Giáo trình môn Công tác xã hội với người có và bị ảnh hưởng

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN  
TRƯỜNG CAO ĐẲNG CƠ GIỚI NINH BÌNH  
GIÁO TRÌNH  
MÔ ĐUN: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI CÓ VÀ BỊ ẢNH HƯỞNG  
BỞI HIV/AIDS  
NGHỀ: CÔNG TÁC XÃ HỘI  
TRÌNH ĐỘ: CAO ĐẲNG/TRUNG CẤP  
Ban hành kèm theo Quyết định số: /QĐ-TCGNB, ngày…….tháng….năm 2018  
của Hiệu trưởng Trường Cao đẳng Cơ giới Ninh Bình  
Ninh Bình, năm 2018  
1
LỜI GIỚI THIỆU  
Trên thế giới, HIV/AIDS đã trở thành đại dịch và là mối hiểm họa đối với  
nhân loại. Nhận thấy tính chất nguy hiểm của HIV/AIDS, Đảng và nhà nước ta  
đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống HIV/AIDS  
và đã thu được những kết quả nhất định, kiềm chế được tốc độ gia tăng số người  
nhiễm HIV/AIDS. Tại Việt Nam hiện nay công tác chăm sóc về mặt y tế cho  
người có H đã đang được quan tâm và cải thiện rất nhiều. Tuy nhiên người có H  
và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS hiện nay vẫn đang phải sống trong tình trạng kỳ  
thị phân biệt đối xử từ cộng đồng, họ cần được tham vấn, được cung cấp các  
dịch vụ xã hội, được cung cấp thông tin....từ phía những cán sự xã hội (nhân  
viên công tác xã hội). Chính vì thế, các nhân viên công tác xã hội hiện nay cần  
có sự hiểu biết cơ bản về HIV/AIDS, các kiến thức về tham vấn cho người có  
HIV, các kiến thức về việc truyền thông nhằm thay đổi thái độ kỳ thi của cộng  
đồng với những người có HIV hiện nay.  
Với nhận thức đó, dựa trên cơ sở chương trình khung đã ban hành của  
Tổng cục dạy nghề về chương trình mô đun công tác xã hội với người có và bị  
ảnh hưởng bởi HIV/AIDS, cũng như tham khảo một số tài liệu khác có liên  
quan, chúng tôi đã biên soạn tập bài giảng môn học này để làm tài liệu nội bộ  
trong trường và khoa để sinh viên ngành công tác xã hội thuận lợi hơn trong  
việc học tập và nghiên cứu.  
Tuy nhiên do môn học này còn khá mới mẻ, chương trình giáo trình, tài  
liệu tham khảo còn rất thiếu thốn. Mặt khác do năng lực cũng như thời gian của  
giáo viên biên soạn còn nhiều hạn chế do vậy tập bài giảng này còn nhiều thiếu  
sót. Chúng tôi xin trân trọng cảm ơn và mong muốn nhận được nhiều sự đóng  
góp từ các thầy cô giáo cũng như của các em sinh viên, để tập bài giảng được  
chỉnh sửa, bổ sung ngày càng hoàn thiện hơn.  
Xin trân thành cảm ơn!  
2
MỤC LỤC  
Bài 1: Kiến thức chung về HIV/AIDS  
2. Kiến thức cơ bản về HIV/AIDS.............................................................................9  
Bài 2: Truyền thông phòng ngừa lây nhiễm HIV và sự kỳ thị phân biệt đối xử  
với người có HIV/AIDS  
17  
1. Khái niệm, hình thức truyền thông và thay đổi hành vi, giảm sự kỳ thị với  
người có HIV ...........................................................................................................17  
2. Lập kế hoạch và thực hiện giám sát các hoạt động truyền thông về HIV19  
Bài 4: Công tác xã hội với người có HIV/AIDS  
2. Chăm sóc hỗ trợ người có HIV/AIDS tại nhà.....................................................42  
3. Tham vấn cho người có và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS....................................44  
4. Tiến trình công tác xã hội cá nhân với người có  
HIV/AIDS…………………...….………………………………………………55  
5. Tiến trình công tác xã hội nhóm với người có và bị ảnh hưởng bởi  
HIV/AIDS………………………………………………………………………58  
3
MÔ ĐUN: CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NGƯỜI CÓ VÀ BỊ ẢNH HƯỞNG  
BỞI HIV/AIDS  
Mã mô đun: MĐ 28  
Vị trí, tính chất, ý nghĩa và vai trò của mô đun:  
- Vị trí mô đun: Công tác xã hội với người có và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS là  
mô đun chuyên môn nghề quan trọng của chương trình đạo tạo nghề công tác xã  
hội, liên quan tới các hoạt động cung cấp dịch vụ cho đối tượng đặc thù là người  
có HIV hoặc là người có liên quan, chịu ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.  
- Tính chất của mô đun: Là mô đun lý thuyết chuyên môn nghề bắt buộc.  
Mục tiêu của mô đun:  
- Kiến thức:  
+ Trình bày được những kiến thức chung về HIV/AIDS;  
+ Trình bày được các đặc điểm, nguyên nhân sự kỳ thị và các biện pháp tuyên  
truyền phòng ngừa HIV;  
+ Nhận thức được các bước trong tiến trình công tác xã hội cá nhân và nhóm đối  
với người có và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS;  
+ Nhận biết được các kiến thức về chăm sóc dinh dưỡng, chăm sóc y tế và đặc  
biệt là chăm sóc đời sống tinh thần cho đối tượng.  
- Kỹ năng:  
+ Tham vấn được cho các đối tượng có và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS  
+ Công tác xã hội cá nhân và công tác xã hội với nhóm người có HIV/AIDS;  
+ Biện hộ, vận động nguồn lực chăm sóc người có và ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.  
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Cảm thông, cẩn thận, chia sẻ và sẵn sàng giúp  
đỡ người có và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS.  
Nội dung của mô đun:  
BÀI 1: KIẾN THỨC CHUNG VỀ HIV/AIDS  
Mã bài: MĐ28-B01  
Mục tiêu:  
- Kiến thức:  
+ Trình bày những kiến thức cơ bản về HIV/AIDS trên thế giới và Việt  
Nam;  
+ Trình bày được nguyên nhân lây truyền và cách phòng tránh; Kỳ thị  
phân biệt đối xử, nguyên nhân và hậu quả.  
4
- Kỹ năng: Vận dụng được những hiểu biết về HIV/AIDS trong cuộc sống  
thường ngày, tránh sự kỳ thị phân biệt đối xử với người có HIV.  
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Cảm thông, chia sẻ, không kỳ thị người  
có HIV  
Nội dung chính:  
1. Tổng quan về đại dịch HIV/AIDS  
1.1. Tổng quát về đại dịch HIV/AIDS trên thế giới  
Kể từ khi ca nhiễm HIV đầu tiên trên thế giới được phát hiện năm 1981  
cho đến nay đã gần 40 năm, HIV/AIDS đã giết chết hơn 36 triệu người trên thế  
giới. Theo số liệu thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tính đến cuối năm  
2017, khoảng 36,9 triệu người đang phải sống chung với HIV. Trong năm 2017,  
đã có 940.000 người thiệt mạng trên thế giới do các nguyên nhân liên quan đến  
HIV và 1,8 triệu ca nhiễm mới. Trong khi đó, 59% số người lớn và 52% số trẻ  
em sống chung với HIV đã được điều trị liệu pháp kháng retrovirus (ARV) suốt  
đời.Khu vực châu Phi là khu vực bị ảnh hưởng nhiều nhất, với 25,7 triệu người  
sống chung với HIV trong năm 2017. Bên cạnh đó, khu vực này cũng chiếm hơn  
2/3 tổng số ca nhiễm HIV mới trên toàn cầu.  
Trong năm 2018, hội nghị AIDS quốc tế lần thứ 2 ngày 23-7 đã khai mạc  
tại Amsterdam của Hà Lan. Hội nghị kéo dài trong 5 ngày (từ ngày 23 đến 27-7)  
nhằm tập trung thảo luận các khoản đầu tư mới, các chính sách dựa trên khoa  
học, cũng như ý chí chính trị cần thiết để đưa việc phòng chống HIV/AIDS trở  
lại đúng hướng. Hội nghị nhấn mạnh HIV/AIDS vẫn là một vấn đề y tế công  
cộng lớn của toàn cầu, không nên để bất kỳ ai không được điều trị hoặc chết vì  
HIV/AIDS do việc thiếu tiếp cận với chăm sóc sức khỏe cơ bản.  
Theo phân tích của các chuyên gia, số người mới nhiễm HIV hàng năm  
mặc dù có giảm so với những năm trước nhưng trên toàn cầu vẫn ở mức cao.  
Chỉ tính riêng trong năm 2017, thế giới vẫn có khoảng 1,8 triệu người mới  
nhiễm HIV. Số người nhiễm HIV còn sống cũng tăng lên do kết quả tích cực  
của các liệu pháp điều trị kháng vi rút (ARV). Tuy nhiên sự thiếu hụt ngân sách  
cho cuộc chiến chống HIV/AIDS đang gây trở ngại trong việc xóa sổ căn bệnh  
5
 
này trên toàn cầu. Khu vực Tây và Trung Âu và Bắc Mỹ đạt nhiều thành công  
nhất trong cuộc chiến này với tỷ lệ 78% số người nhiễm HIV/AIDS được điều  
trị y tế, nhưng sự cải thiện chưa thấy rõ tại các nước Trung Đông và Bắc Phi khi  
chưa tới 25% số người nhiễm bệnh được điều trị mặc dù khu vực này cũng  
chiếm hơn 2/3 tổng số ca nhiễm HIV mới trên toàn cầu. Để duy trì sự tiến bộ và  
đạt mục tiêu có 90% bệnh nhân HIV/AIDS được điều trị thuốc ARV vào năm  
2020, mỗi năm, tổ chức UNAIDS cần thêm 7 tỷ USD cho việc phòng, chống lây  
nhiễm virus HIV và điều trị cho các bệnh nhân. Trong năm 2016, khoảng 21,3 tỷ  
USD đã được giải ngân cho các chương trình phòng chống HIV/AIDS tại các  
nước thu nhập thấp và trung bình.  
Bên cạnh đó, dù đã có nhiều hoạt động tuyên truyền nhưng nhiều người  
tiếp tục mất việc vì nhiễm HIV. Nghiên cứu mới nhất vừa được Tổ chức Lao  
động quốc tế (ILO) và Mạng lưới Toàn cầu của Người sống với HIV (GNP+)  
công bố, cho thấy mặc dù đạt được nhiều tiến bộ trong việc điều trị, cho phép  
người có HIV có thể làm việc, song họ vẫn tiếp tục phải chịu phân biệt đối xử  
khi tìm kiếm và giữ việc làm. Báo cáo dựa trên các cuộc điều tra do 13 nhóm  
quốc gia trên toàn thế giới tiến hành với hơn 100.000 người sống chung với  
HIV. Tỷ lệ những người đã làm việc nhưng bị mất việc làm hoặc mất nguồn thu  
nhập do sự phân biệt đối xử của chủ hoặc đồng nghiệp dao động từ 13% ở Fiji  
đến 100% ở Đông Timor. Trong bối cảnh đó, báo cáo cũng cho biết, nhiều  
người không muốn tiết lộ tình trạng HIV của họ với chủ sử dụng lao động hoặc  
thậm chí là đồng nghiệp.  
Theo các dữ liệu mới nhất về HIV và tình trạng phân biệt đối xử tại nơi  
làm việc cung cấp trong báo cáo, những người sống chung với HIV đang thất  
nghiệp chiếm tỷ lệ cao, từ khoảng 7% số người được phỏng vấn ở Uganda cho  
đến 61% ở Honduras. 10 trong số 13 quốc gia có tỷ lệ thất nghiệp từ 30% trở lên  
trong số những người được hỏi. Ngoài ra, báo cáo cũng cho thấy, những người  
trẻ sống chung với HIV có tỷ lệ thất nghiệp cao hơn nhiều, phụ nữ sống chung  
với HIV cũng ít có khả năng được tuyển dụng hơn nam giới có HIV do công  
6
việc nội trợ và việc gia đình không được trả lương. Tình trạng phụ nữ thiếu thu  
nhập độc lập cũng rất phổ biến, có nghĩa là phụ nữ sống chung với HIV không  
được hưởng quyền tự chủ kinh tế ở mức tương đương với nam giới. Thất nghiệp  
giữa những người chuyển giới sống chung với HIV vẫn còn cao ở các quốc gia.  
1.2. Tổng quan về đại dịch HIV tại Việt Nam  
Tại hội nghị trực tuyến tổng kết công tác năm 2017 và phương hướng  
nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu năm 2018 của Bộ Y tế ngày 19/1.Theo Bộ trưởng  
Nguyễn Thị Kim Tiến, hiện số người nhiễm HIV của cả nước hiện còn sống là  
209.450 nghìn người. Trong đó 90.100 trường hợp đã chuyển sang giai đoạn  
AIDS; số người tử vong do HIV/AIDS của cả nước tính đến thời điểm trên là  
94.620 người. Tiếp tục khống chế được tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS dưới 0,3% và  
giảm số người nhiễm mới.Ước tính năm 2017 phát hiện mới khoảng 9.800  
người nhiễm và khoảng 1.800 người nhiễm HIV tử vong, số trường hợp nhiễm  
HIV phát hiện mới giảm 1,1%, số bệnh nhân AIDS giảm 39% và người nhiễm  
HIV tử vong giảm 15%.  
Năm 2017 tiếp tục ghi nhận 9 năm liên tiếp giảm số phát hiện mới, số  
chuyển sang AIDS và giảm số tử vong do AIDS.Về công tác phòng, chống  
HIV/AIDS, mở rộng và nâng cao chất lượng điều trị HIV/AIDS, Bộ trưởng Bộ  
Y tế cho hay, toàn quốc đã có 294 cơ sở điều trị methadone với 52,8 nghìn bệnh  
nhân. Đạt 65,2% chỉ tiêu Thủ tướng Chính phủ giao tại Quyết định số 1008/QĐ-  
TTg, tiếp tục mở rộng cấp phát thuốc tại 216 điểm tại tuyến xã của 23 tỉnh, cấp  
phát thuốc cho 22% tổng số bệnh nhân đang điều trị Methadone.Bộ Y tế đang  
triển khai kế hoạch điều trị bằng thuốc Buprenophine, dự kiến năm 2018 sẽ thực  
hiện tại các tỉnh miền núi Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Nghệ An."Cũng trong  
năm 2017, Bộ Y tế đã triển khai điều trị ARV ở tất cả 63 tỉnh/thành phố với 401  
phòng khám điều trị ngoại trú ARV, triển khai cơ sở cấp phát thuốc điều trị  
ARV tại 562 trạm y tế, trong trại giam. Triển khai chuyển giao và kiện toàn các  
cơ sở điều trị ARV trên toàn quốc tiến tới kê đơn điều trị ARV bằng BHYT từ  
tháng 01/2018".Bên cạnh đó, đã có 271 phòng khám điều trị ngoại trú đã tiến  
7
hành thanh toán các phí dịch vụ, thuốc liên quan đến điều trị ARV cho bệnh  
nhân (chiếm 37,7%).  
Thực hiện Quyết định số 2188/QĐ-TTg ngày 15/11/2016, tỷ lệ người  
nhiễm HIV/AIDS tham gia bảo hiểm y tế tăng đáng kể, từ 50% vào tháng  
10/2016 lên 82% vào tháng 9/2017.Toàn quốc hiện có 1.345 cơ sở y tế cung cấp  
dịch vụ tư vấn và xét nghiệm HIV, có 136 phòng xét nghiệm HIV được phép  
khẳng định các trường hợp HIV dương tính tại 63 tỉnh, thành phố, có 1.250  
phòng xét nghiệm sàng lọc HIV ở tất cả các huyện trên toàn quốc.Bộ trưởng Y  
tế nhấn mạnh, trong năm 2018, ngành y tế xác định đẩy mạnh và mở rộng các  
hoạt động chuyên môn trong dự phòng, can thiệp giảm tác hại và truyền thông  
thay đổi hành vi, giảm kỳ thị phân biệt đối xử với người nhiễm HIV. Đặc biệt,  
tập trung xét nghiệm, tư vấn, phát hiện mới người nhiễm HIV nhằm sớm đạt  
mục tiêu đầu tiên trong mục tiêu 90-90-90 của Liên Hợp Quốc là 90% người  
nhiễm HIV biết được tình trạng của mình.Mở rộng nâng cao chất lượng công tác  
điều trị HIV/AIDS tại các cơ sở điều trị ARV, cung cấp dịch vụ điều trị và chăm  
sóc HIV/AIDS qua bảo hiểm y tế, nhất là tại tuyến huyện, xã.  
2. Kiến thức cơ bản về HIV/AIDS  
2.1. Định nghĩa:  
HIV là chữ viết tắt của virus gây AIDS bằng tiếng Anh Human-Immuno-  
Deficiency-Virus, có nghĩa là virus làm suy giảm miễn dịch ở người. Khi xâm  
nhập vào cơ thể con người, HIV tìm cách tấn công vào bạch cầu gây tàn phá hệ  
miễn dịch. Sau một thời gian, khi các bạch cầu bị tiêu diệt nhiều, khả năng  
chống đỡ với mầm bệnh bị giảm. Cơ thể sẽ bị mầm bệnh tấn công sinh ra nhiều  
chứng bệnh nguy hiểm dẫn đến cái chết.  
AIDS (Acquired - Immuno - Deficiency - Syndrome) là hội chứng suy  
giảm miễn dịch mắc phải. Hội chứng: Tập hợp nhiều triệu chứng và dấu hiệu  
bệnh.Suy giảm miễn dịch: Suy giảm chức năng bảo vệ cơ thể chống lại sự tấn  
công của các mầm bệnh (vi trùng, virus, vi nấm...) Mắc phải: Không phải do di  
truyền mà do bị lây lan từ bên ngoài.  
8
AIDS là giai đoạn cuối cùng của quá trình nhiễm HIV được thể hiện bởi  
các bệnh nhiễm trùng cơ hội, ung thư và các bệnh liên quan đến rối loạn miễn  
dịch dẫn đến tử vong.  
Thời gian từ khi nhiễm HIV đến biến chuyển thành bệnh AIDS tùy thuộc  
vào hành vi và đáp ứng miễn dịch của từng người nhưng tựu chung lại trong  
khoảng thời gian trung bình là 5 năm.  
2.2. Diễn biến của HIV/AIDS  
Diễn biến của HIV/AIDS được chia làm 3 giai đoạn:  
Giai đoạn cấp tính (cửa sổ).  
Giai đoạn không triệu trứng.  
Giai đoạn AIDS.  
2.2.1. Giai đoạn cấp tính  
Tùy theo thể trạng từng người mà có thể kéo dài từ 6 tháng tới 1năm, kèm  
theo các triệu trứng như: ho, sốt phát ban, sưng tuyến nước bọt, đau khớp. Giai  
đoạn này nếu xét nghiệm chưa tìm thấy kháng thể kháng lại HIV nên kết quả xét  
nghiệm âm tính (còn gọi là giai đoạn cửa sổ).  
2.2.2. Giai đoạn không triệu chứng  
Có thể kéo dài từ vài năm đến hơn 10 năm. Người bệnh không có biểu hiện  
dấu hiệu lâm sàng như: nhiễm trùng cơ hội, u hạch, ung thu, ỉa chay, nấm...Nếu  
xét nghiệm trong giai đoạn này người bệnh đã có kháng thể kháng vi rút HIV,  
do đó kết quả sẽ là dương tính (+) nhưng không có triệu chứng gì. Trong giai  
đoạn này người có HIV vẫn sống và lao động bình thường. Giai đoạn này HIV  
không lây nhiễm qua các con đường thông thường mà chỉ có thể lây truyền qua  
3 con đường cơ bản. Nếu họ được điều trị sẽ kéo dài thời gian chuyển sang  
AIDS.  
2.2.3. Giai đoạn AIDS:  
Giai đoạn này có thể kéo dài từ vài tháng đến một năm tùy thuộc vào sức đề  
kháng của bệnh nhân, tế bào bạch cầu và tải lượng của vi rút, thuốc điều trị  
nhiễm trùng cơ hội....Các triệu chứng thường gặp có thể là: ỉa chảy, sút cân, ung  
thư da, loét da, lao, nấm...giai đoạn này không lây nhiễm qua chăm sóc nếu sử  
dụng đúng các dụng cụ bảo hộ (găng tay, kính...).  
2.3 Các con đường lây truyền HIV  
9
Không thể thông qua quan sát bề ngoài mà biết được một người có  
nhiễm HIV hay không mà muốn biết cần phải xét nghiệm kháng thể kháng vi rút  
HIV trong máu của bệnh nhân. Thông qua 3 lần xét nghiệm, nếu kết quả là  
dương tính (+) nghĩa là người đó đã có HIV. Tuy nhiên nếu kết quả âm tính mà  
người đó có nguy cơ cao thì cần phải làm xét nghiệm lại, vì rất có thể họ đang ở  
giai đoạn cửa sổ, chưa có sự xuất hiện kháng thể kháng HIV trong máu. Nếu mẹ  
là người có HIV, thì đẻ con ra sau 18 tháng kết quả xét nghiệm mới có giá trị.  
HIV lây truyền qua 3 con đường: qua đường quan hệ tình dục không an  
toàn, qua đường tiếp xúc trực tiếp với máu của người bị nhiễm HIV, qua đường  
từ mẹ sang con.  
Qua đường tình dục không an toàn  
Đây là con đường phổ biến nhất chiếm khoảng 80% trên thế giới. Khi quan  
hệ tình dục không an toàn (đồng giới hoặc khác giới) có thể gây nên các sây sát  
li ti trên lớp niêm mạc bộ phận sinh dục, các tổn thương đó làm cửa ngõ cho  
HIV xâm nhập một cách dễ dàng vào cơ thể, hoặc có thể qua các dịch tiết sinh  
dục.  
Lây qua tiếp xúc trực tiếp với máu bị nhiễm HIV  
Bệnh nhân được truyền máu hoặc các chế phẩm của máu như: huyết tương,  
huyết thanh của người nhiễm HIV mà không biết. Con đường lây truyền này tỷ  
lệ là rất cao có thể lên tới 90-100%.  
Lây qua các dụng cụ tiêm chích hoặc các dụng cụ xuyên qua da như: dùng  
chung bơm kim tiêm không sử dụng đúng cách, dùng chung các dụng cụ y tế,  
xuyên lỗ tai...chưa được khử trùng đúng cách.  
Khi tiếp xúc trực tiếp với máu nhiễm HIV ví dụ: dao cạo râu, bàn chải  
đánh răng...  
Lây truyền từ mẹ sang con  
Người mẹ có HIV có thể lây truyền sang con khi có thai hoặc khi sinh nở  
HIV không lây truyền:  
Qua các con đường tiếp xúc thông thường như: quan hệ giao tiếp nắm tay,  
bắt tay, ôm hôn, vuốt ve, ho, hắt hơi, nước bọt, nước dãi, nước mắt, mồ hôi, ngủ  
chung giường hoặc mặc chung quần áo, dùng chung bát đĩa quần áo, cầm tay  
hoặc ôm đứa người có HIV, sử dụng chung các công trình công cộng...  
2.4. Các biện pháp phòng tránh lây nhiễm HIV  
10  
2.4.1 Quan hệ tình dục an toàn: là các cách quan hệ tình dục để giảm hoặc tránh  
nguy cơ nhiễm HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.  
Nguyên tắc cơ bản của quan hệ tình dục an toàn:  
Không để máu, tinh dịch hoặc dịch âm đạo của bạn tình xâm nhập vào cơ  
thể bạn trừ khi bạn biết chắc chắn rằng người đó không nhiễm HIV và mắc các  
bệnh lây truyền qua đường tình dục.  
Luôn sử dụng bao cao su đúng cách khi quan hệ tình dục.  
Thủ dâm (tự mình kích thích các vùng nhạy cảm của bộ phận sinh dục để  
đạt được khoái cảm tình dục mà không cần giao hợp), hành vi này an toàn.  
“Tình dục không giao hợp” là các động tác làm cho cả hai bên đạt tới cực  
khoái mà không có giao hợp và không tiếp xúc với máu, tinh dịch hoặc dịch tiết  
âm đạo.  
Không quan hệ tình dục: một biện pháp khuyến khích áp dụng cho thanh  
thiếu niên và những người làm việc xa nhà.  
Chung thủy trong quan hệ tình dục: quan hệ tình dục chỉ với một người  
trong suốt một thời gian dài.  
2.4.2. Qua máu và các dụng cụ xuyên trích qua da  
Không dùng chung bơm kim tiêm, các dụng cụ xuyên chích qua da nếu  
chưa được tiệt trùng cẩn thận .  
Luộc sôi dụng cụ y tế và bơm kim tiêm trong vòng 20 phút.  
Không nên dùng chung với người khác những đồ gây chảy máu như: lưỡi  
dao cạo, bàn chải đánh răng.  
Không nên truyền máu nếu thật sự không cần thiết, nếu buộc phải truyền  
nên hỏi xem máu đó đã được xét nghiệm HIV chưa.  
2.4.3. Từ mẹ sang con: tỷ lệ lây truyền 40%, nếu có HIV có ý định sinh con thì  
nên đến các cơ sở y tế tin cậy để được tư vấn.  
3. Kỳ thị phân biệt đối xử với những người có HIV/AIDS  
3.1. Khái niệm kỳ thị và phân biệt đối xử  
Một trong những vấn đề hiện người có HIV gặp phải đó chính là sự kỳ  
thị từ chính cộng đồng.  
Kỳ thị theo định nghĩa của UNAIDS: “Kỳ thị là một quá trình làm giảm  
giá trị của một cá nhân dưới mắt của người khác”. Những đặc điểm gây ra kỳ thị  
thường rất đa dạng, ví dụ: màu da, cách nói năng hoặc sở thích tình dục. Trong  
11  
 
một nền văn hóa hoặc một bối cảnh nào đó, một số đặc tính nhất định bị người  
khác để ý và coi là đáng xấu hổ hoặc đáng bị coi thường.  
Khi kỳ thị được thể hiện hành động thì đó là phân biệt đối xử... Phân  
biệt đối xử bao gồm những hành động hoặc loại trừ do thái độ kỳ thị gây ra và  
nhằm vào những cá nhân bị kỳ thị”.  
Kỳ thị người nhiễm HIV là thái độ khinh thường hay thiếu tôn trọng người  
khác vì biết hoặc nghi ngờ người đó nhiễm HIV hoặc người đó có quan hệ gần  
gũi với người nhiễm HIV hoặc bị nghi ngờ nhiễm HIV.  
Phân biệt đối xử với người nhiễm HIV là hành vi xa lánh, từ chối, tách  
biệt, ngược đãi, phỉ báng, có thành kiến hoặc hạn chế quyền của người khác vì  
biết hoặc nghi ngờ người đó có nhiễm HIV hoặc vì người đó có quan hệ với  
người nhiễm HIV hoặc bị nghi ngờ có nhiễm HIV.  
Như vậy kỳ thị là thái độ, phân biệt đối xử là hành vi hoặc hành động cự  
thể đối với người nhiễm HIV. Muốn chống phân biệt đối xử với người nhiễm  
HIV phải bắt đầu từ việc chống kỳ thị với người có HIV.  
3.2. Những biểu hiện của kỳ thị và phân biệt đối xử  
3.2.1. Biểu hiện kỳ thị và phân biệt đối xử tại nhà người bệnh  
Cho người nhiễm HIV ăn, ở riêng, hoặc nếu có ở chung thì miễn cưỡng  
giao tiếp với người có HIV hoặc hạn chế cấm đoán người trong gia đình giao  
tiếp với người có HIV. Hoặc hạn chế cấm đoán người khác tiếp xúc với người  
nhiễm HIV.  
Không muốn hoặc cấm người có HIV dùng chung các vật dụng sinh hoạt  
hoặc sử dụng chung nhà vệ sinh.  
Chối bỏ người có HIV không nhận không cho ở trong nhà, tìm cách đưa  
người nhiễm vào các cơ sở tập trung.  
Tước quyền làm cha, làm mẹ, làm chồng, làm vợ của người nhiễm HIV,  
bị tước quyền sử dụng hoặc kế thừa tài sản, nhất là đối với phụ nữ nhiễm HIV.  
3.2.2.Những biểu hiện kỳ thị và phân biệt đối xử tại cộng đồng  
Cấm hoặc hạn chế con cái, người thân họ hàng có tiếp xúc với người có  
HIV/AIDS.  
Không muốn hoặc cấm người có HIV dùng chung các vật dụng sinh hoạt  
hoặc sử dụng chung nhà vệ sinh công cộng, nhà ăn tập thể.  
Cấm hoặc hạn chế người có HIV tham gia sinh hoạt tại cộng đồng, vui  
chơi giải trí và thể thao.  
12  
Không sử dụng các dịch vụ mà người có HIV và gia đình họ cung cấp,  
nhất là dịch vụ ăn uống.  
Không muốn, không cho tổ chức tang lễ bình thường, hoặc không đến dự đám  
tang của người có HIV.  
3.2.3. Những biểu hiện kỳ thị và phân biệt đối xử tại các cơ sở y tế  
Miễn cưỡng khi tiếp xúc với người có H hoặc chờ lâu, hoặc hẹn khám  
bệnh đến lúc khác.  
Gây khó khăn khi nhập viện điều trị.  
Đùn đẩy bệnh nhân AIDS giữa các phòng khoa, giữa các bệnh viện.  
Trì hoãn, từ chối phẫu thuật hoặc tiến hành các thủ thuật y tế.  
Ngừng điều trị khi chưa khỏi bệnh, khi xuất viện sớm.  
Đánh dấu hồ sơ giường nằm, đồ vải của người có HIV/AIDS.  
Xét nghiệm phát hiện HIV trước khi phẫu thuật, khi sinh mà không có ý  
kiến của bệnh nhân.  
Từ chối điều trị người có HIV theo bảo hiểm y tế.  
3.2.4. Biểu hiện kỳ thị và phân biệt đối xử tại nơi học tập và làm việc  
Xa lánh, ngại tiếp xúc, không muốn làm việc, học tập cùng người có HIV.  
Lấy máu xét nghiệm trước khi tuyển dụng hoặc trong quá trình lao động  
(nhưng không nói là lấy máu xét nghiệm HIV).  
Tùy tiện thay đổi công việc của người có HIV.  
Thuyết phục, hoặc lấy cớ gây sức ép buộc người lao động đang làm việc  
bỏ việc hoặc học sinh, sinh viên đang theo học phải bỏ học.  
Bắt buộc thôi việc, thôi học với lý do không chính đáng.  
3.3. Nguyên nhân của kỳ thị và phân biệt đối xử  
Kỳ thị và phân biệt  
đối xử  
Sợ hãi lây nhiễm quá  
Ghét bỏ người nghiện  
ma tuý và mua bán  
dâm  
mức  
Kiến thức, nhận thức về  
Đồng nhất HIV với ma  
tuý và mại dâm  
HIV/AIDS thiếu sót  
13  
Thông tin - Giáo dục -  
Truyền thông sai lệch  
Nhận thức, quan điểm  
không đúng  
Luật pháp  
Điều kiện chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội  
3.4 Những yếu tố ảnh huởng tới kỳ thị và phân biệt đối xử.  
3.4.1. Do đặc điểm của người có HIV  
HIV/AIDS hiện đang là một đại dịch, có khả năng truyền nhiễm nguy  
hiểm.Căn bệnh này hiện nay lại chưa có thuốc chữa, do vậy dẫn đến cái chết.  
3.4.2. Do thiếu hiểu biết, hiểu biết không đúng hoặc không đầy đủ về HIV  
Do thông tin hạn chế, hiểu biết kiến thức hạn chế, có nhiều người hiểu  
không đúng HIV là rất dễ lây truyền, là một tệ nạn xã hội, người có HIV là  
những người có tội lỗi...  
3.4.3. Do truyền thông không đầy đủ và không phù hợp  
Truyền thông không cụ thể, không giải thích rõ ràng, nhất là các đường  
lây truyền và không lây truyền của HIV/AIDS.  
Chưa quan tâm đầy đủ đến phổ biến pháp luật.  
Không làm rõ tầm quan trọng của việc chăm sóc những người nhiễm.  
3.4.4. Do đặc điểm tâm lý xã hội  
Kỳ thị phân biệt đối xử trong nhiều trường hợp: trọng nam khinh nữ,  
người giàu, người nghèo, kỳ thị phân biệt đối xử với người tiêm chích ma túy,  
mại dâm, kỳ thị với những người mắc các xã hội, hay những người bị bệnh  
phong, lao...  
3.4.5. Do sự bất bình đẳng về giới  
Phụ nữ có HIV thường chịu nhiều sự thiệt thòi hơn nam giới, họ bị lên án  
nhiều hơn vì thế sự kỳ thị phân biệt đối xử cũng nhiều hơn.  
3.5. Tác hại của việc kỳ thị, phân biệt, đối xử với những người có HIV  
Gây khó khăn cho các hoạt động phòng chống HIV/AIDS: do sợ bị kỳ thị  
nên những người có H thường dấu diếm, che dấu tình trạng bệnh của mình, vì  
thế cán bộ chuyên môn khó tiếp cận để quản lý và chăm sóc được. Sẽ không dự  
báo được chính xác con số ca bệnh chính xác và dự báo được tình hình dịch  
bệnh.  
14  
Không phát huy được tiềm năng của người có HIV: tăng tác động đến gia  
đình, đến kinh tế xã hội của đất nước, làm mất đi một lực lượng phòng chống  
HIV/AIDS có hiệu quả, mất đi lực lượng người chăm sóc có tiềm năng, mất đi  
lực lượng lao động trong đó có cả những người được đào tạo.  
Bị hạn chế một số quyền cơ bản của công dân: quyền được chăm sóc sức  
khỏe, tự do đi lại, quyền được bảo vệ...  
Làm giảm vai trò của gia đình và cộng đồng trong việc chăm sóc và  
phòng chống HIV  
BÀI 2: TRUYỀN THÔNG PHÒNG NGỪA LÂY NHIỄM HIV VÀ SỰ KỲ  
THỊ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NGƯỜI CÓ HIV  
Mã bài: MĐ22 _B02  
Mục tiêu:  
- Kiến thức:  
+ Trình bày được những hiểu biết về truyền thông thay đổi hành vi;  
+ Trình bày được khái niệm và các nội dung của sự kỳ thị phân biệt đối xử với  
người có HIV.  
- Kỹ năng: Lập kế hoạch thực hiện và đánh giá một chương trình tuyên truyền  
phòng ngừa HIV/AIDS; giảm kỳ thị với người sống chung với HIV/AIDS.  
- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: Tích cực tuyên truyền vận động cộng đồng  
phòng ngừa lây nhiễm HIV và kỳ thị phân biệt đối xử với người có HIV.  
Nội dung chính:  
1.Truyền thông thay đổi hành vi  
1.1. Định nghĩa truyền thông thay đổi hành vi  
Truyền thông thay đổi hành vi giảm kì thị phân biệt đối xử (KTPBĐX) là quá  
trình dùng các kỹ năng để chia sẻ các thông tin, kiến thức về Sự thật Người em và  
HIV; đường lây truyền HIV và cách phòng tránh.v.v. nhằm giúp các cán bộ giáo  
viên, gia đình và cộng đồng có nhận thức, thái độ, hành vi đúng, giảm KTPBĐX  
đảm bảo các quyền cơ bản của người có HIV/AIDS.  
1.2. Mô hình truyền thông thay đổi hành vi  
15  
1.3. Các điều kiện thúc đẩy sự thay đổi hành vi  
- Đối tượng được truyền thông tin rằng lợi ích của việc thực hiện hành vi nhiều  
hơn nhược điểm của nó.  
- Đối tượng nhận thức là có áp lực xã hội mạnh mẽ yêu cầu thực hiện hành vi.  
- Đối tượng nhận thức là hành vi tương thích với hình ảnh của anh ta và không  
ảnh hưởng tới các nguyên tắc của bản thân anh ta.  
- Việc thay đổi hành vi này không gây tốn kém.  
1.4. Truyền thông thay đổi hành vi phòng ngừa lây nhiễm HIV và giảm kỳ thị  
phân biệt đối xử  
Hiện nay nhân viên công tác xã hội có thể sử dụng trong truyền thông trực  
tiếp hoặc gián tiếp tại cộng đồng để giảm sự kỳ thị với người có HIV và bị ảnh  
hưởng bởi HIV/AIDS. Nhân viên công tác xã hội có thể sử dụng các phương  
pháp truyền thông tại các trường học, tại các thôn xóm, trong các buổi sinh hoạt  
cộng đồng, trong các dịp sinh hoạt tập thể tại địa phương kỷ niệm ngày phòng  
chống AIDS, ngày người khuyết tật Việt Nam, ngày thành lập Đoàn...  
Hai hình thức truyền thông trực tiếp mà nhân viên công tác xã hội cần thực  
hiện để thay đổi hành vi giảm kỳ thị với người có HIV và phòng chống  
HIV/AIDS ở cộng đồng cho các nhóm gia đình hoặc các nhóm đối tượng có nguy  
cơ cao bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS là Truyền thông nhóm nhỏ và Sinh hoạt câu lạc  
bộ tại địa phương.  
2. Lập kế hoạch và thực hiện giám sát các hoạt động truyền thông về HIV  
2.1. Xây dựng kế hoạch truyền thông  
16  
Các bước xây dựng kế hoạch:  
Bước 1: Xác định mục tiêu truyền thông (Objectives )  
Bước 2: Xác định đối tượng truyền thông (Audiences)  
Bước 3: Xây dựng thông điệp chính (Messages)  
Bước 4: Xác định kênh truyền thông và tổ chức các hoạt động truyền thông  
(Tools and activities)  
Bước 5: Xác định nguồn lực (Resources )  
Bước 6: Lộ trình tổ chức thực hiện (Timescales)  
Bước 7: Đánh giá hiệu quả và điều chỉnh nội dung truyền thông (Evaluation and  
Adjustment ).  
2.2. Giám sát lộ trình và đánh giá thực hiện kế hoạch  
2.2.1. Lập bảng phân công Quản lý và Lộ trình thực hiện các hoạt động cụ thể  
Các hoạt động cụ thể Thời gian Đơn vị/ Người Dự kiến Dự kiến  
thực hiện  
chịu  
trách kết quả kinh phí  
đầu ra  
nhiệm  
1.Tuyên truyền giáo dục:  
+ Hđ. 1:.......  
+ Hđ. 2:.......  
2. Đào tạo tập huấn:  
- Hđ. 1:...... Hđ. 2:......  
2.2.2. Lập bảng theo dõi, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch  
Các hoạt động  
Đầu vào  
(đầu tư ban  
đầu)  
Quá trình  
Kết quả đầu  
Hiệu quả/  
của Kế hoạch  
thực hiện  
ra  
Tác động  
Liệt kê thứ tự các Bao  
hoạt động/mục tiêu các thành tố các hoạt động, lẻ mang tính được  
của CT/Dự án/ KH của nguồn CT chính sách trực tiếp ,cụ hợp từ các  
gồm Nêu toàn bộ Kết quả đơn Kết quả đạt  
tổng  
PCTNTT  
người lực  
...đã được thực thể đạt được kết quả đơn  
em của địa phương (5Ms):Tài  
hiện dựa theo của từng hoạt lẻ dựa theo  
chính, nhân mục tiêu  
động  
các chỉ số mà  
mục tiêu đề  
ra  
lực,  
vật  
lực...  
Truyền thông:  
17  
+ Phát thanh,  
+ Truyền hình:....  
+ In ấn tài liệu...  
Đào  
tạo,  
tập  
huấn:......  
3. Hình thức truyền thông phòng ngừa lây nhiễm HIV và giảm sự kỳ thị với  
người có HIV  
3.1.Truyền thông trực tiếp  
Truyền thông trực tiếp là quá trình trực tiếp đối thoại, trao đổi thông tin  
hoặc đưa các thông điệp bằng lời nói, hành động, cử chỉ, dáng điệu giữa người  
truyền tin và người nhận tin, trong đó người truyền tin cũng là người nhận tin và  
ngược lại, người nhận tin cũng là người truyền tin. Truyền thông trực tiếp có ưu  
thế là người phát tin đầu tiên có thể biết được người tiếp nhận các thông điệp ra  
sao nên có thể điều chỉnh nội dung thông điệp và cách thức tuyền đạt cho phù  
hợp với yêu cầu và trình độ của người nhận; Tuy nhiên, các hình thức truyền  
thông trực tiếp là chỉ có thể chuyển tải thông điệp đến một số lượng người hạn  
chế và mất nhiều thời gian, công sức. Truyền thông trực tiếp có các hình thức:  
truyền thông nhóm nhỏ, sinh hoạt Câu lạc bộ và tổ chức hội thảo, tập huấn, diễn đàn.  
=> Muốn thay đổi hành vi của mọi người dân để giảm kỳ thị và phân biệt đối xử với  
người có và bị ảnh hưởng bởi HIV/AIDS cần tác động đến kiến thức, nhận thức, thái  
độ, lòng tin và hỗ trợ kỹ năng cho các cán bộ giáo dục, giáo viên, học sinh, các bậc  
cha mẹ và mọi người dân trong cộng đồng thông qua công tác truyền thông.  
3.2.Truyền thông gián tiếp (truyền thông đại chúng)  
Truyền thông gián tiếp là truyền thông mà nội dung thông tin về giảm  
KTPBĐX được thực hiện qua đài phát thanh, vô tuyến truyền hình, báo chí,  
Pano-áp phích, tranh gấp...  
Truyền thông đại chúng có ưu điểm là nội dung truyền thông thống nhất,  
nhanh, đến nhiều người và tạo được dư luận. Tuy nhiên, chúng có nhược điểm là  
khó thu được thông tin phản hồi và đòi hỏi phải có phương tiện. Mỗi loại phương  
tiện truyền thông đại chúng lại có những ưu thế và hạn chế riêng.  
Nhu cầu nắm bắt thông tin của con người cũng có sự phát triển nhanh  
chóng và ngày càng đa dạng. Hiện nay, các phương tiện truyền thông đại chúng  
như báo in, phát thanh, truyền hình, internet quảng cáo, các loại băng, đĩa âm  
18  
 
thanh, hình ảnh… đã trở thành nhu cầu “không thể thiếu” trong đời sống của đại  
đa số người dân trên toàn cầu. Theo thống kê mới nhất của Hiệp hội Xuất bản –  
Báo chí thế giới (WAN-IFRA), hơn 3 tỷ người, hoặc 72% số người lớn biết chữ  
trên toàn thế giới đọc, theo dõi thường xuyên các phương tiện thông tin đại  
chúng. Vì thế một nhân viên công tác xã hội về HIV cần có những hiểu biết cần  
thiết trong việc truyền thông đại chúng về vấn đề này.  
Các hình thức và những lưu ý khi truyền thông đại chúng về HIV/AIDS  
như:  
3.2.1. Các hình thức truyền thông đại chúng  
a.Tuyên truyền  
* Mít tinh, Diễn văn, Diễu hành:  
Tổ chức các buổi diễu hành, tập họp đông đảo dân chúng vào một khu  
công cộng để nghe tuyên truyền như thường tổ chức các buổi mít tinh kỷ niệm  
ngày phòng chống AIDS thế giới ngày 1/12 hàng năm, trong buổi mít tinh đó sẽ  
có diễn văn, có diễu hành và các hoạt động kèm theo.  
* Báo chí, TV, Radio, Internet:  
Các cơ quan truyền thông như báo chí, radio và website do nhà nước quản  
lý sẽ đưa tin tức về HIV, về thái độ kỳ thị của cộng đồng, tuyên truyền nhằm  
giảm sự kỳ thị của cộng đồng với người có HIV, cung cấp thông tin có lợi cho  
người có HIV.  
* Phim ảnh, Văn nghệ, Nghệ thuật: có thể sử dụng những bộ phim, sản phẩm âm  
nhạc, nghệ thuật, hoặc các hình thức sân khấu hoá với nội dung tuyên truyền  
kiến thức về HIV/AIDS, giảm sự kỳ thị của cộng đồng với người có HIV.  
b. Cổ động trực quan:  
Tuyên truyền, cổ động trực quan là phương thức tác động trực tiếp vào  
giác quan, tạo cho người xem những ấn tượng mạnh mẽ, sâu sắc vì “trăm nghe  
không bằng một thấy”; có khả năng tuyên truyền sinh động, hấp dẫn, dễ nhớ, dễ  
hiểu, dễ làm… Nhờ vậy mang lại hiệu quả to lớn trong công tác tuyên truyền.  
Các hình thức cổ động trực quan phổ biến hiện nay là: băng rôn, khẩu hiệu,  
tranh áp phích, biển quảng cáo… Trên những phương tiện cổ động trực quan  
này có thể là những cụm từ ngắn gọn về HIV/AIDS; hình ảnh về hiểm hoạ của  
HIV, hay các thông tin về phòng tránh về khám, tư vấn điều trị HIV…  
3.2.2. Các kỹ năng truyền thông đại chúng  
a. Chuẩn bị đề cương có nội dung truyền thông  
19  
- Đề cương tuyên truyền, cổ động là loại văn bản sử dụng ngôn ngữ viết để phân  
tích, giải thích, minh họa đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật  
của Nhà nước, nhằm giúp cho cán bộ tuyên truyền, cổ động có nội dung tư  
tưởng về HIV/AIDS thống nhất, có những thông tin cần thiết để tiến hành tuyên  
truyền, cổ động. Nó giúp cho đối tượng nhận thức đúng đắn, chính xác các quan  
điểm của Đảng, định hướng suy nghĩ, hành động theo mục tiêu đề ra.  
b. Các bước xây dựng đề cương tuyên truyền, cổ động  
Xác định rõ mục đích, yêu cầu đạt được về mặt nhận thức và tạo chuyển  
biến về tư tưởng, hành động phù hợp với đối tượng về HIV/AIDS.  
Thu thập thông tin từ các nguồn: văn kiện, chỉ thị, nghị quyết, chủ trương,  
chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về HIV/AIDS. Chú ý những thông  
tin chính thống, thông tin có tính thời sự. Ngoài ra, cần sưu tầm các thông tin về  
việc điều trị, về các tình huống cụ thể.  
Phân tích, xử lý thông tin, chọn lọc những thông tin càn thiết, quan trọng,  
có giá trị, sắp xếp tư liệu theo trình tự nội dung của đề cương về vấn đề  
HIV/AIDS .  
Xác định dạng và bố cục đề cương tuyên truyền, cổ động tùy theo nội  
dung và nhiệm vụ tuyên truyền, cổ động đối tượng. Xây dựng dàn ý chi tiết, chú  
trọng luận đề, luận điểm, luận chứng, luận cứ của đề cương. Số liệu nêu trong đề  
cương phải tiêu biểu, làm luận chứng để chứng minh cho luận đề. Xác định rõ  
vấn đề trọng tâm của đề cương, cấu trúc của đề cương phải hợp lý, chặt chẽ.  
Xác định ngôn ngữ thể hiện, ngôn ngữ phải phổ thông, trong sáng, dễ  
hiểu, phù hợp với trình độ và quá trình nhận thức của đối tượng.  
Chọn phong cách thể hiện làm sao đạt được hiệu quả tuyên truyền, cổ động. Tùy  
theo từng chủ đề, đối tượng và điều kiện ở cơ sở mà sử dụng phong cách thể  
hiện phù hợp. Có thể sử dụng phong cách cởi mở thân thiện, hoặc nghiêm trang,  
lịch sử v.v… Có thể dùng phương pháp diễn giảng, quy nạp, hoặc kết hợp cả hai  
v.v…  
Đề cương tuyên truyền cần có sự tham gia của các ban, ngành và được  
cấp ủy có thẩm quyền duyệt và được dùng cho nhiều người tuyên truyền.  
c. Tổ chức hoạt động truyền thanh ở xã, phường, thị trấn  
Hoạt động truyền thanh, xã, phường, thị trấn có vai trò, vị trí rất quan  
trọng trong việc tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
docx 56 trang baolam 23420 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Giáo trình môn Công tác xã hội với người có và bị ảnh hưởng", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • docxgiao_trinh_mon_cong_tac_xa_hoi_voi_nguoi_co_va_bi_anh_huong.docx