Một số đặc điểm dịch tễ bệnh gan thận mủ ở cá tra tại các tỉnh An Giang và Đồng Tháp năm 2014

KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 5 - 2016  
MOÄT SOÁ ÑAËC ÑIEÅM DÒCH TEÃ BEÄNH GAN THAÄN MUÛ ÔÛ CAÙ TRA  
TAÏI CAÙC TÆNH AN GIANG VAØ ÑOÀNG THAÙP NAÊM 2014  
Bùi Thị Việt Hằng1,2, Nguyễn Thế Hiền1, Nguyễn Thị Lan Hương1,  
Võ Đình Chương1, Nguyễn Thị Việt Nga1, Kim Văn Vạn2, Nguyễn Văn Long1  
TÓM TẮT  
Nghiên cứu về một số đặc điểm dịch tễ bệnh gan thận mủ ở cá tra đã được tiến hành ở 600 cơ sở  
nuôi cá tại 23 huyện thuộc 2 tỉnh An Giang và Đồng Tháp. Kết quả nghiên cứu cho thấy:  
- Dịch bệnh xuất hiện ở hầu hết các huyện điều tra; thường từ tháng 5 – tháng 11 hàng năm, với  
tỷ lệ trung bình 45,8% (95% CI 41,78 – 49,86) hộ điều tra; tỷ lệ ao điều tra có bệnh là 37,30% (95%  
CI 34,57 – 40,08); tỷ lệ diện tích thả nuôi bị bệnh là 34,63% (95% CI 31,43 – 37,95);  
- Kết quả phân tích yếu tố nguy cơ cho thấy: Tỷ số chênh nguy cơ xảy ra dịch bệnh là 5,01 (95%  
CI 2,18 – 12,95) lần giữa mật độ trên 200 con/m2 so với mật độ từ 10-50 con/m2; tỷ số chênh là 2,21  
(95% CI 1,40 – 3,55) lần giữa cơ sở thả nuôi không vét bùn đáy ao so với cơ sở nuôi có vét bùn; tỷ  
số chênh là 3,58 (95% CI 2,34 – 5,48) lần giữa cơ sở nuôi không khꢀ trùng dụng cụ nuôi so với cơ  
sở nuôi có khꢀ trùng dụng cụ.  
Từ khóa: Cá tra, Bệnh gan thận mủ, Tỷ lệ nhiễm bệnh, Yếu tố nguy cơ, Tỉnh An Giang, Đồng Tháp  
Some epidemiological characteristics of Bacillary necrosis of Pangasius  
in An Giang, Dong Thap Provinces in 2014  
Bui Thi Viet Hang, Nguyen The Hien, Nguyen Thi Lan Huong,  
Võo Dinh Chuong, Nguyen Thi Viet Nga, Kim Van Van, Nguyen Van Long  
SUMMARY  
Study on some epidemiological characteristics of Bacillary necrosis of Pangasius was  
conducted at 600 Pangasius culture farms in 23 districts of An Giang, Dong Thap provinces.  
The studied result showed that:  
Epidemic occurred in most of the surveyed districts, normally from May to November yearly,  
with the average disease infection rate of the investigated farms was 45.8% (95% CI 41.78 –  
49.86). Of which, the infection rate of pond was 37.30% (95% CI 34.57 – 40.08), the infection  
rate of culture areas was 34.63% (95% CI 31.43 – 37.95).  
The result of risky analysis indicated that the odds ratio of disease outbreak between the  
stocking rate of 200 fish/m2 and 10-50 fish/m2 was 2.21 (95% CI 1.40 – 3.55); the odds ratio  
between the culture ponds without removing mud and with removing mud was 2.21 (95% CI  
1.40 – 3.55). This ratio between the farms disinfected farming tools and the farms did not  
disinfected farming tools was 3.58 (95% CI 2.34 – 5.48).  
Keywords: Pangasius, Bacillary necrosis, Infection rate, Risky factors, An Giang, Dong Thap  
provinces.  
1. Cục Thú y  
2. Khoa Thủy sản, Học viện Nông nghiệp Việt Nam  
66  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 5 - 2016  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
II. NỘI DUNG, NGUYÊN LIỆU VÀ  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Cá tra là một trong những sản phẩm nông  
nghiệp được đề nghị đưa vào chương trình sản  
phẩm quốc gia và Chính phủ đã ban hành nghị  
định riêng quy định về nuôi, chế biến và xuất  
khẩu sản phẩm cá tra (Nghị định số 36/2014/  
NĐ-CP ngày 29/4/2014 của Chính phủ). Điều  
này khẳng định vị trí của ngành nuôi cá tra trong  
phát triển kinh tế của nước ta. Hiện nay, tổng  
diện tích nuôi cá tra ước đạt 4.900 ha, tập trung  
chủ yếu tại các tỉnh An Giang, Đồng Tháp, Vĩnh  
Long, Cần Thơ và Hậu Giang.  
2.1. Nội dung nghiên cứu  
- Tình hình nuôi cá tra và dịch bệnh gan thận  
mủ trên cá tra năm 2014 tại An Giang và Đồng  
Tháp.  
- Thu thập thông tin về dịch bệnh gan thận  
mủ trên cá tra được các cơ sở nuôi ghi chép  
trong năm 2014.  
- Thu thập thông tin về các yếu tố nguy cơ  
theo biểu mẫu để tổng hợp phân tích mối liên  
quan đến bệnh gan thận mủ tại các cơ sở nuôi  
cá tra.  
Theo báo cáo của các địa phương trong  
những năm gần đây cho thấy, tình hình dịch  
bệnh trên cá tra có chiều hướng gia tăng mạnh,  
tác động tiêu cực đến quá trình nuôi, xuất khẩu  
cá tra của nước ta. Đã có một số nước yêu cầu  
Việt Nam phải có kế hoạch phòng, chống dịch  
bệnh trên cá tra, nhất là các bệnh như gan thận  
mủ, xuất huyết. Mặc dù nghề nuôi cá tra ở nước  
ta phát triển rất mạnh, đem lại nguồn ngoại tệ lớn  
nhờ việc xuất khẩu, nhưng việc phòng, chống,  
nghiên cứu và điều tra dịch tễ về dịch bệnh trên  
cá tra chưa thực sự được quan tâm triển khai  
nhiều. Cụ thể, đối với việc phòng, chống, nước  
ta chưa có quy định cụ thể cho dịch bệnh trên cá  
tra; trước đây thực hiện theo quy định tại Thông  
tư số 17/2014/TT-BNNPTNT ngày 20/6/2014  
của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn  
quy định về phòng chống dịch bệnh cho động  
vật thủy sản. Tuy nhiên, hiệu quả phòng, chống  
còn rất hạn chế do các quy định chưa cụ thể,  
chưa thực sự phù hợp đối với dịch bệnh trên cá  
tra. Mặt khác, do thiếu những điều tra, nghiên  
cứu cơ bản về dịch tễ của bệnh trên cá tra, nên  
các biện pháp chưa có tính thuyết phục, chưa  
dựa trên các cơ sở khoa học nên tính khả thi  
còn hạn chế. Vì vậy, chúng tôi tiến hành đề tài  
“Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh gan  
thận mủ ở cá tra tại các tỉnh An Giang và Đồng  
Tháp năm 2014”.  
2.2. Nguyên liệu  
- Số liệu về nuôi cá tra và các ổ dịch bệnh  
gan thận mủ do các Chi cục Thú y nêu trên thu  
thập và báo cáo về Cục Thú y trong năm 2013  
và 2014.  
- Bộ phiếu điều tra do Cục Thú y thiết kế và  
hướng dẫn việc thu thập thông tin, dữ liệu.  
- Số liệu địa lý chi tiết đến cấp xã năm 2011  
do Nhà xuất bản Tài nguyên Môi trường và Bản  
đồ Việt Nam xây dựng và cung cấp (2012).  
- Phần mềm vẽ bản đồ ArcGIS 9.3 và phần  
mềm phân tích thống kê R (R Development  
Core Team, 2012) và các gói phân tích tương  
ứng như epiR (Stevenson, 2012), lme4 (Bates  
and Sarkar, 2007).  
2.3. Phương pháp  
Nghiên cứu cắt ngang (cross-sectional study)  
đã được ứng dụng để thu thập các số liệu được  
các cơ sở nuôi ghi chép trong năm 2014.  
2.3.1. Lựa chọn địa điểm nghiên cứu  
Tại mỗi tỉnh điều tra (An Giang và Đồng  
Tháp), Chi cục Thú y lập danh sách tất cả các  
cơ sở nuôi cá tra trên địa bàn tỉnh, sau đó chọn  
ngẫu nhiên 300 cơ sở nuôi cá tra để phỏng vấn,  
thu thập thông tin.  
67  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 5 - 2016  
2.3.2. Thu thập thông tin về các yếu tố nguy cơ  
của Wald (Agresti, 2007) được sꢀ dụng để xác  
định mối liên hệ giữa các biến nguy cơ với “Đầu  
ra”. Tất cả các biến nguy cơ có mối liên hệ với  
“Đầu ra” về mặt thống kê sinh học và có giá trị  
P < 0.2 được giữ lại để đưa vào phân tích đa  
biến (Bước 3). Những biến nguy cơ có mối liên  
hệ với “Đầu ra” ở giá trị P > 0.2 thì được loại  
bỏ, theo nguyên tắc, loại bỏ các biến có giá trị P  
cao nhất cho đến khi chỉ còn các biến có P < 0.2.  
Thông tin về các yếu tố nguy cơ được thu  
thập bằng bộ câu hỏi thông tin chung cho 607  
cơ sở nuôi cá tra (chuẩn bị ao nuôi, chọn giống  
và thả giống tại các ao nuôi, chăm sóc và quản  
lý ao, và dịch bệnh tại các ao nuôi).  
2.3.3. Quản lý và phân tích số liệu  
- Thông tin và dữ liệu từ thực địa được nhập  
vào file MS. Excel.  
+ Bước 3: Phân tích đa biến (multivariate  
analyses): Tất cả các biến có P < 0.2 được xác  
định tại bước 2 được đưa vào mô hình đa biến và  
chạy mô hình phân tích. Chỉ những biến nguy cơ  
nào có mối liên hệ về mặt thống kê sinh học với  
“Đầu ra” và có giá trị P < 0.05 thì giữ lại để tính  
ảnh hưởng của các biến đa cấp tại bước 4.  
- Phân tích mô tả tình hình nuôi cá tra, dịch  
tễ học mô tả (theo không gian, thời gian và theo  
đối tượng) theo các phương pháp dịch tễ, thống  
kê thường quy.  
- Tỷ lệ các cơ sở nuôi cá tra bị bệnh được  
tính theo phương pháp của Fleiss (Fleiss, 1981).  
So sánh tỷ lệ các cơ sở bị bệnh được phân tích,  
dựa vào chỉ số Chi-square.  
+ Bước 4: Yếu tố ảnh hưởng ngẫu nhiên  
cũng được đưa vào mô hình hồi quy logic hỗn  
hợp (mixed-effects logistic regression model)  
để phân tích và đánh giá mức độ ảnh hưởng  
không thể đo được của các yếu tố ở cấp cơ sở  
nuôi cá tra, cấp xã và cấp tỉnh lên khả năng  
một cơ sở nuôi cá tra bị bệnh gan thận mủ. Dựa  
trên cách tiếp cận này, chuyển dạng logic (logit  
transform) cơ sở bị bệnh i ở xã j tại tỉnh k, pijk,  
được mô hình hóa theo chức năng tuyến tính  
của một loạt các yếu tố ảnh hưởng m là β1… βm  
và ảnh hưởng của các yếu tố nguy cơ ở các cấp  
độ cơ sở nuôi, cấp xã Xj và tỉnh Pk được tính  
theo công thức sau:  
- Phân tích đa tầng nhiều biến (multilevel  
analysis) được áp dụng để định lượng các yếu tố  
nguy cơ theo các phân tầng khác nhau (Dohoo  
et al., 2001; Dohoo, 2003; Long, 2013) , cụ thể  
theo các bước sau:  
+ Bước 1: Xác định “Đầu ra” là cơ sở có cá  
tra bị bệnh gan thận mủ.  
+ Bước 2: Phân tích sàng lọc (bivariate  
analyses) để xác định mối liên hệ giữa “Đầu ra”  
và từng yếu tố nguy cơ. Phương pháp kiểm tra  
m
pijk  
log  
= β + β x + X j + P +εijk  
∑
0
m
mijk  
k
1− p  
i=1  
ijk   
Kết quả của mô hình cuối cùng được thể hiện  
bởi tỷ số chênh đã được điều chỉnh cho mỗi biến  
nguy cơ. Tỷ số chênh (odds ratio, OR) lớn hơn  
1 cho thấy cơ sở nuôi cá tra khi phơi nhiễm với  
yếu tố nguy cơ có khả năng bị bệnh tăng lên.  
Ngược lại, nếu OR < 1 cho thấy nguy cơ các cơ  
sở nuôi cá tra bị bệnh giảm đi. OR = 1 cho thấy  
không có ảnh hưởng của các yếu tố lên nguy cơ  
các cơ sở nuôi bị bệnh.  
Đường cong đặc trưng thể hiện hoạt động của  
bộ thu nhận (Receiver Operating Characteristic,  
ROC) được vẽ để biểu thị khả năng dự đoán của  
mô hình logic. Vùng dưới đường cong ROC có  
giá trị dao động từ 0-1 để mô tả khả năng dự  
đoán của mô hình đối với một cơ sở bị bệnh  
hoặc không bị bệnh. Giá trị dưới đường cong  
ROC càng lớn, cho thấy khả năng mô hình  
phỏng đoán chính xác càng cao (Hosmer and  
68  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 5 - 2016  
Lemeshow, 2000). Phân tích thống kê được  
tiến hành bằng cách sꢀ dụng bộ phân tích thống  
kê lme4 package (Bates and Sarkar, 2007) ở  
chương trình R 2.15.2 (R Development Core  
Team, 2012).  
Mới, Châu Phú, Châu Thành, Thoại Sơn và Phú  
Tân, với tổng diện tích từ trên 100 đến trên 200  
ha.  
- Diện tích vùng nuôi của các doanh nghiệp  
là 538 ha, chiếm 42,53% (tăng 70,79%), còn lại  
là nông hộ chiếm khoảng 57,47% so với cùng  
kỳ năm 2013; các doanh nghiệp có vùng nuôi  
trên địa bàn tỉnh đã xây dựng mô hình nuôi cá  
tra thương phẩm xuất khẩu đạt tiêu chuẩn an  
toàn chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Theo  
đó tổng diện tích cá tra được chứng nhận đạt  
tiêu chuẩn quốc tế là 240 ha, với sản lượng  
105.000 tấn/năm, chiếm tỷ lệ khoảng 40% tổng  
sản lượng nguyên liệu xuất khẩu (hình 1).  
III. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
3.1. Tình hình nuôi cá tra tại tỉnh An Giang  
và Đồng Tháp  
3.1.1. Nuôi cá tra tại tỉnh An Giang  
- Năm 2014, diện tích nuôi cá tra là 1.269  
ha, bằng 95,35% so cùng kỳ năm 2013. Cá tra  
được nuôi ở khoảng 1.793 cơ sở, hộ dân. Trong  
đó, nuôi tập trung chủ yếu ở 5 huyện, gồm: Chợ  
Mật độ nuôi và các cơ sở được điều tra  
Mức độ bệnh và các cơ sở được điều tra  
Hình 1. Bản đồ thể hiện mật độ nuôi cá tra, dịch bệnh gan thận mủ và  
các hộ đã được điều tra tại tỉnh An Giang năm 2014  
3.1.2. Nuôi cá tra tại tỉnh Đồng Tháp  
tỉnh có tổng diện tích mặt nước nuôi cá tra cao nhất  
cả nước (chiếm khoảng 28% tổng diện tích nuôi  
của cả nước), với tổng sản lượng cá tra đạt khoảng  
386.610 tấn (chiếm khoảng 27% tổng sản lượng  
cá tra của cả nước). So với tỉnh An Giang, diện  
tích nuôi và sản lượng cá tra của tỉnh Đồng Tháp  
cao gần gấp đôi; có nhiều cơ sở nuôi cá tra tại tỉnh  
Đồng Tháp cũng theo hướng thâm canh (hình 2).  
- Năm 2014, cá tra được nuôi tại 700 cơ sở ở 81  
xã thuộc 12 huyện/ thị/ thành phố thuộc tỉnh Đồng  
Tháp, với tổng diện tích khoảng 2.070 ha (Bảng  
2). Trong đó, diện tích nuôi cá tra thương phẩm  
chiếm khoảng gần 50% (1.000 ha).  
- Số liệu tổng hợp cũng cho thấy Đồng Tháp là  
69  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 5 - 2016  
Mức độ bệnh và các cơ sở được điều tra  
Mật độ nuôi và các cơ sở được điều tra  
Hình 2. Bản đồ thể hiện mật độ nuôi cá tra, dịch bệnh gan thận mủ và các hộ  
đã được điều tra tại tỉnh Đồng Tháp năm 2014  
3.2. Tình hình dịch bệnh gan thận mủ trên  
cá tra  
+ Đặc điểm dịch tễ về đối tượng cá tra: Dịch  
bệnh xuất hiện chủ yếu ở cá tra nuôi thương  
phẩm, theo hướng công nghiệp, nuôi tập trung.  
3.2.1. Dựa trên số liệu do Chi cục Thú y các  
tỉnh báo cáo  
3.2.2 Dựa trên số liệu do Cục Thú y tổ chức  
điều tra và thu thập  
- Tại tỉnh An Giang: Kết quả điều tra của Cục  
Thú y cho thấy dịch bệnh gan thận mủ trên cá tra  
đã xuất hiện tại tỉnh này vào năm 2014, nhưng  
Chi cục Thú y không báo cáo số liệu theo quy  
định hiện hành.  
- Tại tỉnh Đồng Tháp: Dịch bệnh gan thận  
mủ đã xuất hiện tại 22 xã thuộc 6 huyện (Châu  
Thành, Hồng Ngự, Lai Vung, Thanh Bình, Tháp  
Mười và thị xã Hồng Ngự), với tổng số 349/4.530  
ha, chiếm khoảng 7,96% diện tích nuôi của các  
huyện này.  
- Đặc điểm dịch tễ về không gian: Dịch bệnh  
xuất hiện ở hầu hết các huyện điều tra của cả hai  
tỉnh (Bảng 1 và 2) với tỷ lệ là 45,8% (95% CI  
41,78 – 49,86) hộ điều tra có dịch bệnh; tỷ lệ  
ao điều tra có bệnh là 37,30% (95% CI 34,57 –  
40,08); tỷ lệ diện tích thả nuôi bị bệnh là 34,63%  
(95% CI 31,43 – 37,95). Các tỷ lệ này của tỉnh  
Đồng Tháp đều cao hơn so với tỉnh An Giang.  
Tại tỉnh Đồng Tháp, kết quả điều tra của  
chúng tôi cho thấy huyện Lai Vung là địa bàn có  
diện tích bị bệnh nhiều nhất (phù hợp với số liệu  
của Chi cục Thú y), tiếp đó là huyện Thanh Bình.  
+ Đặc điểm dịch tễ về không gian: Dịch bệnh  
xuất hiện ở hai huyện Thanh Bình (245 ha) và  
huyện Lai Vung (88 ha) là cao hơn so với các  
huyện khác.  
- Đặc điểm dịch tễ về thời gian: Dịch bệnh  
xuất hiện từ đầu tháng 5 và kéo dài đến hết tháng  
11/2014, mặc dù từ đầu tháng 2 đã có dịch bệnh  
xuất hiện tại tỉnh Đồng Tháp.  
+ Đặc điểm dịch tễ về thời gian: Dịch bệnh  
gan thận mủ xuất hiện nhiều trong giai đoạn từ  
tháng 1-3/2014 và giai đoạn từ tháng 6-9/2014.  
70  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 5 - 2016  
- Đặc điểm dịch tễ về đối tượng cá tra: Tỷ  
lệ cá bị bệnh là 9,52% (95% CI 9,52 – 9,52)  
trong số cá giống thả nuôi; tỷ lệ cá chết vì bệnh  
là 49,16% (95% CI 49,15 – 49,17). Như vậy, có  
thể thấy mức độ lây lan của bệnh gan thận mủ  
là không quá cao (9,52% cá thả nuôi bị bệnh),  
nhưng khi cá đã bị bệnh thì khả năng chết lại rất  
cao (49,16%), xem bảng 1 và bảng 2.  
Bảng 1. Tình hình dịch bệnh xuất huyết và bệnh gan thận mủ  
trên cá tra nuôi tại các tỉnh điều tra  
Chỉ số  
so sánh  
Số huyện  
có bệnh  
Số xã  
Số  
Số  
Diện tích nuôi  
(ha)  
Số giống thả ban đầu  
(con)  
có bệnh hộ nuôi ao nuôi  
I. Tỉnh  
Đồng Tháp  
An Giang  
3
5
30  
32  
306  
772  
682  
164  
536.728.700  
59.146.000  
301  
448  
II. Số ao nuôi  
1 - 5 ao  
6 - 10 ao  
> 10 ao  
2
4
2
39  
19  
4
583  
18  
6
1018  
595  
170  
81  
528.808.700  
27.218.000  
39.848.000  
118  
84  
III. Số ao lắng  
0
1
2
4
2
2
3
1
39  
20  
2
560  
42  
4
1029  
155  
22  
519  
290  
19  
507.709.700  
76.220.000  
8.912.000  
3.033.000  
1
1
14  
18  
IV. Thời gian xuất hiện bệnh sau khi thả  
0 ngày  
1
2
2
3
8
36  
14  
4
12  
223  
22  
24  
504  
70  
20  
343  
69  
19.981.000  
372.678.900  
28.000.000  
18.039.000  
157175800  
595.874.700  
1 - 10 ngày  
11 - 20 ngày  
> 20 ngày  
21  
76  
67  
Không bệnh  
Tổng cộng  
329  
607  
546  
1,220  
347  
846  
8
62  
3.3. Phân tích xác định các yếu tố nguy cơ liên  
quan đến dịch bệnh  
“cơ sở có cá tra bị bệnh gan thận mủ”. Một số  
mối liên quan điển hình như sau:  
3.3.1. Phân tích nhị biến xác định mối liên  
quan giữa một yếu tố nguy cơ với “cơ sở có  
dịch bệnh hay không có dịch bệnh”  
- Tỷ số chênh (OR) bị bệnh gan thận mủ của  
cơ sở thả nuôi với mật độ trên 200 con/m2 là  
5,01 (95% CI 2,18 - 12,95) lần so với cơ sở nuôi  
với mật độ từ 10-50 con/m2.  
Kết quả được trình bày ở bảng 3.  
- Tỷ số chênh bị bệnh gan thận mủ của cơ  
sở thả nuôi không vét bùn đáy ao là 2,21 (95%  
CI 1,40 - 3,55) lần so với cơ sở nuôi có vét bùn  
đáy ao.  
Kết quả phân tích nhị biến (bảng 3) cho thấy,  
trong tổng số 21 yếu tố nguy cơ được hỏi và thu  
thập thông tin, có 18 yếu tố nguy cơ chính có  
mối liên hệ về sinh học, thống kê (P < 0.2) với  
71  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 5 - 2016  
72  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 5 - 2016  
Bảng 3. Kết quả phân tích sàng lọc nhị biến (bivariate analysis) giữa các yếu tố nguy cơ và  
đầu ra (cơ sở nuôi cá tra có dịch bệnh gan thận mủ)  
Cơ sở  
điều tra  
Cơ sở có  
dịch bệnh  
TT  
Yếu tố nguy cơ  
Phân loại  
OR (95% CI)  
P
An Giang  
Đồng Tháp  
< 2  
301  
306  
552  
38  
123  
155  
245  
20  
1,00  
1,49 (1,08 - 2,05)  
1,00  
Tham chiếu  
0,01568  
1
Tỉnh  
Tham chiếu  
0,32464  
2
Diện tích thả nuôi (ha)  
2 - 10  
> 10  
1,39 (0,72 - 2,71)  
4,07 (1,42 - 14,60)  
1,00  
17  
13  
0,01515  
1 ao  
344  
116  
147  
560  
47  
126  
59  
Tham chiếu  
0,0072  
3
4
Số lượng ao nuôi  
Ao lắng  
2 ao  
1,79 (1,17- 2,74)  
2,98 (2,00 - 4,47)  
1,00  
> 2 ao  
Không  
Có  
93  
<0,001  
251  
27  
Tham chiếu  
0,098  
1,66 (0,91 - 3,07)  
1,00  
10 - 50  
51 - 100  
101 - 200  
> 200  
Dưới 3 m  
Trên 3 m  
Dưới 8 năm  
Trên 8 năm  
Không  
Có  
435  
77  
163  
45  
Tham chiếu  
<0,001  
2,35 (1,44 - 3,87)  
4,54 (2,60 - 8,26)  
5,01 (2,18 - 12,95)  
1,00  
5
Mật độ thả (con/m2)  
67  
49  
<0,001  
28  
21  
<0,001  
241  
366  
286  
321  
584  
23  
102  
176  
116  
162  
272  
6
Tham chiếu  
0,1634  
6
Độ sâu của ao  
Tuổi của ao nuôi  
Thả xen kẽ  
1,26 (0,91 - 1,75)  
1,00  
Tham chiếu  
0,0146  
7
1,49 (1,08 - 2,06)  
1,00  
Tham chiếu  
<0,001  
8
2,47 (1,01 - 6,93)  
1,87 (1,31 - 2,68)  
1,00  
Không  
Có  
174  
433  
91  
99  
<0,001  
9
Khử trùng dụng cụ  
Cấp thoát nước riêng  
Vét bùn đáy ao  
179  
40  
Tham chiếu  
Tham chiếu  
0,702  
Không  
Có  
1,00  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
516  
88  
238  
55  
1,09 (0,70 - 1,72)  
2,21 (1,40 - 3,55)  
1,00  
Không  
Có  
<0,001  
519  
194  
413  
575  
32  
223  
77  
Tham chiếu  
Tham chiếu  
<0,001  
Không  
Có  
1,00  
Phơi đáy  
201  
257  
21  
1,44 (1,02 - 2,04)  
1,00  
Không  
Có  
Tham chiếu  
<0,001  
Chlorine khử trùng đáy ao  
Lọc nước ao  
2,36 (1,14 - 5,17)  
1,00  
Không  
Có  
363  
244  
401  
206  
500  
107  
454  
153  
378  
229  
382  
225  
13  
160  
118  
188  
90  
Tham chiếu  
0,2992  
1,19 (0,86 - 1,65)  
1,00  
Không  
Có  
Tham chiếu  
0,455  
Diệt tạp bằng chlorine  
Sử dụng BKC  
0,88 (0,63 - 1,23)  
1,00  
Không  
Có  
224  
54  
Tham chiếu  
0,2862  
1,26 (0,83 - 1,91)  
1,00  
Không  
Có  
212  
66  
Tham chiếu  
0,445  
Sử dụng vôi bột  
Khử trùng trước khi thả  
Khử trùng sau khi thả  
Thay nước ao  
0,87 (0,60 - 1,25)  
1,00  
Có  
146  
132  
150  
128  
6
Tham chiếu  
<0,001  
Không  
Có  
2,16 (1,55 - 3,03)  
1,00  
Tham chiếu  
<0,001  
Không  
Không  
Có  
2,04 (1,46 - 2,86)  
1,00  
Tham chiếu  
0,979  
594  
106  
272  
45  
0,99 (0,32 - 3,09)  
1,00  
Tham chiếu  
Không  
Có  
21  
Hút bùn đáy ao  
501  
233  
1,18 (0,77 - 1,81)  
0,447  
Tổng  
607  
278  
73  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 5 - 2016  
3.3.2. Phân tích đa tầng, nhiều biến (multilevel  
analysis) xác định mối liên quan giữa nhiều  
yếu tố nguy cơ với “cơ sở có dịch bệnh hay  
không có dịch bệnh” (bảng 4).  
Bảng 4. Kết quả phân tích đa tầng, nhiều biến (multilevel analysis) giữa các yếu tố  
nguy cơ và đầu ra (cơ sở nuôi cá tra có dịch bệnh gan thận mủ)  
TT  
Biến nguy cơ  
Hệ số (SE)  
Giá trị t  
Giá trị P  
OR (95% CI)  
Yếu tố cố định được xác định  
-0998 (0,163)  
-5,581  
< 0,001  
Mật độ thả (con/m2)  
10 - 50  
Tham chiếu  
< 0,001  
1,00  
1
51 - 100  
0,72 (0,33)  
1,99 (0,33)  
1,94 (0,48)  
2,59  
6,08  
4,04  
2,05 (1,19 - 3,530  
7,30 (3,85 - 13,87)  
6,94 (2,71 - 17,75)  
101 - 200  
< 0,001  
> 200  
< 0,001  
Độ sâu của ao (m)  
2
3
4
<= 3  
-0,48 (0,20)  
-2,39  
0,016794  
1,62 (1,09 - 2,40)  
1,00  
> 3  
Tham chiếu  
Khử trùng dụng cụ  
Có  
Tham chiếu  
< 0,001  
1,00  
Không  
0,90 (0,26)  
5,90  
3,50  
3,58 (2,34 - 5,48)  
Khử trùng nước trước khi thả  
Có  
Không  
Tham chiếu  
< 0,001  
1,00  
0,69 (0,20)  
Đúng  
2,00 (1,36 - 2,94)  
Hiệu quả tổng hợp  
Tỉnh  
0,681  
9%  
Cơ sở nuôi  
3,290  
91%  
Bảng 4 thể hiện kết quả phân tích đa tầng,  
nhiều biến giữa các yếu tố nguy cơ và đầu ra  
(cơ sở nuôi cá tra bị bệnh gan thận mủ) và ảnh  
hưởng của các yếu tố nguy cơ ở những cấp độ  
khác nhau (cơ sở nuôi cá tra, xã và tỉnh). Cụ thể:  
Trong tổng số 21 yếu tố nguy cơ được đưa vào  
phân tích nhị biến (bivariate analysis) và đáp  
ứng yêu cầu đưa vào phân tích đa tầng nhiều  
biến (mutilevel analysis), chỉ có 4 yếu tố nguy  
cơ có mối liên hệ về sinh học, thống kê (P <  
0.05) với đầu ra là “cơ sở nuôi cá tra bị bệnh  
gan thận mủ”. Diễn giải một số kết quả như sau:  
nguy cơ khác có mặt trong mô hình phân tích  
cuối cùng, tỷ số chênh bị bệnh của các cơ sở  
nuôi có ao với độ sâu trên 3 m là 1,62 (95% CI  
1,09 - 2,40) lần so với cơ sở nuôi có ao với độ  
sâu dưới 3 m.  
- Tỷ số chênh của các cơ sở nuôi không khꢀ  
trùng dụng cụ nuôi là 3,58 (95% CI 2,34 - 5,48)  
lần so với cơ sở nuôi có khꢀ trùng dụng cụ.  
- Tỷ số chênh của các cơ sở nuôi không khꢀ  
trùng nước trước khi thả là 2,00 (95% CI 1,36  
- 2,94) lần so với cơ sở nuôi có khꢀ trùng nước  
trước khi thả.  
- Sau khi điều chỉnh các yếu tố nguy cơ khác  
có mặt trong mô hình phân tích cuối cùng, tỷ số  
chênh bị bệnh của các cơ sở nuôi cá tra có mật  
độ thả nuôi từ 101 – 200 con/m2 là 7,30 (95% CI  
3,85 - 13,87) lần so với cơ sở nuôi có mật độ thả  
nuôi từ 10 – 50 con/m2.  
- Trong số các yếu tố nguy cơ, các yếu tố ở  
cấp cơ sở đóng vai trò quan trọng, chiếm 91%  
trong tổng số nguy cơ bị bệnh, so với các yếu  
tố nguy cơ ở cấp độ xã và tỉnh chỉ chiếm 9%.  
Điều này cho thấy, cần phải cải tiến việc quản  
lý, chăm sóc cá tra tại các cơ sở nuôi.  
- Tương tự, sau khi điều chỉnh các yếu tố  
74  
KHOA HỌC KỸ THUẬT THÚ Y TẬP XXIII SỐ 5 - 2016  
- Đối với người nuôi cá tra: (1) Tăng cường  
các biện pháp quản lý, chăm sóc ao nuôi, bắt  
đầu từ việc cải tạo, xꢀ lý bùn đáy ao, đầm nuôi;  
(2) Thả mật độ nuôi thấp, theo hướng dẫn của cơ  
quan chuyên môn về thú y thủy sản; (3) Vệ sinh  
khꢀ trùng dụng cụ sꢀ dụng trong quá trình nuôi.  
IV. KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ  
1. Kết luận  
- Ở 600 cơ sở nuôi cá tra tại 23 huyện thuộc 2  
tỉnh với tổng diện tích Đồng Tháp là 2.071 ha và  
An Giang là 1.269 ha. Công tác quy hoạch của  
các địa phương chậm; công tác quản lý vùng  
nuôi cá tra thương phẩm và giám sát môi trường  
gặp khó khăn ở các vùng nuôi cá tra ngoài quy  
hoạch.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Nguyễn Thị Mộng Hoàng (2009). Định danh  
và thăm dò đặc tính gây đáp ứng miễn dịch  
của tác nhân gây bệnh đốm trắng mủ trên cá  
tra (P. hypophthalmus) nuôi ở ĐBSCL. Tuyển  
tập nghề cá sông Cửu Long, Viện NCTNTS2,  
trang 347 – 359;  
- Bệnh đã xuất hiện tại An Giang vào năm  
2014 nhưng Chi cục Thú y An Giang không báo  
cáo; Tỉnh Đồng Tháp có báo cáo dịch bệnh xuất  
hiện ở 7,96% diện tích thả nuôi của 22 xã thuộc  
6 huyện.  
2. Đặng Thị Hoàng Oanh và Nguyễn Thanh  
Phương (2012). Thꢀ nghiệm điều trị bệnh  
do vi khuẩn Edwardsiella ictaluri trên cá  
tra (pangasius hypophthalmus) bằng thuốc  
kháng sinh Erythromycine thiocyanate. Tạp  
chí Khoa học 2012:22, trang 146-154. Đại  
học Cần Thơ.  
- Bệnh thường xuất hiện từ tháng 5 - 11 hàng  
năm. Trung bình dịch bệnh xuất hiện tại 45,8%  
(95% CI 41,78 - 49,86) hộ điều tra; tỷ lệ ao điều  
tra có bệnh là 37,30% (95% CI 34,57 - 40,08);  
tỷ lệ diện tích thả nuôi bị bệnh là 34,63% (95%  
CI 31,43 - 37,95); Tỉnh Đồng Tháp có các tỷ lệ  
cao hơn so với tỉnh An Giang.  
3. Nguyễn Thành Tâm, Từ Thanh Dung,  
Nguyễn Văn Bá (2014). Tình hình nghiên  
cứu và ứng dụng vacxin phòng bệnh vi  
khuẩn Aeromonas hydrophila. Tạp chí  
Khoa học Cần Thơ, số 3. Đại học Cần Thơ.  
- Có 18 yếu tố nguy cơ chính liên hệ về sinh  
học và thống kê (P < 0.2) với “cơ sở có cá tra bị  
bệnh gan thận mủ”, cụ thể: Ở mật độ trên 200  
con/m2, tỷ số chênh nguy cơ xảy ra dịch bệnh là  
5,01 (95% CI 2,18 - 12,95) lần so với cơ sở nuôi  
với mật độ từ 10-50 con/m2; tỷ số chênh nguy  
cơ của cơ sở thả nuôi không vét bùn đáy ao là  
2,21 (95% CI 1,40 - 3,55) lần so với cơ sở nuôi  
có vét bùn đáy ao; tỷ số chênh nguy cơ xảy ra  
bệnh của cơ sở nuôi không khꢀ trùng dụng cụ  
nuôi là 3,58 (95% CI 2,34 - 5,48) lần so với cơ  
sở nuôi có khꢀ trùng dụng cụ.  
4. Mai Đình Yên, Nguyễn Văn Trọng, Nguyễn  
Văn Thiện, Lê Hoàng Yến, Hứa Bạch Loan  
(1992). Định loại các loài cá nước ngọt Nam  
Bộ. Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật –  
Hà Nội, trang 160 – 190.  
5. Agresti, A. (2007) An introduction to  
categorical data analysis. 2nd ed. JohnWiley  
& Sons, Inc.Hoboken, New Jersey.  
6. Hosmer, D.W. and Lemeshow, S. (2000)  
Applied logistic regression. 2nd ed. John  
Wiley and Sons Inc., New York.  
2. Đề nghị  
- Đối với các cơ quan quản lý nhà nước: (1)  
Cần tăng cường các biện pháp quản lý cơ sở  
nuôi cá tra, hỗ trợ, hướng dẫn hoạt động giám  
sát dịch bệnh để người dân thấy được vai trò  
của cơ quan quản lý; (2) Chi cục Thú y các tỉnh  
cần cải tiến việc ghi chép, tổng hợp và báo cáo  
số liệu từ cấp cơ sở, nhất là về thời gian báo cáo  
cần phải kịp thời để có cơ sở triển khai các biện  
pháp phòng chống hiệu quả hơn; (3) Hướng dẫn  
quản lý và xꢀ lý các yếu tố nguy cơ ở cấp cơ sở  
nuôi cá tra đã được chỉ ra tại báo cáo này là yếu  
tố thành công để khống chế dịch bệnh.  
7. Stevenson, M. (2012) epiR: Functions  
for analysing epidemiological data. R  
package version 0.9-43 (package has  
been developped with contributions from  
T. Nunes, J. Sanchez, and R. Thornton).  
EpiCentre, IVABS, Private Bag 11 222,  
Massey University, Palmerston North, New  
Zealand.  
Nhận ngày 6-4-2016  
Phản biện ngày 28-4-2016  
75  
pdf 10 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 18340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số đặc điểm dịch tễ bệnh gan thận mủ ở cá tra tại các tỉnh An Giang và Đồng Tháp năm 2014", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_dac_diem_dich_te_benh_gan_than_mu_o_ca_tra_tai_cac_ti.pdf