Phân vùng địa lí tự nhiên vùng Thanh Nghệ Tĩnh

JOURNAL OF SCIENCE OF HNUE  
DOI: 10.18173/2354-1059.2017-0019  
Natural Sci. 2017, Vol. 62, No. 3, pp. 153-159  
PHÂN VÙNG ĐỊA LÍ TỰ NHIÊN VÙNG THANH NGHỆ TĨNH  
Hoàng Thị Cường  
Khoa Quản lí Nhà nước về Xã hội, Học viện Hành chính Quốc gia  
Tóm tắt. Dựa trên cơ sở lí luận về phân vùng địa lí tự nhiên và đặc điểm phân hóa về điều  
kiện tự nhiên đã chia vùng Thanh Nghệ Tĩnh thành 5 tiểu vùng (núi Tây Thanh Hóa - Nghệ  
An; núi Bắc của Bắc Trường Sơn; đồi núi thấp Thanh Hóa - Nghệ An; đồng bằng Thanh Hóa;  
đồng bằng Nghệ Tĩnh). Kết quả phân vùng địa lí tự nhiên vùng Thanh Nghệ Tĩnh là cơ sở  
thực tiễn quan trọng phục vụ đánh giá tổng hợp điều kiện tự nhiên nhằm huy động nguồn tài  
nguyên hợp lí phục vụ phát triển bền vững vùng Thanh Nghệ Tĩnh sẽ là hướng nghiên cứu  
cần thiết cho định hướng tổ chức lãnh thổ hợp lí, hiệu quả tại địa phương.  
Từ khóa: Vùng Thanh Nghệ Tĩnh, phân vùng, cảnh quan địa lí.  
1. Mở đầu  
Phân vùng địa lí tự nhiên là vạch ra được các thể tổng hợp địa lí tự nhiên ở các cấp phân vị  
khác nhau dựa trên sự phân hóa lãnh thổ và dựa trên những nguyên tắc, phương pháp nhất định,  
tìm ra mức độ đa dạng và đặc trưng của điều kiện tự nhiên phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội [1].  
Trước đây, vùng Thanh Nghệ Tĩnh đã được phân vùng nằm trong tổng thể thuộc miền Tây Bắc và  
Bắc Trung Bộ [2] hoặc trong miền cảnh quan Bắc Trung Bộ [3] dựa vào phân hóa điều kiện tự  
nhiên. Trong nghiên cứu này, Thanh Nghệ Tĩnh được xem là một vùng, căn cứ phân vùng dựa vào  
sự phân hóa tự nhiên đồng thời gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội liên vùng.  
Vùng Thanh Nghệ Tĩnh có thiên nhiên đa dạng và phân hóa sâu sắc theo cả quy luật địa đới,  
phi địa đới [4]. Đây là một trong những lãnh thổ có nhiều nét tương đồng và có sự kết gắn trong  
lịch sử hình thành và phát triển tự nhiên cũng như phát triển kinh tế - xã hội. Đặc điểm tự nhiên,  
tài nguyên thiên nhiên và đặc điểm kinh tế - xã hội vùng Thanh Nghệ Tĩnh có sự tác động qua lại  
lẫn nhau theo các quy luật của tự nhiên, đây là cơ sở khoa học và thực tiễn cho phân vùng địa lí tự  
nhiên vùng Thanh Nghệ Tĩnh. Kết quả phân vùng địa lí tự nhiên cùng Thanh Nghệ Tĩnh là cơ sở  
giúp các nhà nghiên cứu, nhà quản lí của trung ương và địa phương xây dựng kế hoạch, chiến lược  
khai thác hợp lí tài nguyên, bảo vệ môi trường nhằm phát triển bền vững vùng Thanh Nghệ Tĩnh.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Cơ sở phương pháp luận và nguyên tắc phân vùng địa lí tự nhiên vùng Thanh  
Nghệ Tĩnh  
Phân vùng địa lí tự nhiên Thanh Nghệ Tĩnh là sự phân chia lãnh thổ thành các đơn vị có sự  
đồng nhất tương đối về thành phần, tính chất và mối quan hệ giữa các nhân tố thành tạo, trên cơ sở  
Ngày nhận bài: 8/2/2017. Ngày nhận đăng: 14/3/2017.  
Tác giả liên hệ: Hoàng Thị Cường, e-mail: [email protected]  
153  
Hoàng Thị Cường  
các vùng đó, lựa chọn loại hình sản xuất phù hợp với các biện pháp khai thác, bảo vệ hợp lí.  
Quá trình phân vùng được tiến hành dựa vào các nguyên tắc: Nguyên tắc khách quan; nguyên  
tắc phát sinh; nguyên tắc tổng hợp; nguyên tắc đồng nhất tương đối và nguyên tắc cùng chung  
lãnh thổ và dựa vào các phương pháp phân vùng địa lí tự nhiên: phương pháp phân tích và so sánh  
các bản đồ hợp phần, phương pháp khảo sát thực địa, phương pháp phân tích yếu tố trội, các  
phương pháp điều tra tổng hợp [1, 5].  
2.2. Kết quả phân vùng địa lí tự nhiên vùng Thanh Nghệ Tĩnh  
2.2.1. Tiêu chí phân vùng địa lí tự nhiên vùng Thanh Nghệ Tĩnh  
Trong nghiên cứu phân vùng địa lí tự nhiên vùng Thanh Nghệ Tĩnh, yếu tố chủ đạo để xác  
định sự phân hóa tự nhiên là sự kết hợp của địa hình, nền địa chất và đặc điểm khí hậu. Việc phân  
chia các vùng này được gộp nhóm theo các đặc trưng chung về địa hình, địa chất và khí hậu. Khu  
vực nghiên cứu nằm toàn bộ ở sườn phía Đông của dãy Trường Sơn, có sự phân hóa rõ rệt theo xu  
hướng dốc từ Tây sang Đông.  
Áp dụng hệ thống các tiêu chí phân vùng về địa hình, địa mạo của Nguyễn Đình Kỳ, Lại  
Vĩnh Cẩm (2011), các tiêu chí về phân vùng thảm thực vật của Vũ Tấn Phương và nnk (2013) và  
các tiêu chí phân vùng khí hậu của Trần Việt Liễn, Ngô Tiền Giang (2011) trong việc phân vùng  
địa lí tự nhiên tại lãnh thổ nghiên cứu, các tiêu chí được sử dụng trong phân vùng địa lí tự nhiên  
vùng Thanh Nghệ Tĩnh (Bảng 1).  
Bảng 1. Các cấp phân vị và hệ thống chỉ tiêu phân vùng  
Hệ thống chỉ tiêu  
Tiêu chí  
+ Đồng nhất tương đối về nguồn gốc địa hình và đặc điểm kiến tạo  
Địa hình, địa mạo  
+ Đồng nhất tương đối về hình thái địa hình (núi, đồi, đồng bằng)  
+ Đồng nhất tương đối về một kiểu kiến trúc địa chất - địa mạo  
Đặc điểm Hệ sinh + Đồng nhất tương đối về một kiểu sinh thái điển hình hoặc kiểu sinh  
thái điển hình/Hệ thái đặc thù;  
sinh thái đặc thù  
+ Đồng nhất tương đối về nguồn gốc phát sinh, lịch sử phát triển và cấu  
trúc của các quần thể thực vật.  
+ Đồng nhất tương đối về biên độ nhiệt năm  
+ Đồng nhất tương đối về biên độ nhiệt ngày  
+ Đồng nhất tương đối về nhiệt độ tháng.  
Khí hậu  
2.2.2. Đặc điểm các tiểu vùng địa lí tự nhiên vùng Thanh Nghệ Tĩnh  
Dựa trên tiêu chí phân vùng và đặc điểm phân hóa về điều kiện tự nhiên của vùng Thanh  
Nghệ Tĩnh, vùng Thanh Nghệ Tĩnh chia thành 5 tiểu vùng (Hình 1): Tiểu vùng núi Tây Thanh  
Hóa - Nghệ An (I); Tiểu vùng núi Bắc của Bắc Trường Sơn (II); Tiểu vùng đồi núi thấp Thanh  
Hóa - Nghệ An (III); Tiểu vùng đồng bằng Thanh Hóa (IV ); Tiểu vùng đồng bằng Nghệ Tĩnh (V)  
154  
Phân vùng địa lí tự nhiên vùng Thanh Nghệ Tĩnh  
Hình 1. Bản đồ phân vùng Thanh Nghệ Tĩnh  
* Tiểu vùng núi Tây Thanh Hóa - Nghệ An  
Đây là tiểu vùng có diện tích lớn nhất 72.971 ha, phát triển chủ yếu trên đá trầm tích. Tiểu  
vùng này nằm dọc theo biên giới Việt - Lào, trải dài từ Thanh Hóa tới lãnh thổ Nghệ An, độ cao  
trung bình từ 800 - 900 m, độ dốc trên 25o. Trong khu vực có những đỉnh núi cao trên 1000 m, cao  
nhất là dãy Phu Hoạt (2452 m), ngoài ra là những dãy núi đá vôi chạy đâm ngang ra tận bờ biển  
như dãy Tam Điệp. Các sườn núi dốc bởi sự chia cắt dữ dội của sông suối, tạo thành các thung  
lũng sâu và hẹp. Ở khu vực Thanh Hóa, hệ núi trung bình (600 - 700 m) uốn nếp cấu tạo bởi các  
đá khác nhau (từ đá trầm tích đến phun trào, xâm nhập, biến chất). Còn xuống phía Nghệ An, các  
khối núi có độ cao trung bình 1000m, có cấu tạo bởi các đá biến chất và trầm tích lục nguyên.  
Do địa hình núi trung bình và cao nên tiểu vùng có sự phân hóa rõ nét theo đai cao và quy  
o
o
luật địa ô. Khí hậu ở tiểu vùng có nhiệt độ trung bình dưới 20 C, có nơi dưới 18 C, tổng nhiệt  
dưới 8000 0C, nhiệt độ tối cao trung bình 34 - 35 0C trong mùa hạ, độ ẩm 90%. Đây là khu vực có  
lượng mưa lớn thường trên 2000 mm do hướng núi thuận lợi đón gió mùa Đông Nam.  
Đặc trưng thủy văn của tiểu vùng này là thượng nguồn của các con sông Mã, sông Chu đổ ra  
biển. Sông chảy theo các thung lũng sâu, địa hình hiểm trở, khả năng tạo lũ nhanh nhưng rút kiệt  
nhanh [6]. Lớp phủ thổ nhưỡng của tiểu vùng bao gồm 3 loại đất chủ yếu: mùn vàng đỏ trên núi,  
đất feralit đỏ vàng, đất mùn trên núi cao. Tiểu vùng có đặc điểm thảm thực vật phân hóa đa dạng:  
rừng kín thường xanh nhiệt đới mưa mùa, đây là rừng nguyên sinh ít chịu tác động của con người  
chỉ phân bố ở trong các vườn Quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hoạt, rừng thứ sinh đang  
phục hồi, trảng cây bụi lá rộng thường xanh phân bố rộng khắp mọi nơi có diện tích rất lớn.  
* Tiểu vùng núi Bắc của Bắc Trường Sơn  
Tiểu vùng tách biệt với tiểu vùng núi Tây Thanh Hóa - Nghệ An bởi thung lũng của sông Cả,  
có diện tích 71.700,9 ha, kéo dài từ vùng núi phía Tây Nam của Nghệ An xuống vùng núi phía  
Tây của Hà Tĩnh, đây là nơi bắt đầu của dãy núi Trường Sơn Bắc, được cấu tạo bởi các đá xâm  
nhập axit, đá trầm tích, đá phun trào axit. Dãy núi có bề ngang hẹp, hiểm trở, sống núi bị chia cắt  
155  
Hoàng Thị Cường  
phức tạp, độ cao trung bình 250 - 1000 m, trong đó nhiều đỉnh cao trên 1500 m. Dãy núi này đã  
tạo thành bức chắn địa hình, gây ra hiện tượng gió Phơn Tây Nam khô nóng [6].  
Đây là vùng có khí hậu có mùa lạnh kéo dài, ẩm, mưa nhiều. Mùa lạnh thường kéo dài 3  
tháng, ở những vùng núi cao trên 1000 m, số tháng lạnh có thể kéo dài đến 4 - 5 tháng, nhiệt độ  
o
trung bình mùa lạnh dưới 20 C. Số ngày mưa đạt trên 182 ngày. Thường xuyên xuất hiện dông,  
và sương mù. Tiểu vùng là thượng nguồn của các con sông Cả, sông Ngàn Sâu. Sông ngắn, độ  
dốc lớn, khả năng giữ nước kém, nước sông lên nhanh nên rất dễ xảy ra lũ, gây ngập lụt cho khu  
vực thung lung và đồng bằng. Nhóm đất feralit chiếm diện tích là chủ yếu, ngoài ra còn có nhóm  
đất mùn trên núi, đất dốc tụ, đất xói mòn trơ sỏi đá. Thảm thực vật chủ yếu là rừng già nguyên  
sinh, rừng tái sinh, xen lẫn là rừng trồng và nương rẫy. Là nơi cư ngụ của quần thể hệ động vật  
phong phú, tính đa dạng sinh học cao.  
Khu vực này có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất, đặc biệt là diện tích rừng nguyên sinh nằm  
trong vườn Quốc Gia Pù Mát (Nghệ An), vườn Quốc Gia Vũ Quang (Hà Tĩnh), khu bảo tồn thiên  
nhiên hồ Kẻ Gỗ đang được sử dụng cho mục đích phòng hộ và bảo tồn, bởi đây là vùng đầu nguồn  
phòng hộ của các con sông lớn. Các điều kiện tự nhiên của tiểu vùng thuận lợi cho bảo tồn đa  
dạng sinh học, phát triển lâm nghiệp và phát triển du lịch sinh thái. Hơn nữa, do có nguồn cỏ  
phong phú dưới tán rừng và dọc ven sông suối, nên tiểu vùng còn có lợi thế phát triển chăn nuôi  
trâu, bò, dê.  
* Tiểu vùng đồi núi thấp Thanh Hóa - Nghệ An  
Đây là tiểu vùng mang tính chất chuyển tiếp giữa vùng núi phía Tây và vùng đồng bằng - ven  
biển phía Đông, có diện tích 10.227,6 ha. Tiểu vùng này kéo dài từ huyện Bá Thước, Cẩm Thủy  
đến Đô Lương - Nghệ An, phân bố dưới dạng các dải đồi hay dãy đồi. Dạng địa hình đặc trưng  
của tiểu vùng này là đồi thấp có dạng bát úp, đỉnh bằng, độ dốc sườn thoải và độ cao trung bình  
100 - 200 m, độ dốc 8 - 10 oC, độ phân cắt sâu từ 15 - 100 m được hình thành trên nền các đá biến  
chất cổ, đá trầm tích lục nguyên, trên các các đá xâm nhập và trên các thành tạo phun trào bazan  
như ở Phủ Quỳ, Nghĩa Đàn hay trên các đá xâm nhập.  
Tiểu vùng này vừa thể hiện sự phân hóa cảnh quan theo đai cao, vừa theo quy luật địa ô và  
theo quy luật kiến tạo - địa mạo. Dưới tác dụng của hiệu ứng phơn Trường Sơn đối với gió Tây  
Nam vào đầu mùa hạ đã tạo cho tiểu vùng có một chế độ khí hậu khắc nghiệt, mùa hạ nóng, mùa  
đông có sương muối. Gió tây khô nóng xuất hiện sớm vào mùa hè, nhiệt độ tối cao có thể đạt đến  
giá trị cực đoan 42 oC, biên độ nhiệt ngày đêm cao nhất giữa mùa hạ là 8 - 10 oC, lượng mưa trung  
bình năm 1.000 - 2.500 mm, phân bố không đều trên toàn tiểu vùng, tập trung chủ yếu ở các tháng  
mùa mưa [6]. Tiểu vùng có lớp phủ thổ nhưỡng phân hóa đa dạng với nhiều nhóm đất khác nhau,  
trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm 73% tổng diện tích đất tự nhiên toàn tiểu vùng, ngoài ra còn có  
các nhóm đất khác: đất đỏ vàng, đất phù sa, đất xám bạc màu, đất đen, đất mùn vàng đỏ trên núi,  
đất thung lũng dốc tụ (D), đất xói mòn trơ sỏi đá (E). Thảm thực vật phổ biến của tiểu vùng là hệ  
thống rừng trồng: keo, tre, nứa, cây công nghiệp hàng năm như: lạc, vừng, mía,... và cây ăn quả:  
cam, quýt, bưởi, mít,... trồng xen lẫn trong các khu dân cư. Bên cạnh đó, lúa cũng được gieo trồng  
ở một phần diện tích trong thung lũng.  
Tiểu vùng có nhiều tiềm năng cho phát triển kinh tế, đặc biệt là thuận lợi để phát triển nông -  
lâm với các loại cây lâm sản và các cây như đậu, chè, lạc, mía. Đây chính là khu vực trồng cây  
công nghiệp lâu năm, hàng năm và cây ăn quả lớn nhất của toàn vùng. Vùng đất trống đồi trọc còn  
nhiều là tiềm năng lớn có thể khai thác mở rộng diện tích nông - lâm nghiệp.  
* Tiểu vùng đồng bằng Thanh Hóa  
Tiểu vùng có diện tích khoảng 38.024,5 ha, độ cao từ 0 - 15 m. Đặc trưng của tiểu vùng này  
là được cấu tạo bởi phù sa hiện đại, trải dài trên một bề mặt rộng hơi nghiêng về phía biển ở bên  
phía Đông Nam. Tiểu vùng là kết quả của quá trình bồi lắng phù sa của hệ thống sông Mã,  
156  
Phân vùng địa lí tự nhiên vùng Thanh Nghệ Tĩnh  
sông Chu và một phần nhỏ của biển. Rìa phía Bắc và Tây Bắc được cấu tạo bởi phù sa cũ của  
sông Mã và sông Chu, cao trung bình 2 - 15 m, phía Đông Nam thấp hơn độ cao chỉ còn từ 1 - 2 m  
và dọc theo bờ biển là những dải cồn cát cao 3 - 6 m được hình thành do hoạt động của sóng biển  
ở phía Nam Tĩnh Gia. Trong vùng đồng bằng này còn nhiều núi sót trung bình 200 - 300 m được  
cấu tạo từ nhiều loại đá khác nhau: đá phun trào, đá vôi, cát kết và đá phiến. Bờ biển của đồng  
bằng Thanh Hóa là bờ biển phẳng với thềm lục địa tương đối nông và rộng. Địa hình ven biển có  
nhiều bãi tắm nổi tiếng như: Sầm Sơn, Hải Hòa, Hải Tiến là một trong những điểm du lịch hấp  
dẫn thu hút khách du lịch trong và ngoài nước.  
Do ảnh hưởng của địa hình nằm giáp biển, dưới tác dụng của gió biển - gió lục địa nên khí  
hậu của tiểu vùng này có mùa đông không lạnh lắm, ít xảy ra sương muối và mua hè nóng vừa  
phải. Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 23 - 24 oC, tổng nhiệt toàn năm của vùng khoảng 8.500  
- 8.600 oC, biên độ dao động ngày đêm của nhiệt độ vùng này không lớn lắm (7 - 6oC). Mùa mưa  
cũng là mùa bão (tháng VIII - XI), lượng mưa trung bình năm từ 1.500 - 2.000 mm. Mưa có xu  
hướng tăng dần từ phía Bắc vào Nam. Lượng mưa lớn nhất vào tháng 9 và ít nhất vào tháng 2,3.  
Mưa phùn vào các tháng cuối mùa lạnh. Có hai thời kì khô ngắn và không ổn định vào đầu hè  
tháng 5, 6 và các tháng 10, 11. Tuy nhiên, đây là khu vực chịu ảnh hưởng trực tiếp của bão, tốc độ  
gió trung bình lên đến 2 - 3 m/s, rất ít khi lặng gió, đặc biệt khi có bão tốc độ gió đạt 40 m/s,  
thường xuyên xảy ra lụt bão. Hệ thống sông suối, ao hồ của tiểu vùng này có mật độ khá dày đặc.  
Đây là khu vực hạ nguồn của hệ thống sông Mã, sông Chu, sông Yên, sông Lạch Bạng đổ ra biển  
bởi hệ thống các cửa sông như cửa Lạch Trường, cửa Hới, cửa Lạch Ghép. Tiểu vùng còn có một  
hệ thống các sông và kênh mương nhân tạo được xây dựng từ thời phong kiến [6]. Lớp phủ thổ  
nhưỡng của tiểu vùng này chủ yếu là đất phù sa được bồi đắp bởi hệ thống các sông Mã, sông  
Chu. Bên cạnh đó là các nhóm đất khác: đất cát, đất mặn tập trung chủ yếu ở các huyện ven biển.  
Thảm thực vật ở chủ yếu là lúa nước và cây công nghiệp hàng năm: ngô, khoai lang, sắn. Ngoài  
ra, do có mùa đông lạnh 3 tháng nên tiểu vùng có các cây trồng vụ đông: bắp cải, carot. Dải ven  
biển của tiểu vùng tương đối phẳng nhưng bị chia cắt bởi 7 cửa lạch. Các cửa sông là những khu  
vực tự nhiên rất nhạy cảm, có năng suất sinh học cao. Các bãi triều rộng ở Nga Sơn, Hậu Lộc,  
Hoằng Hóa là nơi nuôi trồng thủy sản. Bên cạnh đó ven bờ có nhiều đồng muối ở Hậu Lộc, Quảng  
Xương, Tĩnh Gia.  
Đây là khu vực phát triển nông nghiệp chính của tỉnh Thanh Hóa và của vùng Thanh Nghệ  
Tĩnh. Lúa và cây công nghiệp hàng năm là cây trồng chính của tiểu vùng này. Tiểu vùng này có  
nhiều tiềm năng để phát triển nông nghiệp, phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, xây dựng  
cảng và phát triển du lịch. Hơn nữa, đây còn là nơi tập trung dân cư đông đúc, các đô thị, khu  
công nghiệp. Cùng với sự phát triển mạnh mẽ kinh tế xã hội, đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, sự  
mở rộng quy mô thành phố, thị xã và xây dựng các khu công nghiệp đã tác động sâu sắc tới tiểu  
vùng. Do phải chịu ảnh hưởng trực tiếp của gió bão nên tiểu vùng cũng gặp nhiều khó khăn cho  
sản xuất, đời sống.  
* Tiểu vùng đồng bằng Nghệ Tĩnh  
Tiểu vùng đồng bằng Nghệ Tĩnh có chiều ngang hẹp và kéo dài dọc theo ven biển từ Quỳnh  
Lưu đến Kì Anh được hình do hoạt động bồi đắp của biển là chính, sông tham gia thành tạo đồng  
bằng dọc theo hai bên bờ sông và vùng cửa sông. Tiểu vùng có diện tích 50.416 ha, lớn hơn nhiều  
so với đồng bằng Thanh Hóa, có độ nghiêng dần từ Tây sang Đông, có độ cao từ 0 - 6 m [6]. Đặc  
trưng của tiểu vùng này là bị chia cắt ngang mạnh mẽ bởi các dãy núi đâm ngang ra biển, tạo  
thành những ngăn nhỏ làm cho 2 đến 3 đồng bằng hợp lại thành một vùng tự nhiên có cùng nguồn  
gốc phát sinh, phát triển. Ngoài ra, một đặc điểm khác của khu vực này nữa là bờ biển thấp, bằng  
phẳng, bị cắt xẻ bởi rất nhiều các cửa sông, phần lớn đất đai chua và bị nhiễm mặn. Hơn nữa, các  
dải cồn cát chạy dọc ven biển. Các bãi tắm nổi tiếng ở khu vực này như Cửa Lò, Xuân Thành,  
Thiên Cầm thuận lợi để phát triển du lịch. Địa hình ven biển khá nông nên những lúc triều kiệt  
157  
Hoàng Thị Cường  
gây khó khăn cho tàu thuyền cập bến và nhiều đoạn bờ biển bị xói lở mạnh, việc xây dựng đê, kè  
gặp nhiều khó khăn và tốn kém.  
Đặc điểm tự nhiên của tiểu vùng này không thể hiện sự phân hóa theo đai cao và quy luật địa  
ô, mà thể hiệu sự phân hóa theo quy luật kiến tạo - địa mạo. Khí hậu của tiểu vùng có hai mùa rõ  
rệt, mùa nóng trùng với mùa mưa và mùa lạnh trùng với mùa khô. Đặc biệt, trong mùa nóng có sự  
xuất hiện của gió Phơn Tây Nam khô nóng vào đầu mùa hạ. Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng  
23 - 24 oC, tổng nhiệt trong năm không vượt quá 8.500 oC, biên độ dao động ngày đêm của nhiệt  
o
độ vùng này không lớn lắm (7,7 C). Gió Phơn Tây Nam là một đặc trưng điển hình ở khu vực  
này, gió hoạt động mạnh mẽ và tác động sâu sắc đến mọi hoạt động của người dân, nhiệt độ  
o
khoảng thời gian này có thể lên tới 40 C, độ ẩm rất thấp, lượng bốc hơi lớn. Đây là vùng hứng  
chịu ảnh hưởng nặng nề của các các cơn bão, bão thường xuất hiện sớm nhất vào tháng VI, bão có  
cường độ lớn, gây thiệt hại nghiêm trọng cho đời sống và sản xuất [6]. Mạng lưới thủy văn của  
tiểu vùng này có mật độ sông, suối, ao hồ khá dày đặc, sông ngắn, độ dốc lớn, hiện tượng đổi  
dòng diễn ra phổ biến, trong mùa mưa bão, nước sông dâng lên rất nhanhthường xuyên gây ra lũ  
quét, xói mòn đất, ngập lụt, thiệt hại rất lớn cho người dân đặc biệt là vùng ven biển.Vào mùa  
khô, lưu lượng dòng chảy nhỏ nên tình trạng xâm nhập mặn diễn ra mạnh mẽ.  
Đây là khu vực chịu sự tác động đan xen của hàng loạt các yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội  
nên đất đai rất phong phú về chủng loại nhưng lại rất phức tạp về tính chất. Nhóm đất phù sa được  
bồi tụ hàng năm dọc theo các bãi ven sông như sông Cả, sông Ngàn Phố, sông Nghèn thì có diện  
tích rất nhỏ, còn nhóm đất phù sa không được bồi tụ thì rất nghèo dinh dưỡng. Bên cạnh đó, còn  
có nhóm đất mặn, đất cát ở ven biển. Tiểu vùng đồng bằng Nghệ Tĩnh có thảm thực vật chủ yếu là  
lúa, hoa màu, cây công nghiệp hàng năm: lạc, đậu tương. Ở các dải cồn cát ven biển chủ yếu là  
rừng phi lao, cây bụi và cỏ các loại. Tiểu vùng này còn có các mỏ khoáng sản có ý nghĩa quan  
trọng như mỏ sắt ở Thạch Khê - Hà Tĩnh, mỏ titan ở Kì Anh, cát thủy tinh, đá xây dựng để sản  
xuất vật liệu xây dựng nằm rải rác dọc ven biển và đây cùng là khu vực tập trung dân cư, phát  
triển nông nghiệp chính của hai tỉnh Nghệ An - Hà Tĩnh. Ngoài ra còn phát triển các ngành kinh tế  
biển như du lịch, nuôi trồng đánh bắt thủy hải sản.  
2.3. Định hướng phát triển các vùng phù hợp với nhóm ngành kinh tế  
Trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm tự nhiên phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững vùng  
Thanh Nghệ tĩnh, định hướng tổ chức lãnh thổ sản xuất cho vùng Thanh Nghệ Tĩnh (Hình 2), bao gồm:  
- Tiểu vùng núi Tây Thanh Hóa - Nghệ An ưu tiên phát triển ngành lâm nghiệp, khai thác  
lâm sản. Đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, tham quan, thu hút khách du lịch  
trong nước và nước ngoài.  
- Tiểu vùng núi Bắc của Bắc Trường Sơn phù hợp phát triển ngành khai thác lâm sản kết hợp  
với bảo vệ tốt rừng phòng hộ, rừng đầu nguồn, rừng đặc dụng và các vườn Quốc gia. Phát triển  
chăn nuôi trâu bò thịt. Khai thác tối đa đất trống đồi núi trọc để trồng rừng sản xuất. Thúc đẩy các  
hoạt động kinh tế trang trại nông lâm kết hợp.  
- Tiểu vùng đồi núi thấp Thanh Hóa - Nghệ An có tiềm năng phát triển ngành khai thác mỏ,  
khoáng sản. Đẩy mạnh phát triển các vùng cây công nghiệp dài và và cây ăn quả. Phát triển chăn  
nuôi gia súc. Bảo vệ rừng đặc dùng Pù Huống, kết hợp khoanh nuôi tái sinh, phát triển trồng rừng  
nguyên liệu.  
- Tiểu vùng đồng bằng Thanh Hóa thuận lợi phát triển ngành nông nghiệp: Các cây công  
nghiệp ngắn ngày lạc, vừng đang là thế mạnh của tiểu vùng. Phát triển chăn nuôi gia súc, gia cầm.  
Phát triển khai thác mỏ, khoáng sản. Bố trí, phát triển các cụm công nghiệp, khu công nghiệp sản  
xuất vật liệu xây dựng, đồ gốm sứ, các sản phẩm cơ khí, chế biến nông - lâm - thủy sản. Đẩy  
mạnh phát triển du lịch và các dịch vụ khác.  
158  
Phân vùng địa lí tự nhiên vùng Thanh Nghệ Tĩnh  
- Tiểu vùng đồng bằng Nghệ Tĩnh chú trọng phát triển ngành nông nghiệp: thâm canh lúa  
nước, trồng hoa màu, cây lương thực ở các bãi bồi ven sông và chăn nuôi lợn, gà. Phát triển du  
lịch biển, nghỉ dưỡng kết hợp với tham quan các điểm di tích lịch sử, nâng cao chất lượng dịch vụ.  
Phát triển các ngành công nghiệp chế biến, khai thác mỏ, khoáng sản.  
3. Kết luận  
Vùng Thanh Nghệ Tĩnh được chia thành 5 tiểu vùng dựa trên 5 nguyên tắc và 4 phương pháp,  
bao gồm: hai tiểu vùng núi thấp trung bình, 1 tiểu vùng đồi và 2 tiểu vùng đồng bằng. Mỗi tiểu  
vùng có đặc điểm riêng phù hợp cho phát triển các ngành kinh tế nông - lâm - ngư nghiệp, công  
nghiệp - xây dựng và dịch vụ. Tiểu vùng núi Tây Thanh Hóa - Nghệ An và núi phía Bắc của Bắc  
Trường ưu tiên phát triển ngành lâm nghiệp và du lịch sinh thái; tiểu vùng đồi núi thấp Thanh Hóa  
- Nghệ An ưu tiên phát triển ngành khai thác khoáng sản và cây công nghiệp ngắn ngày; tiểu  
vùng đồng bằng Thanh Hóa ưu tiên phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch và tiểu vùng đồng  
bằng Nghệ Tĩnh chú trọng phát triển chế biến các sản phẩm từ nông nghiệp và du lịch.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] V.I.Prokaev, 1971. Những cơ sở và phương pháp phân vùng địa lí tự nhiên. Nxb Khoa học  
và Kĩ thuật, Hà Nội.  
[2] Vũ Tự Lập, 1976. Cảnh quan địa lí miền Bắc Việt Nam. Nxb Khoa học và Kĩ thuật, Hà Nội.  
[3] Phạm Hoàng Hải và nnk, 1997. Cơ sở cảnh quan học của việc sử dụng hợp lí tài nguyên  
thiên nhiên, bảo vệ môi trường lãnh thổ Việt Nam. Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.  
[4] Đặng Duy Lợi, Nguyễn Thị Kim Chương, Đặng Văn Hương, Nguyễn Thục Nhu, 2001.  
Giáo trình địa lí tự nhiên Việt Nam 2 (Phần khu vực). Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.  
[5] Đinh Thị Hường, 2012. Phân vùng địa lí tự nhiên phục vụ mục đích phát triển nông lâm  
nghiệp và du lịch khu vực Bắc Trung Bộ. Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội.  
[6] Nguyễn Đình Kỳ, 2013. Điều tra đánh giá hiện trạng nguyên nhân suy thoái tài nguyên môi  
trường đất - nước vùng Thanh Nghệ Tĩnh và đề xuất giải pháp khai thác quản lí tổng hợp  
phục vụ phát triển kinh tế xã hội bền vững. Dự án điều tra cơ bản cấp nhà nước, Viện Địa lí  
- Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam.  
ABSTRACT  
The natural geographical zoning in thanh nghe tinh region  
Hoang Thi Cuong  
National Academy of Public Administration  
Based on theoretical basis of natural geographical zoning and segmentation of the  
characteristics of natural conditions, Thanh Nghe Tinh has been divided into 5 sub-regions (Thanh  
Hoa - Nghe An western mountain, Truong Son northern mountain; Thanh Hoa - Nghe An low hill;  
Thanh Hoa plain; Nghe Tinh plain). The results of the natural geographical zoning in Thanh Nghe  
Tinh is important factual basis for assessing synthetic natural conditions to mobilize appropriate  
resources to serve sustainable development in Thanh Nghe Tinh region, which will be oriented  
towards research for a territorial planning how reasonable and effective in localities.  
Keywords: Thanh Nghe Tinh region, zoning, geographical landscape.  
159  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 21380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân vùng địa lí tự nhiên vùng Thanh Nghệ Tĩnh", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_vung_dia_li_tu_nhien_vung_thanh_nghe_tinh.pdf