Tác động của chi tiêu y tế đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2017

86  
Journal of Science – Phu Yen University, No.27 (2021), 86-90  
TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU Y TẾ ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ  
VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2000-2017  
Nguyễn Thành Huân*  
Trường Đại học Phú Yên  
Ngày nhận bài: 06/01/2021; Ngày nhận đăng: 28/05/2021  
Tóm tắt  
Bài viết phân tích tác động của chi đầu tư trang thiết bị y tế và chi tiêu chăm sóc sức khỏe  
đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2017. Kết quả mô hình cho thấy chi đầu tư  
trang thiết bị y tế và chi tiêu chăm sóc sức khỏe bình quân đầu người có tác động tích cực đến  
GDP. Tuy nhiên, chỉ có chi tiêu chăm sóc sức khỏe bình quân đầu người có ý nghĩa thống kê.  
Từ khóa: Chi tiêu đầu tư trang thiết bị y tế, chi tiêu chăm sóc sức khỏe, tăng trưởng kinh tế.  
(2018) đã sử dụng mô hình Feder-Ram cùng  
với dữ liệu bảng để phân tích tác động trực  
tiếp và tác động gián tiếp (bên ngoài hoặc tác  
động nâng cao năng suất) của chi phí y tế lên  
tăng trưởng kinh tế của 28 nước Liên minh  
Châu Âu giai đoạn 2006-2015. Kết quả thu  
được từ nghiên cứu Mô hình Feder-Ram cho  
thấy rằng ảnh hưởng trực tiếp của chi tiêu  
cho y tế đối với tăng trưởng kinh tế là tiêu  
cực. Tuy nhiên, tác động gián tiếp của chi  
tiêu cho y tế đối với các ngành khác là tích  
cực. Các khoản chi cho chăm sóc sức khỏe  
làm tăng năng suất của yếu tố lao động và  
mang lại hiệu quả trên các lĩnh vực khác, do  
đó chăm sóc sức khỏe mang tác động tích  
cực cho sản xuất. Kết quả thu được chỉ ra  
rằng hiệu quả gián tiếp cao hơn hiệu quả trực  
tiếp. Vì vậy có thể có thể nói rằng hiệu quả  
ròng của chi tiêu chăm sóc sức khỏe là tích  
cực đối với tăng trưởng kinh tế.  
1. Giới thiệu  
Sức khỏe là chỉ tiêu quan trọng để  
đánh giá mức sống của một nền kinh tế hay  
quốc gia. Ngoài ra sức khỏe là điều kiện cơ  
bản trong vốn nhân lực để phát triển kinh tế.  
Để duy trì mức tăng trưởng bền vững và ổn  
định lâu dài, người lao động cần có sức khỏe  
tốt để học tập hấp thụ tri thức nâng cao trình  
độ, để gia tăng thời gian lao động đồng thời  
giảm thời gian chữa bệnh. Mặt khác, khi sức  
khỏe của lực lượng lao động tăng lên, độ tuổi  
có thể lao động cũng tăng lên làm giảm nguy  
cơ thiếu hụt nguồn lao động do tỉ lệ sinh  
thấp. Đồng thời, sức khỏe tốt cũng làm tuổi  
thọ tăng lên, làm tăng tỉ lệ tiết kiệm, và đầu  
tư cho giáo dục nhiều hơn, điều này làm tăng  
đóng góp cho nguồn vốn cũng như tăng vốn  
nhân lực nhờ thời gian học tập nhiều hơn.  
Trong một nghiên cứu về mối quan  
hệ giữa chi tiêu y tế và tăng trưởng kinh tế,  
Serge Mandiefe Piabuo và Julius Chupezi  
Tieguhong (2017) đã phân tích về tác động  
của chi tiêu y tế đến một số quốc gia châu  
Phi. Kết quả cho thấy chi tiêu cho y tế có tác  
động tích cực và đáng kể đến tăng trưởng  
kinh tế.  
Erçelik (2018) đã nghiên cứu tác  
động của chi tiêu y tế gộp chung của khu vực  
công và cả khu vực tư nhân ảnh hưởng đến  
GDP của Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 1980 đến  
2015. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy  
giữa chi tiêu y tế và GDP có mối quan hệ  
đồng biến theo thời gian.  
Nilgün SERİM và Serdar KURT  
__________________________  
Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về  
* Email: [email protected]  
tác động của chi tiêu y tế đến tăng trưởng  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 27 (2021), 86-90  
87  
kinh tế ở các nước, các khu vực khác nhau  
trên thế giới nhưng chưa có nghiên cứu thực  
hiện riêng ở Việt Nam. Vì vậy nghiên cứu  
này tập trung nghiên cứu tác động của chi  
tiêu y tế đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam  
giai đoạn 2000-2017.  
các mô hình nghiên cứu sử dụng mô hình  
tương tự nghiên cứu của Serge Mandiefe  
Piabuo và Julius Chupezi Tieguhong như sau:  
Y = F (chi tiêu y tế) + (đầu tư, ngoại  
thương, lạm phát) (4)  
Giả định: Chi tiêu y tế sẽ có tác động  
tích cực đến sức khỏe của người dân. Chi  
tiêu y tế càng cao thì sức khỏe người dân  
càng tốt và ngược lại.  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Dữ liệu  
Dữ liệu trong nghiên cứu này được  
thu thập từ Ngân hàng thế giới (WB), Tổ  
chức Y tế thế giới (WHO) trong giai đoạn  
2000-2017.  
2. Cơ sở lý luận  
Các mô hình Tân cổ điển cho rằng  
tăng trưởng kinh tế phụ thuộc tiết kiệm và sự  
gia tăng lực lượng lao động từ việc gia tăng  
dân số. Solow (1956) thì cho rằng gia tăng tỉ  
lệ tiết kiệm sẽ làm gia tăng đầu tư trong ngắn  
hạn, nhưng để tăng trưởng trong dài hạn cần  
cải tiến công nghệ. Mankiw, Romer, Weil  
(1992) đã nhấn mạnh tầm quan trọng của  
vốn con người đối với sự tăng trưởng và phát  
triển kinh tế trong dài hạn. Sức khỏe là yếu  
tố quan trọng trong vốn con người. Vì vậy  
đã có nhiều mô hình nghiên cứu về tác động  
của chi tiêu y tế đến tăng trưởng kinh tế.  
Dựa trên mô hình Feder (1983) được  
ứng dụng trong nghiên cứu về tác động của  
chi tiêu y tế đến tăng trưởng kinh tế thì nền  
kinh tế được chia thành 2 khu vực chính: khu  
vực y tế (H) và khu vực các hoạt động kinh  
tế khác (NH):  
3.2. Mô hình định lượng  
Từ (4) và dữ liệu thu thập được, mô  
hình định lượng mở rộng như sau:  
GDP = α + β1HE + β2KE +Lab+  
β3Inv + β4Inf + β5Op + u (4)  
Các biến độc lập:  
HE: Chi tiêu chăm sóc sức khỏe bình  
quân đầu người hằng năm  
Chi tiêu khám chữa bệnh được kỳ  
vọng là tác động tích cực đến GDP, vì giả  
định chi tiêu chăm sóc y tế càng cao thì sức  
khỏe của con người càng tốt và ngược lại.  
Người có sức khỏe tốt sẽ có năng suất làm  
việc tốt hơn người ốm đau.  
KE: Chi đầu tư cho trang thiết bị y tế  
Lab: Tổng lao động của nền kinh tế  
Nhiều lao động hơn được kỳ vọng sẽ  
sản xuất được nhiều sản phẩm hơn.  
Inv: Tổng đầu tư trong nền kinh tế  
Tổng đầu tư trong nền kinh tế được  
kỳ vọng có tác động tích cực đến GDP vì khi  
đầu tư càng nhiều thì sẽ tạo ra nhiều của cải  
hơn.  
H=F (Lh, Kh), (1)  
NH=F (Lnh, Knh, H) (2)  
Với H là hàm sản xuất với đầu ra là sức  
khỏe của người lao động, vì vậy H cũng là đầu  
vào của khu vực các hoạt động sản xuất khác.  
Lh và Kh: lần lượt là yếu tố lao động  
và yếu tố vốn trong khu vực y tế,  
Lnh và Knh: lần lượt là yếu tố lao động  
và yếu tố vốn trong khu vực khác.  
L=Lh+ Lnh,  
K= Kh +Knh  
L và K là tổng yếu tố lao động và  
vốn của nền kinh tế  
Inf: Lạm phát  
Y là sản lượng của toàn bộ nền kinh  
tế, vì vậy:  
Có nhiều lý thuyết và nghiên cứu về tác  
động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế.  
Tuy nhiên, phần lớn cho rằng khi lạm phát  
vượt mức bình thường (một con số) sẽ ảnh  
Y= H+NH (3)  
Tuy nhiên, vì hạn chế về số liệu nên  
88  
Journal of Science – Phu Yen University, No.27 (2021), 86-90  
hưởng tiêu cực đến nền kinh tế. Vì vậy trong  
nghiên cứu này, kỳ vọng lạm phát sẽ mang  
ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế.  
Op: Độ mở của nền kinh tế  
Độ mở của nền kinh tế được đo bằng  
tổng kim ngạch xuất nhập khẩu so với GDP.  
Độ mở của nền kinh tế đối với Việt Nam  
được kỳ vọng đem lại tác động tích cực đối  
với nền kinh tế. Hội nhập kinh tế quốc tế  
mang lại nhiều lợi ích như tích lũy vốn từ  
nguồn vốn bên ngoài, tăng năng suất thông  
qua công nghệ và gia tăng vốn nhân lực.  
Bảng 1. Mô tả các biến sử dụng trong mô hình  
Kỳ vọng chiều  
tác động  
Biến  
Mô tả  
Đơn vị  
GDP Tổng sản phẩm quốc nội của Việt Nam theo từng năm  
Tỷ USD  
Chi tiêu chăm sóc sức khỏe bình quân đầu người hằng  
năm  
HE  
USD  
(+)  
(+)  
Chi đầu tư trang thiết bị y tế, máy móc, thiết bị, công  
nghệ và lưu trữ vắc xin  
KE  
Tỷ USD  
Lab  
Inv  
Lực lượng lao động (từ 15 tuổi trở lên)  
Triệu người  
Tỷ USD  
(+)  
(+)  
Tổng đầu tư của Việt Nam theo từng năm  
Lạm phát được đo bằng thay đổi chỉ số giá tiêu dùng  
hằng năm  
Inf  
Op  
%
%
(-)  
Độ mở của nền kinh tế được đo bằng tổng kim ngạch  
xuất nhập khẩu so với GDP  
(+)  
lên đến 175,28 tỷ USD vào năm 2017. Chi  
tiêu chăm sóc sức khỏe bình quân đầu người  
cũng tăng từ 18,83 USD vào năm 2000 lên  
đến 129,58 USD.  
4. Kết quả nghiên cứu  
Theo số liệu từ Ngân hàng thế giới  
(WB), GDP của Việt Nam liên tục tăng  
trưởng từ xấp xỉ 61,16 tỷ USD vào năm 2000  
Biểu đồ 1. GDP và chi tiêu chăm sóc sức khỏe bình quân đầu người  
200.00  
180.00  
160.00  
140.00  
120.00  
100.00  
80.00  
60.00  
40.00  
20.00  
0.00  
GDP  
HE  
Nguồn: GDP: Ngân hàng thế giới (World Bank), đơn vị tính: tỷ USD;  
HE: Tác giả tính toán từ dữ liệu của Ngân hàng thế giới (World Bank), đơn vị tính: USD.  
Tạp chí Khoa học – Trường Đại học Phú Yên, Số 27 (2021), 86-90  
89  
Hồi quy phương trình (4) bằng  
phương pháp bình phương bé nhất thông  
thường (OLS). Ta có kết quả như bảng 1.  
Bảng 2. Kết quả hồi quy  
Chi tiêu khám chữa bệnh bình quân  
đầu người có tác động tích cực đến GDP của  
Việt Nam. Điều đó có nghĩa là chi tiêu cho  
các dịch vụ y tế càng tăng thì sức khỏe người  
dân càng tốt, từ đó làm tăng năng suất lao  
động làm gia tăng sản lượng quốc nội.  
Chi đầu tư công cho trang bị y tế  
Biến độc lập Hệ số  
t-Statistic  
1.92*  
0.25  
HE  
0.2237455  
KE  
2.07684  
Lab  
1.279257  
0.9262219  
-0.4205763  
0.3611683  
-49.95609  
0.96  
cũng có tác động tích cực đến GDP. Tuy  
nhiên, hệ số này không có ý nghĩa thống kê.  
Điều này cũng có thể được giải thích là chi  
đầu tư trang thiết bị cho y tế chủ yếu để phục  
vụ y tế trong dài hạn. Vì vậy số liệu đầu tư  
qua các năm có thể tăng giảm tùy giai đoạn  
nhưng về tổng tích lũy vốn cơ sở hạ tầng cho  
ngành y tế có thể tăng tạo điều kiện để cung  
cấp dịch vụ y tế được tốt hơn.  
Inv  
2.39**  
-2.94**  
2.09*  
0.96  
Inf  
Op  
Hệ số chặn  
F (6, 11) = 398.53  
Prob>F= 0.0000  
R2 =99.54%  
R2 hiệu chỉnh = 99.29%  
Mức ý nghĩa *:10%, **:5%, ***:1%  
Biểu đồ 2 cho thấy chi đầu tư trang  
thiết bị y tế qua các năm không tăng đều.  
Nguồn: Tác giả hồi quy từ Stata 15  
Biểu đồ 2. Chi đầu tư trang thiết bị y tế  
1.00  
0.90  
0.80  
0.70  
0.60  
0.50  
0.40  
0.30  
0.20  
0.10  
0.00  
KE  
2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 2016 2017  
KE  
0.35 0.56 0.49 0.53 0.30 0.41 0.42 0.38 0.54 0.94 0.63 0.59 0.56 0.56 0.69 0.73 0.46 0.60  
Nguồn: Tác giả tính toán từ dữ liệu của WHO và WB, đơn vị tính: tỷ USD  
Mô hình cho kết quả đúng với kỳ  
động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Việt  
Nam. Hệ số này có ý nghĩa thống kê ở mức  
5%.  
Độ mở của nền kinh tế có tác động  
tích cực đối với tăng trưởng kinh tế Việt  
Nam. Hệ số có ý nghĩa thống kê ở mức 10%.  
Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam  
năm 2000 là hơn 111% so với GDP và tăng  
vọng là lực lượng lao động lại có tác động  
tích cực đến GDP. Tuy nhiên hệ số này  
không có ý nghĩa thống kê.  
Trong khi đó tổng đầu tư của nền  
kinh tế có tác động tích cực đến GDP với  
mức ý nghĩa 5%.  
Kết quả cũng có thấy lạm phát có tác  
90  
Journal of Science – Phu Yen University, No.27 (2021), 86-90  
lên hơn 200% so với GDP vào năm 2017.  
Điều này cho thấy kinh tế Việt Nam phụ  
thuộc vào ngoại thương.  
động tiêu cực đến GDP.  
Nghiên cứu còn một số điểm hạn  
chế, có thể mở rộng nghiên cứu như: tác  
động của chi tiêu chăm sóc sức khỏe đến chỉ  
số sức khỏe của người dân, so sánh hiệu quả  
chi phí y tế của Việt Nam so với các nước  
trong khu vực, các nước có cùng nhóm thu  
nhập và các nước khác trên thế giới để tìm  
ra giải pháp tăng cường hệ thống y tế. Hoặc  
có thể nghiên cứu sâu hơn tác động của chi  
tiêu y tế đến chỉ số phát triển con người  
5. Kết luận  
Nghiên cứu đã cho thấy chi tiêu y tế  
có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế  
Việt Nam giai đoạn 2000-2017. Tuy nhiên,  
chỉ có hệ số chi tiêu chăm sóc sức khỏe bình  
quân có ý nghĩa thống kê, còn hệ số chi đầu  
tư trang thiết bị y tế thì không. Các yếu tố  
như đầu tư, độ mở của nền kinh tế đều có tác  
động tích cực đến GDP, lạm phát thì có tác  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Erçelik, G. (2018). The Relationship between Health Expenditure and Economic Growth in  
Turkey from 1980 to 2015. Journal of Politics, Economy and Management, 1(1), 1-8.  
Mankiw, N. G., Romer, D., & Weil, D. N. (1992). A contribution to the empirics of economic  
growth. The Quarterly Journal of Economic 107(2), 407-437.  
Piabuo , M. S., & Tieguhong , C. J. (2017). Health expenditure and economic growth - a review of the  
literature and an analysis between the economic community for central African states  
(CEMAC) and selected African countries. Health Economics Review, Springer, vol. 7(1), 1-13.  
Serim, N., & Kurt, S. (2018). Health expenditures- Economic growth Nexus: The EU 28 and  
Panel Ferder-Ram model. Journal of Entrepreneurship and Development vol 13, 184-193.  
Solow, R. M. (1956, Feb). A contribution to the Theory of economic growth. The Quarterly  
Journal of Economic, 70(1), 65-94.  
WHO. (2021, January). Retrieved from Cơ sở dữ liệu: https://apps.who.int/nha/database  
World Bank. (2021, January). Retrieved from Cơ sở dữ liệu mở: https://data.worldbank.org/  
The impact of health expenditure on economic growth in  
Vietnam from 2000-2017  
Nguyen Thanh Huan  
Phu Yen University  
Received:January 06, 2021; Accepted: May 28, 2021  
Abstract  
The paper analyzes the impact of capital health expenditure and health care expenditure  
per capita on Vietnam's economic growth in the period 2000-2017. The results show that capital  
health expenditure and health care expenditure per capita have some positive effects on economic  
growth but only health expenditure per capita is statistically significant.  
Keywords: capital health expenditure, health care expenditure, economic growth.  
pdf 5 trang baolam 21060 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tác động của chi tiêu y tế đến tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2000-2017", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftac_dong_cua_chi_tieu_y_te_den_tang_truong_kinh_te_viet_nam.pdf