
ĐBSCL chiếm 70% tổng diện tích tôm nuôi và  
80% sản lượng tôm biển nuôi của cả nước.  
Thủy sản đã và đang trở thành một ngành đem  
lại hiệu quả kinh tế xã hội cao và được xếp vào một  
trong năm ngành có giá trị kim ngạch xuất khẩu  
87  
Tap̣ chı Khoa hoc̣ Trương Đaị hoc̣ Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 46 (2016): 87-94  
̀
́
Cà Mau có tiềm năng lớn để phát triển nuôi  
trồng thủy sản (NTTS). Năm 2013, tổng diện tích  
nuôi tôm nước lợ toàn tỉnh chiếm gần 40% diện  
tích cả nước với 268.242 ha, sản lượng đạt 103.900  
tấn, chủ lực trong NTTS của tỉnh là tôm sú, với đa  
dạng các mô hình nuôi góp phần vào sự tăng  
trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong tỉnh,  
bao gồm cả mô hình nuôi tôm sú thâm canh (Chi  
cục Nuôi trồng thủy sản tỉnh Cà Mau, 2014). Năm  
2015, diện tích nuôi tôm thâm canh tăng nhanh và  
đạt gần 9.000 ha. Vùng nuôi tập trung nhiều ở các  
huyện Ðầm Dơi 2.817 ha, Phú Tân 2.154 ha, Cái  
Nước 1.610 ha, Trần Văn Thời 667 ha... Mặc dù  
trong những năm gần đây, do nhiều yếu tố một số  
hộ nuôi chuyển sang nuôi tôm thẻ chân trắng, tuy  
vậy tôm sú vẫn được xác định là sản phẩm chính  
trong sản xuất và xuất khẩu tôm của tỉnh. Nghề  
nuôi thâm canh tôm sú đã và đang phát huy hiệu  
quả, góp phần tạo việc làm và cải thiện đời sống  
cho người dân tại địa phương trong tỉnh.  
giới tính, trình độ văn hóa, địa chỉ, lực lượng lao  
động, số năm kinh nghiệm, lý do chọn mô hình  
nuôi); khía cạnh kỹ thuật (diện tích ao nuôi, số vụ,  
thời gian nuôi, mật độ thả, kích cỡ con giống, quản  
lý ao, dịch bệnh, thức ăn, thu hoạch, tỉ lệ sống,  
FCR); khía cạnh tài chính (Chi phí, doanh thu, lợi  
nhuận, tỉ suất lợi nhuận và giá thành); thuận lợi,  
khó khăn và những vấn đề có liên quan đến mô  
hình nuôi.  
Các số liệu sau khi phỏng vấn được tổng hợp,  
kiểm tra và nhập vào máy tính. Phần mềm Excel  
được sử dụng để nhập và xử lý số liệu khảo sát.  
Các số liệu được thể hiện tần số xuất hiện, tỉ lệ  
phần trăm, giá trị trung bình và độ lệch chuẩn, giá  
trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất.  
* Một số chỉ tiêu hiệu quả tài chính được tính  
dựa trên các công thức sau:  
Tổng chi phí = Tổng chi phí biến đổi +  
Tổng chi phí khấu hao  
Hiệu quả và năng suất của mô hình nuôi thâm  
canh tôm sú phụ thuộc vào các yếu tố như: điều  
kiện tự nhiên của vùng để phát triển các đối tượng  
tiềm năng và áp dụng các mô hình nuôi phù hợp,  
bên cạnh đó yếu tố kinh tế - kỹ thuật có tác động  
rất lớn đến hiệu quả sản suất của nghề nuôi. Nhằm  
cung cấp thông tin làm cơ sở cho việc quản lý nghề  
nuôi tôm sú thâm canh ở tỉnh Cà Mau và tìm hiểu  
thêm những thuận lợi và khó khăn của mô hình này  
giúp cho người nuôi ổn định sản xuất, đề tài "Phân  
tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú  
thâm canh ở tỉnh Cà Mau" đã được thực hiện.  
Tổng thu nhập = tổng số tiền bán sản phẩm  
Tổng Lợi nhuận = Tổng thu nhập – Tổng  
chi phí  
Tỉ suất lợi nhuận (lần) = Tổng lợi  
nhuận/Tổng chi phí  
Giá thành = Tổng chi phí/tổng sản lượng  
3
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN  
3.1 Những thông tin chung về nông hộ nuôi  
tôm sú thâm canh tỉnh Cà Mau  
Trung bình trong gia đình có 3 lao động thì có 2  
người tham gia nuôi tôm và phần lớn các hộ được  
khảo sát đều sử dụng lao động của gia đình, do đất  
nuôi ít hoặc hộ nuôi muốn tiết kiệm chi phí thuê  
mướn. Có 94,3% lao động tham gia nuôi tôm là  
nam giới, chỉ có 5,7% là nữ vì họ là những lao  
động chính của gia đình, điều này cho thấy nam  
giới luôn đóng vai trò chính trong hoạt động nuôi  
tôm, do nghề nuôi cần phải có tính mạnh dạn đầu  
tư và sức khỏe tốt. Khảo sát này phù hợp với kết  
quả nghiên cứu của Lê Xuân Sinh (2006), tỉ lệ nam  
quyết định trong hoạt động NTTS chiếm 75,7%.  
2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Đề tài đã được thực hiện từ tháng 5 đến tháng  
12/2014. Số liệu thứ cấp được thu thập từ các báo  
cáo tại các cơ quan chức năng: Chi cục Nuôi  
TRỒNG Thủy sản tỉnh Cà Mau, Trung tâm  
Khuyến nông - Khuyến ngư tỉnh Cà Mau, các tài  
liệu thư viện cùng với những luận văn cao học, các  
tạp chí khoa học và trang web có liên quan; liên hệ  
với các cán bộ và thu thập các báo cáo đã được  
thống kê hàng năm tại địa bàn nghiên cứu.  
Nghề nuôi tôm thâm canh ở tỉnh Cà Mau tập  
trung nhiều ở các huyện Đầm Dơi, Phú Tân, Cái  
Nước, Trần Văn Thời, Thành phố Cà Mau… do  
giới hạn về kinh phí nên chọn 1 huyện giáp biển  
Đông (Đầm Dơi), 1 huyện giáp biển Tây (Phú Tân)  
và thành phố Cà Mau. Cụ thể là huyện Đầm Dơi  
(phỏng vấn 20 mẫu), Phú Tân (phỏng vấn 20 mẫu)  
và thành phố Cà Mau (phỏng vấn 5 mẫu), tổng  
cộng phỏng vấn trực tiếp 45 hộ nuôi tôm sú thâm  
canh.  
Độ tuổi của các chủ hộ nuôi tôm sú chủ yếu là  
trung niên, trung bình là 43 tuổi. Số năm có kinh  
nghiệm nuôi trung bình là 7 năm, thấp nhất là 1  
năm và cao nhất là 17 năm. Những hộ nhiều năm  
kinh nghiệm thường là những hộ đã được địa  
phương khuyến khích cải tạo đất nuôi tôm từ nhiều  
năm trước đây. Để có kiến thức về kỹ thuật nuôi,  
các chủ hộ nuôi tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật  
tại địa phương, tích lũy kinh nghiệm trong thời  
gian nuôi của chính nông hộ và học hỏi kinh  
nghiệm từ người thân và bạn bè.  
Bảng câu hỏi soạn sẵn với những nội dung bao  
gồm: các thông tin chung về nông hộ (Họ tên, tuổi,  
88  
Tap̣ chı Khoa hoc̣ Trương Đaị hoc̣ Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 46 (2016): 87-94  
̀
́
Bảng 1: Tuổi chủ hộ, lao động, số năm kinh nghiệm  
Nội dung  
Trung bình  
Nhỏ nhất  
Lớn nhất  
Tổng số lao động trong gia đình (người/hộ)  
Số lao động trong gia đình tham gia mô hình (người/hộ)  
Số lao động thuê mướn (người/hộ)  
Tuổi (tuổi)  
3
2
0
43  
7
1
1
0
26  
1
8
3
0
64  
17  
Số năm có kinh nghiệm trong NTTS (năm)  
phần nâng cao hiệu quả sản xuất của mô hình.  
Trình độ học vấn là một trong những yếu tố  
quan trọng trong sản xuất, vì bên cạnh những kinh  
nghiệm đã tích lũy được, người nuôi phải có những  
kiến thức cơ bản để dễ ứng dụng các kỹ thuật nuôi.  
Từ kết quả khảo sát cho thấy có 100% chủ hộ có  
trình độ từ tiểu học trở lên, không có chủ hộ nào  
mù chữ. Trong đó, 2,9% chủ hộ có trình độ đại  
học, cao đẳng, 34,3% chủ hộ có trình độ trung học  
phổ thông, 40,0% chủ hộ có trình độ trung học cơ  
sở và 22,8% chủ hộ trong và đã qua trình độ tiểu  
học. Với 77,2% các chủ hộ có trình độ học vấn từ  
trung học cơ sở trở lên, việc tiếp thu và ứng dụng  
kỹ thuật vào mô hình nuôi cũng được tốt hơn, góp  
Bảng 2 cho biết lý do các chủ hộ lựa chọn mô  
hình, trong đó lý do được nhiều hộ chọn là vì lợi  
nhuận cao và ít tốn chi phí nuôi so với mô hình  
khác như mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng. Theo  
kết quả nghiên cứu của Phùng Thị Hồng Gấm và  
ctv. (2014) cho thấy tổng chi phí cho mô hình nuôi  
tôm thẻ chân trắng và tôm sú thâm canh lần lượt là  
747 triệu đồng/ha/vụ và 402 triệu đồng/ha/vụ. Các  
lý do chủ yếu khác như: theo xu hướng nuôi của  
vùng, được địa phương hỗ trợ về kỹ thuật, mô hình  
tận dụng được đất và lao động gia đình, dễ nuôi và  
tỉ lệ nuôi thành công khá cao.  
Bảng 2: Lý do chọn mô hình  
Các lý do chính  
Số hộ  
21  
Tỷ lệ (%)  
46,67  
Ít tốn chi phí nuôi so với mô hình khác và lợi nhuận tương đối cao  
Xu hướng nuôi tôm sú của vùng  
Có kinh nghiệm nuôi  
15  
14  
33,33  
31,11  
Tận dụng đất và lao động từ gia đình  
Tỉ lệ nuôi thành công cao  
11  
10  
24,44  
22,22  
Dễ nuôi  
7
15,56  
3.2 Khía cạnh kỹ thuật của mô hình nuôi  
tôm sú thâm canh ở tỉnh Cà Mau  
sóc nếu như sử dụng ít lao động, ngược lại diện  
tích nhỏ sẽ dễ quản lí hơn. Tùy theo diện tích nuôi  
mà mỗi hộ phân chia diện tích ao và số lượng ao  
nuôi tôm sú khác nhau, trung bình diện tích mỗi ao  
0,27 ha/hộ và độ sâu mực nước của ao nuôi trung  
bình là 1,50 m. Kết quả này giống với kết quả khảo  
sát của Phạm Công Kỉnh và ctv. (2015), cao hơn  
kết quả nghiên cứu của Lâm Văn Tùng và ctv.  
(2012) với mực nước bình quân của ao nuôi tôm sú  
thâm canh là 1,38 m ở hình thức nuôi nông hộ ở  
tỉnh Sóc Trăng và Bến Tre.  
Diện tích nuôi khác nhau thì chi phí nuôi khác  
nhau và sẽ ảnh hưởng đến sản lượng thu hoạch và  
doanh thu của hộ. Diện tích đất NTTS trung bình  
của chủ hộ là 1,17 ha/hộ, trung bình diện tích đất  
cho nuôi tôm sú là 0,60 ha/hộ, có sự chệnh lệch về  
diện tích nuôi của các hộ, diện tích lớn nhất là 1,50  
ha/hộ và nhỏ nhất là 0,22 ha/hộ. Diện tích nuôi lớn  
hộ nuôi sẽ gặp khó khăn trong việc quản lí và chăm  
Bảng 3: Thông tin về diện tích nuôi và ao nuôi thâm canh tôm sú Cà Mau  
Nội dung  
Min-Max  
0,12-3,90  
0,22-1,50  
0,00-50  
0,10-0,60  
1,00-6,00  
1,00-2,00  
Trung bình  
1,17±0,84  
0,60±0,36  
13,3±15,6  
0,27±0,12  
2,20±1,12  
1,50±0,18  
Tổng diện tích sử dụng NTTS (toàn bộ) (ha/hộ)  
Tổng diện tích nuôi tôm sú thâm canh (ha/hộ)  
Tỷ lệ diện tích ao lắng (%)  
Diện tích mặt nước 1 ao nuôi (ha/ao)  
Số lượng ao nuôi thâm canh tôm sú (ao/hộ)  
Mực nước bình quân ao nuôi (m)  
nước rất cần thiết đối với nuôi thâm canh để đảm  
bảo chất lượng nước đưa vào ao nuôi.  
Trong 45 hộ nuôi được phỏng vấn thì chỉ có 19  
hộ có sử dụng ao lắng với diện tích mặt nước ao  
lắng 0,08 ha/ao. Tỉ lệ diện tích ao lắng chiếm trung  
bình 13,3% so với diện tích nuôi tôm sú. Các hộ  
không làm ao lắng vì quy mô nuôi nhỏ hoặc để tận  
dụng tối đa diện tích đất nuôi. Ao lắng và ao xử lí  
Nuôi tôm sú trung bình khoảng 150 ngày có thể  
thu hoạch được, ở những hộ có tôm chậm lớn hoặc  
đợi giá bán cao mới thu hoạch thường nuôi trên  
89  
Tap̣ chı Khoa hoc̣ Trương Đaị hoc̣ Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 46 (2016): 87-94  
̀
́
150 ngày, thấp hơn với kết quả nghiên cứu của  
Nguyễn Thanh Long và Võ Thanh Toàn (2008) có  
thời gian nuôi thâm canh tôm sú trung bình là 168  
ngày. Thời gian nuôi tôm sú dài nên mỗi năm chỉ  
nuôi từ 1 đến 2 vụ và thường bắt đầu thả tôm vào  
các tháng ít mưa vì độ mặn nước nuôi cao dễ xử lý,  
thuận lợi cho sự phát triển của tôm.  
nên đa số đều tìm được nguồn con giống chất  
lượng tốt để nuôi.  
Nghề nuôi tôm sú thâm canh ở tỉnh Cà Mau có  
thể nuôi từ 1 đến 2 vụ trong năm. Thời gian nuôi 1  
vụ từ 120-180 ngày. Mật độ thả nuôi trung bình  
của các hộ là 27,9 con/m2, cao nhất là 40 con/m2 và  
thấp nhất là 20 con/m2, do kích cỡ thu hoạch lớn và  
ở những hộ chưa có kinh nghiệm nuôi nhiều thì thả  
nuôi ở mật độ thấp. So sánh với kết quả của Dương  
Vĩnh Hảo (2009) mật độ thả nuôi tôm sú trung bình  
là 27,3 con/m2 thì cao hơn và thấp hơn kết quả  
nghiên cứu của Lâm Văn Tùng và ctv. (2012) với  
mật độ thả tôm sú trung bình là 33,8 con/m2. Tôm  
sú thích nghi với mật độ thấp và giá con giống  
không quá cao nên các hộ mua giống với kích cỡ  
tương đối lớn và tỉ lệ sống đạt khá cao (63,1%).  
Qua kết quả khảo sát thì có 62,9% hộ nuôi đang  
sử dụng con giống có nguồn gốc ở miền Trung,  
17,0% con giống từ các tỉnh ĐBSCL và còn lại là  
trong tỉnh (20,1%). Kết quả này phù hợp với  
nghiên cứu của Lê Xuân Sinh (2006), hàng năm  
lượng tôm sú giống thả nuôi ở ĐBSCL phải nhập  
từ các tỉnh miền Trung từ 65% - 75%. Có 86,0%  
các hộ nuôi tôm sú nhận định nguồn tôm giống có  
chất lượng từ khá trở lên. Điều này cho thấy người  
nuôi đã có nhận thức tốt trong việc chọn tôm giống  
Bảng 4: Các thông số kỹ thuật của mô hình nuôi thâm canh tôm sú Cà Mau  
Nội dung  
Min-Max  
1-2  
120-180  
1-2  
20-40  
PL10 -PL15  
45-100  
Giá trị  
1,49±0,51  
150±15,4  
Số vụ nuôi trong năm (vụ/năm)  
Thời gian nuôi (số ngày/vụ)  
Số lần sên vét (lần/năm)  
Mật độ thả nuôi (con/m2)  
Kích cỡ con giống thả (PL)  
Tỉ lệ sống (%)  
Tổng lượng thức ăn sử dụng (Kg/ha/vụ)  
Hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR)  
Số lần cho ăn trong ngày (số lần/ngày)  
Kích cỡ thu hoạch (con/kg)  
Năng suất (kg/ha/vụ)  
1,57±0,50  
27,9±4,85  
PL10 -PL15  
63,1±14,9  
6.656±2.302  
1,26± 0,26  
4,00± 0,24  
33,9± 5,86  
5.246±1.401  
3.250- 15.000  
1,1-2  
3-5  
20-48  
3.333- 10,000  
và mau lớn, do đó nhu cầu về chất lượng thức ăn  
cho tôm ở các nông hộ ngày càng cao; phần lớn hộ  
sử dụng thức ăn viên cho tôm, số lần cho ăn trung  
bình là 4 lần/ngày và hình thức cho ăn chủ yếu là  
rải đều trong ao nuôi.  
Lượng thức ăn cung cấp cho ao nuôi trung bình  
là 6.656±2.302 kg/ha/vụ. Kết quả này gần bằng kết  
quả nghiên cứu của Đàm Thị Phong Ba (2007),  
lượng thức ăn trung bình của nuôi tôm sú thâm  
canh là 6.685 kg/ha/vụ. Số lượng thức ăn phụ  
thuộc vào thời gian nuôi và sự tăng trưởng của con  
giống, những hộ sử dụng lượng thức ăn cho tôm ít  
là do thất mùa hoặc thu hoạch tôm sớm. FCR trung  
bình là 1,26 và thấp hơn kết quả nghiên cứu của  
Dương Vĩnh Hảo (2009) với FCR trong nuôi tôm  
sú thâm canh là 1,53. Thức ăn tốt sẽ giúp tôm khỏe  
Theo kết quả khảo sát, năng suất nuôi bình  
quân là 5.246±1.401 kg/ha/vụ. Năng suất này cao  
hơn so với kết quả nghiên cứu của Phạm Công  
Kỉnh và ctv. (2015). Năng suất ở hình thức nuôi  
nông hộ đạt 4,68 tấn/ha ở mật độ thả 33,1 con/m2).  
90  
Tap̣ chı Khoa hoc̣ Trương Đaị hoc̣ Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 46 (2016): 87-94  
̀
́
y = -0,2287x + 6794,4  
R² = 0,0263  
12000  
10000  
8000  
6000  
4000  
2000  
0
12000  
10000  
8000  
6000  
4000  
2000  
0
y = 53,853x + 4670  
R² = 0,0239  
0
2.000 4.000 6.000 8.000  
Diện tích ao nuôi (m2)  
15  
25  
35  
45  
Mật độ thả (con/m2)  
Hình 1: Tương quan mật độ thả nuôi đến năng  
suất  
Hình 2: Tương quan diện tích ao nuôi đến năng  
suất  
các khoản chi phí làm ao nuôi và mua máy móc  
thiết bị phục vụ việc nuôi. Tổng chi phí khấu hao  
trung bình là 21,7±8,03 triệu đồng/ha/vụ, trong đó  
chi phí đào ao cao hơn chi phí máy móc, thiết bị  
phục vụ sản xuất do mô hình ít đầu tư trang thiết bị  
và máy móc, các máy móc được sử dụng với công  
suất không quá lớn nên thời gian sử dụng được lâu  
hơn.  
Xét về mối tương quan giữa mật độ và diện tích  
ao nuôi đến năng suất, qua Hình 1 và 2 cho thấy  
mật độ thả nuôi từ 20 con/m2 đến 40 con/m2 thì  
mật độ thả nuôi càng cao sẽ có năng suất càng cao  
và diện tích ao nuôi càng lớn thì năng suất càng  
giảm. Năng suất cao tập trung vào ao có diện tích  
từ 2000-4000 m2. Tuy nhiên, hai mối tương quan  
này có R2 nhỏ (lần lượt là R2=0,0239 và  
R2=0,0263).  
Tổng chi phí cố định đầu tư vào mô hình giữa  
các hộ nuôi là không giống nhau, do còn phụ thuộc  
vào diện tích nuôi và mức độ đầu tư của mỗi hộ, và  
thường đối với ao nuôi có diện tích lớn thì có thể  
tiết kiệm được 1 khoản về chi phí trang thiết bị hơn  
ao nhỏ.  
3.3 Phân tích hiệu quả tài chính của mô  
hình nuôi tôm sú thâm canh tỉnh Cà Mau  
Theo kết quả khảo sát cho thấy, tổng chi phí cố  
định trung bình 129±46,6 triệu đồng/ha bao gồm  
Bảng 5: Chi phí cố định và chi phí khấu hao của mô hình  
Chi phí cố định  
(triệu đồng/ha)  
Thời gian sử dụng  
Chi phí khấu hao  
Nội dung  
(năm) (triệu đồng/ha/vụ)  
Chi phí xây dựng ao  
72,8±35,9  
2,54±6,08  
7,51±7,98  
22,8±11,2  
11,0±5,79  
12,3±12,1  
129±46,6  
5,36±2,79  
9,12±5,88  
0,33±0,74  
2,30±2,47  
3,61±1,56  
2,20±1,07  
4,10±2,60  
21,7±8,03  
Xây cống, hệ thống cấp nước  
Xây nhà phục vụ sản xuất  
Máy đạp nước (cánh quạt, sụt khí)  
Máy bơm phục vụ sản xuất  
Ghe xuồng, xe phục vụ sản xuất  
Tổng  
5,17±1,16  
2,19±2,4  
4,24±1,5  
3,36±1,49  
2,01±3,47  
cứu của Lê Xuân Sinh (2006): thức ăn, thuốc thú y  
thủy sản, nhiên liệu, con giống là các khoản chi phí  
lớn có ảnh hưởng trực tiếp hiệu quả và chất lượng  
nuôi tôm thâm canh và bán thâm canh.  
Bảng 6 thệ hiện các khoản chi phí biến đổi của  
mô hình. Từ kết quả khảo sát cho thấy chi phí thức  
ăn là khoản chi phí cao nhất trung bình là 259±125  
triệu đồng/ha/vụ, chiếm 55,9% trong tổng chi phí  
biến đổi, kế đến là chi phí thuốc hóa chất trung  
bình 89,7±87,2 triệu đồng/ha/vụ, chiếm 19,3%  
tổng chi phí biến đổi. Đứng thứ 3 trong chi phí  
biến đổi là chi phí điện phục vụ sản xuất. Khoản  
chi phí dùng cho việc trả lãi ngân hàng tương đối  
thấp, đa phần các hộ sử dụng nguồn vốn tự có hoặc  
tự tìm nguồn vốn từ người thân, bạn bè. Tổng chi  
phí biến đổi trung bình là 465±174 triệu  
đồng/ha/vụ. Kết quả khảo sát phù hợp với nghiên  
Giá bán tôm sau thu hoạch trung bình  
201.000±52.314 đồng/kg, tuy nhiên có sự chênh  
lệch về giá khi bán tôm sú giữa các hộ nuôi, có hộ  
bán được với giá 320.000 đồng/kg nhưng có hộ chỉ  
bán được giá 118.000 đồng/kg. Giá bán cao hay  
thấp còn phụ thuộc vào kích cỡ thu hoạch, mùa vụ  
cũng như sự biến động của thị trường và chất  
lượng tôm sau thu hoạch.  
91  
Tap̣ chı Khoa hoc̣ Trương Đaị hoc̣ Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 46 (2016): 87-94  
̀
́
Bảng 6: Chi phí biến đổi của mô hình nuôi thâm canh tôm sú tỉnh Cà Mau  
Nội dung  
Giá trị Tỷ lệ (%)  
Tổng chi phí cho thức ăn (triệu đồng/ha/vụ)  
Tổng chi phí thuốc và hóa chất (triệu đồng/ha/vụ)  
Chi phí nhiên liệu (điện, xăng, dầu, nhớt...) (triệu đồng/ha/vụ)  
Chi phí cải tạo ao (triệu đồng/ha/vụ)  
Tổng chi phí con giống (triệu đồng/ha/vụ)  
Chi phí sửa chữa lại ao (triệu đồng/ha/vụ)  
Tổng chi phí tiền lãi ngân hàng (triệu đồng/ha/vụ)  
Tổng chi phí biến đổi (triệu đồng/ha/vụ)  
259±125  
89,7±87,2  
49,1±27,3  
26,7±20,2  
21,6±8,19  
16,4±18,5  
1,72±6,06  
465±174  
55,9  
19,3  
10,6  
5,71  
4,60  
3,52  
0,37  
100  
thời nên đảm bảo được hiệu quả tôm nuôi. Doanh  
thu cao do đó lợi nhuận mô hình đem lại khá cao  
bình quân là 551±342 triệu đồng/ha/vụ, tỷ suất lợi  
nhuận bình quân là 1,19±0,70 lần.  
Qua kết quả khảo sát 45 hộ nuôi cho thấy trung  
bình doanh thu của các hộ có từ mô hình tương đối  
cao và không có hộ nào bị lỗ vốn nguyên nhân là  
do trong quá trình nuôi ít rủi ro, phòng trị bệnh kịp  
Bảng 7: Hiệu quả tài chính của mô hình nuôi thâm canh tôm sú tỉnh Cà Mau  
Nội dung  
Min-Max  
410-1.550  
369-810  
Giá trị  
1.038±398  
487±176  
Tổng doanh thu (triệu đồng/ha/vụ)  
Tổng chi phí (triệu đồng/ha/vụ)  
Lợi nhuận (triệu đồng/ha/vụ)  
Giá thành (đồng/kg)  
56-925  
69.818-152.814  
0,11-2,09  
551±342  
94.306±26.025  
1,19±0,70  
Tỉ suất lợi nhuận (lần)  
Giá thành sản xuất ngày càng tăng do tình hình  
dịch bệnh trên tôm đang xảy ra nhiều nên chi phí  
thuốc, hóa chất phòng trị bệnh tăng và chi phí thức  
ăn cao do đảm bảo chất lượng càng cao.  
Giá thành sản xuất trung bình là 94.306  
đồng/kg. Cao hơn nghiên cứu của Lâm Văn Tùng  
và ctv. (2012), ở thời điểm 2012 giá thành sản xuất  
trung bình tôm sú thâm canh là 74.900 đồng/kg.  
800  
700  
800  
y = 0,0298x + 264,98  
y = -8,5196x + 583,77  
700  
600  
500  
400  
300  
200  
100  
-
R² = 0,0342  
R² = 0,0457  
600  
500  
400  
300  
200  
100  
-
0
2000 4000 6000 8000  
15  
25  
35  
45  
Diện tích ao nuôi (m2)  
Mật độ thả nuôi (con/m2)  
Hình 3: Tương quan mật độ thả nuôi đến lợi nhuận Hình 4: Tương quan diện tích ao nuôi đến lợi nhuận  
của tỉnh Cà Mau. Theo kết quả khảo sát cho thấy  
Hình 3 và 4 thể hiện mối tương quan giữa mật  
có nhiều thuận lợi cho hoạt động sản xuất của các  
độ thả nuôi và diện tích ao nuôi đến lợi nhuận. Mối  
hộ nuôi tôm sú như chi phí nuôi tương đối thấp và  
tương quan này cho thấy mô hình được thả nuôi ở  
lợi nhuận mang lại cao, rủi ro thấp và dễ nuôi, giá  
mật độ cao đem lại lợi nhuận thấp hơn và lợi nhuận  
cao tập trung vào mật độ thả từ 25-30 con/m2. Diện  
tích ao càng lớn thì đem lại lợi nhuận càng cao.  
Tuy nhiên, cả hai mối tương quan này có R2 thấp.  
bán tôm thương phẩm ổn định và có nhiều thương  
lái thu mua. Hiện nay, so với thẻ chân trắng thị  
trường của tôm sú có giá hơn và mang lại hiệu quả  
kinh tế cao hơn tạo động lực cho các hộ nuôi đã  
nhiều năm giữ vững mô hình này vì giá bán cao là  
nguyên nhân góp phần tăng lợi nhuận của mô hình  
nuôi.  
3.4 Những thuận lợi và khó khăn của nghề  
nuôi tôm sú thâm canh ở tỉnh Cà Mau  
Tôm sú đã phát triển từ rất lâu ở nước ta và đã  
trở thành một trong những đối tượng nuôi chủ lực  
92  
Tap̣ chı Khoa hoc̣ Trương Đaị hoc̣ Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 46 (2016): 87-94  
̀
́
Bảng 8: Thuận lợi của mô hình nuôi thâm canh tôm sú ở tỉnh Cà Mau  
Nội dung  
Mẫu quan sát  
Tỉ lệ (%)  
80,00  
64,44  
31,11  
24,44  
17,78  
Chi phí nuôi thấp hơn tôm thẻ và lợi nhuận cao  
Dễ quản lí và chăm sóc  
Giá bán cao và nhiều thương lái thu mua  
Được địa phương hỗ trợ về kỹ thuật và cơ sở hạ tầng  
Môi trường nước nuôi tốt  
36  
29  
14  
11  
8
Chất lượng con giống tốt  
7
15,56  
Cà Mau là vùng có nhiều lợi thế để phát triển  
NTTS, đặc biệt là nuôi tôm nên được Nhà nước,  
chính quyền địa phương quy hoạch và đầu tư xây  
dựng cơ sở hạ tầng điện nước, được sự hỗ trợ của  
trung tâm khuyến ngư của tỉnh và phòng Nông  
nghiệp, người nuôi tôm được tiếp xúc với những  
kỹ thuật nuôi mới và các thông tin về dịch bệnh,  
hướng dẫn kỹ thuật nuôi và quản lý chăm sóc, đây  
cũng là một trong những thuận lợi lớn để người  
dân phát triển và nâng cao hiệu quả nuôi mô hình  
này.  
Ngoài ra, còn những nguyên nhân khác gây khó  
khăn cho người nuôi tôm sú như giá điện phục vụ  
sản xuất ở một vài hộ nuôi cao là do các hộ vẫn  
chưa được áp giá điện, thuốc thú y thủy sản không  
rõ nguồn gốc và bị pha tạp xuất hiện ngày càng  
nhiều làm cho các hộ nuôi gặp khó khăn trong việc  
nhận dạng và phân biệt thuốc, hóa chất có chất  
lượng. Mưa nhiều dẫn đến phân tầng nguồn nước  
nuôi và người nuôi khó xử lý độ mặn nước ao và  
khó khăn trong việc quản lý cho ăn.  
Với mong muốn có thể giảm bớt phần thiệt hại  
trong quá trình nuôi, một vài chủ hộ sử dụng một  
số phương pháp đã tích lũy và học hỏi được. Để  
ngăn chặn sự lây lan dịch bệnh từ môi trường ngoài  
vào ao, các hộ xây dựng ao nuôi khép kín, hạn chế  
việc thay nước ao thường xuyên và xử lý tốt nguồn  
nước trước khi đưa vào ao và thải nước ra để ít ảnh  
hưởng đến môi trường chung; với chất lượng và  
nguồn gốc của thuốc, hóa chất hiện tại, một số hộ  
đã sử dụng thêm thuốc đông y cho tôm như: cây  
mật gấu, ô rô,…vừa tiết kiệm chi phí thuốc cũng  
đảm bảo được chất lượng tôm sau thu hoạch.  
Tuy nhiên, trong quá trình nuôi người nuôi  
cũng gặp nhiều khó khăn, cũng là nguyên nhân dẫn  
đến không lời nhiều ở một số hộ nuôi tôm sú của  
tỉnh Cà Mau. Khó khăn lớn nhất mà đa số các hộ  
nuôi gặp phải là thời gian nuôi lâu nên chỉ nuôi  
được 1 đến 2 vụ mỗi năm, người nuôi sẽ rất khó tái  
vụ nếu trong quá trình nuôi tôm gặp thất bại, kế  
đến là giá thuốc và thức ăn cao làm chi phí nuôi  
tăng dẫn đến lợi nhuận cũng bị ảnh hưởng.  
Bảng 9: Khó khăn của mô hình nuôi thâm canh  
tôm sú ở tỉnh Cà Mau  
4 4KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT  
4.1 Kết luận  
Mẫu  
Tỉ lệ  
Nội dung  
quan  
sát  
(%)  
Ao nuôi tôm sú thâm canh ở tỉnh Cà Mau có  
diện tích trung bình là 0,27 ha/ao và độ sâu mực  
nước ao trung bình là 1,5 m.  
Thời gian nuôi lâu  
27 60,00  
19 42,22  
17 37,78  
16 35,56  
12 26,67  
10 22,22  
Giá thuốc và thức ăn tăng cao  
Rủi ro về dịch bệnh cao  
Nguồn nước chung ô nhiễm nặng  
Giá điện cao  
Thuốc và hóa chất pha tạp tràn lan  
Thời tiết thay đổi  
Có 62,9% hộ nuôi tôm sú sử dụng con  
giống từ miền Trung và còn lại là một số trại sản  
xuất giống tại các tỉnh ĐBSCL.  
Sau thời gian nuôi trung bình 150 ngày/vụ;  
với mật độ thả nuôi trung bình là 27,9 con/m2; mô  
hình đạt năng suất bình quân là 5.246±1.401  
kg/ha/vụ, tỉ lệ sống đạt 63,1% và hệ số tiêu tốn  
thức ăn trung bình là 1,26.  
4
8,89  
Tình hình dịch bệnh trên tôm ngày càng phức  
tạp là điều mà các hộ nuôi tôm sú luôn phải đối  
mặt, đặc biệt là những bệnh chưa có thuốc đặc trị  
hoặc khó trị như bệnh về gan đã ảnh hưởng đến  
chất lượng tôm, nguồn nước chung ô nhiễm nặng  
do ảnh hưởng từ các chất thải công nghiệp và ý  
thức chung trong việc xử lí chất thải ao, sên vét ao  
của các hộ nuôi. Không chỉ chất thải của các hộ  
nuôi tôm sú mà còn chất thải của các mô hình nuôi  
khác và chất thải công nghiệp từ các địa phương là  
nguyên nhân lớn làm cho tình hình dịch bệnh tăng  
mạnh.  
Với tổng chi phí là 487±176 triệu  
đồng/ha/vụ, mô hình đem lại lợi nhuận là 551±342  
triệu đồng/ha/vụ và tỷ suất lợi nhuận là 1,19 lần.  
Qua kết quả khảo sát thấy các khó khăn hộ  
nuôi đối mặt như: thời gian nuôi lâu, sự gia tăng về  
giá thức ăn, giá thuốc và dịch bệnh.  
93  
Tap̣ chı Khoa hoc̣ Trương Đaị hoc̣ Cần Thơ  
Phần B: Nông nghiệp, Thủy sản và Công nghệ Sinh học: 46 (2016): 87-94  
̀
́
bằng sông Cửu Long. Tạp chí Khoa học, Trường  
Đại học Cần Thơ, quyển 2, trang 220-234.  
4.2 Đề xuất  
Cần có chiến lược bình ổn giá vật tư thủy sản:  
thức ăn, thuốc phòng trị bệnh và hóa chất để các hộ  
có thể giảm phần nào chi phí nuôi.  
Nguyễn Thanh Long và Võ Thanh Toàn, 2008. Đánh  
giá mức độ tích lũy đạm, lân trong mô hình nuôi  
tôm sú (Panaeus Monodon) thâm canh. Tạp chí  
Khoa học Trường Đại học Cần Thơ, quyển 1,  
trang 44-52.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Chi cục Nuôi trồng Thủy sản tỉnh Cà Mau, 2014. Báo  
cáo tham luận tình hình dịch bệnh và công tác  
phòng chống dịch bệnh năm 2013-2014. 6 trang.  
Phạm Công Kỉnh, Trần Ngọc Hải và Trương Hoàng  
Minh, 2014. So sánh khí cạnh kỹ thuật và tài  
chính giữa các hình thức sản xuất tôm sú  
(Penaeus monodon) thâm canh ở tỉnh Bến Tre.  
Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Số  
16/2014. 65-72.  
Đàm Thị Phong Ba, 2007. Phân tích các yếu tố ảnh  
hưởng đến sản xuất và tiêu thụ tôm sú ở Đồng  
bằng sông Cửu Long. Luận văn cao học chuyên  
nghành kinh tế nông nghiệp. Khoa Kinh tế và  
Quản trị Kinh doanh. Đại học Cần Thơ. 72 trang.  
Phùng Thị Hồng Gấm, Võ Nam Sơn và Nguyễn  
Thanh Phương, 2014. Phân tích hiệu quả sản  
xuất các mô hình nuôi tôm thẻ chân trắng và tôm  
sú thâm canh ở tỉnh Ninh Thuận. Tạp chí Khoa  
học Trường Đại học Cần Thơ. Số chuyên đề:  
Thủy sản (2014) 37-43.  
Dương Vĩnh Hảo, 2009. Phân tích hiệu quả kinh tế-  
kỹ thuật của mô hình nuôi tôm sú thâm canh và  
bán thâm canh ven biển tỉnh Sóc Trăng. Luận  
văn cao học 2009, Đại học Cần Thơ. 79 trang.  
Lâm Văn Tùng, Phạm Công Kỉnh, Trương Hoàng  
Minh và Trần Ngọc Hải, 2012. Hiệu quả kỹ  
thuật, tài chính và phương thức liên kết của các  
cơ sở nuôi tôm sú (Panaeus Monodon) thâm canh  
ở tỉnh Bến Tre và tỉnh Sóc Trăng. Tạp chí Khoa  
học, Đại học Cần Thơ. 2012:24a 78-87  
Tổng cục Thủy sản, 2013. Kết quả sản xuất thủy sản  
ngày 20/07/2014.  
Võ Văn Bé, 2007. Điều tra hiệu quả nuôi tôm sú  
(Panaeus Monodon) rải vụ ở tỉnh Sóc Trăng. Luận  
văn cao học chuyên ngành Nuôi trồng thủy sản,  
Khoa thủy sản, Trường Đại học Cần Thơ. 69 trang.  
Lê Xuân Sinh, 2006. Tác động về mặt xã hội các hoạt  
động nuôi trồng thủy sản mặn lợ ven biển Đồng  
94  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 17340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích hiệu quả tài chính của mô hình nuôi tôm sú thâm canh ở tỉnh Cà Mau", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_hieu_qua_tai_chinh_cua_mo_hinh_nuoi_tom_su_tham_ca.pdf