Tính toán nồng độ của chất đánh dấu muối từ tín hiệu điện thế tự nhiên

TÍNH TOÁN NỒNG ĐỘ CỦA CHẤT ĐÁNH DẤU MUỐI  
TỪ TÍN HIỆU ĐIỆN THẾ TỰ NHIÊN  
Huỳnh Thị Thu Hương(1), Lại Viết Hải(1), Lê Văn Sơn(1),  
Trần Trọng Hiệu(1), Nguyễn Hữu Quang(1)  
(1) Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công nghiệp  
Ngày nhận bài 10/10/2021; Ngày gửi phản biện 15/10/2021; Chấp nhận đăng 30/11/2021  
Tóm tắt  
Ứng dụng phương pháp đo điện thế tự nhiên trong phát hiện sự di chuyển của chất  
đánh dấu muối qua dòng thấm ưu tiên trong đập được xem là giải pháp khả thi cho phép  
xác định hướng cũng như phân bố vận tốc dọc theo dòng thấm. Nhằm chứng minh mối liên  
hệ giữa tín hiệu điện thế và nồng độ muối, báo cáo đề xuất phương pháp chuyển đổi tín  
hiệu điện thế tự nhiên đo được trên bề mặt đất thành phân bố nồng độ của chất đánh dấu  
muối tại vị trí tương ứng dựa trên nghiệm giải tích của phương trình mật độ dòng điện  
tổng. Phương pháp sau đó được kiểm chứng trên số liệu thí nghiệm của Maineult và  
Bernabé (2005). Kết quả tính cho thấy nồng độ của chất đánh dấu muối chuyển đổi từ tín  
hiệu điện thế tự nhiên thực nghiệm phù hợp với giá trị tính từ phương trình vận chuyển  
khuếch tán. Bên cạnh đó, nghiên cứu cho thấy thời điểm biến thiên cực đại của tín hiệu điện  
thế thể hiện sự tương đồng với thời điểm xuất hiện chất đánh dấu tại điểm đo.  
Từ khóa: chất đánh dấu muối, đập đất, rò rỉ, điện thế tự nhiên, đường cong đáp ứng  
Abstract  
CALCULATION OF SALT TRACER CONCENTRATIONS FROM SELF -  
POTENTIAL DATA  
Applying the self-potential method to detect the transport of salt tracer through the  
dam's preferential flow paths may be a possible solution that allows determining the  
direction and velocity distribution of seepage flow. To demonstrate the relationship between  
the potential signals and the salt concentrations, the report proposes a method to invert the  
measured self-potential signals into salt tracer concentration curves based on the solution  
of the total current density equation. The method was then verified on experimental data  
published by Maineult and Bernabé (2005). The calculation results show that the  
concentration values of the salt tracer converted from the experimental self-potential  
signals agree with the calculated values from the advection-dispersion equation. In  
addition, the study shows that the time of maximum variation of the potential signal is  
consistent with the time of tracer appearance at the measurement point.  
110  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 6(55)-2021  
1. Đặt vấn đề  
Phương pháp điện thế tự nhiên là kỹ thuật địa vật lý thụ động dựa trên việc đo trường  
điện thế trên bề mặt hoặc trong lỗ khoan, hình thành bởi mật độ dòng điện nguồn bên dưới  
mặt đất bằng các điện cực không phân cực. Kể từ khi các phép đo đầu tiên được thực hiện  
bởi Fox (1830) trong khảo sát khoáng hóa sulphide (Fox, 1830), phương pháp đã được ứng  
dụng trong nhiều lĩnh vực như điều tra khoáng sản (Babu và cs., 1988; Biswas và cs.,  
2016), địa nhiệt (Corwin và cs., 1979; Revil và cs., 1999b) và địa chất thủy văn  
(Bogoslovsky và cs., 1973; Sandberg và cs., 2003). Bên cạnh đó, do nhu cầu khai thác hồ  
chứa thủy lợi và thủy điện phục vụ sản xuất và đời sống gia tăng, ứng dụng phương pháp  
điện thế tự nhiên trong khảo sát thấm rò qua đập cũng được báo cáo trong nhiều thập kỷ qua  
(Bogoslovsky và cs., 1970; Al-Saigh và cs., 1994; Moore và cs., 2011).  
Năm 2011, Bolève cộng sự đề xuất phương pháp sử dụng chất đánh dấu muối để làm  
rõ tín hiệu điện thế điện động của dòng thấm, từ đó xác định đồng thời vị trí, độ thấm,  
hướng và vận tốc thấm cũng như sự phát triển hình học của dòng thấm ưu tiên trong đập  
theo thời gian thực (Bolève và cs., 2011). Trong đó, khi bỏ qua sự đóng góp nhiệt và các  
vật dẫn electron, hai thành phần chính đóng góp vào điện thế tự nhiên gồm thế điện động –  
liên quan đến mật độ điện tích dư khi nước lưu chuyển trong kẽ rỗng, và thế điện hóa – đặc  
trưng bởi sự chênh lệch thế hóa học của các ion hòa tan trong môi trường thấm (Jouniaux  
và cs., 2009). Khả năng ứng dụng của phương pháp đã được chứng minh trong các nghiên  
cứu của Ikard và cộng sự (2012) ở quy mô phòng thí nghiệm và thực địa hiện trường (Ikard  
và cs., 2005). Tuy nhiên, mối liên hệ tường minh giữa tín hiệu điện thế và nồng độ muối  
theo thời gian di chuyển của chất đánh dấu muối dường như ít được chú ý. Maineult và  
Bernabe (2005) khảo sát khả năng theo dõi sự di chuyển của dung dịch muối bằng phương  
pháp điện thế tự nhiên trên mô hình vật lý (Maineult và cs., 2016). Trong khi đó,  
Giampaolo và cs. (2016) đề xuất phương pháp chuyển đổi tín hiệu điện thế tự nhiên thành  
nồng độ chất đánh dấu muối dựa trên phương trình Planck-Henderson, tuy nhiên bỏ qua sự  
đóng góp của thế điện động.  
Nhằm chứng minh mối liên hệ giữa tín hiệu điện thế và nồng độ muối, báo cáo đề  
xuất phương pháp chuyển đổi tín hiệu điện thế tự nhiên đo được trên bề mặt thành phân bố  
nồng độ của chất đánh dấu muối NaCl tại vị trí tương ứng. Phương pháp tính được xây  
dựng dựa trên phương trình mật độ dòng điện tổng đề xuất bởi Revil và cộng sự (2006).  
Phương pháp sau đó được kiểm chứng trên số liệu thí nghiệm của Maineult và Bernabé  
(2005).  
2. Đối tượng và phương pháp  
2.1. Cơ sở lý thuyết của phương pháp tính  
j
Vectơ mật độ dòng điện tổng  
tạo ra trường điện thế trên bề mặt được mô tả bởi  
j E js  
định luật Ohm tổng quát (Sill, 1983):  
(1) với là độ dẫn điện của môi  
111  
trường rỗng xốp (S.m-1), js là vectơ mật độ dòng điện nguồn (A.m-2), E  là  
vectơ điện trường (V.m-1) với  
là điện thế (V). Áp dụng phương trình liên tục của  
điện tích trong giới hạn tần số thấp của phương trình Maxwell (Sill, 1983): . j 0 (2)  
Khi chất đánh dấu muối di chuyển qua môi trường rỗng xốp, bỏ qua sự đóng góp  
nhiệt và các vật dẫn electron như thân quặng, mật độ dòng điện nguồn tạo ra tín hiệu  
điện thế tự nhiên được đóng góp bởi hai thành phần: mật độ dòng tải tạo bởi sự lưu  
chuyển của các điện tích dư theo pha nước trong môi trường rỗng xốp và mật độ dòng  
khuếch tán liên quan đến sự di chuyển của ion hòa tan từ nơi có nồng độ cao sang nơi  
có nồng độ thấp (Jouniaux và cs., 2009). Khi chất đánh dấu muối đặc trưng bởi ion Na+  
và Cl-, mật độ dòng điện nguồn được xác định bởi phương trình (Revil và cs., 2006;  
Revil, 1999)  
(3)  
f
js Qvv   
2t 1   
()  
Fe  
Trong đó, v   p gz là vectơ vận tốc Darcy (m/s) với  
k
là ten-xơ độ  
là áp suất kẽ rỗng  
p
thấm của môi trường (m2), là độ nhớt động lực của nước (Pa.s),  
(Pa),  
là khối lượng riêng của nước (kg/m3), g là gia tốc trọng trường (m/s2), z là độ  
chênh mực nước giữa các biên vào và ra (m) (Oltean và cs., 2002); Qv là mật độ điện tích dư (C.m-3  
mẫu cát nhồi) (Martínez-Pagán và cs., 2010); e 1,60221019 là điện tích electron (C);  
t 0,38 là số Hittorf vi mô của ion Na+ (Revil, 1999); f F là độ dẫn điện của  
nước kẽ rỗng (S/m) (Martínez-Pagán và cs., 2010). Ở điều kiện nhiệt độ xác định, độ  
dẫn điện của nước f tỷ lệ với nồng độ muối NaCl (C, mol/L) theo Phương trình  
(Maineult và cs., 2016):  
f  oC f 0  
(4)  
Với o là độ dẫn điện đương lượng của NaCl trong nước ( o 12,64 S.dm3.m-1.mol-1  
ở 25oC (Lide, 2004), f 0 là độ dẫn điện ban đầu của nước (S/m).  
Bỏ qua hiệu ứng hấp phụ, nồng độ chất đánh dấu muối được xác định bởi phương  
trình vận chuyển khuếch tán (Ingebritsen và cs., 1998):  
C  
t  
 . DC vC  
(5)  
Với  
D
là ten-xơ phân tán thủy động lực học (m2/s) và vv là vận tốc nước  
qua kẽ rỗng (m/s). Xét môi trường đẳng hướng, hệ số phân tán thủy động lực học  
D0  
D   
v*  
D0  
, trong đó là hệ số khuếch tán của NaCl trong dung dịch  
F  
112  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 6(55)-2021  
D0 1,6109 m2/s ở 25oC (Ikard và cs., 2005),  
(m).  
là tham số phân tán của môi trường  
Kết hợp Phương trình (1), (2) và (3) ta có:  
KT  
Fe  
f
(6)  
.  
  . Q v   
2t 1   
()  
v
f
F
Trong điều kiện dòng chảy ổn định trong môi trường đồng nhất, Phương trình (6)  
được viết dưới dạng một chiều:  
 f  
  
x  
KbT  
Fe  
f
(7)  
Qvv   
2t 1  
()  
x F x  
x  
Giải Phương trình (7), độ chênh lệch điện thế giữa x = x1 và x = 0:  
x1  
f x ,t  
1
KbT  
e
1
Khi t > 0:  
(8)  
  QvvF  
dx   
2t 1 Ln  
()  
t
f x,t  
0,t  
f
0
x1  
1
Q vF  
dx  
Khi t = 0:  
(9)  
v
0
0 f 0  
Cuối cùng, nghiệm giải tích một chiều mô tả độ chênh lệch điện thế do sự di  
chuyển của dòng chất đánh dấu muối có dạng:  
x1  
f x ,t  
1
1
KbT  
e
1
(10)  
EPD   QvvF  
dx   
2t 1 Ln  
()  
t
0
x,t  
0,t  
0   
f 0   
f
f
x x , x ...x  
Gọi  
là các vị trí đặt điện cực đo, trong khi x = 0 là vị trí đặt điện  
N
  
0,t  
e
1
2
t t ,t ...t  
cực tham chiếu và  
có thể biết trước. Với mỗi bước thời gian  
đo  
1  
M   
2
được độ chênh điện thế giữa điện cực đo và điện cực tham chiếu  
EPD ,EPD ...EPD  
. Với mỗi phân đoạn [x , x ], độ chênh điện thế giữa cặp điện  
N0   
i-1  
i
10  
20  
cực liền kề tại thời điểm tj:  
xi  
f x ,t  
j   
1
1
KbT  
e
i
EPDi,i1 QvvF  
dx   
2t 1 Ln  
(11)  
()  
  
f x,t  
x ,t  
f 0   
j
  
j
  
xi1  
f
i1  
Áp dụng quy tắc hình thang cho tích phân với hai điểm {xi-1, xi}:  
f x ,t  
j   
QvvFx  
1
2
1
KbT  
e
i
EPDi,i1   
Đặt:  
2t 1 Ln  
(12)  
()  
2
f 0  
x ,t  
f x ,t  
x ,t  
j
  
j
  
j
  
f
i1  
i
f
i1  
QvvFx  
KbT  
A   
(13);  
(14)  
2t 1  
B   
()  
2
e
2
1
(15)  
Y EPDi,i1 A  
BLn f x ,t  
i1  
j   
i
x ,t  
i1  
f 0   
j
  
f
113  
1
(16)  
Phương trình (12) tương đương:  
Y A  
BLn x ,t  
j   
i
f
i
x ,t  
j
  
f
i
A
f x ,t   
j   
Suy ra:  
(17)  
i
Y
i
A
B
BW  
eB  
Phương trình (17) cho phép chuyển đổi giá trị điện thế tự nhiên đo được trên bề mặt  
đất thành độ dẫn của nước thấm theo thời gian kể từ khi đánh dấu muối. Nồng độ muối  
trong nước sau đó có thể được tính toán dựa trên giá trị độ dẫn khi áp dụng Phương trình  
(4).  
2.2. Kiểm chứng phương pháp tính  
Nghiên cứu này sử dụng số liệu thí nghiệm của Maineult và Bernabé (2005) để  
kiểm chứng nghiệm giải tích (10) và phương pháp tính đề xuất.  
Maineult và Bernabe (2005) thực hiện thí nghiệm theo dõi sự di chuyển của dung  
dịch muối bằng phương pháp điện thế tự nhiên trên mô hình vật lý. Mô hình dạng hộp  
có kích thước 44,25cm × 23,75cm × 26,5cm làm bằng nhựa, được chia thành ba vùng  
bởi hai vách ngăn. Vùng thấm ở giữa được nhồi cát silic tự nhiên từ Haguenau (Pháp)  
chứa khoảng 3% khoáng fenspat kali và 1% micas và các khoáng chất đất sét, hai vùng  
còn lại đóng vai trò như thượng lưu và hạ lưu của vùng thấm. Thí nghiệm sử dụng cấu  
hình thấm Darcy để tạo dòng chảy đồng nhất qua vùng thấm. Dung dịch muối NaCl có  
nồng độ đã biết được bơm vào thượng lưu, tín hiệu điện thế tự nhiên sau đó được ghi  
nhận theo thời gian thông qua các điện cực Cu-CuSO4 đặt dọc theo dòng thấm, cách  
điện cực tham chiếu 5cm, 12cm, 19cm và 26cm. Trong thí nghiệm này, vị trí điện cực  
tham chiếu tại thượng lưu. Bên cạnh đó, nồng độ muối NaCl của nước thượng lưu và hạ  
lưu được đo thông qua đại lượng độ dẫn. Thông số của thí nghiệm được trình bày trong  
bảng 1.  
Maineult và Bernabé (2005) đưa ra nghiệm giải tích của phương trình vận chuyển  
khuếch tán mô tả độ dẫn của nước qua vùng thấm từ khi bơm muối:  
x  
exerfc  
  Dt   
vx qt  
f 0 e2D Vup  
max   
2
2 Dt  
(18)  
x,t    
f
f 0  
x  
exerfc  
  Dt  
2 Dt  
v2  
q
(19)  
   
4D2 Vup D  
Bảng 1. Thông số thí nghiệm của Maineult và Bernabé (2005).  
Thông số  
Giá trị  
Thượng lưu  
Thể tích Vup (m3)  
2,6.10-3  
114  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 6(55)-2021  
Độ dẫn cực đại của nước σmax (S/m)  
Chiều cao mực nước hup (m)  
Vùng thấm  
0,177  
0,2  
Đường kính cát nhồi dp (µm)  
292 ± 55  
0,365  
Độ rỗng Φ  
Lưu lượng thấm q (m3/s)  
Vận tốc Darcy v (m/s)  
Độ thấm k (m2)  
1,05.10-6  
2,21.10-5  
2,96.10-11  
0,00283  
1,50.10-8  
4,1  
Độ dẫn ban đầu của nước σf0 (S/m)  
Hệ số khuếch tán thủy động lực học DL (m2/s)  
Hệ số hình thành F  
Nhiệt độ T (K)  
298,15  
Hạ lưu  
Thể tích Vdown (m3)  
Chiều cao mực nước hdown (m)  
2,68.10-3  
0,2  
3. Kết quả nghiên cứu  
Maineult và Bernabé (2005) sử dụng mô hình giải tích đề xuất bởi Sill (1983) đối với  
thế điện động và phương trình Planck-Henderson đối với thế điện hóa để khớp với tín hiệu  
điện thế tự nhiên thực nghiệm (Maineult và cs., 2016). Dù được cho là hữu ích trong nhiều  
trường hợp, tuy nhiên, mô hình này không thể giải thích sự phụ thuộc của điện thế tự nhiên  
với độ thấm của môi trường đã từng được báo cáo trong nghiên cứu của Jouniaux và Pozzi  
(1995).  
Khác với hướng tiếp cận trên, báo cáo sử dụng phương trình mật độ dòng điện  
tổng đề xuất bởi Revil và cộng sự (2006) để đưa ra lời giải tường minh mô tả sự phụ  
thuộc của tín hiệu điện thế vào các thông số như vận tốc thấm, độ thấm cũng như nồng  
độ chất đánh dấu muối, được thể hiện như Phương trình (10). Kết quả so sánh số liệu thí  
nghiệm của Maineult và Bernabé (2005) và giá trị tín hiệu điện thế tự nhiên xác định từ  
Phương trình (10) cho sai số căn quân phương trung bình dưới 2,3 mV được trình bày  
trong hình 1a, cho phép xác nhận lời giải đã thiết lập.  
115  
Hình 1. a. Tín hiệu điện thế tự nhiên tại b. Nồng độ muối chuẩn hóa được chuyển  
các vị trí cách điện cực tham chiếu 5cm, đổi từ tín hiệu điện thế tự nhiên thực  
12cm, 19cm, 26cm: mô hình giải tích (nét nghiệm (điểm) so sánh với giá trị tính từ  
liền) và số liệu thí nghiệm của Maineult và phương trình vận chuyển khuếch tán một  
Bernabé (2005) (nét đứt).  
chiều (nét liền).  
Hình 1b trình bày kết quả áp dụng phương pháp chuyển đổi tín hiệu điện thế tự  
nhiên đo được trên bề mặt thành phân bố nồng độ của chất đánh dấu muối tại vị trí  
tương sử dụng số liệu thí nghiệm của Maineult và Bernabé (2005). Kết quả cho thấy  
nồng độ chuẩn hóa của chất đánh dấu muối chuyển đổi từ tín hiệu điện thế tự nhiên thực  
nghiệm phù hợp với giá trị tính từ phương trình vận chuyển khuếch tán (Phương trình  
(18-19)) với sai số căn quân phương trung bình dưới 0,002. Trong đó, nồng độ chuẩn  
hóa của chất đánh dấu muối tính:  
C(t)  
(20)  
CN (t)   
C(t)dt  
Kết quả thực nghiệm của Maineult và Bernabé (2005) cho thấy phân bố tín hiệu  
điện thế tự nhiên theo thời gian từ khi đánh dấu muối tại các vị trí cách điện cực tham  
chiếu 5cm, 12cm, 19cm, 26cm đều đồng dạng. Cụ thể, tín hiệu từ giá trị âm tăng nhanh  
qua giá trị 0, sau đó gần như chỉ giảm nhẹ theo thời gian. Maineult và Bernabé (2005) đã  
chỉ ra thời điểm tín hiệu điện thế đổi dấu sẽ tương ứng với thời gian chất đánh dấu đến các  
S
t
vị trí đo khi bỏ qua hiệu ứng phân tán thủy động lực học, ta   
(21) với S là khoảng  
a
v  
cách giữa điện cực đo và điện cực tham chiếu, vlà vận tốc nước qua kẽ rỗng.  
Giá trị ta tại các vị trí x = 5cm, x = 12cm, x = 19cm, x = 26cm lần lượt là 13,9  
phút, 33,3 phút, 52,8 phút và 72,2 phút như minh họa trong hình 2a. Như vậy, từ thời  
điểm tín hiệu điện thế thay đổi đột ngột và khoảng cách giữa điện cực đo và điện cực  
tham chiếu hoàn toàn có thể xác định được vận tốc nước qua kẽ rỗng.  
Hình 2. Minh họa thời điểm tín hiệu điện thế đổi dấu và biến thiên cực đại  
từ khi bơm chất đánh dấu muối.  
dEPD dtmax  
Hình 2b minh họa thời điểm biến thiên cực đại của tín hiệu điện thế  
84  
tại các vị trí x = 5cm, x = 12cm, x = 19cm và x = 26cm lần lượt là 11,5 phút, 29,4 phút,  
47,6 phút và 66 phút. Thời điểm này thể hiện sự tương đồng với thời điểm xuất hiện  
chất đánh dấu tại điểm đo như thể hiện trong Hình 3. Trong đó, thời điểm xuất hiện chất  
đánh dấu được xác định khi nồng độ của chất đánh dấu bắt đầu vượt giá trị phông. Theo  
Ferry và Cherry (1979), thời gian xuất hiện của chất đánh dấu tại điểm đo sớm hơn thời  
gian đến điểm đo theo lý thuyết là kết quả của quá trình phân tán thủy động lực học khi  
chất đánh dấu di chuyển trong môi trường rỗng xốp. Trong đó, một số phân tử chất đánh  
dấu di chuyển nhanh hơn vận tốc nước qua kẽ rỗng và đến điểm đo sớm hơn (Freeze,  
1979).  
Hình 3. Minh họa thời điểm đến theo lý thuyết  
và thời điểm xuất hiện của chất đánh dấu tại vị trí đo.  
4. Kết luận  
Báo cáo trình bày phương pháp chuyển đổi tín hiệu điện thế tự nhiên đo được trên bề  
mặt thành phân bố nồng độ của chất đánh dấu muối NaCl tại vị trí tương ứng dựa trên  
phương trình mật độ dòng điện tổng đề xuất bởi Revil và cộng sự (2006). Phương pháp sau  
đó được kiểm chứng trên số liệu thí nghiệm của A. Maineult và Y. Bernabé (2005). Kết quả  
cho thấy nồng độ chuẩn hóa của chất đánh dấu muối chuyển đổi từ tín hiệu điện thế tự  
nhiên thực nghiệm phù hợp với giá trị tính từ phương trình vận chuyển khuếch tán với sai  
số căn quân phương trung bình dưới 0,002. Bên cạnh đó, nghiên cứu cho thấy thời điểm  
biến thiên cực đại của tín hiệu điện thế liên quan chặt chẽ với thời điểm xuất hiện chất đánh  
dấu tại điểm đo.  
Các kết quả trên chứng minh tính khả thi của phương pháp đề xuất trong việc phân  
tích số liệu điện thế tự nhiên đo được trên bề mặt nhằm theo dõi hướng cũng như vận tốc  
lan truyền của chất đánh dấu muối qua dòng thấm ưu tiên trong đập theo thời gian.  
Lời cảm ơn  
Nghiên cứu này được thực hiện tại Trung tâm Ứng dụng kỹ thuật hạt nhân trong công  
nghiệp (Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, tại thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng)  
với kinh phí do Bộ Khoa học công nghệ Việt Nam cấp thông qua đề tài mã số  
ĐTCB.01/20/TTUDKTHN. Các tác giả xin trân trọng cảm ơn.  
116  
Tạp chí khoa học Đại học Thủ Dầu Một  
Số 6(55)-2021  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Fox, R. W. (1830). On the electromagnetic properties of metalliferous veins in the mines of  
Cornwall, Philosophical Transactions of the Royal Society, 120, 399-414.  
Babu, R. H. V., Rao. (1988). Inversion of self-potential anomalies in mineral exploration,  
Comput. Geosci, 14, 377-387.  
[1]  
[2]  
[3]  
Biswas, A., Sharma, S. P. (2016). Integrated geophysical studies to elicit the structure  
associated with uranium mineralization around South Purulia shear zone, India: A review,  
Ore Geol. Rev, 72, 1307-1326.  
Corwin, R. F., Hoover, D. B. (1979). The sefl-potential method in geothermal exploration,  
Geophysics, 44(2), 226-245.  
[4]  
Revil, A., Schwaeger, H., et al. (1999b). Streaming potential in porous media: 2. Theory and  
application to geothermal systems. Journal of Geophysical Research, 104(B9), 20033-20048.  
Bogoslovsky, V. A., Ogilvy, A. A. (1973). Deformation of natural electric fields near  
drainage structures, Geophys. Prospecting, 21, 716-723.  
[5]  
[6]  
Sandberg, S. K., Slater, L. D., Versteeg, R. (2003). An integrated geophysical investigation  
of the hydrology of an anisotropic unconfined aquifer. J. Hydrol, 267, 227-243.  
Bogoslovsky, V. A., Ogilvy, A. A. (1970). Natural potential anomalies as a quantitative index  
of the rate of seepage from water reservoirs*. Geophysical Prospecting, 18(2), 261-268.  
Al-Saigh, N. H., Mohammed, Z. S., Dahham, M. S. (1994). Detection of water leakage from  
dams by self-potential method. Engineering Geology, 37, 115-121.  
[7]  
[8]  
[9]  
Moore, J. R., Boleve, A., et al. (2011). Self-potential investigation of moraine dam seepage.  
Journal of Applied Geophysics, 74, 277-286.  
[10]  
Bolève, A., Janod, F., et al. (2011). Localization and quantification of leakages in dams  
using time-lapse self-potential measurements associated with salt tracer injection. Journal  
of Hydrology, 403, 242-252.  
[11]  
Jouniaux, L., Maineult, A., Naudet, V. (2009). Review of self-potential methods in  
hydrogeophysics. C. R. Geoscience, 341, 928-936.  
[12]  
[13]  
Ikard, S. J., Revil, A., et al. (2005). Saline pulse test monitoring with the self-potential  
method to nonintrusively determine the velocity of the pore water in leaking areas of earth  
dams and embankments. Water Resource Research, 48(W04201).  
Maineult, A., Bernabe, Y. (2016). Detection of advected concentration and pH fronts from  
self-potential measurements. Journal of Geophysical Research, 110(B11205).  
Giampaolo, V., Calabrese, D., Rizzo, E. (2016). Transport Processes in Porous Media by  
Self-Potential Method. Applied and Environmental Soil Science.  
[14]  
[15]  
[16]  
Revil, A., Linde, N. (2006). Chemico-electromechanical coupling in microporous media.  
Journal of Colloid and Interface Science, 302, 682-694.  
Sill, W.R. (1983). Self-potential modeling from primary flows. Geophysics, 48, 76-86.  
Revil, A. (1999). Ionic diffusivity, electrical conductivity, membrane and thermoelectric potentials  
in colloids and granular porous media: A unified model. J. Colloid Interface Sci, 212, 503-522.  
Oltean, C., Buès, M. A. (2002). Infiltration of salt solute in homogeneous and saturated porous  
Media - An analytical solution evaluated by numerical simulations. Transp. Porous Media, 48, 61-  
78.  
[17]  
[18]  
[19]  
117  
Jardani, A., Revil, A., et al. (2007). Tomography of the Darcy velocity from self-potential  
measurements. Geophys. Res. Lett, 34(L24403).  
[20]  
[21]  
Martínez-Pagán, P., Jardani, A., et al. (2010). Self-potential monitoring of a salt plume.  
Geophysics, 75(4), WA17 - WA25.  
Lide, D. R. (2004). CRC Handbook of Chemistry and Physics. CRC Press.  
Ingebritsen, S. E., Sanford, W. E. (1998). Groundwater in Geologic Processes. The Press  
Syndicate of The University of Cambridge.  
[22]  
[23]  
Jouniaux, L., Pozzi, J. P. (1995). Streaming potential and permeability of saturated  
sandstones under triaxial stress: Consequences for electrotelluric anomalies prior to  
earthquakes. J. Geophys. Res, 100, 10197-10209.  
[24]  
[25]  
Freeze, R. A, Cherry, J. A. (1979). Groundwater, Prentice – Hall.  
118  
pdf 10 trang baolam 24320 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tính toán nồng độ của chất đánh dấu muối từ tín hiệu điện thế tự nhiên", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftinh_toan_nong_do_cua_chat_danh_dau_muoi_tu_tin_hieu_dien_th.pdf