Phát huy vai trò của trí thức Việt Nam với công tác xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay
34
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 34-40
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA TRÍ THỨC VIỆT NAM
VỚI CÔNG TÁC XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT DÂN TỘC HIỆN NAY
Đào Loan Cung*
Trường Chính trị tỉnh Phú Yên
Ngày nhận bài: 15/09/2021; Ngày nhận đăng: 12/10/2021
Tóm tắt
Quan điểm của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII xác định rõ các thành tố của
khối đại đoàn kết toàn dân tộc ở Việt Nam hiện nay được cấu thành bởi mọi người dân Việt
Nam, trong tất cả các dân tộc, tôn giáo, các giai cấp, tầng lớp, bộ phận xã hội khác nhau.
Việc phát huy vai trò của trí thức Việt Nam với công tác xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc
hiện nay là một nội dung cần quan tâm. Bài viết này làm rõ thực trạng và đề cập một số giải
pháp để nâng cao hiệu quả việc phát huy vai trò của trí thức Việt Nam với công tác xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay.
Từ khóa: phát huy, vai trò, trí thức, khối đại đoàn kết dân tộc
Chí Minh, kế thừa truyền thống quý báu của
dân tộc, Đảng ta luôn coi đại đoàn kết là vấn
đề chiến lược, là nguồn sức mạnh, là động
lực chủ yếu, có ý nghĩa quyết định đảm bảo
cho thắng lợi của sự nghiệp cách mạng.
Trong hệ thống tư tưởng đại đoàn kết của
mình, Hồ Chí Minh chỉ rõ lực lượng đại
đoàn kết dân tộc bao gồm các giai cấp, các
tầng lớp trong xã hội, các ngành, các giới,
các lứa tuổi, các dân tộc sống trên lãnh thổ
Việt Nam, đồng bào các tôn giáo, các đảng
phái,... hợp thành khối đại đoàn kết rộng rãi
toàn dân tộc. Trong khối đại đoàn kết rộng
lớn, đông đảo và đa dạng đó, liên minh công
– nông – trí thức là nền tảng. Suốt chặng
đường 35 năm đổi mới, Việt Nam đã trải qua
nhiều giai đoạn của công cuộc xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc dưới sự chủ trì của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với nhiều thắng
lợi lớn. Là một thành viên của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, công cuộc xây dựng khối
đại đoàn kết của đất nước ta hiện nay, không
thể không nhắc đến vai trò của đội ngũ trí
thức Việt Nam.
1. Mở đầu
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã
khẳng định: “Đoàn kết là lực lượng lớn
nhất”, “Đoàn kết là sức mạnh vô địch”,
“Đoàn kết là then chốt của thành công”.
“Nhờ đoàn kết mà nhân dân Việt Nam đã
đánh thắng chủ nghĩa thực dân, làm Cách
mạng Tháng Tám thành công và đã kháng
chiến đến thắng lợi. Nhờ đại đoàn kết toàn
dân mà nước Việt Nam chúng tôi nhất định
sẽ thống nhất” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr 272).
Với dân tộc Việt Nam, đại đoàn kết được
xem là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong toàn bộ
đường lối chiến lược của cách mạng, là vấn
đề có ý nghĩa chiến lược được đúc kết từ nhu
cầu khách quan của sự nghiệp cách mạng do
quần chúng tiến hành và vì lợi ích của quần
chúng.
Bằng thực tiễn của người lãnh đạo
Cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí
Minh đã để lại cho thế sau của chúng ta cả
một hệ thống tư tưởng về đại đoàn kết. Quán
triệt tư tưởng đại đoàn kết của Chủ tịch Hồ
_____________________________
* Email: [email protected]
2. Kết quả nghiên cứu
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 34-40
35
phải có sự thích ứng phù hợp với thế giới.
Vai trò của lực lượng trí thức đối với sự phát
triển của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại
hóa càng giữ vị trí quan trọng hơn nữa. Trí
thức trở thành nguồn nhân lực cho sự phát
triển toàn diện của Việt Nam cả về kinh tế
lẫn vấn đề chính trị. Trí thức Việt Nam là lực
lượng lao động sáng tạo đặc biệt quan trọng
trong tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế,
xây dựng nền kinh tế trí thức, phát triển nền
văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc
dân tộc và cũng là lực lượng đóng vai trò
quan trọng trong công tác xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc. Trong công tác xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc, Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam nhận thức rất rõ vai trò của trí thức
Việt Nam trong chiến lược đoàn kết của dân
tộc. Trải qua 35 năm đổi mới, Đảng và Nhà
nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để
trí thức Việt Nam phát triển cả về số lượng
và chất lượng, phát huy vai trò của mình
trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, thể
hiện rõ là một bộ phận của công tác xây
dựng khối đại đoàn kết dân tộc, giữ vai trò
quan trọng trong khối liên minh công – nông
– trí ngày càng được củng cố vững chắc.
Nhận thức vai trò của lực lượng trí
thức với sự phát triển của đất nước, Đảng và
Nhà nước ta đã có nhiều chính sách nhằm
phát huy lực lượng này. Nghị quyết số 27-
NQ/TW, ngày 06/8/2008, của Ban Chấp
hành Trung ương Đảng khóa X về “Xây
dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước” tạo
nên bước phát triển lớn với lực lượng này.
Đánh giá hiệu quả trong 10 năm thực hiện
Nghị quyết 27 – NQ/TW là mang lại cho
Việt Nam sự biến đổi rất lớn về số lượng
cũng như chất lượng trí thức hiện nay: cả
nước đã tăng hơn 3,7 triệu người có trình độ
từ cao đẳng, đại học trở lên. Đội ngũ trí thức
Việt Nam đã tăng thêm khoảng 2,8 triệu
2.1. Thực trạng phát huy vai trò trí thức
trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn
dân tộc
Về vai trò của trí thức trong đoàn kết
dân tộc, Hồ Chí Minh chỉ rõ: trí thức là vốn
quý của dân tộc. Xã hội càng phát triền, trí
thức càng đông đảo, càng có vị trí lớn và yêu
cầu cao đối với đất nước. Đây là lực lượng
nhạy cảm với thời cuộc, là lực lượng có khát
vọng rất lớn đối với tự do dân chủ, nhân
quyền. Ngay từ thời kỳ lãnh đạo Cách mạng
Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá rất cao về vị
trí, vai trò của trí thức, đặt niềm tin rất lớn
đối với lực lượng này trong cuộc đấu tranh
của dân tộc. Tại cuộc gặp mặt với trí thức và
nhân sĩ thủ đô Hà Nội, ngay sau ngày
2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói:
“Tôi tin trí thức”. Người tin vào sức và lực,
tin vào tinh thần yêu nước, tin vào trách
nhiệm của lực lượng này đối với đại cuộc.
Đây là yếu tố làm nên hiệu quả của chiến
lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh.
Lịch sử chứng minh rất rõ, khi nào thực hiện
đúng chiến lược đại đoàn kết dân tộc của Hồ
Chí Minh là lúc đó dân tộc thống nhất về một
mối, lấy đại nghĩa dân tộc làm trọng, gác bỏ
mọi lợi ích cá nhân, vượt qua mọi chống đối
của kẻ thù để giành lấy độc lập cho dân tộc,
hạnh phúc cho nhân dân.
Việt Nam thực hiện đổi mới từ năm
1986, ngay từ thời điểm đổi mới, Đảng ta đã
xác định rất rõ rằng chúng ra không thể đổi
mới chỉ bằng nhiệt tình và lòng dũng cảm
như trước đây, mà cần phải huy động trí tuệ
và mọi tài năng sáng tạo trong toàn Đảng,
toàn dân để tìm ra các giải pháp tích cực, phù
hợp với hoàn cảnh chúng ta. Nhân tố con
người luôn là điều cần thiết cho sự phát triển
của xã hội, của quốc gia, dân tộc.
Hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ
của công nghệ cùng xu hướng hội nhập, Việt
Nam không thể đứng ngoài xu thế ấy mà cần
36
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 34-40
người. Lĩnh vực văn học-nghệ thuật có hơn
43.000 văn nghệ sĩ, đa phần đã qua đào tạo
bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; không ít
văn nghệ sĩ có trình độ cao, tạo được hiệu
ứng xã hội tốt. Trong các lĩnh vực đặc biệt
như quốc phòng, so với năm 2008, số lượng
trí thức đã tăng 68%, có những đơn vị như
Tập đoàn Công nghiệp-Viễn thông Quân đội
đã tăng 200%... Ngoài trí thức trong nước
còn có khoảng hơn 400.000 trí thức Việt
kiều (trong đó có hơn 6.000 tiến sĩ và hàng
trăm trí thức tên tuổi được đánh giá cao).
Những năm qua, đội ngũ trí thức trực tiếp
tham mưu, góp ý, phản biện vào những
quyết sách lớn của Đảng và Nhà nước.
Trong xây dựng và hoàn thiện chủ trương,
đường lối, chính sách, hoạch định các chiến
lược phát triển kinh tế-xã hội của Đảng và
chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ
sở đều có sự đóng góp tích cực của đội ngũ
trí thức. Bởi vậy, văn kiện Đại hội XIII của
Đảng khi xác định các đột phá chiến lược
phát triển đất nước giai đoạn 2021 - 2025 và
những năm tiếp theo (tầm nhìn 2030, 2045),
đã nhấn mạnh tới nhiệm vụ đào tạo nhân lực
chất lượng cao và yêu cầu cần có chính sách
vượt trội để thu hút, trọng dụng nhân tài cả
trong và ngoài nước, góp phần đáp ứng yêu
cầu chuyển đổi số quốc gia một cách toàn
diện để phát triển kinh tế số, xây dựng xã hội
số trong bối cảnh mới.
phát huy vai trò của trí thức, việc đôn đốc,
kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm thực hiện
các chủ trương, nghị quyết của Đảng trong
phát huy vai trò của trí thức Việt Nam, đặc
biệt là trí thức trẻ trong xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc. Công tác bồi dưỡng, đào
tạo đối với lực lượng trí thức trẻ hiện nay
chưa được quan tâm, chưa kịp thời so với xu
hướng phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế
hiện nay, nhằm phát huy hơn nữa sự vững
chắc của khối liên minh công – nông – trí.
Hệ thống chính sách về trí thức còn thiếu và
chưa phù hợp, tổ chức các hội của trí thức ở
Trung ương và địa phương chưa đủ mạnh để
tập hợp trí thức.
2.2. Một số giải pháp nâng cao hiệu quả
phát huy vai trò của trí thức trong xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Để tăng cường hiệu quả vai trò của
trí thức Việt Nam trong công tác xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay theo mục
tiêu được xác định tại Nghị quyết Đại hội lần
thứ XIII của ta “Phát huy ý chí và sức mạnh
đại đoàn kết toàn dân tộc kết hợp với sức
mạnh thời đại; đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ
công cuộc đổi mới, công nghiệp hóa, hiện
đại hóa; bảo vệ vững chắc Tổ quốc, giữ vững
môi trường hòa bình, ổn định; phấn đấu để
đến giữa thế kỷ XXI, nước ta trở thành nước
phát triển, theo định hướng xã hội chủ
nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021),
tác giả đưa ra một số giải pháp cụ thể cần
thực hiện trong thời gian tới như sau:
Tuy nhiên, phát huy vai trò của trí
thức Việt Nam trong công tác xây dựng khối
đại đoàn kết dân tộc hiện nay vẫn còn tồn tại
một số hạn chế. Hiện nay, vẫn còn một bộ
phận trí thức Việt Nam chưa nhận thức rõ
vai trò, trách nhiệm của mình trong chiến
lược xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của
nước ta. Đây là bộ phận rất dễ bị các thế lực
thù địch lợi dụng để thực hiện các hoạt động
đi ngược với lợi ích của Đảng, Nhà nước và
quần chúng nhân dân. Một số cấp ủy đảng
chưa quan tâm đúng mức lãnh đạo công tác
Thứ nhất, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức đoàn thể các cấp cần
tăng cường công tác tuyên truyền, vận động
nhằm nâng cao nhận thức về vai trò, trách
nhiệm của trí thức Việt Nam đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội. Thông qua đó, trí thức
Việt Nam ý thức rõ vai trò, trách nhiệm của
bản thân đối với sự phát triển chung của đất
nước, nhận thức rõ vai trò của mình trong
xây dựng, củng cố khối liên minh công –
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 34-40
37
nông – trí thêm vững chắc. Đồng thời, các
cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương có
những chỉ đạo cụ thể xây dựng, trọng dụng
trí thức trong các lĩnh vực. Có như vậy, lực
lượng trí thức Việt Nam mới cống hiến tài,
đức của mình đối với sự phát triển chung của
địa phương, cơ quan, đơn vị trên mọi lĩnh
vực. Nhận thức rõ trách nhiệm của mình
trong công tác xây dựng khối đại đoàn kết
dân tộc.
Trong suốt hành trình hoạt động
cách mạng của mình, Hồ Chí Minh đã có sự
quan sát, tổng kết, nhìn nhận, đánh giá đúng
đắn và khoa học về vai trò người trí thức
trong lịch sử. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng
dạy: “Chính là những đảng cách mạng lại
càng trọng trí thức, vì muốn phát triển văn
hóa thì phải cần thầy giáo, muốn phát triển
sức khỏe của nhân dân thì phải cần thầy
thuốc, muốn phát triển kỹ nghệ phải cần các
kỹ sư....
....Cách mạng rất cần trí thức và
chính ra chỉ có cách mạng mới biết trọng trí
thức.
....trí thức Việt Nam có đầu óc dân
tộc và đầu óc cách mạng ...Trí thức không có
bao giờ thừa, chỉ có thiếu trí thức mà thôi”
(Hồ Chí Minh, 2011a, tr 34-36)
Xuất phát từ những đánh giá đúng
đắn của Hồ Chí Minh về trí thức là nhân tố
tạo nên chiến lược xây dựng khối đại đoàn
kết dân tộc được thành công, là yếu tố tạo ra
lực cho Cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi
này đến thắng lợi khác. Học tập, vận dụng tư
tưởng Hồ Chí Minh vào công tác xây dựng
Đảng, xây dựng xã hội chủ nghĩa hiện nay là
con đường xây dựng một Tổ quốc Việt Nam
ngày càng một phát triển theo định hướng xã
hội chủ nghĩa.
trương, chính sách nâng cao vai trò của trí
thức Việt Nam trong xây dựng khối đại đoàn
kết. Nhận thức về vị trí vai trò của trí thức là
chưa đủ mà cần có những định hướng, chỉ
đạo từ Đảng và Nhà nước cụ thể, phù hợp
với từng thời kỳ phát triển của đất nước, đặc
biệt là đối với lực lượng của trí thức. Bởi
hiện nay, cùng với xu thế hội nhập quốc tế,
sự tác động của “diễn biến hòa bình” việc
đánh giá, sử dụng trí thức sao cho hợp lý,
phù hợp với tình hình thực tại của đất nước
là vấn đề cần được quan tâm.
Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận thấy rất
rõ vai trò của trí thức với sự phát triển của
đất nước. Người cũng chỉ rõ nhiệm vụ của
Đảng và Chính phủ vừa phải giúp đỡ thế hệ
trí thức ngày nay tiến bộ, vừa phải ra sức đào
tạo thêm trí thức mới, những trí thức “chính
tâm và thân dân” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr
376-378). “Thân dân” là phẩm chất cần có
để trí thức trở thành một bộ phận trong khối
đại đoàn kết dân tộc. Còn “chính tâm” là
phẩm chất hàng đầu mà trí thức cần có để trở
thành lực lượng cơ bản trong sự phát triển
của đất nước, có “chính tâm” thì trí thức mới
là lực lượng hoạt động, phát triển vì Đảng vì
nhân dân, có trách nhiệm với nhân dân. Và
Người cũng đã chỉ ra rất rõ, trí thức “thực
hiện 2 chữ chính tâm không phải dễ dàng”.
Để những người có học vấn cao trở thành trí
thức, để họ thực hiện được chính tâm thì cần
phải có điều kiện từ hai phía, một là chính
bản thân của người trí thức, hai là từ phía
Đảng và Nhà nước.
Đặc biệt, cần chú trọng công tác phát
triển đảng viên đối với đối tượng là trí thức
trẻ Việt Nam. Nhằm phát huy tinh thần kỷ
luật, tự giác của đảng viên là người đầy tớ
trung thành của nhân dân, phải giữ gìn sự
đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con
ngươi của mắt mình.
Thứ hai, Đảng và Nhà nước cần tiếp
tục đề ra các chủ trương, đường lối, chính
sách xây dựng khối đại đoàn kết đúng đắn,
mang tính chiến lược; chỉ rõ những chủ
Thứ ba, tạo môi trường để trí thức
Việt Nam được học tập, nâng cao trình độ,
38
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 34-40
năng lực của mình (đặc biệt là bộ phận trí
thức trẻ Việt Nam), phát huy hết năng lực
của mình vào công cuộc phát triển đất nước.
Chủ tịch Hồ Chí Minh khi phân tích về vai
trò của trí thức đối với xây dựng khối đại
đoàn kết dân tộc đã chỉ ra rất rõ, muốn trí
thức gắn bó với dân tộc với nhân dân, Đảng
và Nhà nước phải có chính sách để họ tự
nghiên cứu phát minh, sáng tạo, tạo điều
kiện cho họ sống và phát triển trí tuệ để cống
hiến cho quốc gia dân tộc.
hiện thắng lợi con đường phát triển kinh tế
xã hội gắn với độc lập dân tộc. Thông qua
các hoạt động như rà soát các chính sách
hiện có và ban hành các cơ chế, chính sách
mới đảm bảo trí thức được hưởng đầy đủ lợi
ích vật chất, tinh thần tương xứng với giá trị
từ kết quả lao động của trí thức. Hoàn thiện
và thực hiện nghiêm túc các cơ chế chính
sách để động viên và tiếp tục sử dụng về
chuyên môn, nghiệp vụ đối với những trí
thức có trình độ cao, năng lực và sức khỏe
đã hết tuổi lao động. Có chính sách ưu đãi
cụ thể về lương, điều kiện việc làm, sinh
hoạt... đối với đối tượng trí thức làm viêc ở
vùng miền núi, đối tượng trí thức là người
đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật,..
có chế độ khen, thưởng hợp lý với trí thức
có những cống hiến, đóng góp lớn cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội
nhập quốc tế. Bên cạnh đó, cũng cần có
những chính sách thu hút lực lượng trí thức
Việt Nam ở nước ngoài đóng góp vào sự
nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước.
Mục tiêu của Việt Nam là đến năm
2045 trở thành nước phát triển có thu nhập
cao thì khâu đột phá đầu tiên phải được tính
đến là đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng một cách
thật hiệu quả nguồn nhân lực, đặc biệt là
phải hết sức tôn trọng nguồn nhân lực có
chất lượng cao, nhất là tầng lớp trí thức tinh
hoa của dân tộc. Có thể nói, để đất nước phát
triển chúng ta phải phát hiện sớm người tài
để chọn đúng người tài ở từng lĩnh vực của
xã hội, chọn đúng người tài rồi thì cần phải
trọng dụng họ, tạo điều kiện để lực lượng
này phát huy khả năng, năng lực của họ đúng
lúc, đúng chỗ. Để thực hiện điều này, trong
các chính sách, chiến lược đào tạo con
người, Việt Nam cần tạo điều kiện lực lượng
này được học tập, trau dồi kinh nghiệm và
có điều kiện thực hiện những sáng tạo, sáng
chế trong phòng thí nghiệm vào cuộc sống
vào sự phát triển kinh tế, xã hội của đất
nước. Đây chính là phần quan trọng của
khâu đột phá trong công tác tổ chức, cán bộ
thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa.
Thứ tư, nâng cao chất lượng hoạt
động các hội của trí thức Việt Nam. Nhằm
phát huy tinh thần học tập và hoạt động trên
tất cả các lĩnh vực của trí thức, việc xây dựng
các cơ chế hoạt động của các hội trí thức là
điều cần thiết. Thông qua hoạt động của các
hội trí thức, sự phối hợp nhịp nhàng với Mặt
trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể là cách
thức tạo điều kiện để lực lượng trí thức nắm
bắt kịp thời các chủ trương, chính sách của
Đảng và Nhà nước, nắm bắt kịp những thông
tin về tình hình thực tiễn của đất nước và địa
phương. Thông qua tổ chức của mình như
Liên hiệp các Hội Khoa học và kỹ thuật,
Liên hiệp hội văn họcvà nghệ thuật,...lực
lượng trí thức được tập hợp, đoàn kết phát
huy năng lực sáng tạo và nâng cao phẩm chất
đạo đức, trách nhiệm của trí thức đối với
công tác xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc,
Trí thức là bộ phận chủ lực cho sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước. Do vậy, đây là bộ phận cần được phát
huy cả về năng lực, phẩm chất, trí tuệ. Có
như vậy, trí thức mới cống hiến hết khả năng
của mình vào sự nghiệp phát triển của đất
nước, mới trở thành bộ phận chủ động trong
xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, thực
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 28 (2021), 34-40
39
đối với công cuộc phát triển đất nước hiện
nay.
lực lượng có nhận thức, có hiểu biết, có năng
lực do vậy khi lực lượng này xác định rõ
trách nhiệm, vai trò của bản thân mình trong
hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
thì chức năng phản biện xã hội của Mặt trận
sẽ được hỗ trợ thực hiện hiệu quả rất cao.
Đây cũng lý do vì sao trí thức được đánh giá
cao trong thực hiện xây dựng khối đại đoàn
kết dân tộc mà Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
cùng các tổ chức đoàn thể cần nắm rõ và
thực hiện tốt nội dung này.
Các tổ chức hội trí thức cần chủ
động nghiên cứu, đề xuất với các cơ quan
chức năng để đổi mới mạnh mẽ nội dung và
phương thức hoạt động, tập hợp sức mạnh
và trí tuệ của đội ngũ trí thức, phát huy đội
ngũ trí thức trong tình hình mới. Chủ động
phát hiện, thu hút, tập hợp trí thức trẻ, trí
thức trong các doanh nghiệp vào các tổ chức
hội.
Thứ năm, Mặt trận Tổ quốc Việt
3. Kết luận
Nam và các tổ chức đoàn thể cần chủ động
đổi mới nội dung và phương thức hoạt động
để đẩy mạnh hơn nữa hiệu quả của công tác
xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc. Hoàn
thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp
luật, hành lang pháp lý thuận lợi và xây dựng
cơ chế hoạt động, tổ chức nhiều diễn đàn
khuyến khích và bảo đảm quyền lợi, trách
nhiệm của trí thức khi tham gia các hoạt
động tư vấn, phản biện, giám định các chủ
trương, chính sách, các dự án phát triển kinh
tế - xã hội; xây dựng vững chắc khối liên
minh công – nông – trí trong công tác xây
dựng khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay.
Trí thức được đánh giá là lực lượng
có chức năng phản biện xã hội rất tốt. Chức
năng này hiện nay không còn là bản chất của
trí thức mà đã trở thành trách nhiệm của trí
thức với sự phát triển của xã hội. Một xã hội
không có sự phản biện, không biết tiếp nhận
sự phản biện có căn cứ, có lý lẽ vững chắc,
có cơ sở khoa học đủ sức thuyết phục và
mang tính xây dựng là một xã hội trì trệ. Một
xã hội biết cách chấp nhận những phản biện
mang tính xây dựng, có căn cứ khoa học
vững chắc là một xã hội có tiềm năng và có
điều kiện để phát triển. Trí thức Việt Nam là
Công tác xây dựng khối đại đoàn kết
dân tộc đã được Đảng ta xác định là chiến
lược trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện
nay. Công tác này Đảng ta thực hiện linh
hoạt trong mỗi thời kỳ theo tư tưởng của Chủ
tịch Hồ Chí Minh về xây dựng khối đại đoàn
kết dân tộc. Và trí thức Việt Nam hiện nay
được xác định là nhân tố quan trọng trong
xây dựng khối liên minh công – nông – trí,
là nhân tố đóng góp rất lớn cho công cuộc
đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và
hội nhập quốc tế hiện nay. Chủ tịch Hồ Chí
Minh xác định rõ rằng đại đoàn kết là điểm
xuất phát, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt toàn bộ
đường lối, chủ trương của Đảng. Bởi vậy,
công tác phát huy vai trò của trí thức Việt
Nam trong xây dựng khối đại đoàn kết dân
tộc luôn là một nội dung quan trọng được
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các chức
đoàn thể quan tâm. Với những giải pháp vừa
nêu trên, trong thời gian tới, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam tiếp tục phát huy tốt vai trò
của trí thức và tất cả các tầng lớp nhân dân
cùng thực hiện thắng lợi công tác xây dựng
khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay
40
Journal of Science – Phu Yen University, No.28 (2021), 34-40
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Nxb.
Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập, t.7, tr. 34-36.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, t.10, tr.376-378.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, t11, tr.272.
Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2017). Giáo trình trung cấp LLCT – HC, Những
vấn đề cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Nxb. Lý luận chính
trị.
Nguyễn Viết Thông, Lê Thị Sự (2019). Trí thức và vai trò của trí thức trong quá trình phát
triển của Việt Nam hiện nay. Nxb. Chính trị quốc gia Sự Thật.
PROMOTING THE ROLES OF THE VIETNAMESE INTELLECTUALS IN
BUILDING THE GREAT NATIONAL UNITY BLOC
Dao Loan Cung
Phu Yen Politics School
Email: [email protected]
Received: September 15, 2021; Accepted: October 12, 2021
Abstract
The viewpoints of the 13th National Congress of the Communist Party of Vietnam
clearly identified that the great national unity bloc of Vietnam today is constituted by all
Vietnamese people from all ethnicities and religions, from different social classes and social
sections. This article clarifies the current situation and recommends some solutions to
improve the effectiveness of promoting the roles of the Vietnamese intellectuals in building
the current great national unity bloc.
Keywords: promotion the role, intellectuals, great national unity bloc.
Bạn đang xem tài liệu "Phát huy vai trò của trí thức Việt Nam với công tác xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
phat_huy_vai_tro_cua_tri_thuc_viet_nam_voi_cong_tac_xay_dung.pdf

