Giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng Tây Bắc
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
SOLUTIONS TO IMPROVE THE QUALITY OF VOCATIONAL
TRAINING FOR RURAL WORKERS IN THE NORTHWEST*
Nguyen Quang Honga
Vuong Thi Bich Thuyb
Academy of Politics Region I
Received:
Reviewed:
Revised:
Accepted:
Released:
03/9/2021
14/9/2021
18/9/2021
27/9/2021
30/9/2021
he Northwest is an area with an important strategic position in terms of economy-society, defense-
T
security and foreign affairs ofVietnam. Improving the quality of vocational training for rural workers
is one of the important and urgent tasks, in order to contribute to the successful implementation of the new
rural construction, improve the efficiency of socio-economic development. On the basis of assessing the
current situation of vocational training for rural workers in the Northwest, the article proposes a number of
solutions to improve the quality of vocational training for rural workers in the Northwest in the near future.
Keywords: Vocational training; Northwest region; Rural labor; Solution impoving the quality.
1. Đặt vấn đề
phát huy hết được vai trò quan trọng của mình trong
công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần
thực hiện tiêu chí nông thôn mới, tái cơ cấu ngành
nông nghiệp, chuyển một bộ phận lao động nông
thôn (LĐNT) sang lĩnh vực công nghiệp, dịch vụ.
Điều đáng nói lực lượng LĐNT đã qua đào tạo tại
các tỉnh Tây Bắc thấp hơn so với mức trung bình
của cả nước và không đồng đều giữa các tỉnh.
LĐNT được đào tạo nghề chủ yếu là trình độ sơ
cấp, đào tạo dưới 3 tháng, trình độ trung cấp, cao
đẳng còn thấp. Ngoài tỉnh Điện Biên và tỉnh Hoà
Bình có sự gia tăng đáng kể lực lượng lao động đã
qua đào tạo, các tỉnh còn lại gồm Sơn La, Lào Cai,
Tây Bắc có dân số chủ yếu tập trung tại các vùng
nông thôn, vì vậy, nguồn nhân lực nông thôn của
các tỉnh Tây Bắc có vai trò rất quan trọng trong phát
triển kinh tế - xã hội của các tỉnh thuộc vùng này
nói riêng và cả nước nói chung. Năm 2009, Ban chỉ
đạo Tây Bắc xác định 3 khâu đột phá chiến lược của
toàn vùng, trong đó “Phát triển nhanh nguồn nhân
lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, trọng
tâm là đổi mới cơ bản công tác giáo dục và đào tạo,
dạy nghề cho người lao động, nhất là thanh niên”
là một đột phá vừa mang tính cấp bách, vừa mang
tính lâu dài nhằm đẩy mạnh và tạo chuyển biến rõ
nét về công tác giáo dục, đào tạo, nâng cao dân trí, Yên Bái và Lai Châu, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo
trình độ tay nghề, từng bước hình thành đội ngũ lao thấp hơn rõ rệt. Thực tế giáo dục đào tạo, nâng cao
động lành nghề đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới
đất nước.
trình độ nguồn nhân lực nông thôn tại các tỉnh thuộc
địa bàn Tây Bắc gặp rất nhiều khó khăn; trình độ lao
động lại có sự chênh lệch giữa các tỉnh và biến động
khó kiểm soát. Do đó, cần đánh giá thực trạng công
Tuy nhiên, chất lượng nguồn nhân lực nông thôn
của các tỉnh Tây Bắc hiện nay vẫn còn thấp, chưa
* Bài viết là kết quả nghiên cứu của đề tài: “Nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực nông thôn ở các tỉnh
Tây Bắc hiện nay”, mã số: CSTC.04-21.
28
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
tác đào tạo nghề cho LĐNT vùng Tây Bắc để tìm
P. Hurst và cộng sự (2007) trong công trình “Lao
ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng công động nông nghiệp và đóng góp của họ cho nông
tác đào tạo nghề cho LĐNT vùng Tây Bắc trong nghiệp bền vững và phát triển nông thôn” đã nghiên
thời gian tới. Các giải pháp nâng cao chất lượng đào cứu vai trò của người lao động nông nghiệp cho
tạo nghề cho LĐNT là hết sức cần thiết, góp phần
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn, đẩy
mạnh quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tăng
cường phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh, nhanh
chóng hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới
tại các tỉnh Tây Bắc.
sự phát triển nông nghiệp bền vững dưới 4 yếu tố:
một là mức độ tham gia của người lao động nông
nghiệp; hai là vấn đề nhận thức của người dân về
vai trò lao động nông nghiệp với sự phát triển nông
nghiệp bền vững; ba là năng lực quản lý của các tổ
chức nông nghiệp và các dịch vụ khuyến nông; bốn
là sự hợp tác của các nghiệp đoàn trong phát triển
lao động nông nghiệp. Nghiên cứu cũng phân tích
để khẳng định vai trò quan trọng của đào tạo nghề
cho LĐNT.
2. Tổng quan nghiên cứu
Nghiên cứu về đào tạo nghề cho LĐNT là một
trong những nội dung được nhiều học giả quan tâm
qua số lượng lớn các tài liệu và công trình nghiên
cứu, trong đó, nổi bật có một số nghiên cứu sau:
Tác giả Nguyễn Văn Đại (2012) trong công
trình “Đào tạo nghề cho LĐNT vùng Đồng bằng
sông Hồng trong thời kỳ công nghiệp hóa - hiện đại
hóa”, đã nghiên cứu LĐNT dưới tác động của đào
tạo nghề. Tác giả đã luận chứng được yếu tố đào
tạo nghề có vai trò quan trọng đối với nâng cao chất
lượng nông dân, đã hệ thống được các yếu tố ảnh
hưởng đến đào tạo nghề cho LĐNT. Tuy nhiên tác
giả chưa đề cập đến những nhu cầu đào tạo và sự
cần thiết đào tạo cho nhóm đối tượng này. Hơn nữa
chưa đưa ra được những dự báo về đào tạo nghề và
mục đích đào tạo nghề trong dài hạn và phù hợp với
quy hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn trong
khu vực.
Công trình “Đào tạo nguồn nhân lực phục vụ
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn
Việt Nam” (2003) của tác giả Trần Thanh Bình đã
làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn, tính tất yếu của
đào tạo nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp
hóa - hiện đại hóa nông thôn Việt Nam; đã xem xét
các hoạt động đào tạo nguồn nhân lực về kiến thức
chuyên môn nghiệp vụ để đảm nhận một số công
việc nhất định phục vụ cho quá trình công nghiệp
hóa - hiện đại hóa nông thôn; đã chỉ ra thực trạng
vấn đề đào tạo trong nông nghiệp qua 10 năm, từ đó
phân tích sự khác nhau giữa trình độ đào tạo ngành
nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ. Nghiên cứu
này đã chỉ ra: một là để chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và LĐNT thì cần phải tăng cường đào tạo nghề
phi nông nghiệp cho nông dân; hai là phải đổi mới
việc xây dựng kế hoạch đào tạo nhân lực cho nông
thôn thời kỳ mới; ba là hệ thống thông tin nông thôn
có vai trò rất quan trọng để giải quyết việc làm và
sử dụng hiệu quả LĐNT; bốn là kiểm soát được
lượng nhu cầu đào tạo và lĩnh vực đào tạo sẽ là căn
cứ khoa học cho xây dựng quy hoạch đào tạo cho
LĐNT. Tuy nghiên cứu đã chỉ ra tầm quan trọng của
đào tạo đối với công nghiệp hóa - hiện đại hóa nông
thôn nhưng chưa nêu được mức độ ảnh hưởng của
đào tạo so với các nhân tố tác động khác trong quá
trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa.
Như vậy, các công trình nghiên cứu trong và
ngoài nước về nâng cao chất lượng đào tạo, bồi
dưỡng nguồn nhân lực nông thôn đã làm sáng tỏ
nhiều khía cạnh liên quan đến chất lượng đào tạo
LĐNT... Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu
nghiên cứu về đào tạo nghề cho LĐNT các tỉnh Tây
Bắc. Vì vậy, theo hướng này, nghiên cứu tập trung
phân tích và đánh giá thực trạng hoạt động đào tạo
nghề cho LĐNT tại các tỉnh Tây Bắc hiện nay, trên
cơ sở đó đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao
chất lượng đào tạo nghề cho LĐNT tại Tây Bắc,
góp phần nâng cao nguồn nhân lực nông thôn các
tỉnh Tây Bắc trong thời gian tới.
3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu của D.S. Prasada Rao và cộng tác
viên (2004) đi vào vấn đề “Tăng năng suất nông
nghiệp, việc làm và đói nghèo ở các nước đang phát
triển”. Nghiên cứu tập trung vào việc tăng năng suất
cho lao động nông nghiệp để tạo việc làm cho lao
động thuộc diện đói nghèo và chỉ ra rằng việc làm
với năng suất lao động nông nghiệp có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau, muốn tăng năng suất phải có cơ
hội làm các công việc tốt. Nghiên cứu cũng chỉ ra
các nhân tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng đến
đào tạo nghề cho LĐNT.
Bài viết sử dụng một số phương pháp nghiên
cứu như: Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp,
phương pháp chuyên gia, phương pháp tổng hợp,
phân tích nhằm góp phần làm rõ hơn thực trạng
công tác đào tạo nghề cho LĐNT tại các tỉnh vùng
Tây Bắc hiện nay.
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Đánh giá hiệu quả chính sách đào tạo
nghề cho lao động nông thôn vùng Tây Bắc
Thời gian qua, công tác đào tạo nghề đã được
Volume 10, Issue 3
29
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
quan tâm, nên nguồn nhân lực đã qua đào tạo của Tây Bắc tăng dần qua các năm. Tỉnh Hoà Bình và tỉnh
Điện Biên có tỷ lệ nhân lực trên 15 tuổi đã qua đào tạo vượt mức trung bình cả nước. Tại tỉnh Lai Châu,
năm 2020, số lao động được đào tạo nghề và giải quyết việc làm tăng: đào tạo nghề cho 5.077 lao động,
nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo, tập huấn lên 39%; giải quyết việc làm cho 6.700 lao động, trong đó xuất
khẩu 100 lao động (Cuc Thong ke tinh Lai Chau, 2021). Năm 2020, tỉnh Yên Bái tạo việc làm mới cho
18.174 lao động, xuất khẩu lao động đạt 742 người (Cuc Thong ke tinh Yen Bai, 2021). Mạng lưới đào tạo
nghề tiếp tục được quan tâm đầu tư; thực hiện hỗ trợ đào tạo, giới thiệu việc làm cho lao động nông thôn;
tăng cường phối hợp giữa công tác đào tạo nghề gắn với yêu cầu sử dụng lao động tại các doanh nghiệp.
Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2020 đạt 46,8%. Tỷ lệ giảm hộ nghèo là 4,5%, vượt mục tiêu đề ra.
Bảng 1. Số lượng lao động được đào tạo nghề nông nghiệp giai đoạn 2016-2020 vùng Tây Bắc
Tổng số lao động
được đào tạo
Trình độ
Cao đẳng
Trình độ
trung cấp
Trình độ
sơ cấp
Trình độ
dưới 3 tháng
Tỉnh, Thành
phố
TT
2016 – 2020
61.118
2016-2020
3.435
5.178
-
2016-2020
12.308
10.540
-
2016-2020
20.266
18.229
2.261
2016-2020
25.109
1
2
3
Lào Cai
Yên Bái
78.750
44.803
Điện Biên
14.902
12.641
4
5
6
Lai Châu
Sơn La
31.465
16.812
4.148
100
590
-
1.739
2.323
-
11.850
5.560
60
17.776
8.339
4.088
Hoà Bình
Nguồn. Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Báo cáo “Nghiên cứu thực trạng đào tạo nghề và đề xuất
giải pháp, chính sách đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn giai đoạn 2021-2030”, năm 2019
Hiện nay, vùng Tây Bắc đã có hệ thống các cơ sở đào tạo nhân lực, trong đó bao gồm đào tạo nghề cho
LĐNT. Những cơ sở đào tạo chính trong hệ thống bao gồm: Trường Đại học Tây Bắc, Cao đẳng Sơn La,
Cao đẳng nghề Yên Bái, Cao đẳng cơ điện Tây Bắc... Ngoài ra, các cơ sở đào tạo nghề cho LĐNT như
các trung tâm dạy nghề, trung tâm giáo dục thường xuyên cũng tham gia tổ chức đào tạo, bồi dưỡng. Theo
thống kê, toàn vùng hiện có có 2 trường đại học, 23 trường cao đẳng nghề, 20 trường trung cấp nghề, 44
trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên, 997 trung tâm học tập cộng đồng.
Bảng 2. Số lượng cơ sở dạy nghề của các tỉnh vùng Trung du và miền núi phía Bắc
Các cơ sở đào tạo, giáo dục nghề nghiệp
Dân số
(nghìn người,
2016)
TT GDNN và
GD thường
xuyên
STT
Tỉnh
TT học tập
cộng đồng
Trường ĐH Trường CĐ Trường TC
1
2
3
Điện Biên
Lào Cai
Sơn La
557,4
684,3
0
1
1
4
3
4
0
2
2
9
7
0
131
164
204
1.208,0
4
5
6
Yên Bái
Hoà Bình
Lai Châu
800,1
831,3
436,0
0
0
0
5
6
1
3
1
2
9
11
8
180
210
108
Tổng hợp
4517,1
2
23
10
44
997
Nguồn. Báo cáo của Văn phòng Tây Bắc – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội
30
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
Tuy nhiên, bên cạnh một số kết quả đạt được, này dẫn tới người được đào tạo đôi khi chưa đủ kỹ
công tác đào tạo nghề tại Tây Bắc còn một số tồn năng để áp dụng vào sản xuất thực tiễn và gây khó
tại, hạn chế sau:
khăn khi họ muốn tham gia lực lượng lao động cho
doanh nghiệp, hợp tác xã và các chuỗi liên kết giá
trị cao (đòi hỏi phải có chứng chỉ học nghề).
Một là, tỷ lệ lao động được đào tạo nghề nông
nghiệp còn thấp so với lực lượng lao động nông
nghiệp và nhu cầu phát triển của ngành.
Tám là, việc lựa chọn học viên chưa thực sự đáp
ứng nhu cầu của học viên. Bản thân lao động chưa
xác định đúng mục đích học nghề là để nâng cao
trình độ để phát triển sản xuất cho bản than và gia
đình, nên vẫn học theo phong trào.
Hai là, cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa theo
kịp yêu cầu thực tế, chưa gắn với quá trình tái cơ
cấu nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới cũng
như định hướng phát triển của địa phương. Các
khóa đào tạo nghề nông nghiệp để triển khai mục
tiêu khởi nghiệp nông nghiệp, thành lập trang trại,
doanh nghiệp nông nghiệp, phát triển chương trình
OCOP hay ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất
nông nghiệp còn rất hạn chế.
Chín là, so với các vùng khác trên cả nước, việc
xã hội hóa công tác đào tạo nghề và giải quyết việc
làm cho LĐNT các địa phương vùng Tây Bắc gặp
nhiều khó khăn.
4.2. Một số giải pháp giúp nâng cao chất lượng
công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn
vùng Tây Bắc
Ba là, số lượng lao động được đào tạo cho các
hợp tác xã, doanh nghiệp, đào tạo cho lao động
trong vùng sản xuất hàng hóa, sản xuất công nghệ
cao, lao động là xã viên hợp tác xã, trang trại còn
đạt thấp. Mặc dù đã đặt ra mục tiêu đào tạo theo cơ
cấu 50% là lao động làm việc trong doanh nghiệp
hoặc vùng nguyên liệu của doanh nghiệp; 20% lao
động thuộc các hợp tác xã nông nghiệp và 30% là
đào tạo an sinh cho các đối tượng chính sách, vùng
khó khăn, biên giới, hải đảo nhưng trên thực tế tỷ lệ
này tương ứng là 26% - 24% - 50%.
Để nâng cao hiệu quả công tác đào tạo nghề cho
LĐNT vùng Tây Bắc, cần thực hiện đồng bộ một số
giải pháp sau:
Thứ nhất, ban hành cơ chế, chính sách, nhất là
các chính sách đặc thù phù hợp với điều kiện cả
vùng Tây Bắc.
Đối với chính sách đầu tư để phát triển giáo dục
nghề nghiệp cần: Tăng nguồn ngân sách nhà nước
(thông qua Chương trình mục tiêu quốc gia về Giáo
dục nghề nghiệp - Việc làm - An toàn lao động giai
đoạn 2020-2025 và Đề án đào tạo nghề cho LĐNT
giai đoạn 2020-2025); ưu tiên các nguồn vốn từ các
dự án ODA của nước ngoài phát triển đào tạo nghề
để góp phần giảm nghèo và tạo sinh kế cho người
lao động vùng Tây Bắc; khuyến khích và huy động
các doanh nghiệp, các nhà đầu tư trong và ngoài
nước đầu tư vào đào tạo nghề.
Bốn là, tình trạng liên kết giữa cơ sở đào tạo lao
động và đối tượng sử dụng lao động, cùng đào tạo
còn yếu. Một số doanh nghiệp, cơ sở sử dụng lao
động không muốn tuyển lao động đã qua đào tạo
do không đáp ứng được yêu cầu của doanh nghiệp
trong khi lại phải trả mức lương cao hơn.
Năm là, chính sách cho giáo viên đào tạo nghề
còn nhiều bất cập vì vậy tình trạng thiếu giáo viên
cơ hữu, hoặc đội ngũ giáo viên hạn chế về năng
lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ (đặc biệt ở cấp
huyện) vẫn tồn tại. Ngoài ra, đối với cơ sở giáo dục
nhà nước, trang thiết bị, máy móc thực hành còn
thiếu hoặc đã lỗi thời. Vì vậy, nhiều lao động đã qua
đào tạo vẫn phải đào tạo lại tại các doanh nghiệp
hoặc khó áp dụng trên thực tiễn sản xuất.
Bên cạnh đó, cần xây dựng và ban hành các
chính sách đào tạo gắn với việc làm tại chỗ, với sinh
kế và giảm đói nghèo; Chính sách hỗ trợ đào tạo
và các hoạt động sau đào tạo theo định hướng thị
trường và được thực hiện thông qua tiềm năng của
cộng đồng; Chính sách đối với cán bộ quản lý và
đội ngũ nhà giáo thuộc các vùng có điều kiện kinh
tế - xã hội khó khăn và đặc biệt khó khăn (miền núi,
vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số.); Chính
sách hỗ trợ (học bổng, trợ cấp xã hội, tín dụng...)
cho học sinh- sinh viên, đối tượng là người nghèo,
người dân tộc thiểu số, LĐNT; Chính sách đầu tư
hỗ trợ doanh nghiệp thông qua cơ chế đặt hàng đào
tạo theo nhu cầu nhân lực của doanh nghiệp.
Sáu là, giáo trình, tài liệu đào tạo chưa tốt,
phương pháp đào tạo chưa phù hợp. Việc dạy và
học nghề ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, cá
biệt còn có tình trạng chạy theo số lượng, chưa quan
tâm đến chất lượng và nhu cầu chất lượng lao động
của doanh nghiệp, hợp tác xã và nhu cầu học nghề
của người lao động.
Bảy là, về trình độ đào tạo, trong giai đoạn qua,
đào tạo nghề nông nghiệp chủ yếu tập trung vào đào
tạo không có chứng chỉ mà chưa chú trọng tới đào
tạo ở trình độ sơ cấp nghề trở lên có chứng chỉ. Điều
Ngoài ra, cần phát huy vai trò của doanh nghiệp,
người sử dụng lao động, hiệp hội nghề nghiệp trong
việc xây dựng chiến lược, kế hoạch, quy hoạch,
chính sách phát triển, chương trình, dự án đào tạo
Volume 10, Issue 3
31
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
nghề tại các tỉnh vùng Tây Bắc.
tổ chức đào tạo nghề theo chuỗi giá trị (đào tạo-sản
xuất- tiêu thụ sản phẩm). 3) Tập trung các mô hình
đào tạo nghề cho LĐNT theo lĩnh vực ngành nghề
linh hoạt và phù hợp như: Nghề nông nghiệp, nghề
phi nông nghiệp và các nghề dịch vụ và du lịch, các
nghề thủ công.
Thứ hai, chính quyền (vùng, tỉnh, huyện, xã) cần
chủ động và khuyến khích sự hợp tác giữa người
lao động - doanh nghiệp- cơ sở đào tạo - nhà phân
phối- nhà khoa học (5 nhà) trong phát triển sản
xuất, kinh doanh và đào tạo nghề, giải quyết việc
làm cho LĐNT.
Thứ năm, xây dựng quy hoạch phát triển đội ngũ
cán bộ quản lí, giáo viên dạy nghề trong các lĩnh
vực nghề nghiệp
Kinh nghiệm tổ chức các hội chợ do huyện Mộc
Châu (tỉnh Sơn La) tổ chức đã cho nhiều bài học
bổ ích về vai trò của chính quyền địa phương trong
việc kết nối các tổ chức, cá nhân vì sự nghiệp phát
triển kinh tế và nguồn nhân lực của huyện. Việc chủ
động tổ chức các hội chợ, các buổi gặp gỡ 3- 4 -
5 nhà trong sản xuất, kinh doanh, đào tạo nghề và
việc làm là giải pháp đa mục tiêu trong phát triển
kinh tế- xã hội của địa phương vùng Tây Bắc và là
kênh thông tin quan trọng trong quản lí nhà nước về
các vấn đề nêu trên của các cấp chính quyền. Điều
này rất cần thiết đối với các huyện miền núi trong
bối cảnh sức cạnh tranh còn hạn chế.
Phân tích tiềm năng và đánh giá tình hình, nhu
cầu phát triển nguồn nhân lực cần đào tạo của địa
phương; xây dựng tầm nhìn, chiến lược phát triển
đội ngũ giáo viên dạy nghề trên địa bàn địa phương
và của các cơ sở đào tạo nghề của tỉnh, huyện. Bên
cạnh đó, cần đổi mới công tác tuyển chọn, sử dụng
đội ngũ cán bộ quản lí, giáo viên dạy nghề và kĩ
thuật viên. Bồi dưỡng, phát triển nghề nghiệp giáo
viên dạy nghề. Trong đó, cần chú trọng đổi mới
phương thức bồi dưỡng, đào tạo lại. Hoàn thiện hệ
thống chính sách đối với cán bộ quản lí, giáo viên
dạy nghề, nhân viên thực hành; tạo động lực làm
việc cho đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên;
thu hút các nguồn nhân lực của địa phương tham gia
công tác giáo dục nghề nghiệp cho người lao động.
Thứ ba, xã hội hóa công tác đào tạo nghề; giải
quyết việc làm cho LĐNT theo đặc thù vùng Tây Bắc.
Cần đẩy mạnh xã hội hoá, đa dạng hoá các
ngành nghề kinh tế của địa phương và của vùng.
Nguồn gốc và động lực của phát triển nguồn nhân
lực qua đào tạo và thu hút việc làm là phát triển sản
xuất, kinh doanh trên nền tảng phát triển khoa học,
công nghệ, dựa trên cơ sở tài nguyên xanh của mỗi
địa phương và của cả vùng.
Thứ sáu, tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết
bị, nguồn lực tài chính cho các cơ sở đào tạo nghề
của các địa phương vùng Tây Bắc
Hoàn thiện quy hoạch mạng lưới cơ sở dạy
nghề một cách cụ thể theo ngành, nghề, theo vùng.
Nghiên cứu, phân tích, tổng kết, đánh giá hiệu quả
của Trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục
thường xuyên huyện, từ đó có giải pháp phù hợp.
Rà soát, xây dựng quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo
dục nghề nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi
người dân có cơ hội tiếp cận với các dịch vụ đào tạo
nghề. Cụ thể là: 1) Rà soát, sắp xếp cơ sở giáo dục
nghề nghiệp theo hướng chuẩn hóa, giảm đầu mối,
tăng quy mô tuyển sinh và nâng cao chất lượng,
hiệu quả hoạt động; 2) Sáp nhập các cơ sở giáo
dục nghề nghiệp có cùng ngành, nghề, trình độ đào
tạo hoặc các cơ sở giáo dục nghề nghiệp trên cùng
địa bàn để tăng quy mô, nâng cao chất lượng và
hiệu quả đào tạo theo yêu cầu của địa phương; 3)
Thí điểm mô hình thực hiện cơ chế hoạt động tự
chủ tự chịu trách nhiệm về tài chính đối với một
số cơ sở đào tạo nghề có năng lực quản lý và hiệu
quả; 4) Tập trung đầu tư xây dựng một số trường
trọng điểm (bằng nguồn vốn của chương trình mục
tiêu giai đoạn 2020-2025) để làm nòng cốt về chất
lượng và đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề cao cho
một số ngành nghề trọng điểm phát triển kinh tế -
xã hội trong vùng; 5) Kết nối mạng cơ sở đào tạo
nghề của các tỉnh vùng Tây Bắc để hỗ trợ, bổ sung
Thứ tư, lựa chọn phương thức và các mô hình
đào tạo nghề cho LĐNT phù hợp với đặc thù của
vùng Tây Bắc.
Đào tạo thường xuyên là phương thức chủ yếu
thực hiện ở vùng Tây Bắc, tập trung phát triển
phương thức và các chương trình đào tạo thường
xuyên đối với tất cả các trình độ đào tạo nhưng đặc
biệt quan tâm đến các chương trình sơ cấp và ngắn
hạn (dưới 3 tháng). Các chương trình đào tạo thời
gian ngắn như: 1) Chương trình đào tạo thường
xuyên theo yêu cầu của người học; 2) Chương trình
bồi dưỡng, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng
nghề nghiệp; 3) Chương trình đào tạo theo hình
thức kèm cặp nghề, truyền nghề, tập nghề; chương
trình chuyển giao công nghệ; 4) Chương trình đào
tạo nghề từ xa...
Nghiên cứu áp dụng các mô hình đào tạo linh
hoạt phù hợp với phong tục tập quán, truyền thống
văn hóa và điều kiện tự nhiên của vùng như: 1) Đào
tạo di động: Các cơ sở đào tạo đưa giáo viên và
thiết bị đến các vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao,
vùng đặc biệt khó khăn để đào tạo nghề cho người
lao động đội ngũ; 2) Đào tạo dựa vào cộng đồng để
32
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
và phối hợp chia sẻ thông tin và sử dụng năng lực Thực tế, kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động
nông nghiệp ở nhiều địa phương thường được phê
duyệt chậm (đến tháng 5 mới cấp kinh phí) nên đa
phần các tỉnh không chủ động trong triển khai các
hoạt động đào tạo trong năm tại địa phương. Trong
nhiều trường hợp không bám sát được chu kỳ, mùa
vụ sản xuất để học viên có điều kiện thực hành. Bên
cạnh đó, định mức hỗ trợ mở lớp đào tạo còn thấp
hơn nhiều so với chi phí thực tế.
về đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất của từng trường
đào tạo nhân lực cho toàn vùng.
5. Thảo luận
Lực lượng LĐNT là nòng cốt của nguồn nhân
lực các tỉnh vùng Tây Bắc, có vai trò quan trọng
trong, phát triển kinh tế xã hội, thực hiện các mục
tiêu về nông thôn mới. Đào tạo nghề cho LĐNT tại
các tỉnh vùng Tây Bắc tuy đã đạt được một số kết
quả nhất định, nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần đặt
ra, đặc biệt là về vấn đề cơ chế, chính sách hỗ trợ
đào tạo nghề cho LĐNT.
Cơ chế chính sách chưa tạo thuận lợi cho doanh
nghiệp sử dụng lao động được tham gia trong quá
trình đào tạo người lao động cho doanh nghiệp.
Chưa huy động được sự tham gia của doanh nghiệp
có cơ sở hạ tầng, trang thiết bị máy móc hiện đại
vào quá trình đào tạo để khắc phục các hạn chế của
các cơ sở đào tạo nghề chuyên nghiệp về máy móc,
trang thiết bị, học cụ.
Cơ chế phối kết hợp giữa các ban, ngành chưa
chặt chẽ. Một số địa phương, Sở Lao động, Thương
binh và Xã hội và Sở Nông nghiệp và Phát triển
nông thôn phối hợp chưa tốt khi xây dựng kế hoạch
đào tạo khiến cho việc triển khai còn bị động, chưa
đạt hiệu quả cao. Cơ chế chính sách hỗ trợ đào tạo
nghề còn giới hạn về đối tượng thụ hưởng (độ tuổi
tham gia học nghề, số lần được đào tạo nghề, người
lao động di cư từ địa phương khác đến, chế độ chính
sách cho người nghèo và người lao động nông thôn
khác tham gia đào tạo...) gây cản trở cho đối tượng
tiếp cận.
6. Kết luận
LĐNT là nòng cốt của nguồn nhân lực của các
tỉnh vùng Tây Bắc, có vai trò quan trọng trong phát
triển kinh tế xã hội. Việc nâng cao chất lượng công
tác đào tạo nghề cho LĐNT vùng Tây Bắc sẽ giúp
nâng cao đời sống của người dân, đẩy nhanh quá
trình xây dựng nông thôn mới và thúc đẩy phát triển
kinh tế - xã hội của các địa phương tại Tây Bắc.
Tuy nhiên, chất lượng công tác đào tạo nghề cho
LĐNT tại các tỉnh vùng Tây Bắc hiện vẫn còn một
số tồn tại, hạn chế. Để khắc phục các hạn chế, từ đó
nâng cao chất lượng của công tác đào tạo nghề cho
LĐNT vùng Tây Bắc, cần sự phối hợp đồng bộ của
chính quyền các tỉnh và địa phương trong vùng, các
Hệ thống chính sách chưa đồng bộ. Những chính
sách hỗ trợ đi kèm như: cho vay vốn tín dụng, đất
đai, tạo điều kiện để học viên áp dụng kiến thức đào
tạo, mở rộng sản xuất còn hạn chế, triển khai còn
gặp nhiều khó khăn.
Cơ chế phân bổ, quản lý, sử dụng kinh phí thực
hiện các chương trình dạy nghề nông thôn nói chung, cơ sở dạy nghề và đặc biệt là sự tham gia tích cực
dạy nghề nông nghiệp nói riêng còn nhiều hạn chế. của người LĐNT./.
Tai lieu tham khao
Bo Nong nghiep va Phat trien nong thon. (2019).
Nghien cuu thuc trang dao tao nghe va de
xuat giai phap, chinh sach dao tao nghe
nong nghiep cho lao dong nong thon giai
doan 2021-2030. Bao cao, Ha Noi.
Dai, N. V. (2012). Dao tao nghe cho lao dong
nong thon vung dong bang song Hong trong
thoi ky cong nghiep hoa, hien dai hoa.
Gibbs, R. et al. (1998). Rural education and
training in the new economy: The myth of the
rural skills gap.
Binh, T. T. (2003). Dao tao nguon nhan luc phuc
vu qua trinh cong nghiep hoa, hien dai hoa
nong thon Viet Nam.
Hurst, P. et al. (2005). Agricultural workers and
their contribution to sustainable agriculture
and rural development.
Cuc Thong ke tinh Lai Chau. (2021). Nien giam
thong ke tinh Lai Chau 2020. Ha Noi: Nxb.
Thong ke.
Rao, D. et al. (2004). Agricultural productivity
growth, employment and poverty in
developing countries, 1970-2000.
Cuc Thong ke tinh Yen Bai. (2021). Nien giam
thong ke tinh Yen Bai 2020. Ha Noi: Nxb.
Thong ke.
Volume 10, Issue 3
33
CHIẾN LƯỢC VÀ CHÍNH SÁCH DÂN TỘC
GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÔNG TÁC
ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN
VÙNG TÂY BẮC
Nguyễn Quang Hồnga
Vương Thị Bích Thủyb
Học viện Chính trị khu vực I
Ngày nhận bài:
03/9/2021
Ngày phản biện: 14/9/2021
Ngày tác giả sửa: 18/9/2021
Ngày duyệt đăng: 27/9/2021
Ngày phát hành: 30/9/2021
ây Bắc là địa bàn có vị trí chiến lược quan trọng về kinh tế-xã hội, quốc phòng-an ninh và đối ngoại
T
của Việt Nam. Để phát triển vùng Tây Bắc, việc nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho lao động
nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng và cấp thiết, nhằm góp phần thực hiện thành công
công cuộc xây dựng nông thôn mới, nâng cao hiệu quả phát triển kinh tế-xã hội. Trên cơ sở đánh giá thực
trạng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng Tây Bắc, bài viết đề xuất một số giải pháp góp
phần nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng Tây Bắc trong thời gian tới.
Từ khóa: Đào tạo nghề; Tây Bắc; Lao động nông thôn; Giải pháp nâng cao chất lượng.
34
JOURNAL OF ETHNIC MINORITIES RESEARCH
Bạn đang xem tài liệu "Giải pháp nâng cao chất lượng công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn vùng Tây Bắc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giai_phap_nang_cao_chat_luong_cong_tac_dao_tao_nghe_cho_lao.pdf

