Phát huy vai trò của trí thức Việt Nam với công tác xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay

34  
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 34-40  
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TRÍ THỨC VIỆT NAM  
VỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC HIỆN NAY  
Đào Loan Cung*  
Trường Chính trị tỉnh Phú Yên  
Ngày nhận bài: 15/09/2021; Ngày nhận đăng: 12/10/2021  
Tóm tắt  
Quan điểm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII xác định rõ các thành tố của  
khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay được cấu thành bởi mọi người dân Việt  
Nam, trong tất cả các dân tộc, tôn giáo, các giai cấp, tầng lớp, bộ phận xã hội khác nhau.  
Việc phát huy vai trò của trí thức Việt Nam với công tác xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc  
hiện nay là một nội dung cần quan tâm. Bài viết này làm rõ thực trạng và đề cập một số giải  
pháp để nâng cao hiệu quả việc phát huy vai trò của trí thức Việt Nam với công tác xây dựng  
khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay.  
Từ khóa: phát huy, vai trò, trí thức, khối đại đoàn kết dân tộc  
Chí Minh, kế thừa truyền thống quý báu của  
dân tộc, Đảng ta luôn coi đại đoàn kết là vấn  
đề chiến lược, là nguồn sức mạnh, là động  
lực chủ yếu, có ý nghĩa quyết định đảm bảo  
cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.  
Trong hệ thống tư tưởng đại đoàn kết của  
mình, Hồ Chí Minh chỉ rõ lực lượng đại  
đoàn kết dân tộc bao gồm các giai cấp, các  
tầng lớp trong xã hội, các ngành, các giới,  
các lứa tuổi, các dân tộc sống trên lãnh thổ  
Việt Nam, đồng bào các tôn giáo, các đảng  
phái,... hợp thành khối đại đoàn kết rộng rãi  
toàn dân tộc. Trong khối đại đoàn kết rộng  
lớn, đông đảo và đa dạng đó, liên minh công  
– nông – trí thức là nền tảng. Suốt chặng  
đường 35 năm đổi mới, Việt Nam đã trải qua  
nhiều giai đoạn của công cuộc xây dựng  
khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự chủ trì của  
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với nhiều thắng  
lợi lớn. Là một thành viên của Mặt trận Tổ  
quốc Việt Nam, công cuộc xây dựng khối  
đại đoàn kết của đất nước ta hiện nay, không  
thể không nhắc đến vai trò của đội ngũ trí  
thức Việt Nam.  
1. Mở đầu  
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã  
khẳng định: “Đoàn kết là lực lượng lớn  
nhất”, “Đoàn kết là sức mạnh vô địch”,  
“Đoàn kết là then chốt của thành công”.  
“Nhờ đoàn kết mà nhân dân Việt Nam đã  
đánh thắng chủ nghĩa thực dân, làm Cách  
mạng Tháng Tám thành công và đã kháng  
chiến đến thắng lợi. Nhờ đại đoàn kết toàn  
dân mà nước Việt Nam chúng tôi nhất định  
sẽ thống nhất” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr 272).  
Với dân tộc Việt Nam, đại đoàn kết được  
xem là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ  
đường lối chiến lược của cách mạng, là vấn  
đề có ý nghĩa chiến lược được đúc kết từ nhu  
cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng do  
quần chúng tiến hành và vì lợi ích của quần  
chúng.  
Bằng thực tiễn của người lãnh đạo  
Cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí  
Minh đã để lại cho thế sau của chúng ta cả  
một hệ thống tư tưởng về đại đoàn kết. Quán  
triệt tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ  
_____________________________  
* Email: [email protected]  
2. Kết quả nghiên cứu  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 34-40  
35  
phải có sự thích ứng phù hợp với thế giới.  
Vai trò của lực lượng trí thức đối với sự phát  
triển của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại  
hóa càng giữ vị trí quan trọng hơn nữa. Trí  
thức trở thành nguồn nhân lực cho sự phát  
triển toàn diện của Việt Nam cả về kinh tế  
lẫn vấn đề chính trị. Trí thức Việt Nam là lực  
lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng  
trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,  
hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế,  
xây dựng nền kinh tế trí thức, phát triển nền  
văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc  
dân tộc và cũng là lực lượng đóng vai trò  
quan trọng trong công tác xây dựng khối đại  
đoàn kết dân tộc. Trong công tác xây dựng  
khối đại đoàn kết dân tộc, Mặt trận Tổ quốc  
Việt Nam nhận thức rất rõ vai trò của trí thức  
Việt Nam trong chiến lược đoàn kết của dân  
tộc. Trải qua 35 năm đổi mới, Đảng và Nhà  
nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để  
trí thức Việt Nam phát triển cả về số lượng  
và chất lượng, phát huy vai trò của mình  
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thể  
hiện rõ là một bộ phận của công tác xây  
dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vai trò  
quan trọng trong khối liên minh công – nông  
– trí ngày càng được củng cố vững chắc.  
Nhận thức vai trò của lực lượng trí  
thức với sự phát triển của đất nước, Đảng và  
Nhà nước ta đã có nhiều chính sách nhằm  
phát huy lực lượng này. Nghị quyết số 27-  
NQ/TW, ngày 06/8/2008, của Ban Chấp  
hành Trung ương Đảng khóa X về “Xây  
dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh  
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” tạo  
nên bước phát triển lớn với lực lượng này.  
Đánh giá hiệu quả trong 10 năm thực hiện  
Nghị quyết 27 – NQ/TW là mang lại cho  
Việt Nam sự biến đổi rất lớn về số lượng  
cũng như chất lượng trí thức hiện nay: cả  
nước đã tăng hơn 3,7 triệu người có trình độ  
từ cao đẳng, đại học trở lên. Đội ngũ trí thức  
Việt Nam đã tăng thêm khoảng 2,8 triệu  
2.1. Thực trạng phát huy vai trò trí thức  
trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn  
dân tộc  
Về vai trò của trí thức trong đoàn kết  
dân tộc, Hồ Chí Minh chỉ rõ: trí thức là vốn  
quý của dân tộc. Xã hội càng phát triền, trí  
thức càng đông đảo, càng có vị trí lớn và yêu  
cầu cao đối với đất nước. Đây là lực lượng  
nhạy cảm với thời cuộc, là lực lượng có khát  
vọng rất lớn đối với tự do dân chủ, nhân  
quyền. Ngay từ thời kỳ lãnh đạo Cách mạng  
Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, Chủ  
tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá rất cao về vị  
trí, vai trò của trí thức, đặt niềm tin rất lớn  
đối với lực lượng này trong cuộc đấu tranh  
của dân tộc. Tại cuộc gặp mặt với trí thức và  
nhân sĩ thủ đô Hà Nội, ngay sau ngày  
2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:  
“Tôi tin trí thức”. Người tin vào sức và lực,  
tin vào tinh thần yêu nước, tin vào trách  
nhiệm của lực lượng này đối với đại cuộc.  
Đây là yếu tố làm nên hiệu quả của chiến  
lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.  
Lịch sử chứng minh rất rõ, khi nào thực hiện  
đúng chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ  
Chí Minh là lúc đó dân tộc thống nhất về một  
mối, lấy đại nghĩa dân tộc làm trọng, gác bỏ  
mọi lợi ích cá nhân, vượt qua mọi chống đối  
của kẻ thù để giành lấy độc lập cho dân tộc,  
hạnh phúc cho nhân dân.  
Việt Nam thực hiện đổi mới từ năm  
1986, ngay từ thời điểm đổi mới, Đảng ta đã  
xác định rất rõ rằng chúng ra không thể đổi  
mới chỉ bằng nhiệt tình và lòng dũng cảm  
như trước đây, mà cần phải huy động trí tuệ  
và mọi tài năng sáng tạo trong toàn Đảng,  
toàn dân để tìm ra các giải pháp tích cực, phù  
hợp với hoàn cảnh chúng ta. Nhân tố con  
người luôn là điều cần thiết cho sự phát triển  
của xã hội, của quốc gia, dân tộc.  
Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ  
của công nghệ cùng xu hướng hội nhập, Việt  
Nam không thể đứng ngoài xu thế ấy mà cần  
36  
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 34-40  
người. Lĩnh vực văn học-nghệ thuật có hơn  
43.000 văn nghệ sĩ, đa phần đã qua đào tạo  
bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; không ít  
văn nghệ sĩ có trình độ cao, tạo được hiệu  
ứng xã hội tốt. Trong các lĩnh vực đặc biệt  
như quốc phòng, so với năm 2008, số lượng  
trí thức đã tăng 68%, có những đơn vị như  
Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội  
đã tăng 200%... Ngoài trí thức trong nước  
còn có khoảng hơn 400.000 trí thức Việt  
kiều (trong đó có hơn 6.000 tiến sĩ và hàng  
trăm trí thức tên tuổi được đánh giá cao).  
Những năm qua, đội ngũ trí thức trực tiếp  
tham mưu, góp ý, phản biện vào những  
quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước.  
Trong xây dựng và hoàn thiện chủ trương,  
đường lối, chính sách, hoạch định các chiến  
lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng và  
chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ  
sở đều có sự đóng góp tích cực của đội ngũ  
trí thức. Bởi vậy, văn kiện Đại hội XIII của  
Đảng khi xác định các đột phá chiến lược  
phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2025 và  
những năm tiếp theo (tầm nhìn 2030, 2045),  
đã nhấn mạnh tới nhiệm vụ đào tạo nhân lực  
chất lượng cao và yêu cầu cần có chính sách  
vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tài cả  
trong và ngoài nước, góp phần đáp ứng yêu  
cầu chuyển đổi số quốc gia một cách toàn  
diện để phát triển kinh tế số, xây dựng xã hội  
số trong bối cảnh mới.  
phát huy vai trò của trí thức, việc đôn đốc,  
kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện  
các chủ trương, nghị quyết của Đảng trong  
phát huy vai trò của trí thức Việt Nam, đặc  
biệt là trí thức trẻ trong xây dựng khối đại  
đoàn kết dân tộc. Công tác bồi dưỡng, đào  
tạo đối với lực lượng trí thức trẻ hiện nay  
chưa được quan tâm, chưa kịp thời so với xu  
hướng phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế  
hiện nay, nhằm phát huy hơn nữa sự vững  
chắc của khối liên minh công – nông – trí.  
Hệ thống chính sách về trí thức còn thiếu và  
chưa phù hợp, tổ chức các hội của trí thức ở  
Trung ương và địa phương chưa đủ mạnh để  
tập hợp trí thức.  
2.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả  
phát huy vai trò của trí thức trong xây  
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc  
Để tăng cường hiệu quả vai trò của  
trí thức Việt Nam trong công tác xây dựng  
khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay theo mục  
tiêu được xác định tại Nghị quyết Đại hội lần  
thứ XIII của ta “Phát huy ý chí và sức mạnh  
đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức  
mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ  
công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện  
đại hóa; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững  
môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu để  
đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước  
phát triển, theo định hướng xã hội chủ  
nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021),  
tác giả đưa ra một số giải pháp cụ thể cần  
thực hiện trong thời gian tới như sau:  
Tuy nhiên, phát huy vai trò của trí  
thức Việt Nam trong công tác xây dựng khối  
đại đoàn kết dân tộc hiện nay vẫn còn tồn tại  
một số hạn chế. Hiện nay, vẫn còn một bộ  
phận trí thức Việt Nam chưa nhận thức rõ  
vai trò, trách nhiệm của mình trong chiến  
lược xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của  
nước ta. Đây là bộ phận rất dễ bị các thế lực  
thù địch lợi dụng để thực hiện các hoạt động  
đi ngược với lợi ích của Đảng, Nhà nước và  
quần chúng nhân dân. Một số cấp ủy đảng  
chưa quan tâm đúng mức lãnh đạo công tác  
Thứ nhất, Mặt trận Tổ quốc Việt  
Nam và các tổ chức đoàn thể các cấp cần  
tăng cường công tác tuyên truyền, vận động  
nhằm nâng cao nhận thức về vai trò, trách  
nhiệm của trí thức Việt Nam đối với sự phát  
triển kinh tế - xã hội. Thông qua đó, trí thức  
Việt Nam ý thức rõ vai trò, trách nhiệm của  
bản thân đối với sự phát triển chung của đất  
nước, nhận thức rõ vai trò của mình trong  
xây dựng, củng cố khối liên minh công –  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 34-40  
37  
nông – trí thêm vững chắc. Đồng thời, các  
cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương có  
những chỉ đạo cụ thể xây dựng, trọng dụng  
trí thức trong các lĩnh vực. Có như vậy, lực  
lượng trí thức Việt Nam mới cống hiến tài,  
đức của mình đối với sự phát triển chung của  
địa phương, cơ quan, đơn vị trên mọi lĩnh  
vực. Nhận thức rõ trách nhiệm của mình  
trong công tác xây dựng khối đại đoàn kết  
dân tộc.  
Trong suốt hành trình hoạt động  
cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã có sự  
quan sát, tổng kết, nhìn nhận, đánh giá đúng  
đắn và khoa học về vai trò người trí thức  
trong lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng  
dạy: “Chính là những đảng cách mạng lại  
càng trọng trí thức, vì muốn phát triển văn  
hóa thì phải cần thầy giáo, muốn phát triển  
sức khỏe của nhân dân thì phải cần thầy  
thuốc, muốn phát triển kỹ nghệ phải cần các  
kỹ sư....  
....Cách mạng rất cần trí thức và  
chính ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí  
thức.  
....trí thức Việt Nam có đầu óc dân  
tộc và đầu óc cách mạng ...Trí thức không có  
bao giờ thừa, chỉ có thiếu trí thức mà thôi”  
(Hồ Chí Minh, 2011a, tr 34-36)  
Xuất phát từ những đánh giá đúng  
đắn của Hồ Chí Minh về trí thức là nhân tố  
tạo nên chiến lược xây dựng khối đại đoàn  
kết dân tộc được thành công, là yếu tố tạo ra  
lực cho Cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi  
này đến thắng lợi khác. Học tập, vận dụng tư  
tưởng Hồ Chí Minh vào công tác xây dựng  
Đảng, xây dựng xã hội chủ nghĩa hiện nay là  
con đường xây dựng một Tổ quốc Việt Nam  
ngày càng một phát triển theo định hướng xã  
hội chủ nghĩa.  
trương, chính sách nâng cao vai trò của trí  
thức Việt Nam trong xây dựng khối đại đoàn  
kết. Nhận thức về vị trí vai trò của trí thức là  
chưa đủ mà cần có những định hướng, chỉ  
đạo từ Đảng và Nhà nước cụ thể, phù hợp  
với từng thời kỳ phát triển của đất nước, đặc  
biệt là đối với lực lượng của trí thức. Bởi  
hiện nay, cùng với xu thế hội nhập quốc tế,  
sự tác động của “diễn biến hòa bình” việc  
đánh giá, sử dụng trí thức sao cho hợp lý,  
phù hợp với tình hình thực tại của đất nước  
là vấn đề cần được quan tâm.  
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy rất  
rõ vai trò của trí thức với sự phát triển của  
đất nước. Người cũng chỉ rõ nhiệm vụ của  
Đảng và Chính phủ vừa phải giúp đỡ thế hệ  
trí thức ngày nay tiến bộ, vừa phải ra sức đào  
tạo thêm trí thức mới, những trí thức “chính  
tâm và thân dân” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr  
376-378). “Thân dân” là phẩm chất cần có  
để trí thức trở thành một bộ phận trong khối  
đại đoàn kết dân tộc. Còn “chính tâm” là  
phẩm chất hàng đầu mà trí thức cần có để trở  
thành lực lượng cơ bản trong sự phát triển  
của đất nước, có “chính tâm” thì trí thức mới  
là lực lượng hoạt động, phát triển vì Đảng vì  
nhân dân, có trách nhiệm với nhân dân. Và  
Người cũng đã chỉ ra rất rõ, trí thức “thực  
hiện 2 chữ chính tâm không phải dễ dàng”.  
Để những người có học vấn cao trở thành trí  
thức, để họ thực hiện được chính tâm thì cần  
phải có điều kiện từ hai phía, một là chính  
bản thân của người trí thức, hai là từ phía  
Đảng và Nhà nước.  
Đặc biệt, cần chú trọng công tác phát  
triển đảng viên đối với đối tượng là trí thức  
trẻ Việt Nam. Nhằm phát huy tinh thần kỷ  
luật, tự giác của đảng viên là người đầy tớ  
trung thành của nhân dân, phải giữ gìn sự  
đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con  
ngươi của mắt mình.  
Thứ hai, Đảng và Nhà nước cần tiếp  
tục đề ra các chủ trương, đường lối, chính  
sách xây dựng khối đại đoàn kết đúng đắn,  
mang tính chiến lược; chỉ rõ những chủ  
Thứ ba, tạo môi trường để trí thức  
Việt Nam được học tập, nâng cao trình độ,  
38  
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 34-40  
năng lực của mình (đặc biệt là bộ phận trí  
thức trẻ Việt Nam), phát huy hết năng lực  
của mình vào công cuộc phát triển đất nước.  
Chủ tịch Hồ Chí Minh khi phân tích về vai  
trò của trí thức đối với xây dựng khối đại  
đoàn kết dân tộc đã chỉ ra rất rõ, muốn trí  
thức gắn bó với dân tộc với nhân dân, Đảng  
và Nhà nước phải có chính sách để họ tự  
nghiên cứu phát minh, sáng tạo, tạo điều  
kiện cho họ sống và phát triển trí tuệ để cống  
hiến cho quốc gia dân tộc.  
hiện thắng lợi con đường phát triển kinh tế  
xã hội gắn với độc lập dân tộc. Thông qua  
các hoạt động như rà soát các chính sách  
hiện có và ban hành các cơ chế, chính sách  
mới đảm bảo trí thức được hưởng đầy đủ lợi  
ích vật chất, tinh thần tương xứng với giá trị  
từ kết quả lao động của trí thức. Hoàn thiện  
và thực hiện nghiêm túc các cơ chế chính  
sách để động viên và tiếp tục sử dụng về  
chuyên môn, nghiệp vụ đối với những trí  
thức có trình độ cao, năng lực và sức khỏe  
đã hết tuổi lao động. Có chính sách ưu đãi  
cụ thể về lương, điều kiện việc làm, sinh  
hoạt... đối với đối tượng trí thức làm viêc ở  
vùng miền núi, đối tượng trí thức là người  
đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật,..  
có chế độ khen, thưởng hợp lý với trí thức  
có những cống hiến, đóng góp lớn cho sự  
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội  
nhập quốc tế. Bên cạnh đó, cũng cần có  
những chính sách thu hút lực lượng trí thức  
Việt Nam ở nước ngoài đóng góp vào sự  
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất  
nước.  
Mục tiêu của Việt Nam là đến năm  
2045 trở thành nước phát triển có thu nhập  
cao thì khâu đột phá đầu tiên phải được tính  
đến là đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng một cách  
thật hiệu quả nguồn nhân lực, đặc biệt là  
phải hết sức tôn trọng nguồn nhân lực có  
chất lượng cao, nhất là tầng lớp trí thức tinh  
hoa của dân tộc. Có thể nói, để đất nước phát  
triển chúng ta phải phát hiện sớm người tài  
để chọn đúng người tài ở từng lĩnh vực của  
xã hội, chọn đúng người tài rồi thì cần phải  
trọng dụng họ, tạo điều kiện để lực lượng  
này phát huy khả năng, năng lực của họ đúng  
lúc, đúng chỗ. Để thực hiện điều này, trong  
các chính sách, chiến lược đào tạo con  
người, Việt Nam cần tạo điều kiện lực lượng  
này được học tập, trau dồi kinh nghiệm và  
có điều kiện thực hiện những sáng tạo, sáng  
chế trong phòng thí nghiệm vào cuộc sống  
vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất  
nước. Đây chính là phần quan trọng của  
khâu đột phá trong công tác tổ chức, cán bộ  
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại  
hóa.  
Thứ tư, nâng cao chất lượng hoạt  
động các hội của trí thức Việt Nam. Nhằm  
phát huy tinh thần học tập và hoạt động trên  
tất cả các lĩnh vực của trí thức, việc xây dựng  
các cơ chế hoạt động của các hội trí thức là  
điều cần thiết. Thông qua hoạt động của các  
hội trí thức, sự phối hợp nhịp nhàng với Mặt  
trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể là cách  
thức tạo điều kiện để lực lượng trí thức nắm  
bắt kịp thời các chủ trương, chính sách của  
Đảng và Nhà nước, nắm bắt kịp những thông  
tin về tình hình thực tiễn của đất nước và địa  
phương. Thông qua tổ chức của mình như  
Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật,  
Liên hiệp hội văn họcvà nghệ thuật,...lực  
lượng trí thức được tập hợp, đoàn kết phát  
huy năng lực sáng tạo và nâng cao phẩm chất  
đạo đức, trách nhiệm của trí thức đối với  
công tác xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc,  
Trí thức là bộ phận chủ lực cho sự  
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất  
nước. Do vậy, đây là bộ phận cần được phát  
huy cả về năng lực, phẩm chất, trí tuệ. Có  
như vậy, trí thức mới cống hiến hết khả năng  
của mình vào sự nghiệp phát triển của đất  
nước, mới trở thành bộ phận chủ động trong  
xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thực  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 34-40  
39  
đối với công cuộc phát triển đất nước hiện  
nay.  
lực lượng có nhận thức, có hiểu biết, có năng  
lực do vậy khi lực lượng này xác định rõ  
trách nhiệm, vai trò của bản thân mình trong  
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  
thì chức năng phản biện xã hội của Mặt trận  
sẽ được hỗ trợ thực hiện hiệu quả rất cao.  
Đây cũng lý do vì sao trí thức được đánh giá  
cao trong thực hiện xây dựng khối đại đoàn  
kết dân tộc mà Mặt trận Tổ quốc Việt Nam  
cùng các tổ chức đoàn thể cần nắm rõ và  
thực hiện tốt nội dung này.  
Các tổ chức hội trí thức cần chủ  
động nghiên cứu, đề xuất với các cơ quan  
chức năng để đổi mới mạnh mẽ nội dung và  
phương thức hoạt động, tập hợp sức mạnh  
và trí tuệ của đội ngũ trí thức, phát huy đội  
ngũ trí thức trong tình hình mới. Chủ động  
phát hiện, thu hút, tập hợp trí thức trẻ, trí  
thức trong các doanh nghiệp vào các tổ chức  
hội.  
Thứ năm, Mặt trận Tổ quốc Việt  
3. Kết luận  
Nam và các tổ chức đoàn thể cần chủ động  
đổi mới nội dung và phương thức hoạt động  
để đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả của công tác  
xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Hoàn  
thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp  
luật, hành lang pháp lý thuận lợi và xây dựng  
cơ chế hoạt động, tổ chức nhiều diễn đàn  
khuyến khích và bảo đảm quyền lợi, trách  
nhiệm của trí thức khi tham gia các hoạt  
động tư vấn, phản biện, giám định các chủ  
trương, chính sách, các dự án phát triển kinh  
tế - xã hội; xây dựng vững chắc khối liên  
minh công – nông – trí trong công tác xây  
dựng khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay.  
Trí thức được đánh giá là lực lượng  
có chức năng phản biện xã hội rất tốt. Chức  
năng này hiện nay không còn là bản chất của  
trí thức mà đã trở thành trách nhiệm của trí  
thức với sự phát triển của xã hội. Một xã hội  
không có sự phản biện, không biết tiếp nhận  
sự phản biện có căn cứ, có lý lẽ vững chắc,  
có cơ sở khoa học đủ sức thuyết phục và  
mang tính xây dựng là một xã hội trì trệ. Một  
xã hội biết cách chấp nhận những phản biện  
mang tính xây dựng, có căn cứ khoa học  
vững chắc là một xã hội có tiềm năng và có  
điều kiện để phát triển. Trí thức Việt Nam là  
Công tác xây dựng khối đại đoàn kết  
dân tộc đã được Đảng ta xác định là chiến  
lược trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp  
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện  
nay. Công tác này Đảng ta thực hiện linh  
hoạt trong mỗi thời kỳ theo tư tưởng của Chủ  
tịch Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn  
kết dân tộc. Và trí thức Việt Nam hiện nay  
được xác định là nhân tố quan trọng trong  
xây dựng khối liên minh công – nông – trí,  
là nhân tố đóng góp rất lớn cho công cuộc  
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và  
hội nhập quốc tế hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí  
Minh xác định rõ rằng đại đoàn kết là điểm  
xuất phát, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ  
đường lối, chủ trương của Đảng. Bởi vậy,  
công tác phát huy vai trò của trí thức Việt  
Nam trong xây dựng khối đại đoàn kết dân  
tộc luôn là một nội dung quan trọng được  
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các chức  
đoàn thể quan tâm. Với những giải pháp vừa  
nêu trên, trong thời gian tới, Mặt trận Tổ  
quốc Việt Nam tiếp tục phát huy tốt vai trò  
của trí thức và tất cả các tầng lớp nhân dân  
cùng thực hiện thắng lợi công tác xây dựng  
khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay  
40  
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 34-40  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.  
Chính trị quốc gia Sự thật.  
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập, t.7, tr. 34-36.  
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, t.10, tr.376-378.  
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, t11, tr.272.  
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2017). Giáo trình trung cấp LLCT – HC, Những  
vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nxb. Lý luận chính  
trị.  
Nguyễn Viết Thông, Lê Thị Sự (2019). Trí thức và vai trò của trí thức trong quá trình phát  
triển của Việt Nam hiện nay. Nxb. Chính trị quốc gia Sự Thật.  
PROMOTING THE ROLES OF THE VIETNAMESE INTELLECTUALS IN  
BUILDING THE GREAT NATIONAL UNITY BLOC  
Dao Loan Cung  
Phu Yen Politics School  
Received: September 15, 2021; Accepted: October 12, 2021  
Abstract  
The viewpoints of the 13th National Congress of the Communist Party of Vietnam  
clearly identified that the great national unity bloc of Vietnam today is constituted by all  
Vietnamese people from all ethnicities and religions, from different social classes and social  
sections. This article clarifies the current situation and recommends some solutions to  
improve the effectiveness of promoting the roles of the Vietnamese intellectuals in building  
the current great national unity bloc.  
Keywords: promotion the role, intellectuals, great national unity bloc.  
pdf 7 trang baolam 24800 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát huy vai trò của trí thức Việt Nam với công tác xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_huy_vai_tro_cua_tri_thuc_viet_nam_voi_cong_tac_xay_dung.pdf