Siêu thị bán lẻ trong bối cảnh phát triển thương mại - Nghiên cứu thăm dò từ các siêu thị

Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
SIÊU THỊ BÁN LẺ TRONG BỐI CẢNH PHÁT TRIỂN THƯƠNG MẠI - NGHIÊN CỨU  
THĂM DÒ TỪ CÁC SIÊU THỊ  
RETAIL SUPERMARKET IN CONTEXT OF DEVELOPMENT ECONOMIC - RESEARCH  
EXPLORATORY FROM SUPERMARKET  
PGS. TS. Đặng Văn Mỹ  
Đại học Đà Nẵng  
Tóm tắt  
Nghiên cứu này nhằm mục đích chỉ ra những đặc trưng cơ bản của mô hình siêu thị bán lẻ trong bối cảnh  
phát triển thương mại ở nước ta. Thông qua nghiên cứu thực nghiệm tại hệ thống siêu thị trên địa bàn Thành phố  
Hồ Chí Minh cho phép nhận diện khá đầy đủ về sự phát triển của mô hình kinh doanh siêu thị bán lẻ điển hình,  
đánh giá các yếu tố của mô hình và khả năng thành công trong kinh doanh của tổ chức kinh doanh siêu thị. Kết  
quả nghiên cứu cho thấy rằng, mô hình siêu thị bán lẻ đã và đang khẳng định vị trí của mình trong hệ thống bán lẻ  
hiện đại và thúc đẩy sự phát triển sản xuất, phân phối, thương mại và nhu cầu tiêu dùng của cư dân.  
Từ khóa: siêu thị, thị trường, bán lẻ, mô hình kinh doanh  
Abstrat  
This study aims to point out the basic characteristics of the retail supermarket model in the context of  
trade development in our country. Through empirical research at supermarket system in Ho Chi Minh City allows  
quite a complete identification of the development of the typical retail supermarket business model, assessing the  
model's factors and the likelihood of success in the business. business of supermarket business organizations. The  
research results show that the retail supermarket model has affirmed its position in the modern retail system and  
promoted the development of production, distribution, trade and consumer demand of resident.  
Keywords: supermarket, market, retail, business model.  
1. Siêu thị bán lẻ  
Mô hình kinh doanh nói chung và kinh doanh siêu thị bán lẻ nói riêng được nghiên cứu khá phổ  
biến ở các quốc gia phát triển xuất phát từ sự chuyển đổi lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh giữa các  
công ty từ các yếu tố riêng lẻ sang các yếu tố tổng hợp mà ở đó mô hình kinh doanh có tính chất quyết  
định [3]. Siêu thị bán lẻ hình thành và phát triển từ lâu đời ở các quốc gia phát triển nhưng mới chỉ  
phát triển ở nước ta trong gần 2 thập niên qua [4]. Sự hiện diện của siêu thị bán lẻ đã làm thay đổi cơ  
bản hệ thống phân phối bán lẻ trong mỗi quốc gia, hình thành tổ chức kinh doanh bán lẻ hiện đại, theo  
hình thức tự phục vụ, cung cấp đa dạng có qui mô lớn hầu hết những hàng hóa đáp ứng nhu cầu tiêu  
dùng phổ thông và rộng rãi của các tầng lớp dân cư trong thị trường [1,2]. Vậy mô hình kinh doanh  
siêu thị bán lẻ là gì? Chúng có những đặc điểm gì? Đâu là các yếu tố cấu thánh và vì sao mô hình kinh  
doanh siêu thị bán lẻ lại trở nên thịnh vượng trong một thị trường văn minh? Nghiên cứu này bước đầu  
khám phá mô hình kinh doanh siêu thị bán lẻ hình thành và phát triển mạnh trong thời gian qua ở nước  
ta. Thông qua tiếp cận thực tế hệ thống siêu thị coopmart, nghiên cứu đã rút ra các yếu tố cấu thành mô  
hình kinh doanh siêu thị bán lẻ, nhận diện những nhân tố quyết định thành công, những hạn chế của  
mô hình, từ đó đề xuất giải pháp phát triển mô hình kinh doanh siêu thị bán lẻ trong tương lai [5].  
Mô hình kinh doanh siêu thị bán lẻ là hình thức biểu thị mô hình kinh doanh áp dụng cụ thể  
trong lĩnh vực bán lẻ tổ chức theo hình thức siêu thị, là phương thức tổ chức kinh doanh bán lẻ hiện đại,  
là kiểu kinh doanh bán lẻ các hàng hóa phổ biến tiêu dùng, là triết lý kinh doanh của các chủ thể kinh  
doanh siêu thị, là sự chuyển dịch mô hình kinh doanh siêu thị bán lẻ đã và đang tồn tại ở các quốc gia  
phát triển vào nước ta [2,8].  
Mô hình kinh doanh siêu thị bán lẻ hội nhập vào ngành công nghiệp phân phối bán lẻ cùng với  
các mô hình kinh doanh bán lẻ khác tạo nên bức tranh về ngành công nghiệp phân phối bán lẻ đóng  
193  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
góp vào quá trình lưu thông và phân phối hàng hóa của nền kinh tế cũng như giữa các quốc gia trên thế  
giới, hướng đến thỏa mãn nhu cầu mua sắm và tiêu dùng thuận tiện, hữu ích và chi phí thấp của người  
tiêu dùng [6,8].  
Theo nhiều nghiên cứu khác nhau cho thấy, tồn tại 4 yếu tố cấu thành của mô hình kinh doanh  
nói chung và mô hình kinh doanh siêu thị bán lẻ nói riêng, đó là: yếu tố thuộc về hệ thống sản phẩm và  
dịch vụ của siêu thị bán lẻ; yếu tố thuộc về phạm vi thị trường và khách hàng của siêu thị; yếu tố thuộc  
về hạ tầng và hậu cần kinh doanh của siêu thị; và yếu tố thuộc về chi phí và thu nhập của mô hình [6,8].  
Tùy thuộc vào các nghiên cứu tiền đề, các chủ thể kinh doanh siêu thị bán lẻ quyết định triển  
khai mô hình kinh doanh siêu thị bán lẻ cho mình với các triết lý kinh doanh, phương thức kinh doanh  
và các yếu tố cấu thành của mô hình kinh doanh theo các khía cạnh cụ thể khác nhau.  
2. Phương pháp nghiên cứu  
Trước tiên là quá trình tổng hợp và phân tích các trường phái lý thuyết về phân phối bán lẻ, đặc  
biệt là bán lẻ theo hình thức siêu thị và qua đó xây dựng khung lý thuyết về mô hình kinh doanh là cơ  
sở nghiên cứu tình huống thực tế, với các phương pháp phân tích định hình và định lượng nhằm đánh  
giá mô hình nghiên cứu. Sau đó, quá trình thu thập và xử lý thông tin thống kê không chỉ về các yếu tố  
của mô hình kinh doanh siêu thị mà còn đi sâu xác định các tiêu chí cụ thể của từng yếu tố cấu thành.  
Việc thực hiện điều tra phỏng vấn sâu các Giám đốc kinh doanh của các Siêu thị: siêu thị thực  
phẩm, siêu thị tổng hợp và các hình thức siêu thị khác theo hệ thống các câu hỏi đã xác định. Đồng  
thời, nhóm nghiên cứu đã tiếp cận nguồn dữ liệu thống kê từ 2016-2018 của các siêu thị nghiên cứu để  
tổng hợp phân tích theo mục tiêu nghiên cứu đề ra. Nghiên cứu này nhằm phân tích đánh giá mô hình  
kinh doanh của các siêu thị bán lẻ trong thị trường quốc gia. Các siêu thị bán lẻ khác nhau sẽ triển khai  
các mô hình kinh doanh khác nhau và ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thu hút khách cũng như hiệu  
quả kinh doanh và cạnh tranh có được. Vì thế, điều cần thiết quan trọng đối với chúng tôi trong quá  
trình nghiên cứu là tiếp cận cơ sở dữ liệu về các siêu thị hướng đến thông qua điều tra, tổng hợp số liệu  
nhằm thực hiện việc phân tích đánh giá các yếu tố của mô hình kinh doanh.  
3. Thực trạng mô hình kinh doanh siêu thị bán lẻ  
3.1. Nhận định tổng quát từ các nhà quản lý  
Các nhà quản lý đều cho rằng, ”phát triển siêu thị bán lẻ là một định hướng có tính chiến lược”.  
Hệ thống siêu thị Co-opMart là những tổ chức tiên phong trong thị trường về phát triển siêu thị nhấn  
mạnh ”chúng tôi đã mạnh dạn đầu tư và tham gia vào lĩnh vực kinh doanh bán lẻ theo hình thức siêu  
thị”. Ý tưởng kinh doanh siêu thị được các ứng viên thảo luận sôi nổi, xoay quanh các giá trị như ”cơ  
hội kinh doanh lớn trong một thị trường tiềm năng”, ”phát triển hình thức kinh doanh tự phục vụ”  
hoặc ”hình thành không gian mua sắm hiện đại”. Thực tế, các siêu thị hình thành đã và đang thực thi  
một ”mô hình kinh doanh mới” trong ngành công nghiệp phân phối bán lẻ tại nước ta, đáp ứng yêu  
cầu văn minh thương mại, yêu cầu của quá trình chuyển đổi nền kinh tế, yêu cầu của đời sống công  
nghiệp của đại bộ phận cư dân trong quốc gia.  
Triết lý kinh doanh siêu thị theo đánh giá của các ứng viên dự vấn không có gì đặc biệt, đơn  
thuần là ”sự sao chép”, ”sự bắt chước”, ”sự học hỏi” , ”sự tranh thủ cơ hội thị trường” từ quá trình  
hình thành và phát triển các siêu thị nước ngoài. Nhưng vấn đề quan trong được đánh giá nhiều trong  
quá trình phỏng vấn là ”hình thành không gian mua sắm qui mô lớn”, ”cung cấp nhiều giá trị gia tăng  
cho khách hàng”, ”đáp ứng nhu cầu mua sắm hiện đại của đời sống đô thị” trên cơ sở kinh doanh hiện  
đại và qui mô lớn nhằm ”hoàn thiện dịch vụ phân phối bán lẻ” trong thị trường bán lẻ quốc gia so với  
các hình thức phân phối bán lẻ truyền thống đã hình thành và phát triển từ lâu đời.  
Định hướng kinh doanh chủ yếu mà các siêu thị quan tâm và triển khai trong thực tế như sau:  
Đa dạng hóa các ngành hàng và mặt hàng kinh doanh tại siêu thị; tạo địa điểm mua sắm lý tưởng của  
mọi gia đình; khai thác tối đa diện tích siêu thị để trưng bày hàng hóa; kiện toàn quản lý nhằm tiết  
194  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
giảm chi phí kinh doanh; thường xuyên thực hiện các chương trình khuyến mãi; phục vụ tốt nhu cầu  
mua sắm và tham quan của khách hàng; mở rộng mạng lưới siêu thị trên những thị truờng tiềm năng;  
phát triển các dịch vụ tiện ích cho khách hàng; phát triển khách hàng thành viên của hệ thống.  
Việc tổ chức các hoạt động kinh doanh của siêu thị được hình thành trên cơ sở ”học hỏi từ sách  
vỡ và các siêu thị nước ngoài”, đảm bảo phân bố hợp lý ”các khâu của quá trình kinh doanh”, từ việc  
lựa chọn địa điểm đầu tư xây dựng và quy hoạch không gian bên trong siêu thị. Các nhà quản lý siêu  
thị đều nhất trí đánh giá rằng, ”các siêu thị mà chúng tôi kinh doanh hiện nay chủ yếu trên cơ sở nâng  
cấp các cơ sở kinh doanh thương nghiệp trước đây”. Việc lựa chọn địa điểm và xác định quy mô của  
siêu thị hoàn toàn bị động, do sự phân bố khách quan của đô thị và vị trí kinh doanh hiện có của các  
công ty đó. Công tác tổ chức kinh doanh tại các siêu thị bước đầu theo các ứng viên dự vấn là ”vô cùng  
khó khăn” do đặc điểm của hình thức kinh doanh siêu thị là mới mẽ và qui mô lớn hơn so với các loại  
hình bán lẻ khác. Một trong những nhà quản lý siêu thị nhấn mạnh, ”chúng tôi phải tập hợp lực lượng  
có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh bán lẻ, phải làm việc liên tục trong suốt mấy tháng liền thậm  
chí cả năm để chuẩn bị cho việc khai trương một siêu thị”.  
Việc khai thác tối ưu các điều kiện vật chất và con người được tổ chức trong quá trình kinh  
doanh có ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Các nhà dự vấn đều nhấn mạnh, ”chúng tôi khai thác triệt để  
không gian vốn có của siêu thị, tập trung chủ yếu cho việc trưng bày hàng hóa và phục vụ khách  
hàng”. Với qui mô hạn chế mà áp lực về việc kinh doanh đa dạng về phổ hàng đã khiến các siêu thị  
khai thác không gian một cách triệt để. Vì thế, một mặt số lượng mặt hàng trong kinh doanh của các  
siêu thị đạt từ 8000 đến 30.000 tùy thuộc vào diện tích kinh doanh vốn có của siêu thị.  
Việc tổ chức và khai thác mô hình kinh doanh siêu thị được hầu hết các tổ chức kinh doanh  
siêu thị quan tâm trên cả 3 phương diện: một là, kiện toàn hệ thống sản phẩm và dịch vụ của siêu thị;  
hai là, phạm vi thị trường hoạt động và các đối tượng khách hàng mục tiêu; ba là, hạ tầng và hậu cần  
kinh doanh của siêu thị. Các ứng viên dự vấn không chỉ quan tâm đến việc ”hình thành và xác định mô  
hình kinh doanh siêu thị” trong bước đầu xây dựng và triển khai, mà còn quan tâm ”điều chính một  
cách thường xuyên nhằm tối ưu hóa quá trình kinh doanh và nâng cao khả năng phục vụ khách hàng”.  
Các nhà quản lý siêu thị bàn luận nhiều về việc ”điều chỉnh mô hình kinh doanh” hiện có, sự cải tiến  
các khâu trong quá trình kinh doanh và ”tối thỉu hóa chi phí kinh doanh” nhằm nâng cao ”năng lực  
kinh doanh và cạnh tranh cho các siêu thị”.  
Trong quá trình kinh doanh, các siêu thị chịu áp lực lớn của môi trường kinh doanh và cạnh  
tranh không chỉ giữa các siêu thị, mà còn giữa siêu thị với các hình thức bán lẻ truyền thống ở các địa  
phương gần kề nơi siêu thị chiếm đóng. Đại diện nhà quản lý siêu thị nhấn mạnh, ”chúng tôi luôn kiện  
toàn mô hình kinh doanh và quản lý của siêu thị và hệ thống siêu thị nhằm nâng cao năng lực cạnh  
tranh so với các hình thức bán lẻ khác”, theo cách tiếp cận của Coopmart, vấn đề cạnh tranh ”không  
chỉ đơn thuần về qui mô lớn hay nhỏ trong kinh doanh bán lẻ” mà chủ chốt vẫn là ”yếu tố giá cả và  
dịch vụ khách hàng”. Các siêu thị về cơ bản ”không thể thi hành mức giá thấp hơn” so với các cửa  
hàng truyền thống, bởi lẻ ”chi phi kinh doanh ở siêu thị được tính toán đầy đủ và ở mức cao so với các  
cửa hàng truyền thống”. Vì thế, ”chúng tôi luôn nhận thức làm nổi bật các giá trị gia tăng cho khách  
hàng để có thể tồn tại và phát triển”, đó là ”sự đa dạng về hàng hóa và chất lượng phục vụ, không  
gian mua sắm thoải mái, môi trường văn minh và nhiều dịch vụ hấp dẫn khách hàng”.  
3.2. Thực tế các yếu tố của mô hình kinh doanh  
3.2.1. Yếu tố sản phẩm và dịch vụ  
Yếu tố sản phẩm và dịch vụ của hầu hết các siêu thị xem xét đều có những điểm đặc trưng nhất  
định, thể hiện:  
- Về phương diện sản phẩm, hàng hóa bày bán ở các siêu thị cho thấy rằng, các siêu thị đều đa  
dạng hóa các ngành hàng, mặt hàng theo các tiêu thức khác nhau nhằm đảm bảo khả năng cung cấp  
195  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
đầy đủ cho nhu cầu mua sắm của cư dân. Hệ thống các ngành hàng và mặt hàng kinh doanh của các  
siêu thị biểu thị ở bảng sau:  
Bảng 1: Tổng hợp tỷ lệ doanh thu bình quân bán hàng theo các ngành hàng  
STT  
Siêu thị  
Tỷ trọng các doanh thu theo các ngành hàng  
Thực Công nghệ TP chế T.tinh  
phẩm trang phẩm khô  
Mỹ  
Thời  
Đồ  
biến gốm sứ uống  
Hàng gia  
dụng  
phẩm  
17%  
20%  
24%  
15%  
10%  
1
2
3
4
5
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
20%  
15%  
28%  
18%  
24%  
15%  
15%  
-
12%  
10%  
20%  
10%  
10%  
11%  
15%  
-
6%  
-
9%  
10%  
13%  
12%  
14%  
6%  
12%  
16%  
16%  
14%  
-
12%  
16%  
8%  
-
7%  
20%  
MAXIMART  
- Về phương diện dịch vụ: có thể nói siêu thị bán lẻ phát triển hơn hẳn các loại hình bán lẻ khác  
về phương diện dịch vụ, đặc biệt là các dịch vụ hỗ trợ trước, trong và sau khi giao dịch nhằm thu hút  
và tạo điều kiện cho khách hàng mua sản phẩm và gắn kết với siêu thị.  
Bảng 2: Tổng hợp tỷ lệ doanh thu bình quân của siêu thị theo các dịch vụ  
STT  
Siêu thị  
Doanh thu của siêu thị theo các dịch vụ  
Bán hàng  
90%  
Dịch vụ  
2%  
Cho thuê  
Hợp tác  
1
2
3
4
5
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
5%  
3%  
2%  
-
3%  
3%  
-
92%  
2%  
95%  
3%  
98%  
2%  
-
MAXIMART  
85%  
5%  
5%  
5%  
Như vậy, yếu tố sản phẩm dịch vụ của hầu hết các siêu thị bán lẻ nêu trên thể hiện sự phát triển  
vượt trội của hệ thống bán lẻ này trong ngành công nghiệp bán lẻ, là đặc trưng mạnh của siêu thị khi  
tham gia thị trường và là yếu tố quyết định khả năng thu hút khách hàng.  
3.2.2. Thị trường và phạm vi thị trường trong hoạt động  
Thị trường được xem xét là phạm vi thị trường địa lý mà các siêu thị hướng đến trong quá trình  
kinh doanh, biểu thị vùng địa lý hoặc vùng khách hàng – tập hợp những cư dân và hộ gia đình có khả  
năng tiếp cận siêu thị để mua sắm thỏa mãn nhu cầu. Trên cơ sở thu thập dữ liệu của các siêu thị, xử lý  
số liệu khách hàng tại bộ phận CNTT của các siêu thị cho phép đánh giá vùng thị trường của các siêu  
thị như sau:  
Bảng 3: Vùng thị trường hoạt động của các siêu thị nghiên cứu  
Vùng thị trường dự kiến bao  
quanh siêu thị  
Vùng thị trường thực Tỷ lệ % thực  
tế bao quanh siêu thị  
hiện thực tế  
STT  
SIÊU THỊ  
(Km)  
10-12  
8-10  
7-10  
6-8  
(km)  
%
1
2
3
4
5
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
6-8  
5-7  
4-6  
4-6  
5-7  
70%  
65%  
60%  
75%  
75%  
MAXIMART  
6-8  
(Nguồn: Kết quả điều tra và phỏng vấn siêu thị)  
196  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Nghiên cứu chi tiết về các cấp độ của Vùng thị trường mà các siêu thị có được trong quá trình  
hoạt đông trên cơ sở dữ liệu khách hàng mua sắm và quá trình phục vụ bán hàng theo thời gian có thể  
nhận biết sự hình thành các vùng thị trường theo các cấp độ khác nhau của từng mô hình siêu thị  
nghiên cứu, cụ thể các vùng thị trường trong tương quan với tỷ lệ phần trăm về khách hàng hoặc doanh  
số bán hàng của siêu thị, thể hiện trong bảng 4 sau đây:  
Bảng 4: Các vùng thị trường đối với từng siêu thị trong quá trình hoạt động  
Vùng thị  
Các cấp vùng thị trường thực tế (%)  
trường thực tế  
STT  
SIÊU THỊ  
Vùng 1  
Vùng 2  
4-6  
Vùng 3  
1
2
3
4
5
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
6-8  
5-7  
4-6  
4-6  
5-7  
3-4  
3-4  
2-3  
2-3  
3-4  
6-8  
6-7  
4-6  
4-6  
6-7  
4-6  
3-4  
3-4  
MAXIMART  
4-6  
Ghi chú: + Vùng 1 cung cấp 50% khách hàng (hoặc 50% doanh số bán) của siêu thị  
+ Vùng 2 cung cấp 30% khách hàng (hoặc 30% doanh số bán) của siêu thị  
+ Vùng 3 cung cấp 20% khách hàng (hoặc 20% doanh số bán) của siêu thị  
Tổng hợp về sự biến thiên vùng thị trường theo thời gian của các siêu thị thể hiện trong bảng 5,  
trên cơ sở phân tích tương quan về sự thay đổi phạm vi thị trường phục vụ của siêu thị trong 5 năm  
hoạt động.  
Bảng 5: Sự biến thiên vùng thị trường theo thời gian của các siêu thị  
Vùng thị trường thực Vùng thị trường biến thiên theo thời gian  
tế  
STT  
SIÊU THỊ  
Năm 1  
-10%  
-5%  
Năm 3  
+5%  
+5%  
+6%  
+5%  
+6%  
Năm 5  
1
2
3
4
5
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
6-8  
5-7  
4-6  
4-6  
6-7  
-
-
-
-
-
-10%  
-7%  
MAXIMART  
-8%  
Như vậy, chính ranh giới thị trường địa lý như vậy ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình thu hút  
khách và khả năng kinh doanh và bán hàng của siêu thị. Từ nghiên cứu này cho thấy rằng, các siêu thị  
không thể trông mong vào quá trình mở rộng thị trường bán hàng và thu hút khách hàng nếu không có  
những thay đổi lớn trong phương thức kinh doanh. Chính phạm vị thị trường mà các siêu thị phục vụ  
sẽ quyết định qui mô khách hàng tiềm năng cho siêu thị. Do đó, mọi nỗ lực trong kinh doanh và thu  
hút khách của siêu thị về nguyên tắc là gia tăng tỷ lệ thu hút khách hàng hiện có trong vùng đến với  
siêu thị, đồng thời gia tăng tỷ lệ khách hàng mua khi viếng thăm siêu thị.  
3.2.3. Khách hàng của siêu thị  
Yếu tố khách hàng của mô hình siêu thị nghiên cứu thể hiện ở qui mô và cơ cấu khách hàng  
của siêu thị, biến thiên về qui mô và chất lượng khách hàng, tần suất viếng thăm siêu thị và khả năng  
mua sắm của khách hàng tại các siêu thị. Trước tiên, biến thiên về qui mô khách hàng viếng thăm và  
thực hiện việc mua sắm tại siêu thị được thống kê và mô tả theo bảng 6 sau đây:  
197  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Bảng 6: Tổng hợp khách hàng viếng thăm và mua sắm tại siêu thị  
Số lượt KH viếng thăm bình quân ngày  
Số lượt KH mua bình quân ngày  
STT  
Siêu thị  
Cao nhất Thấp nhất Trung bình Cao nhất Thấp nhất  
Trung bình  
1175  
1
2
3
4
5
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
2150  
1600  
1350  
1100  
2400  
1160  
950  
1655  
1275  
1100  
850  
1750  
950  
600  
550  
560  
480  
980  
750  
850  
880  
720  
600  
750  
615  
MAXIMART  
1800  
2100  
1700  
1340  
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh và điều tra phỏng vấn)  
Nhận thấy rằng biến thiên về số khách hàng viếng thăm và mua sắm tại các siêu thị dao động  
lớn giữa các ngày trong tuần. Theo điều tra cho thấy, lượng khách tập trung đến các siêu thị nhiều nhất  
vào các ngày cuối tuần (thứ 6, 7 và chủ nhật) và thời điểm đông khách hàng nhất thường là buổi chiều  
từ 16h đến 20h tương ứng với giờ đóng cửa siêu thị.  
Như vậy, qui mô khách hàng viếng thăm các siêu thị nghiên cứu chịu ảnh hưởng lớn bởi nhiều  
nhân tố, cụ thể như: qui mô của siêu thị, vị trí của siêu thị trong vùng thị trường so với các loại hình  
bán lẻ khác, chính sách quảng cáo và truyền thông và thói quen mua sắm của khách hàng.  
Tương tác giữa qui mô và số lượng khách hàng viếng thăm các siêu thị nghiên cứu cho biết  
trong bảng 7 sau đây:  
Bảng 7: Tương tác giữa qui mô và số lượng khách hàng viếng thăm  
Qui mô (diện Số khách viếng thăm Tỷ lệ % phục vụ (tính trên mét  
tích, mét vuông) cao nhất mỗi ngày  
vuông diện tích)  
STT  
Siêu thị  
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
1
2
3
4
5
8000  
5000  
3000  
2000  
12000  
2150  
1600  
1350  
1100  
2400  
26,8%  
32,0%  
45,0%  
55,0%  
20,0%  
MAXIMART  
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh và điều tra)  
Công tác quan hệ khách hàng được các nhà quản lý siêu thị quan tâm đặc biệt, khi đi vào hoạt  
động, các siêu thị đều quan tâm phát triển “chương trình khách hàng thường xuyên” hoặc “chương  
trình khách hàng thân thiết”, nhằm mục đích tạo mối quan hệ bền chặt giữa siêu thị với các khách  
hàng trung thành thương hiệu của siêu thị, chia sẽ các quyền lợi trong suốt quá trình mua sắm và đó  
chính là “chiêu” quan trọng mà các siêu thị hiện nay đang hướng đến. Các kênh thông tin kết nối với  
khách hàng thành viên cũng được các siêu thị quan tâm và đầu tư thỏa đáng, cụ thể:  
+ Kênh thông tin in ấn: là kênh phổ biến đối với đa số các siêu thi nghiên cứu triển khai thực hiện.  
Thông tin in ấn mang tính chất quảng cáo định kỳ về các ngành hàng và mặt hàng bán tại siêu thị với các  
chương trình khuyến mãi và xúc tiến bán hàng thật sự hấp dẫn. Nội dung và hình thức các phương tiện in  
ấn được đánh giá là hấp dẫn, thu hút người đọc, xem và có biểu hiện phản ứng nhất định  
+ Kênh thông tin trên web và email gởi đến khách hàng nói chung và khách hàng thành viên  
nói riêng. Tuy nhiên, kênh thông tin này chưa được sự quan tâm nói chung của khách hàng do điều  
kiện sử dụng web và thư điện tử của đại bộ phận khách hàng còn hạn chế.  
Theo thống kê, số lượng khách hàng thành viên của các siêu thị nghiên cứu thể hiện trong bảng  
8 sau đây:  
198  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Bảng 8: Số lượng khách hàng thành viên của các siêu thị nghiên cứu  
Số lượng KH  
Tỷ lệ % khách hàng thành viên mua hàng tại siêu thị  
thành viên  
STT  
Siêu thị  
1 tuần  
25%  
18%  
21%  
16%  
22%  
2 tuần  
32%  
25%  
30%  
28%  
35%  
1 tháng  
40%  
1
2
3
4
5
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
3150  
1980  
1600  
1230  
2980  
38%  
42%  
43%  
MAXIMART  
45%  
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh và điều tra)  
Như vậy, khách hàng thành viên tuy được phát triển mạnh, song hiệu ứng của việc quay lại  
mua sắm một cách thường xuyên trong các siêu thị nghiên cứu còn hạn chế. Điều này phần nào phản  
ánh hiệu ứng của “chương trình khách hàng thân thiết” mà các siêu thị đề xuất cũng như danh sách  
khách hàng thành viên chưa có chất lượng đối với hoạt động kinh doanh của siêu thị.  
3.2.4. Về hạ tầng kinh doanh của các siêu thị  
Với quan điểm và triết lý kinh doanh mà các siêu thị xác định là “tự chọn”, “tự phục vụ” và  
“mua sắm hiện đại” đòi hỏi hạ tầng kinh doanh phải đảm bảo thực thi. Các yếu tố cấu thành hạ tầng  
kinh doanh của các siêu thị nghiên cứu thông qua điều tra, khảo sát tại hiện trường cho phép rút ra các  
phân tích như sau:  
+ Về hạ tầng kiến trúc xây dựng siêu thị  
Hầu hết các siêu thị nghiên cứu đều có hạ tầng kiến trúc xây dựng tương đối kiên cố, một số  
siêu thị nằm ngay tầng trệt, độc lập tại một địa điểm, một số khác thì nằm ở tầng 2 gắn liền với trung  
tâm thương mại. Thống kê về diện tích riêng có của siêu thị thể hiện trong bảng 9 sau đây:  
Bảng 9: Diện tích kinh doanh và hạ tầng kiến trúc của các siêu thị nghiên cứu  
Diện tích  
STT  
Siêu thị  
KD (m2)  
Đặc điểm hạ tầng kiến trúc kinh doanh  
Hiện đại, cao cấp  
1
CO-OPMART  
8000  
Âm thanh tốt, ánh sáng hài hòa, trang trí bên ngoài ấn tượng, bên trong bắt  
mắt  
Tương đối hiện đại  
2
FIVIMART  
5000  
Âm thanh, ánh sáng vừa phải, trang trí bên ngoài bình thương, bên trong hấp  
dẫn, lôi cuốn  
3
4
5
CITIMART  
INTIMEX  
3000  
1500  
Hiện đại, các đặc điểm hạ tầng kiến trúc kinh doanh tương đối sang trọng  
Trung bình, điều kiện hạ tầng kinh doanh bình thường  
MAXIMART  
10000  
Hiện đại, điều kiện kinh doanh tốt, sang trọng, hấp dẫn  
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh và điều tra)  
Như vậy, các siêu thị nghiên cứu có sự khác nhau tương đối về hạ tầng và kiến trúc kinh doanh  
cho mô hình siêu thị bán lẻ của mình. Thực tế cho thấy, các siêu thị được xây dựng với qui mô càng  
lớn bao nhiêu thì càng hiện đại trong kiến trúc và điều kiện kinh doanh bấy nhiêu. Mức độ hiện đại  
trong kiến trúc và xây dựng siêu thị bán lẻ trong nhóm các siêu thị nghiên cứu có lẻ đứng đầu là  
Maximart, kế đến là COOPMART, và các siêu thị khác.  
Sự hiện đại của hạ tầng kinh doanh là yếu tố quan trọng thể hiện “sự văn minh, hiện đại” của  
siêu thị so với các loại hình bán lẻ khác, tạo môi trường mua sắm lịch sự và thoải mái cho khách hàng,  
đồng thời “tôn vinh” các hàng hóa trong kinh doanh của siêu thị. Nhưng cũng chính sự hiện đại này,  
199  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
một mặt tạo nên không khí “phản cảm” cho đa số khách hàng là cư dân và hộ gia đình, có thói quen  
mua sắm ở các chợ bình thường, điều kiện kinh doanh giản đơn, đồng thời, ảnh hưởng đến chi phí kinh  
doanh và giá thành sản phẩm bán ra tại các siêu thị.  
+ Về nội thất và các điều kiện kinh doanh bên trong siêu thị  
Nội thất và các điều kiện kinh doanh bên trong siêu thị là yếu tố quan trọng cấu thành nên hạ  
tầng kinh doanh của siêu thị, góp phần tôn vinh hàng hóa kinh doanh và phục vụ khách hàng trong quá  
trình mua sắm. Thông qua khảo sát và điều tra trực tiếp tại các siêu thị nghiên cứu, nội thất và các điều  
kiện kinh doanh bên trong các siêu thị có thể được cập nhật trong bảng 10 sau đây.  
Bảng 10: Nội thất và các điều kiện kinh doanh bên trong siêu thị  
STT  
Siêu thị  
Trang hoàng Âm thanh và Kệ trưng  
Xe đẩy và Thông tin và  
ánh sáng  
bày  
giỏ hàng  
biển báo  
1
2
3
4
5
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
Tốt  
Trung bình  
Tốt  
Tốt  
Khá  
Khá  
Tốt  
Tốt  
Tốt  
Trung bình  
Trung bình  
-
Trung bình  
Trung bình  
Trung bình  
Tốt  
Tốt  
Tốt  
Trung bình  
Tốt  
Trung bình  
Khá  
Trung bình  
Tốt  
MAXIMART  
Tốt  
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh và điều tra)  
Vấn đề có tầm quan trọng không kém ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng của các yếu tố hạ  
tầng và hiệu quả thu hút và phục vụ khách của các siêu thị là việc sử dụng không gian bên trong siêu  
thị - thể hiện thông qua việc bố trí không gian cho việc trưng bày hàng hóa và không gian dành cho  
khách hàng. Kết quả khảo sát các siêu thị nghiên cứu cho biết tình trạng sử dụng không gian bên trong  
các siêu thị nghiên cứu thể hiện trong bảng 11 sau đây:  
Bảng 11: Tình trạng sử dụng không gian bên trong các siêu thi  
Năm đầu tiên  
Hiện tại  
% diện tích % diện tích cho % diện tích  
% diện tích cho  
STT  
Siêu thị  
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
trưng bày  
khách hàng  
trưng bày  
khách hàng  
1
2
3
4
5
70%  
30%  
78%  
22%  
25%  
28%  
20%  
30%  
72%  
68%  
72%  
65%  
28%  
32%  
28%  
35%  
75%  
72%  
80%  
70%  
MAXIMART  
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh và điều tra)  
Ban đầu, các siêu thị đều dành không gian cho khách hàng (bao gồm lối đi, khoảng trống giữa  
các kệ hàng, các khu vực lối vào và ra các quầy thu ngân…) tương đối so với không gian trưng bày  
hàng hóa. Nhưng theo thời gian, không gian dành cho khách hàng có xu hướng giảm đi, thay vào đó là  
sự gia tăng về không gian trưng bày, cụ thể như việc bố trí các ụ trưng bày, các kệ trưng bày bao quanh  
các đầu kệ hiện có, một số khu vực để trống trước đây nay tăng cường kệ trưng bày. Điều này thể hiện  
mục đích gia tăng số lượng mặt hàng trưng bày tại siêu thị nhằm giảm chi phí tính trên từng mét vuông  
của siêu thị trong quá trình kinh doanh tính cho từng ngành hàng và mặt hàng kinh doanh.  
3.2.5. Về hậu cần kinh doanh của các siêu thị  
Chuỗi giá trị trong kinh doanh của siêu thị được tổng hợp phân tích từ thực tế kinh doanh của  
các siêu thị cho thấy rằng, các siêu thị đều thực hiện chức năng mua, dự trữ bảo quản và bán hàng tại  
địa điểm kinh doanh của siêu thị. Theo đánh giá của nhóm nghiên cứu trên cơ sở điều tra và phỏng vấn  
các lãnh đạo siêu thị thì các hoạt động chức năng của siêu thị thể hiện trong bảng 12.  
200  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
+ Đối với các siêu thị độc lập riêng lẻ thì các họat động chức năng vận hành bên trong mỗi siêu  
thị và chỉ phục vụ cho quá trình kinh doanh và quản lý chỉ một siêu thị. Do đó, qui mô của bộ phận  
quản lý thực thi các hoạt động chức năng có phần hạn chế cả về nhân sự thực hiện lẫn mức độ triển  
khai các công việc trong quá trình thực hiện. Điều này không tốt cho sự vận hành của tổ chức, các định  
hướng chiến lược không được quan tâm thỏa đáng, các chương trình quản lý cũng sẽ không thật sự  
hiệu quả và nhiều khi tính kinh tế của quá trình quản lý không cao.  
Bảng 12: Các hoạt động chức năng của các siêu thị nghiên cứu  
Các hoạt động chức năng  
STT  
Siêu thị  
Lãnh đạo  
Tập trung  
Tập trung  
Độc lập  
Quản lý nhân sự Nghiên cứu & Phát triển Tài chính kế toán  
1
2
3
4
5
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
Tập trung  
Tập trung  
Độc lập  
Tập trung  
Tập trung  
Độc lập  
Độc lập  
Độc lập  
Độc lập  
Độc lập  
Độc lập  
Bán tập trung  
Độc lập  
Tập trung  
Độc lập  
Độc lập  
MAXIMART  
Độc lập  
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh và điều tra)  
+ Đối với các siêu thị phát triển theo chuỗi thì các hoạt động chức năng vận hành chung cho  
nhóm các siêu thị, tức là các hoạt động chức năng mang tính quản lý nêu trên được thâu tóm và tập  
hợp về Hội sở. Do đó, các công việc mang tính chuyên môn hóa cao, lực lượng tổ chức các hoạt động  
có điều kiện trao dồi chuyên môn và đầu tư thỏa đáng cho quá trình quản lý. Vì thế, các tri thức của  
quản trị kinh doanh được khai thác triệt để trong quá trình quản lý và vận hành tổ chức. Các hiệu ứng  
của quá trình quản lý cũng vì thế mà phát huy tác dụng.  
Theo điều tra nghiên cứu thực tế tại các siêu thị độc lập, có thể rút ra các nhận xét quan trọng  
như sau:  
+ Tổ chức nhân sự cho các hoạt động chức năng rất đơn giản, tương ứng từng ngành hàng có  
01 ứng viên phụ trách và điều hành toàn bộ các hoạt động chức năng của ngành hàng. Công việc của  
ứng viên đảm nhận trở nên quá tải, suốt ngày chạy xô với các công việc thường nhật, gần như không  
còn thời gian để cải thiện công tác quản trị trong phần hành mà ứng viên đảm nhận.  
+ Các hoạt động vận hành chưa có sự phối hợp chặt chẽ nhau trong quá trình thực hiện do  
chuyên môn hóa về nhân sự, do sự quá tải về số lượng các quan hệ giao dịch trong quá trình hoạt động.  
+ Chất lượng các hoạt động vận hành rất khó đánh giá, do không có sự chia sẽ, sự trao đổi và  
không có tiêu chí đánh giá.  
Nhìn chung, các hoạt động vận hành của công tác hậu cần trong kinh doanh các siêu thị độc lập  
chưa thể hiện sự khác biệt so với các hình thức kinh doanh bán lẻ khác, về cơ bản chỉ giải quyết các sự  
việc phát sinh trong quá trình kinh doanh, chưa khai thác các quy luật về lợi thế so sánh của kinh  
doanh quy mô lớn.  
Đối với các siêu thị hoạt động theo chuỗi thì quá trình hình thành và phát triển chuỗi siêu thị đã  
đưa đến sự thay đổi lớn trong các hoạt động vận hành của công tác hậu cần. Cụ thể như:  
+ Việc tích hợp các chức năng cơ bản trong kinh doanh nhằm hình thành “tổ chức” chuyên  
môn hóa trong thực hiện chức năng và hỗ trợ cho các siêu thị thành viên trong toàn bộ hệ thống. Cụ  
thể các chức năng như: mua tập trung, phân phối cho cả hệ thống, quảng cáo và truyền thông chung,  
khuyến mãi chung trên toàn hệ thống…  
+ Việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật cho phép kết nối các siêu thị thành viên và quản lý điều  
hành toàn bộ hệ thống qua mạng, tiết giảm nhiều chi phí kinh doanh đáng kể cho các siêu thị thành  
201  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
viên, đồng thời tạo điều kiện cho các siêu thị thành viên tập trung nguồn lực vào quá trình bán hàng và  
chăm sóc khách hàng.  
+ Khai thác lợi thế theo qui mô nhờ sự tích hợp và nhóm gộp các chức năng riêng lẻ và phát  
triển hoạt động trên qui mô lớn. Điều này cho phép tiết giảm nhiều chi phí trong quá trình kinh doanh  
cũng như nâng cao năng lực đàm phán và mua hàng từ các nhà sản xuất.  
Theo kết quả nghiên cứu tại 2 chuỗi siêu thị, quá trình tích hợp các hoạt động vận hành nói  
riêng và hoạt động chức năng nói chung diễn ra mạnh mẽ trong quá trình hình thành và phát triển  
chuỗi siêu thị. Bảng 13 minh họa quá trình chuyển đổi và tích hợp các chức năng của các siêu thị  
nghiên cứu.  
Bảng 13: Các hoạt động vận hành trong các siêu thị nghiên cứu  
STT  
Siêu thị  
Các hoạt động vận hành  
Mua hàng Vận chuyển Dự trữ và SX bên trong Marketing và bán Dịch vụ  
1
2
3
4
5
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
Tích hợp Tự thực hiện  
Tích hợp Tự thực hiện  
Kết hợp  
Kết hợp  
Kết hợp + độc lập  
Kết hợp + độc lập  
Độc lập  
Độc lập  
Độc lập  
Độc lập  
Độc lập  
Độc lập  
Độc lập  
Bán tích hợp Thuê ngoài  
Độc lập Thuê ngoài  
Thuê ngoài  
Độc lập  
Bán kết hợp  
Độc lập  
Độc lập  
MAXIMART  
Độc lập  
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh và điều tra)  
Công tác hậu cần của các siêu thị mang tính phức tạp hơn nhiều so với các loại hình bán lẻ  
thông thường trên tất cả các hoạt động vận hành. Nghiên cứu chi tiết bên trong các siêu thị cho phép  
xem xét các khía cạnh như: công tác mua hàng và quan hệ với các nhà cung cấp, công tác dự trữ và sản  
xuất bên trong, công tác phát triển thương hiệu nhà phân phối, công tác quảng cáo và truyền thông,  
công tác hoạch định chính sách bán hàng và cung cấp dịch vụ. Chúng ta sẽ lần lượt phân tích các khía  
cạnh nêu trên  
 Công tác mua hàng và quan hệ với các nhà cung cấp  
Công tác mua hàng và quan hệ với các nhà cung cấp có tầm quan trọng đặc biệt trong kinh  
doanh siêu thị, ảnh hưởng lớn đến giá cả hàng hóa mua vào, cung ứng hàng hóa tại siêu thị và cải thiện  
vị thế của siêu thị trong cạnh tranh với các loại hình bán lẻ khác. Kết quả nghiên cứu tại các siêu thị  
cho thấy thực chất công tác mua hàng và quan hệ với các nhà cung cấp thể hiện ở bảng 14 sau đây.  
Bảng 14: Thực trạng công tác mua hàng và quan hệ với các nhà cung cấp  
Tổ chức  
Bản chất mua hàng  
Số lượng NCC Hỗ trợ từ NCC trong  
mua hàng  
quan hệ  
quá trình mua  
STT  
Siêu thị  
Trực tiếp  
90%  
Gián tiếp  
10%  
1
2
3
4
5
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
Tích hợp  
Tích hợp  
Độc lập  
950  
760  
460  
560  
680  
Cao  
Trung bình  
Thấp  
85%  
15%  
75%  
25%  
Bán tích hợp  
Độc lập  
65%  
35%  
Thấp  
MAXIMART  
85%  
15%  
Thấp  
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh và điều tra)  
Như vậy, các chuỗi siêu thị vừa có được quyền mua hàng trực tiếp từ các nhà cung cấp, vừa  
phát triển quan hệ mua hàng với số lượng nhà cung cấp lớn và có được sự hỗ trợ lớn của các nhà cung  
cấp đã cho phép các chuỗi siêu thị có nhiều lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh và cung cấp nhiều ưu  
đãi cho khách hàng, bồi hoàn vào các chi phí trong quá trình kinh doanh. Ngược lại, các siêu thị độc  
lập ít tranh thủ được từ các nhà cung cấp vì do quan hệ gián tiếp là chủ yếu, số lượng nhà cung cấp  
202  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
quan hệ chưa nhiều và quan trọng hơn cả là giá mua của đại bộ phận hàng hóa ngang bằng với các loại  
hình bán lẻ khác.  
3.2.6. Về đội ngũ làm việc tại siêu thị  
Yếu tố lao động góp phần quan trọng trong tổ chức, quản lý và triển khai kinh doanh các siêu  
thị. Tùy thuộc vào đặc điểm hoạt động của siêu thị mà vấn đề đội ngũ được tổ chức và thực hiện các  
công việc kinh doanh khác nhau.  
 Đối với các siêu thị độc lập: Các siêu thị độc lập phải tổ chức bộ máy và đội ngũ nhằm thực  
hiện toàn bộ các chức năng và hoạt động cho phép siêu thị hoạt động bình thường. Ngoài các chức  
năng cơ bản mà các siêu thị phải tổ chức nhân sự cho phép vận hành, công tác tổ chức nhân sự chủ yếu  
tập trung vào các vị trí công việc như sau: tổ trưởng phụ trách ngành hàng; tổ kho; tổ marketing; tổ thu  
ngân; tổ bảo vệ; tổ kỹ thuật. Điều quan trọng là các nhân viên thực hiện việc tiếp xúc với khách hàng.  
Mặc dù là “siêu thị tự chọn và tự phục vụ”, song các nhân viên bán hàng, nhân viên tiếp xúc với khách  
hàng trở nên rất quan trọng, một mặt nhằm duy trì tình trạng hàng hóa trên các kệ hàng, mặt khác  
hướng dẫn khách hàng trong quá trình lựa chọn mua hàng.  
 Đối với các siêu thị tồn tại theo chuỗi: Công tác tổ chức nhân sự cho hoạt động của siêu thị  
tập trung ở các phần hành công việc chính như: các tổ ngành hàng, tổ thu ngân, tổ kỹ thuật. Chức năng  
và nhiệm vụ các tổ về cơ bản như các siêu thị độc lập, chỉ riêng tổ ngành hàng không phải thực hiện  
các công việc có liên quan đến các nhà cung cấp. Vấn đề có tính đặc biệt là lực lượng nhân viên của  
siêu thị luôn thực hiện các nhiệm vụ để thu hút khách và bán hàng cũng như cung cấp dịch vụ cho  
khách hàng.  
3.2.7. Đánh giá của khách hàng về hạ tầng kinh doanh của siêu thị  
Kết quả phân tích đánh giá của khách hàng thể hiện trong bảng 15 sau đây:  
Bảng 15: Tổng hợp đánh giá của khách hàng về hạ tầng và các yếu tố KD  
Không gian Kệ hàng và Công Hệ thống Công tác Hệ thống Môi trường  
STT  
Siêu thị  
dành cho  
phương  
tiện vật  
chất  
tác  
thông tin  
trang  
xe đẩy và bên trong siêu  
khách hàng  
trưng hướng dẫn hoàng,  
giỏ hàng  
thị  
bày  
quảng cáo  
1
2
3
4
5
Tốt  
TB  
khá  
khá  
Tốt  
TB  
TB  
khá  
khá  
Tốt  
TB  
TB  
TB  
Tốt  
TB  
Tốt  
TB  
Khá  
TB  
Tốt  
Khá  
Khá  
TB  
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
TB  
Tốt  
khá  
Tốt  
Khá  
Tốt  
TB  
Khá  
TB  
Tốt  
TB  
Tốt  
MAXIMART  
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh và điều tra)  
Khách hàng quan tâm và đánh giá ở các yếu tố như: không gian dành cho khách hàng di  
chuyển và mua sắm, kệ hàng và phương tiện vật chất hỗ trợ, công tác trưng bày hàng hóa, hệ thống xe  
đẩy và giỏ mua hàng. Siêu thị Maximart được khách hàng ở đây đánh giá tốt trên hầu hết các phương  
diện, các siêu thị còn lại được khách hàng đánh giá ở mức trung bình và khá ở hầu hết các yếu tố.  
3.2.8. Thu nhập của mô hình các siêu thị nghiên cứu  
Trên cơ sở số liệu điều tra và cung cấp bởi các siêu thị nghiên cứu, doanh thu bán hàng và cung  
cấp dịch vụ tại siêu thị được tập hợp theo nhiều tiêu thức khác nhau: doanh thu theo các ngành hàng,  
doanh thu.  
+ Tình hình doanh thu bán hàng theo các ngành hàng tại siêu thị  
Tùy thuộc vào mức độ đa dạng của các ngành hàng và cách thức bố trí hàng hóa tại siêu thị mà  
công tác bán hàng nói chung và hành vi mua hàng của khách hàng nói riêng được thực hiện. Mức  
203  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
doanh thu bán hàng theo các ngành hàng của các siêu thị nghiên cứu thông qua số liệu thu thâp thể  
hiện tỷ trọng của chúng trong toàn bộ doanh thu của siêu thị, minh họa trong bảng 16 sau đây:  
Bảng 16: Tổng hợp tỷ lệ doanh thu bán hàng theo các ngành hàng  
STT  
Siêu thị  
Tỷ trọng các doanh thu theo các ngành hàng  
Thực Công nghệ TP chế T.tinh Đồ uống  
Mỹ  
Thời  
Hàng gia  
phẩm trang phẩm khô phẩm  
biến gốm sứ  
dụng  
1
2
3
4
5
CO-OPMART 20% 15%  
12%  
10%  
20%  
10%  
10%  
17%  
20%  
24%  
15%  
10%  
11%  
15%  
-
6%  
-
9%  
10%  
13%  
12%  
14%  
6%  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
15% 15%  
28%  
18% 12%  
12%  
16%  
16%  
14%  
-
-
8%  
-
7%  
20%  
MAXIMART 24% 16%  
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh và điều tra)  
+ Doanh thu của các siêu thị theo các loại hình dịch vụ  
Hoạt động của siêu thị rất đa dạng để tạo nên doanh thu, bao gồm doanh thu bán hàng, doanh  
thu cung cấp dịch vu, doanh thu cho thuê mặt bằng và kệ hàng trưng bày, doanh thu hợp tác kinh  
doanh với các đối tác. Kết quả thu thập từ các siêu thị nghiên cứu thể hiện ở bảng 17 sau đây:  
Bảng 17: Tổng hợp tỷ lệ doanh thu của siêu thị theo các dịch vụ  
STT  
Siêu thị  
Doanh thu của siêu thị theo các dịch vụ  
Bán hàng  
90%  
Dịch vụ  
2%  
Cho thuê  
Hợp tác  
1
2
3
4
5
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
5%  
3%  
2%  
-
3%  
3%  
-
92%  
2%  
95%  
3%  
98%  
2%  
-
MAXIMART  
85%  
5%  
5%  
5%  
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh và điều tra)  
+ Doanh thu theo các nhân tố ảnh hưởng  
Kết quả phân tích các yếu tố tại các siêu thị nghiên cứu cho biết tình hình doanh thu theo các  
nhân tố ảnh hưởng chủ yếu như qui mô khách hàng đến mua sắm tại siêu thị và trị giá hóa đơn xuất  
bán cho khách hàng, kết quả bán hàng theo các nhân tố thể hiện trong bảng 18. Trị giá hóa đơn bình  
quân mà khách hàng thực hiện việc mua tại các siêu thị nghiên cứu dao động từ 230 nghìn đồng đến  
425 nghìn đồng. Siêu thị có mức trị giá hóa đơn cao là Coopmart và siêu thị có mức trị giá hóa đơn  
thấp nhất là Intimex.  
Bảng 18: Tình hình doanh thu theo các nhân tố ảnh hưởng  
Doanh thu và các nhân tố ảnh hưởng  
Doanh thu BQ/ngày  
Số lượng khách  
Trị giá hóa đơn xuất bán BQ/KH  
STT  
Siêu thị  
hàng mua BQ/ngày  
(triệu đồng)  
1
2
3
4
5
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
456  
224  
230  
94  
1075  
650  
425.000  
345.000  
320.000  
230.000  
395.000  
720  
410  
MAXIMART  
450  
1140  
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh và điều tra)  
204  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Nhìn chung, doanh thu bán hang của các siêu thị bình quân mỗi ngày biến thiên theo số lượng  
khách hàng mua và trị giá hóa đơn mua hàng của khách hàng. Số lượng khách hàng mua phụ thuộc vào  
số lượng khách hàng thu hút viếng thăm – mà khách hàng viếng thăm phụ thuộc vào mức độ cạnh  
tranh thu hút khách của siêu thị so với các đối thủ, và chính sách kinh doanh của siêu thị. Ngược lại, trị  
giá hóa đơn mua của khách hàng phụ thuộc nhiều vào khả năng chi trả khi mua sắm, chính sách của  
siêu thị: về phổ hàng, về giá cả, về các chương trình xúc tiến, nhu cầu mua sắm của khách hàng dành  
cho siêu thị (khách hàng có thể mua sắm tại các cơ sở bán lẻ khác các loại hàng hóa khác nhau).  
3.2.9. Các chính sách thu hút khách của các siêu thị  
Trên cơ sở phối hợp với các nhà sản xuất, tổ chức theo sự kiện đặc biệt của địa phương hoặc  
của siêu thị, hình thành ”văn hóa” xúc tiến mạnh mẽ tại các siêu thị, tạo sức hấp dẫn và thu hút khách  
hàng. Bảng 19 sau đây minh họa tổng hợp các chương trình khuyến mãi của các siêu thị nghiên cứu:  
Bảng 19: Tình hình thực hiện các chương trình khuyến mãi tại các siêu thị  
Số CT  
Ngân sách  
% gia tăng % gia tăng số % gia tăng số % gia tăng  
lượng KH hóa đơn xuất lượng bán các doanh số  
STT  
Siêu thị  
khuyến mãi đầu tư BQ  
BQ năm  
cho một CT1 viếng thăm2  
bán3  
150%  
100%  
130%  
90%  
hàng hóa4  
250%  
bán hàng5  
210%  
1
2
3
4
5
CO-OPMART  
FIVIMART  
CITIMART  
INTIMEX  
10  
8
400 triệu  
500 triệu  
300 triệu  
150 triệu  
600 triệu  
120%  
90%  
180%  
150%  
6
100%  
70%  
160%  
120%  
5
150%  
110%  
MAXIMART  
8
110%  
150%  
210%  
180%  
(Nguồn: Báo cáo kinh doanh và điều tra)  
Mức độ đa dạng của các chương trình khuyến mãi cũng được các siêu thị nghiên cứu và triển  
khai trong thực tế. Từ việc thực thi giảm giá cực mạnh đa số các ngành hàng và mặt hàng kinh doanh  
đến việc tham gia thực hiện các chương trình bốc thăm trúng thưởng và tổ chức các tuần lễ (tháng) bán  
hàng Việt Nam chất lượng cao..., các siêu thị nghiên cứu đã và đang trở thành lực lượng bán lẻ hiện  
đại gây ảnh hưởng lớn trong cộng đồng và trong thị trường bán lẻ cả nước. Theo kết quả nghiên cứu tại  
các siêu thị, mức độ đa dạng các chương trình khuyến mãi được tổng hợp xoay quanh các chủ đề chính  
yếu như: Chương trình ”tri ân khách hàng” nhân sự kiện mừng sinh nhật của siêu thị; Chương  
trình ”Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”; Chương trình các ngày lễ lớn như: Valentine, giải  
phóng đất nước, quốc tế phụ nữ...  
Các chương trình nêu trên đều nhấn mạnh đến yếu tố ”giảm giá”, ”tặng quà”, ”bốc thăm trúng  
thưởng”, nhằm tạo sức hút về phương diện giảm giá đồng loạt hoặc cục bộ một số ngành hàng tại siêu  
thị. Khi thực hiện sự giảm giá, gần như giá cả hàng hóa của siêu thị trở nên ”rẽ hơn” so với các cửa  
hàng truyền thống. Để thực hiện các chương trình như vậy, một mặt đòi hỏi phải có sự chuẩn bị rất  
công phu, từ việc tổ chức chương trình, kêu gọi các nhà sản xuất tham gia, hoạch định chính sách kinh  
doanh, dự trù ngân sách thực hiện – một khoản chi phí lớn trong kinh doanh của các siêu thị, mặt khác  
đòi hỏi phải có sự phối tác lớn từ các nhà sản xuất, cụ thể như: giảm giá hàng hóa bán ra, ngân sách  
quà tặng riêng hoặc kèm theo sản phẩm, đầu tư quảng cáo và truyền thông.  
3.3. Cạnh tranh trong kinh doanh bán lẻ  
Kết quả nghiên cứu đánh giá tình hình cạnh tranh của các lực lượng kinh doanh bán lẻ dựa trên  
1 Chi phí quảng cáo, truyền thông, quà tặng, giải thưởng… tính bình quân cho mỗi chương trình tại một siêu thị  
2 Tính bình quân một ngày trong thời gian thực hiện chương trình khuyến mãi  
3 Tính bình quân một ngày trong thời gian thực hiện chương trình khuyến mãi  
4 Tính bình quân một ngày trong thời gian thực hiện chương trình khuyến mãi, đối với các hàng hóa khuyến mãi  
5 Tính bình quân một ngày trong thời gian thực hiện chương trình khuyến mãi  
205  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
sự định vị của các chủ thể kinh doanh về các nhân tố chủ chốt quyết định thành công của các tổ  
chức trong ngành kinh doanh bán lẻ, hay nói cách khác là sự thiết lập hệ thống hạ tầng kinh doanh  
nhằm cung cấp các giá trị kinh tế gia tăng cho khách hàng. Các nhân tố chủ chốt quyết định thành công  
theo nghiên cứu đánh giá của nhiều tác giả khác nhau, bao gồm: chất lượng đội ngũ nhân viên, hệ  
thống thông tin quản lý, doanh số bán/m2, tổ chức quá trình nhâp liệu, mức độ đa dạng của phổ hàng,  
tốc độ quay vòng hàng tồn kho, hệ thống giao hàng và chuyển hàng, quan hệ với các nhà cung cấp,  
Như vậy, thông qua phân tích đánh giá lực lượng cạnh tranh với các nhân tố chủ chốt quyết  
định thành công, cho phép nhận biết những khiếm khuyết và đặc điểm nổi bật của các hệ thống kinh  
doanh và cạnh tranh trên thị trường bán lẻ quốc gia, nhận diện ưu nhược điểm của từng loại hình trong  
tương quan với các loại hình trên thị trường. Giải pháp kinh doanh của mỗi loại hình và năng lực cạnh  
tranh của mỗi loại hình phụ thuộc lớn vào sự hoàn thiện các nhân tố chủ chốt thành công một cách trực  
tiếp, tức là hoàn thiện mô hình kinh doanh một cách gián tiếp trong tương lai.  
Nhìn chung, các siêu thị bán lẻ có sự vượt trội so với các loại hình bán lẻ khác nhiều yếu tố  
quyết định thành công trong kinh doanh, cụ thể như: hệ thống thông tin quản lý, tổ chức quá trình mua  
hàng và nhập liệu, mức độ đa dạng của phổ hàng, mối quan hệ với các nhà sản xuất, công tác truyền  
thông và quảng bá và giá trị gia tăng cho khách hàng. Tuy nhiên, các nhân tố chủ chốt quyết định  
thành công nêu trên gần như chưa được liên kết chặt chẽ và chưa thực sự hấp dẫn khách hàng, khi mà  
đại đa số khách hàng đều có thói quen mua sắm tại các địa điểm thuộc các loại hình kinh doanh bán lẻ  
truyền thống.  
Yếu tố Giá cả  
*
-
+
+
*
-
*
*
-
*
*
-
Yếu tố chất lượng hàng hóa  
Mức độ đa dạng mặt hàng  
*
*
*
Tốt  
+
+
*
+
-
Tính sẵn sàng của món hàng  
Uy tín các nhãn hiệu hàng hóa  
Dịch vụ chuyển hàng  
+
-
-
Trung bình  
Yếu  
-
-
+
+
+
+
*
*
*
+
Dịch vụ khách hàng  
-
*
*
+
-
+
+
+
+
*
*
+
*
*
*
*
+
*
+
+
Tính thuận tiện cho viêc mua sắm  
*
-
Sự bày trí hàng hóa  
Qui hoạch không gian bán hàng  
-
Mức độ hấp dẫn của điểm bán  
+
+
Sơ đồ 1: Lực lượng cạnh tranh với các tiêu thức mua hàng của khách hàng  
206  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
Chất lượng đội ngũ nhân viên  
Hệ thống thông tin quản lý  
Doanh số bán trên m2  
-
+
-
+
*
-
-
*
+
*
+
-
-
Tốt  
*
-
+
+
*
+
*
+
-
*
+
Tổ chức quá trình nhập liệu  
Mức độ đa dạng của phổ hàng  
Tốc độ quay vòng hàng tồn kho  
*
*
+
Trung bình  
Yếu  
*
*
+
*
-
*
Hệ thống giao hàng và chuyển hàng  
Quan hệ với các nhà cung cấp  
+
+
-
-
-
+
+
-
*
*
+
*
*
+
+
+
-
*
*
+
+
Công tác truyền thông và quảng bá  
Uy tín của thương hiệu  
-
+
+
Giá trị gia tăng cho khách hàng  
+
Sơ đồ 2: Lực lượng cạnh tranh với các nhân tố quyết định thành công  
4. Hàm ý chính sách từ kết quả nghiên cứu  
Từ thực tế nghiên cứu, vấn đề mô hình siêu thị bán lẻ trong bối cảnh phát triển thương mại ở  
nước ta cần thiết phải có những cải thiện nhằm nâng cao khả năng kinh doanh và đáp ứng nhu cầu,  
cạnh tranh tốt hơn so với các loại hình bán lẻ khác, và đặc biệt tiếp tục khẳng định vị trí mô hình siêu  
thị bán lẻ hiện đại trong ngành công nghiệp phân phối.  
- Yếu tố hàng hóa và dịch vụ có vị trí quyết định đối với siêu thị bán lẻ, cần thiết phải đa dạng  
hơn nữa các ngành hàng và mặt hàng, lựa chọn phổ hàng hóa và dịch vụ có tính đặc trưng phù hợp với  
nhu cầu mua sắm của khách hàng, phát triển những hàng hóa mang thương hiệu nhà phân phối, thương  
hiệu riêng của siêu thị thay thế cho các hàng hóa truyền thống của các nhà sản xuất có giá cao và cạnh  
tranh mạnh, phát triển các hàng hóa sơ chế, chế biến sẵn, phát triển các dịch vụ bán hàng trực tuyến,  
dịch vụ giao hàng theo địa chỉ khách hàng...  
- Yếu tố thị trường và khách hàng của siêu thị cần có sự kết nối chặt chẽ với yếu tố hàng hóa và  
dịch vụ, đồng thời là cơ sở để phát triển phổ hàng hóa và dịch vụ cho siêu thị. Phạm vi thị trường cho  
mỗi siêu thị đang có xu hướng rút ngắn bởi nhiều lý do, do đó mỗi siêu thị cần khai thác theo chiều sâu  
không gian thị trường mà siêu thị có thể phục vụ. Chú trọng nghiên cứu tìm kiếm khách hàng mới  
trong không gian thị trường hiện có, phục vụ tốt hơn khách hàng thành viên của siêu thị bằng việc  
cung cấp hàng hóa chất lượng, đa dạng mẫu mã và có giá rẻ.  
207  
Kỷ yếu Hội thảo quốc tế “Thương mại và phân phối” lần 2 năm 2020  
- Yếu tố hạ tầng và hậu cần kinh doanh của siêu thị cũng cần nghiên cứu cải tiến sao cho một  
mặt tạo không gian thân thiện với khách hàng, các phương tiện vật chất cũng cần đổi mới để có thể hỗ  
trợ trưng bày và phục vụ mua sắm tốt hơn cho khách hàng, qui trình tổ chức kinh doanh cũng cần hoàn  
thiện để giảm thiểu chi phí kinh doanh với mục tiêu cung cấp hàng hóa và dịch vụ với giá rẻ.  
- Yếu tố cạnh tranh trong kinh doanh cũng cần quan tâm và có những chính sách hiệu quả hơn  
cho cạnh tranh, đặc biệt chú trọng các yếu tố cấu thành năng lực và quyết định thành công trong ngành  
kinh doanh bán lẻ, các siêu thị bán lẻ cần nâng cao hơn nữa năng lực không chỉ trong đội ngũ nhân  
viên, các nhà quản lý mà còn kiện toàn hệ thống các yếu tố của hàng hóa, chính sách kinh doanh để thu  
hút khách hàng.  
- Yếu tố khuyến mãi và chính sách thu hút khách hàng của các siêu thị cũng cần có sự quan tâm  
đặc biệt. Các siêu thị cần đẩy mạnh các chương trình bán hàng khuyến mãi theo các chủ đề khác nhau  
liên tục trong năm, có chính sách mạnh hơn đối với khách hàng thành viên để tăng khả năng thu hút và  
duy trì lòng trung thành của khách hàng.  
5. Kết luận  
Siêu thị bán lẻ là hình thức kinh doanh bán lẻ hiện đại hiện hữu tất yếu trong ngành công  
nghiệp phân phối. Sự hiện diện của hệ thống các siêu thị bán lẻ đã và đang phát triển mạnh ở nước ta,  
đóng góp lớn vào quá trình phân phối và bán lẻ hàng hóa cho cư dân, thỏa mãn nhu cầu của đại bộ  
phận cư dân trong thị trường. Để tiếp tục khẳng định vị trí và vai trò của mình, đòi hỏi các siêu thị bán  
lẻ phải không ngững kiện toàn mô hình kinh doanh, đổi mới và hoàn thiện liên tục các yếu tố của mô  
hình kinh doanh, nhằm làm cho mô hình kinh doanh siêu thị bán lẻ có những đặc trưng riêng, phù hợp  
với văn hóa và thói quen mua sắm của khách hàng, thu hút nhiều khách hàng đến mua sắm và khẳng  
định sự tồn tại tất yếu của siêu thị trong hệ thống ngành công nghiệp phân phối bán lẻ của nước ta.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. AFP (2006) Vietnam, rise of supermarkets sparks global competition, Agence France Presse, 21 May.  
2. Allaire, Yvan & Mihaela Firsirotu, (2004), Strategies et moteurs de performance, Montreal:  
Cheneliere/McGraw-Hill.  
3. Bhatnagar, A. & Brian. T.R., (2004), «A model of retail format competition for non-durable goods»,  
International Journal of Research in Marketing, Vol. 21, No. 3/4, p. 39-59.  
4. Carlo Pestana Barros, (2005), «Efficiency in Hypermarket Retailing: A Astochastic Frontier Model”,  
International Review of Retail, Distribution and Consumer Research, Vol. 15, No.2, pp. 171-189.  
5. Dries L., Thomas R. & Johan F.M., (2004), «The rapid rise of supermarkets central and eastern europe:  
implications for the agrifood sector and rural development», Development Policy Review, Vol. 22, No. 5,  
pp. 525-556.  
6. Hagen J. M., (2002), «Causes and consequences of food retailing innovation in developing countries:  
supermarkets in Vietnam», Working paper presented at the Annual Meetings of the Western Coordinating  
Commitee, Las Vegas, Nevada, 2002.  
7. Maruyama, M. & Trung, L. V., (2007), ”Traditional Bazaar or supermarkets: A probit Analysis of Affluent  
Consumer Perceptions in Hanoi”, International Review of Retail, Distribution and Consumer Research,  
Vol. 17, No. 3, pp. 233-252.  
8. Yves Pineur, (2002), Business Models for business: concepts, characteristics and tendances, 5th Annual  
International Conference on Competence-Based Management, Helsinki, June 10-14.  
9. Siêu thị Việt Nam đang cần nhạc trưởng, Báo điện tử VNECONOMY, ngày 17/4/2008.  
208  
pdf 16 trang baolam 20160 Free
Bạn đang xem tài liệu "Siêu thị bán lẻ trong bối cảnh phát triển thương mại - Nghiên cứu thăm dò từ các siêu thị", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfsieu_thi_ban_le_trong_boi_canh_phat_trien_thuong_mai_nghien.pdf