Các nguyên nhân mắc bệnh của tù nhân ở nhà tù Côn Đảo giai đoạn 1946-1954

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
44  
CÁC NGUYÊN NHÂN MẮC BỆNH CỦA TÙ NHÂN Ở  
NHÀ TÙ CÔN ĐẢO GIAI ĐOẠN 1946 - 1954  
HỒ VIẾT HÙNG*  
Nhà tù Côn Đảo được tiến hành xây dựng từ năm 1862, ngay sau khi Pháp xác  
lập việc đô hộ đối với 3 tỉnh miền Đông của Nam Kỳ. Đây là một trong những  
nhà tù đầu tiên và có quy mô lớn nhất ở miền Nam mà thực dân Pháp xây dựng  
để giam giữ những thành phần bị coi là chống đối, đe dọa tiến trình “khai sáng  
văn minh cho các dân tộc dã man” của nước Pháp. Nhà tù Côn Đảo được gọi là  
“địa ngục trần gian” vì chế độ giam cầm khắc nghiệt, chế độ lao động cực khổ  
và những hình thức kỷ luật, tra tấn, đánh đập tù nhân hết sức dã man, hàng  
ngàn tù nhân bệnh tật liên miên. Trong bài viết này tác giả phân tích tình hình tù  
nhân mắc bệnh giai đoạn 1946 - 1954 để có thể thấy thêm một khía cạnh “địa  
ngục” ở nhà tù Côn Đảo.  
Từ khóa: Côn Đảo, nhà tù, tù nhân, bệnh tật  
Nhận bài ngày: 15/12/2019; đưa vào biên tập: 20/12/2019; phản biện: 2/1/2020;  
duyệt đăng: 15/3/2020  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
các nguyên nhân dẫn đến tình trạng  
bệnh tật của tù nhân là cần thiết để có  
những đánh giá  ác đáng về chính  
sách cai trị của thực dân Pháp đối với  
những người tù yêu nước Việt Nam.  
Trong giai đoạn 1946 - 1954 vào lúc  
nhiều nhất nhà tù Côn Đảo giam giữ  
hơn 2.500 tù nhân, đa phần trong số  
đó là tù chính trị, tù binh, chỉ có một số  
rất ít tù thường phạm. Tù nhân ở nhà  
tù Côn Đảo bị giam cầm nghiêm ngặt  
trong các khám giam của Banh I,  
Banh II. Năm 1951 khi chuyến tù binh  
đầu tiên từ miền Bắc bị lưu đày ra đây,  
giám đốc nhà tù Côn Đảo cho sửa  
chữa lại Banh III rồi đổi tên thành Trại  
III để giam giữ tù binh.  
2. TÙ NHÂN MẮC BỆNH Ở NHÀ TÙ  
CÔN ĐẢO GIAI ĐOẠN 1946 - 1954  
Theo các báo cáo y tế của nhà tù Côn  
Đảo, trong giai đoạn 1946 - 1954,  
hàng tháng có cả ngàn lượt bệnh  
nhân, chủ yếu là tù nhân khám bệnh,  
hàng trăm người phải nhập viện điều  
trị, vài người trong số đó không qua  
khỏi đã nằm lại Nghĩa trang Hàng  
Dương.  
Trong giai đoạn 1946 - 1954 rất nhiều  
tù nhân đã chết vì bệnh tật khi bị giam  
cầm ở nhà tù Côn Đảo. Nghiên cứu  
Báo cáo y tế nguyệt kỳ tháng 7/1949  
của nhà tù cho thấy “Trong tháng có  
tổng số 2.067 lượt bệnh nhân thăm  
* Trường Chính trị tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.  
HỒ VIẾT HÙNG – CÁC NGUYÊN NHÂN MẮC BỆNH CỦA…  
45  
khám sức khỏe, 80 người nhập viện từ Viện Pasteur ở Sài Gòn được điều  
điều trị” (Assitance Medicale de Poulo ra chỉ đạo dập dịch bệnh, một khoản  
ngân sách đặc biệt được cung cấp  
cho Côn Đảo để khống chế dịch sốt  
rét và đích thân Bộ trưởng Bộ Y tế  
Công cộng ra thị sát tình hình dịch  
bệnh tại Côn Đảo. Giới chức nhà tù  
phải mất gần 1 năm mới có thể khống  
chế dịch bệnh này. Tháng 12/1947  
tình hình dịch sốt rét cơ bản được  
khống chế “Nhờ thực hiện các  
phương pháp dự phòng theo hướng  
dẫn và việc cung cấp thuốc  
Quinacrine kịp thời của Bộ Y tế Công  
cộng, đã giảm được 75% số ca mắc  
sốt rét ở nhà tù” (Minister de la Santé  
Publique, hồ sơ G80-81). Tuy nhiên 2  
năm sau dịch bệnh sốt rét bắt đầu có  
dấu hiệu bùng phát trở lại, bắt đầu từ  
những tháng cuối năm 1949 và ở đỉnh  
là tháng 3/1950 khi có tới 183 người  
mắc sốt rét, 20 người trong số đó phải  
nhập viện điều trị: “Tháng 5/1949 có  
31 người mắc sốt rét, trong đó bao  
gồm 3 người Âu, 5 lính đồn trú, 8  
thường dân, 15 tù nhân. Tháng  
9/1949 có 58 người mắc sốt rét gồm 5  
người Âu, 21 thường dân và 32 tù  
nhân. Tháng 1/1950 có 62 người mắc  
sốt rét gồm 8 người Âu, 5 lính đồn trú,  
15 thường dân và 34 tù nhân. Tháng  
Condore, hồ sơ E03/272). Trong số  
người được thăm khám y tế thì nhiều  
nhất là khám về hô hấp có 399 người,  
259 người khám đường tiêu hóa, 127  
người khám về thiếu hụt vitamin, 45  
người khám lao phổi... tổng số ngày  
điều trị cho 80 bệnh nhân nhập viện  
trong tháng là 1.608 ngày, bình quân  
một người bệnh phải nằm điều trị 20  
ngày. Những con số trong bản báo  
cáo này cho thấy mức độ và tính chất  
nghiêm trọng của bệnh tật đối với tù  
nhân.  
Các căn bệnh về đường tiêu hóa, hô  
hấp, da liễu khá phổ biến ở nhà tù,  
hàng tháng luôn có mấy trăm tù nhân  
phải thăm khám vì những căn bệnh  
này. Từ năm 1946 đến 1950 số lượng  
tù nhân ở nhà tù Côn Đảo dao động  
trong khoảng từ 1.000 đến 1.500  
người; và với 2.067 lượt khám bệnh  
trong tháng 7/1949 thì có thể thấy hầu  
như mọi người tù ở đây đều mắc  
bệnh. Tù nhân luôn phải đối diện với  
hàng chục loại bệnh tật nguy hiểm,  
trong đó đáng lo lắng nhất là bệnh sốt  
rét, lao phổi hay bệnh phù thủng, bệnh  
hô hấp.  
Dịch bệnh sốt rét (paludisme) đã hai 3/1950 có 183 người mắc sốt rét gồm  
lần bùng phát ở Côn Đảo trong giai  
25 người Âu, 9 lính đồn trú, 62  
đoạn này. Lần đầu tiên là cuối năm thường dân và 87 tù nhân” (Assitance  
1946, làm hàng trăm tù nhân, giám thị Medicale de Poulo Condore, 1950).  
và cả vợ con giám thị mắc bệnh. Giám  
Giới chức nhà tù tỏ ra rất lo lắng về  
đốc nhà tù Côn Đảo Brulé phải yêu tình hình dịch bệnh sốt rét phát triển  
cầu hỗ trợ y tế từ Sài Gòn. Bộ Y tế nhanh chóng ở nhà tù Côn Đảo, trong  
Công cộng đã gửi rất nhiều thuốc  
các bản báo cáo y tế nguyệt kỳ năm  
Quinacrine cho nhà tù, bác sĩ Capponi 1949 - 1950 đã dành hẳn một mục lớn  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
46  
ở phần đầu để báo cáo tình hình bệnh người chết vì viêm gan (hépato -  
nhân mắc căn bệnh này. Dịch bệnh  
sốt rét chỉ được khống chế vào cuối  
năm 1950, tuy nhiên trong suốt những  
năm sau này số người mắc bệnh sốt  
rét chỉ giảm đi mà không hết, nhất là  
những tháng mùa mưa vào cuối năm.  
néphrite), 1 người chết vì chảy máu  
trong (d'hémorragie interne). Tháng  
10/1949 có 2 tù nhân chết, 1 người  
chết vì lao phổi, 1 người chết vì đa  
chấn thương (plaies multiples ).  
Tháng 4/1953 có 2 tù nhân chết, trong  
đó 1 người là tù binh (P.I.M) chết ngày  
26/3 do hôn mê sâu (coma -  
apoplectique), 1 tù nhân chết ngày  
16/4 do bệnh lao phổi (tuberculose  
pulmonaire)” (Assitance Medicale de  
Poulo Condore, 1953). Hàng đêm ở  
khắp các khám tù, nhất là ở những  
khám biệt lập, cấm cố tiếng ho của tù  
nhân mắc bệnh lao, bệnh hô hấp thâu  
đêm suốt sáng.  
Cùng với bệnh sốt rét, bệnh lao phổi  
(Tuberculose pulmonaire) phổ biến ở  
đây, tù nhân mắc căn bệnh này coi  
như bị tuyên án tử hình, cầm chắc cái  
chết. Lao phổi là bệnh xã hội nguy  
hiểm, nguyên nhân chính gây bệnh là  
do nhiễm trực khuẩn Mycobacterium  
tuberculosis, vi khuẩn này phát triển  
từ môi trường ẩm mốc, khói bụi, vệ  
sinh kém. Nhà tù Côn Đảo giai đoạn  
này giam giữ tới hàng ngàn người tù  
trong những khám giam ẩm ướt, bẩn  
thỉu là nguyên nhân chính dẫn đến  
nhiều tù nhân bị bệnh lao và chết vì  
căn bệnh này. Tháng 7/1949 trong số  
80 tù nhân phải nằm điều trị thì có tới  
Bệnh phù thủng (Béribéri), căn bệnh  
này làm suy nhược cơ, tê phù, liệt  
chân mà nguyên nhân chính yếu là  
chế độ ăn uống thiếu thốn, không đảm  
bảo cung cấp vitamin. Rất nhiều tù  
nhân ở nhà tù Côn Đảo bị căn bệnh  
10 người là điều trị lao phổi. Tháng này nhất là trong những năm đầu khi  
tái lập nhà tù: “Tháng 8/1949 có 33 tù  
nhân mắc bệnh phù thủng, 3 người  
trong số đó đang được điều trị tại trạm  
y tế. Tháng 3/1950 có 38 tù nhân mắc  
bệnh phù thủng, 6 người trong số đó  
đang được điều trị tại trạm y tế”  
3/1950 có 124 người nằm bệnh xá  
điều trị thì có 13 bệnh nhân điều trị lao  
phổi. Trong các bản báo cáo y tế  
nguyệt kỳ của nhà tù Côn Đảo cho  
thấy hầu như tháng nào ở nhà tù này  
cũng có tù nhân chết vì bệnh tật, mà  
phần nhiều trong số đó là chết vì căn  
bệnh lao phổi quái ác “Tháng 8/1949  
có 1 tù nhân chết vì lao phổi, số tù  
C.11.277. Tháng 9/1949 có 5 tù nhân  
chết, trong đó 1 người chết vì trụy tim  
(collapsus cardieque), 1 người chết  
không rõ nguyên nhân (d'origine  
(Assitance  
Medicale  
de  
Poulo  
Condore, 1950). Hầu hết những người  
tù bị cấm cố, bị giam biệt lập trong xà  
lim mắc căn bệnh này, 10 người bị  
nhốt xà lim thì có tới 9 người khi được  
cho ra ngoài bị phù thủng, liệt chân  
không đi lại được.  
indéterminée), 1 người chết vì lao Ngoài những căn bệnh kể trên đây, tù  
phổi (Tuberculose pulmonaire), nhân còn phải đối diện với hàng chục  
1
HỒ VIẾT HÙNG – CÁC NGUYÊN NHÂN MẮC BỆNH CỦA…  
47  
loại bệnh tật khác nữa cũng rất nguy khám đã được xây dựng sẵn ở đó và  
hiểm như: bệnh về đường hô hấp chịu sự giám sát của lực lượng gác  
ngục.  
(maladies respiratoire ), bệnh viêm da  
do vi khuẩn (ghẻ).  
Nhiều công việc khổ sai hết sức cực  
khổ đối với tù nhân. Tháng 10/1949 tại  
Sở Củi (Coupe de bois) có 76 tù nhân,  
nhà tù quy định mỗi tù nhân phải đốn  
5 tấc củi/ngày, cả Sở Củi phải nộp  
38m3 củi/ngày, 1.140m3 củi/tháng.  
“Sản lượng củi khai thác được trong  
tháng 10/1949 là 729m3, số lao động  
đốn củi là 76 tù nhân” (Assitance  
Medicale de Poulo Condore, 1949, hồ  
sơ E03/272). Năm 1952 sản lượng vôi  
nung của Sở Lò vôi là 240 tấn, “sản  
lượng vôi trong năm là 240 tấn, vừa  
đủ cho mục đích của nhà tù”  
(Direction des Iles du Pénitencier de  
Poulo - Condore, 1952, hồ sơ số G80-  
113), với 240 tấn vôi nung thì kíp tù  
lấy san hô phải mang về trên dưới  
400 tấn san hô, trừ đi những ngày  
nước lớn hoặc mưa bão không khai  
thác được thì bình quân mỗi ngày đi  
làm bất kể mưa nắng, kíp tù hơn 50  
người phải mang về giao nộp khoảng  
hơn 13 tấn san hô/ngày. Lao động  
khổ sai nặng nhọc đã bào mòn thân  
xác tù nhân, nhiều tù nhân suy kiệt  
trầm trọng về thể lực, cơ thể không đủ  
sức đề kháng cũng là một trong  
những nguyên nhân dẫn đến dễ mắc  
bệnh tật.  
3. CÁC NGUYÊN NHÂN CHỦ YẾU  
DẪN ĐẾN TÌNH TRẠNG BỆNH TẬT  
CỦA TÙ NHÂN Ở NHÀ TÙ CÔN ĐẢO  
GIAI ĐOẠN 1946 - 1954  
3.1. Chế độ và chính sách lao tù khắc  
nghiệt  
Thứ nhất, chế độ lao động khổ sai  
nặng nhọc cùng sự tra tấn dã man về  
thể xác và tinh thần tù nhân  
Lao động khổ sai là một hình thức bóc  
lột sức lực người tù, đó là một hoạt  
động cụ thể phản ánh quan điểm “lấy  
chiến tranh nuôi chiến tranh” của  
những kẻ  âm lược. Ở Côn Đảo một  
hệ thống hơn 20 sở chuyên môn  
được xây dựng khắp nơi để khai thác  
sức tù: Sở Muối, Sở Tiêu, Sở Củi, sở  
Lò Gạch, Sở Lò Vôi, Sở Chuồng Bò,  
Sở Rẫy, Sở Chỉ Tồn, Sở Bản Chế, Sở  
Lưới… Mỗi sở chuyên môn được bố  
trí thành những kíp tù để lao động khổ  
sai. Định mức lao động khổ sai của tù  
nhân được quy định rất cao, vượt khỏi  
khả năng và điều kiện lao động thực  
tế tại Côn Đảo. Rất nhiều tù nhân bị  
kỷ luật, bị đánh, bị giết vì không hoàn  
thành định mức lao động khổ sai trong  
thời gian này.  
Tù nhân đi lao động khổ sai ngày 2  
buổi, trưa và tối về lại khám, chỉ một  
số rất ít tù nhân đi lao động khổ sai ở  
 a khám giam như là kíp kéo cây, kíp  
phục vụ duy tu ngọn hải đăng ở hòn  
Bãi Cạnh, hay kíp đốn củi, kíp làm  
đường ra Bến Đầm thì ở lại trong các  
Thứ hai, chế độ ăn, mặc của tù nhân  
thiếu thốn  
Chế độ ăn của tù nhân khác ở nhà tù  
Côn Đảo nhìn trên giấy tờ cũng khá  
tốt, mỗi ngày người tù được 700 gram  
gạo đỏ, 10 gram đường, 20 gram  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
48  
muối, 200 gram cá khô, 10 gram thốn mà quần áo cũng hết sức hạn  
tương, 50 gram đỗ xanh, 20 gram mỡ, chế, mỗi tù nhân quanh năm chỉ có  
20 gram nước mắm và mỗi tuần được một manh chiếu rách, một bộ quần áo  
150 gram thịt bò, 120 gram thịt heo. cụt tay mỏng tang không đủ để họ  
Tuy nhiên chế độ ăn này chỉ thấy trên chống chọi với những cơn gió biển  
giấy, thực tế thì chưa một người tù lạnh buốt trong những đêm đông. Lao  
nào bị giam giữ ở đây có được một động cực nhọc, ăn uống kham khổ  
bữa ăn như vậy (Sud Vietnam, cộng với sự thiếu thốn quần áo trong  
Direction des finaces, Order de những ngày giá rét là những nguyên  
Recette, 1952). Tù nhân hàng ngày nhân làm suy kiệt sức lực tù nhân, tạo  
chỉ được ăn lưng bát cơm gạo xấu, thuận lợi cho bệnh tật gia tăng.  
một ít cá khô mục đã để trong kho ẩm  
ướt có khi cả nửa năm. Cá khô thì  
Thứ ba, chế độ giam cầm hà khắc,  
khám giam chật hẹp, ẩm mốc, dơ bẩn  
chính quyền Nam phần giao cho các  
Nhà tù Côn Đảo được thực dân Pháp  
tỉnh Bạc Liêu, Sóc Trăng mua của tư  
xây dựng năm 1862 trên trảng đất dài  
nhân với giá rẻ mạt, ai bỏ giá rẻ nhất  
bằng phẳng nằm giáp biển ở phía  
thì trúng thầu cung cấp cá cho nhà tù.  
đông của hòn Côn Lôn Lớn. Nhà tù  
Tù nhân liên tục đấu tranh đòi cải  
được xây dựng trong một khoảng thời  
thiện bữa ăn, tuy nhiên tình hình  
gian rất dài và qua nhiều giai đoạn lịch  
chẳng được thay đổi gì, mãi tới tháng  
sử. Thời kỳ 1946 - 1954 hệ thống nhà  
3/1954 mới thấy Giám đốc Tài chính  
tù Côn Đảo có 3 Banh, mỗi banh gồm  
của chính quyền Nam phần gửi cho  
nhiều phòng giam có kích thước lớn,  
tỉnh trưởng Bạc Liêu một bức điện nói  
bé khác nhau. Hầu hết các phòng  
về vấn đề này “Tôi báo tin cho ông rõ,  
giam đều được xây dựng rất kiên cố,  
mấy lần tỉnh Bạc Liêu gửi khô lên Sài  
tường dày 60cm đến 80cm, mỗi  
Gòn lại không gặp tàu đi Côn Đảo. Số  
phòng có 2 lớp cửa, xung quanh  
khô đó phải bị dự trữ lại tại kho vật  
liệu trong một thời gian rất lâu, có khi  
cao 1m làm chỗ ngủ cho người tù,  
đến gần hai tháng. Đến khi có tàu thì  
phòng giam là một dãy bệ  i măng  ây  
nhà vệ sinh không có cửa được đặt  
khô đã cũ và phần nhiều không dùng  
trong một góc phòng giam. Tùy vào  
được” (Giám đốc Tài chính, 1954, hồ  
sơ số G84-114). Tuy nhiên, bức điện  
diện tích của phòng giam và tùy vào  
từng thời điểm nhà tù bố trí số lượng  
này chưa kịp được phúc đáp thì  
những người tù đã  uống tàu rời khỏi  
số lượng tù nhân trong mỗi phòng  
“địa ngục trần gian Côn Đảo”. Bức  
tù nhân trong mỗi phòng. Nhìn chung  
giam là rất đông, có nhiều phòng giam  
điện thể hiện sự “quan tâm” này của  
ông Giám đốc Tài chính chỉ là hình  
chứa hơn 100 tù nhân.  
Nhà tù thiết lập chế độ giam giữ tù  
nhân hết sức nghiêm ngặt, đối với  
những người mang án tử hình bị đưa  
thức vì sự thật là chính quyền Nam  
phần cũng đã biết rõ và để ngoài tai  
việc này. Không chỉ ăn uống thiếu  
HỒ VIẾT HÙNG – CÁC NGUYÊN NHÂN MẮC BỆNH CỦA…  
49  
vào giam cấm cố trong khám tử hình những người tù đã viết Bản án xâm  
ở Banh I. Ngoài tù nhân khám tử hình lược Pháp tố cáo chế độ giam cầm hà  
bị biệt giam thì vào đầu năm 1951 khắc “Khu biệt lập mà nhà tù dựng lên  
giám đốc nhà tù La phốt lấy 3 khám 8, từ tháng 3/1951… chỉ hơn 1 năm trời  
9, 10 thiết lập khu biệt lập ở Banh II mà 9 người bỏ mạng, 31 người mắc  
để giam giữ những thành phần tù bệnh lao do bác sĩ  ác nhận” (Phòng  
nhân bị coi là chống đối, vi phạm nội Tuyên huấn Côn Đảo, 1954: 17).  
quy hay lãnh đạo tù nhân đấu tranh  
đòi quyền lợi. Thực chất đó là cái cớ  
giam mùi ẩm mốc, mùi hôi thối, thiếu  
để nhà tù đẩy tù nhân vào khu biệt lập,  
Điều kiện vệ sinh rất kém, trong phòng  
ánh sáng… là những điều kiện thuận  
thiết lập một biện pháp trừng phạt với  
lợi cho vi khuẩn gây bệnh. Giám đốc  
tù nhân, cái chính yếu phía sau là  
giám đốc nhà tù muốn thiết lập lại chế  
cáo năm 1952 đã thừa nhận tình trạng  
độ cặp rằng, đưa tù thường phạm lên  
làm cặp rằng cai quản tù nhân ở các  
dựng ở một nơi không tốt, vào mùa  
khám tù, tước đi sự lãnh đạo của tù  
kháng chiến. Khu biệt lập là nơi để  
một cái ao lớn, nước không thể dùng  
giam riêng lực lượng những người tù  
nhà tù Côn Đảo Jarty trong bản báo  
tồi tệ của Banh III: “Banh III được xây  
mưa từ tháng 5 đến tháng 11, sân là  
được cho sinh hoạt hàng ngày”  
kháng chiến có ảnh hưởng đối với tù  
nhân. Hơn 200 tù nhân bị liệt vào  
(Direction des Iles du Pénitencier de  
Poulo - Condore, 1952: 6).  
thành phần nguy hiểm và bị đẩy vào  
giam trong 3 khám ẩm thấp, chật chội  
ở khu biệt lập Banh II, thực hiện chế  
3.2. Lực lượng y tế và trang thiết bị  
khám, chữa bệnh của nhà tù Côn  
Đảo giai đoạn 1946 - 1954 thiếu hụt  
độ giam cầm cấm cố. Trong bản báo  
Từ khi tái chiếm lại nhà tù năm 1946,  
Giám đốc nhà tù Côn Đảo đầu tiên  
trong giai đoạn này là Gimbe đã cho  
sửa chữa lại bệnh  á, đồng thời đề  
nghị giới chức điều động lực lượng y  
tế ra làm nhiệm vụ khám, chữa bệnh  
cho viên chức nhà tù, gia đình vợ con  
viên chức và tù nhân bệnh nặng. Trên  
thực tế, lực lượng y tế ở bệnh xá nhà  
tù Côn Đảo chủ yếu là để phục vụ  
công tác khám chữa bệnh cho giám  
thị và gia đình giám thị, đối với tù  
nhân thì nhà tù sử dụng chính lực  
lượng tù để làm nhiệm vụ y tế như  
cấp phát thuốc, tiêm, chỉ những người  
tù bệnh nặng mới được lên điều trị ở  
cáo gửi giới hữu trách năm 1952  
Giám đốc nhà tù Côn Đảo Jarty đã  
thừa nhận việc giam giữ cấm cố đối  
với những tù nhân này: “Khoảng 200  
tù nhân, những cá nhân lãnh đạo  
nguy hiểm đã phải cách ly và không  
thể sử dụng họ vào bất cứ công việc  
gì” (Direction des Iles du Pénitencier  
de Poulo - Condore. 1952, hồ sơ số  
G80-113: 4). Chế độ cấm cố tù nhân  
rất khắc nghiệt và tàn ác dẫn đến  
phần lớn tù nhân sau một thời gian bị  
giam giữ cấm cố ở khu biệt lập này  
đều bị bệnh trầm trọng như phù thủng,  
lao, kiết lỵ, ghẻ... hành hạ. Tháng  
7/1954 trước khi được trao trả tự do  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
50  
trạm xá y tế và được bác sĩ chữa trị. đây là người Việt duy nhất giữ vị trí  
Nguồn lực y tế hạn hẹp, trang thiết bị  
khám chữa bệnh thiếu thốn, chính  
sách thăm khám, điều trị sức khỏe  
cho tù nhân cộng với thái độ làm việc  
hời hợt, đối phó của lực lượng y tế là  
một nguyên nhân dẫn đến nhiều dịch  
bệnh bùng phát ở nhà tù Côn Đảo  
trong giai đoạn này.  
bác sĩ trưởng, cùng ra với bác sĩ Huy  
trong tháng 7 còn có y tá trưởng Lù  
Văn Sanh ra thay thế y tá trưởng Lê  
Công Thanh được điều chuyển về Sài  
Gòn “Bác sĩ Dương Thục Huy thay thế  
bác sĩ Delabroise từ ngày 31/7/1951.  
Y tá Lù Văn Sanh thay thế y tá trưởng  
Lê Công Thanh ngày 17/7/1951”  
(Rapport d’assistance medicale et  
d’action sociale, hồ sơ d30-11). Tháng  
11/1952 y tá Nguyễn Văn Tân được  
điều ra tăng cường cho bệnh xá nhà  
tù Côn Đảo khi số lượng tù nhân ở  
đây đã vượt trên 2.000 người. Tháng  
12 năm 1952 bác sĩ quân đội Rozieres  
được điều ra làm trạm trưởng y tế ở  
nhà tù Côn Đảo thay thế bác sĩ  
Bệnh  á Côn Đảo từ năm 1946 đến  
1954 chỉ có 6 nhân viên y tế gồm 1  
bác sĩ người Âu, 1 nữ hộ sinh, 3 y tá  
và 1 điều dưỡng tất cả đều là người  
Việt. Cho dù số lượng tù nhân sau  
năm 1950 tăng lên nhiều, có lúc tới  
hơn 2.500 người nhưng lực lượng  
nhân viên y tế vẫn không thay đổi, chỉ  
dao động từ 5 đến 6 người “Tháng  
1/1950 bệnh  á nhà tù có bác sĩ quân Dương Thục Huy hết thời gian làm  
đội Delabroise, y tá trưởng Lê Công việc theo quy định và chuyển về Sài  
Thanh, y tá Trần Văn Minh, Nguyễn  
Ngọc Hạnh, hộ sinh Phùng Thị Sanh”.  
Trong các báo cáo y tế, bác sĩ trưởng  
bệnh  á Côn Đảo luôn đề cập đến vấn  
đề này, “Tháng 4/1953 bình quân 1  
bác sĩ khám cho 2.313 lượt bệnh  
nhân và 1 y tá điều trị cho 578 lượt  
người”.  
Gòn. Bác sĩ Rozieres làm việc nhiệt  
tình và trách nhiệm, nhiều tù nhân có  
cảm tình với ông.  
Không chỉ thiếu hụt nhân viên y tế mà  
điều lo ngại nhất lúc bấy giờ của nhà  
tù là thiếu trang thiết bị, nhất là thuốc  
để điều trị bệnh. Bệnh xá nhà tù chỉ có  
chủ yếu là thuốc ký ninh (Quining)  
dạng viên 0,25mmg và dạng ống  
0,40mmg, thuốc Quinacrine dạng viên  
0,10mmg và dạng ống 0,30mmg, cả 2  
loại thuốc này dùng để điều trị sốt rét,  
căn bệnh khá phổ biến ở nhà tù Côn  
Đảo, ngoài ra còn có một ít thuốc  
kháng sinh điều trị bệnh thương hàn,  
bệnh đậu mùa. Thiếu bác sĩ và thiết bị  
khám chữa bệnh buộc nhà tù phải  
chuyển bệnh nhân về Sài Gòn để điều  
Bác sĩ người Âu đầu tiên ở nhà tù  
Côn Đảo trong giai đoạn 1946 - 1954  
là bác sĩ quân y Darble, đầu năm  
1948 bác sĩ Darble chuyển về Sài Gòn,  
bác sĩ trung úy Charles ra thay. Tháng  
11/1949 bác sĩ Charles được điều  
chuyển về Sài Gòn, bác sĩ quân đội  
Delabroise ra thay thế và được chỉ  
định làm trưởng trạm y tế. Ngày  
31/7/1951 bác sĩ Dương Thục Huy từ  
Chợ Lớn ra thay bác sĩ Delabroise, trị. Tuy nhiên, việc chuyển về Sài Gòn  
HỒ VIẾT HÙNG – CÁC NGUYÊN NHÂN MẮC BỆNH CỦA…  
51  
điều trị chủ yếu dành cho giám thị, gia 4. KẾT LUẬN  
đình giám thị và nhân viên nhà tù khi  
bệnh nặng, mặc dù khi bác sĩ  
Rozieres ra làm việc tại Côn Đảo, ông  
đã đấu tranh với Giám đốc nhà tù để  
đưa một số tù nhân bệnh nặng về Sài  
Gòn điều trị trong giai đoạn này.  
Tình trạng bệnh tật ở nhà tù Côn Đảo  
giai đoạn 1946 - 1954 rất trầm trọng,  
nhiều căn bệnh nguy hiểm đã cướp đi  
sinh mệnh hàng trăm tù nhân, hàng  
ngàn người sau khi ra tù vẫn tiếp tục  
chống chọi với di chứng từ bệnh tật ở  
Côn Đảo. Nguồn gốc các căn bệnh ở  
nhà tù Côn Đảo chủ yếu là do sự  
hành hạ dã man về thể  ác và tinh  
thần tù nhân; điều kiện vệ sinh môi  
trường của nhà tù dơ bẩn, các khám  
giam ẩm mốc, chật hẹp, là điều kiện  
tốt của các loại vi khuẩn bệnh tật phát  
triển và lây lan. Bên cạnh đó, chế độ  
lao động khổ sai cực nhọc, chế độ ăn  
uống của tù nhân không được đảm  
bảo trong một thời gian dài làm suy  
kiệt sức lực tù nhân, cơ thể người tù  
thiếu khả năng đề kháng trước bệnh  
tật. Bệnh tật thực sự là nỗi lo sợ của  
tù nhân, là một khía cạnh phản ánh rõ  
Lực lượng nhân viên y tế nhà tù nói  
riêng và nhân viên nhà tù nói chung  
phần nhiều chẳng thiết tha gì với công  
việc cai quản tù nhân ngoài Côn Đảo.  
Họ coi việc cai quản tù nhân là nguy  
hiểm, một phần vì nơi đây toàn những  
tù nhân án nặng, một phần vì bệnh tật  
luôn rình rập họ. Bộ phận nhân viên  
này tỏ rõ sự hời hợt với công việc, họ  
làm chủ yếu là vì đồng lương để nuôi  
sống bản thân và gia đình. Chính vì  
thế năm 1948 Giám đốc nhà tù Brulé  
trong bản báo cáo số 93C gửi giới  
hữu trách Chính phủ Nam phần khi  
phân tích thái độ làm việc của nhân  
viên phải cay đắng gọi đây là một ràng cho cái gọi là “Địa ngục trần gian  
cuộc khủng hoảng tinh thần (crise de Côn Đảo”.  
moral du personnel) của viên chức  
nhà tù.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Assitance Medicale de Poulo Condore. 1949. Rapport Medical Mensuel, mois de  
Juillet 1949, hồ sơ E03/272, Phông Tòa đại biểu Nam phần. Trung tâm Lưu trữ Quốc  
gia II.  
2. Assitance Medicale de Poulo Condore. 1949. Rapport Medical Mensuel, mois de  
October 1949, Hồ sơ E03/272, Phông Tòa đại biểu Nam phần, Trung tâm Lưu trữ Quốc  
gia II.  
3. Assitance Medicale de Poulo Condore. 1950. Rapport Medical Mensuel, mois de  
Janvier 1950, Hồ sơ E03/272, Phông Tòa đại biểu Nam phần. Trung tâm Lưu trữ Quốc  
gia II.  
4. Assitance Medicale de Poulo Condore. 1953. Rapport Medical Mensuel, mois de  
D’Avril 1953, Hồ sơ E03/272, Phông Tòa đại biểu Nam phần. Trung tâm Lưu trữ Quốc  
gia II.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (259) 2020  
52  
5. Direction des Iles du Pénitencier de Poulo - Condore. 1952. Rapport sur l'année  
1952, hồ sơ số G80-113, Phông Phủ thủ hiến Nam Việt, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.  
6. Giám đốc Tài chính. 1954. Giám đốc Tài chính gửi tỉnh trưởng Bạc Liêu về việc “Mua  
khô cho Côn Đảo”, hồ sơ số G84-114, Phông Phủ thủ hiến Nam Việt, Trung tâm Lưu trữ  
Quốc gia II.  
7. Hồ Viết Hùng. 2019. Tổng hợp báo cáo y tế nguyệt kỳ của nhà tù Côn Đảo, tư liệu  
cho đề tài nghiên cứu sinh.  
8. Minister de la Santé Publique. 1947. Direction de Cabinet, No971/MS-L, hồ sơ G80-  
81, Phông Phủ thủ hiến Nam Việt. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.  
9. Phòng Tuyên huấn Côn Đảo. 1954. Bản án xâm lược Pháp viết ngày 22/7/1954 tại  
Côn Đảo (bản viết tay).  
10. Assitance Medicale de Poulo Condore. 1951. Rapport d’assistance medicale et  
d’action sociale, hồ sơ d30-11, Phông Phủ thủ hiến Nam Việt, Trung tâm Lưu trữ Quốc  
gia II.  
11. Sud Vietnam, Direction des finaces. 1952. Order de Recette, hồ sơ 1582, Phông  
Thủ tướng Quốc gia Việt Nam, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II.  
pdf 9 trang baolam 23320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nguyên nhân mắc bệnh của tù nhân ở nhà tù Côn Đảo giai đoạn 1946-1954", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nguyen_nhan_mac_benh_cua_tu_nhan_o_nha_tu_con_dao_giai_d.pdf