Quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất hướng thiện, nhân bản của tôn giáo và việc phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo ở Việt Nam hiện nay

Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Số 48, 2020  
QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ BẢN CHẤT HƯỚNG THIỆN,  
NHÂN BẢN CỦA TÔN GIÁO VÀ VIỆC PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ  
VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
HỒ VĂN ĐỨC  
Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
Tóm tắt.Tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và tôn giáo có những giá trị văn hoá,  
đạo đức phù hợp với chế độ xã hội. Vì vậy, trong công cuộc xây dựng xã hội mới, việc phát huy những  
giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo có ý nghĩa thiết thực đối với việc đẩy mạnh công tác an sinh  
xã hội, bảo tồn các giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc, đạo đức truyền thống, ngăn ngừa sự suy thoái về  
đạo đức, lối sống do những tác động của mặt trái cơ chế thị trường. Thông qua bài viết này, tác giả góp  
phần giúp bạn đọc nhận thức rõ hơn quan điểm của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam về việc  
khuyến khích phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo.  
Từ khóa: tư tưởng Hồ Chí Minh, chính sách tôn giáo, văn hóa và đạo đức tôn giáo.  
HO CHI MINH'S VIEWPOINT ON THE NATURE OF GOODNESS, HUMANITY OF  
RELIGION AND THE PROMOTION OF CULTURAL AND ETHICAL VALUES OF  
RELIGION IN THE PRESENT OF VIETNAM  
Abstract.Religion is spiritual demand of a portion of people in Viet Nam having cultural and ethical  
values suitable to the social regime. Hence, in the process of building a new society, the promotion of the  
good cultural and ethical values of religion has positive impacts on the development of social life and  
security, preserving value of the good of the national culture, traditional morality and preventing the  
deteriotion in morality and lifestyle due to the impacts of the downside of the market economy. By this  
article, the author wants to help readers become more aware of the viewpoint of views of Ho Chi Minh  
and the Communist Party of Vietnam on encouraging and promoting of good cultural and moral values of  
religion.  
Keywords: Ho Chi Minh thoughts, religious policies, culture and religious morality.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Là quốc gia có diện tích không rộng lớn, nhưng ở Việt Nam đang dung nạp và tồn tại nhiều hình thức tín  
ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Từ những hình thức tôn giáo sơ khai đến hiện đại, tín ngưỡng phương Đông  
đến tôn giáo phương Tây cùng tồn tại bên cạnh những loại hình tín ngưỡng dân gian, bản địa của các  
cộng đồng dân tộc trong nước. Theo báo cáo của Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay ở Việt Nam có  
khoảng 95% dân số có nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo. Tính đến tháng 8/2019 Nhà nước ta đã công nhận và  
cấp đăng ký hoạt động cho 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với khoảng 26 triệu tín đồ, chiếm hơn 1/4 dân số  
cả nước, gần 56 nghìn chức sắc, 145.721 chức việc, 29.396 cơ sở thờ tự tôn giáo và khoảng 45.000 cơ sở  
tín ngưỡng, trong đó có hơn 3.000 di tích gắn với tín ngưỡng, tôn giáo, một số được UNESCO công nhận  
là di sản văn hóa thế giới [1]. Trong tiến trình lịch sử phát triển đất nước ta, tôn giáo có những đóng góp  
trên nhiều phương diện, trong đó nổi bật nhất là phương diện văn hóa, đạo đức. Những giá trị văn hóa,  
đạo đức tôn giáo đã góp phần làm cho nền văn hóa Việt Nam thêm phong phú và đặc sắc. Tuy nhiên, ý  
nghĩa và vai trò của văn hóa, đạo đức tôn giáo trong từng giai đoạn lịch sử cũng được nhìn nhận khác  
nhau, điều đó phụ thuộc vào quan điểm của chính quyền đối với tôn giáo, cũng như đường hường hoạt  
động của chính bản thân tôn giáo.  
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm và cách ứng xử đúng đắn đối với tôn giáo. Người luôn có  
ý thức tìm kiếm, đề cao và khuyến khích phát huy mặt tích cực, điểm tương đồng, những “hạt nhân hợp  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
22 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ BẢN CHẤT HƯỚNG THIỆN, NHÂN BẢN CỦA TÔN GIÁO  
VÀ VIỆC PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
lý” trong tôn giáo. Trong đó, Hồ Chí Minh đặc biệt chú ý khai thác những giá trị văn hóa, đạo đức nhân  
văn, tư tưởng nhân bản của tôn giáo để lan tỏa trong đời sống xã hội, bồi đắp cho nền văn hóa dân tộc  
Việt Nam. Đây là bài học lớn quý báu mà Đảng và Nhà nước ta tiếp thu và vận dụng để hoạch định chính  
sách tôn giáo trong thời kỳ đổi mới đất nước. Hiện nay, bên cạnh chính sách nhất quán là tôn trọng và bảo  
đảm quyền tự do tín ngưỡng, đoàn kết đồng bào tôn giáo trong khối đại đoàn kết dân tộc, Đảng ta còn  
khẳng định, “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo” góp phần vào công cuộc  
xây dựng xã hội mới. Vì vậy, qua bài viết này, tác giả làm rõ những nội dung cơ bản của quan điểm Hồ  
Chí Minh về bản chất hướng thiện, nhân bản của tôn giáo, cũng như sự vận dụng quan điểm khoa học đó  
vào quá trình thực hiện chính sách tôn giáo ở Việt Nam hiện nay. Từ đó góp phần tuyên truyền tư tưởng  
Hồ chí Minh và chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo, nâng cao nhận thức của cán bộ,  
đảng viên, nhân dân về vai trò tích cực của những giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo trong công cuộc đổi  
mới hiện nay, khi mà chúng ta cần phải huy động mọi nguồn lực tham gia vào sự nghiệp xây dựng đất  
nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.  
2. QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ BẢN CHẤT HƯỚNG THIỆN VÀ NHÂN BẢN CỦA  
TÔN GIÁO  
Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về tôn giáo vào điều kiện cụ thể ở Việt Nam,  
Hồ Chí Minh đã có quan điểm và cách ứng xử đúng đắn đối với vấn đề tôn giáo ở nước ta, góp phần xây  
dựng khối đoàn kết toàn dân tộc trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tư tưởng Hồ Chí Minh về  
tôn giáo bao gồm một hệ thống những quan điểm, chính sách đối với tôn giáo và công tác tôn giáo ở Việt  
Nam. Tuy nhiên, trong bài viết này, tác giả chỉ tập trung phân tích làm rõ quan điểm của Hồ Chí Minh về  
bản chất hướng thiện và nhân bản của tôn giáo.  
Trong tác phẩm “Chống Đuyrinh”, Ph.Ăngghen viết: “Tất cả mọi tôn giáo chẳng qua chỉ là sự phản ánh  
hư ảo - vào trong đầu óc của con người - của những lực lượng ở bên ngoài chi phối cuộc sống hàng ngày  
của họ; chỉ là sự phản ánh trong đó những lực lượng ở trần thế đã mang hình thức những lực lượng siêu  
trần thế” [2, tr.437]. Như vậy, bản chất sự phản ánh tôn giáo là sự phản ánh hư ảo về thế giới tự nhiên và  
con người, về các quan hệ xã hội, thậm chí các giá trị văn hóa, các chuẩn mực đạo đức của con người.  
Xuất phát từ nền tảng của đời sống hiện thực, con người đã tạo dựng nên các biểu tượng tôn giáo, hình  
thành triết lý tôn giáo, cả những nghi lễ và tổ chức tôn giáo. Từ những bất lực trong cuộc sống, từ những  
khát vọng khó vươn tới trong hiện thực, con người đã tô điểm, xây đắp cho các hình tượng của mình  
những sức mạnh có tính siêu nhiên, mang tính huyền ảo, nhằm xây dựng thế giới khác với con người,  
đứng trên con người, chi phối con người. Tuy nhiên, cũng chính trong quá trình đó, tôn giáo được tích  
hợp những giá trị văn hóa, đạo đức của con người.  
Tiếp thu quan điểm của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất của tôn giáo, Hồ Chí Minh  
tìm thấy cái chung trong giáo lý của các tôn giáo chân chính là đều phản ánh khát vọng về một cuộc sống  
ấm no, tự do và hạnh phúc của quần chúng nhân dân bị áp bức bóc lột; thấy được giá trị nhân bản của các  
tôn giáo chân chính là hướng tín đồ, hướng nhân loại tới bình đẳng, tự do, bác ái; có những điều cấm kỵ,  
răn dạy trong giáo lý các tôn giáo mang giá trị đạo đức và nhân văn sâu sắc, khuyên con người làm những  
điều lành, điều thiện, điều nhân nghĩa, vươn tới cái đẹp, cái cao cả vì lợi ích bản thân và cộng đồng, tránh  
làm những điều ác, điều xấu, gian tà, điều bất nhân. Hồ Chí Minh khẳng định: “Học thuyết của Khổng Tử  
có ưu điểm của nó là sự tu dưỡng đạo đức cá nhân. Tôn giáo Giêsu có ưu điểm của nó là lòng nhân ái cao  
cả. Chủ nghĩa Mác có ưu điểm của nó là phương pháp làm việc biện chứng. Chủ nghĩa Tôn Dật Tiên có  
ưu điểm của nó, chính sách của nó thích hợp với điều kiện nước ta. Khổng Tử, Giêsu, Mác, Tôn Dật Tiên  
chẳng có những ưu điểm chung đó sao? Họ đều muốn mưu hạnh phúc cho loài người, mưu phúc lợi cho  
xã hội. Nếu hôm nay họ còn sống trên đời này, nếu họ họp lại một chỗ, tôi tin rằng họ nhất định chung  
sống với nhau rất hoàn mỹ như những người bạn thân thiết” [3, tr.185]. Hay trong một bài đăng trên Báo  
Nhân dân, Hồ Chí Minh viết: “Chúa Giêsu dạy: Đạo đức là bác ái. Phật Thích Ca dạy: Đạo đức là từ bi.  
Khổng Tử dạy: Đạo đức là nhân nghĩa” [4, tr.225].  
Theo Hồ Chí Minh, giá trị nhân bản, đạo đức của tôn giáo chân chính không chỉ biểu hiện trong hệ thống  
giáo lý mà còn biểu hiện qua nhân cách người sáng lập các tôn giáo. Nhân cách ấy về tư tưởng là khát  
vọng hy sinh cho con người, vì con người, về hành động là sự xả thân để mưu hạnh phúc cho con người,  
phúc lợi cho xã hội. Người cho rằng: “Mục tiêu cao cả của Phật Thích Ca và Chúa Giêsu đều giống nhau:  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ BẢN CHẤT HƯỚNG THIỆN, NHÂN BẢN CỦA TÔN GIÁO 23  
VÀ VIỆC PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
Thích Ca và Chúa Giêsu đều muốn mọi người có cơm ăn, áo mặc, bình đẳng, tự do và thế giới đại đồng”  
[3, tr.239]. Hay trong thư gửi đồng bào Công giáo ngày 25-12-1945, Hồ Chí Minh viết: “Cách một nghìn  
chín trăm bốn mươi nhăm năm trước, cũng ngày hôm nay, một vị thánh nhân là Đức Chúa Giêsu ra đời.  
Suốt đời Ngài chỉ hy sinh phấn đấu cho tự do, cho dân chủ. Từ ngày Ngài giáng sinh đến nay đã gần 2000  
năm, nhưng tinh thần thân ái của Ngài chẳng những không phai nhạt mà toả ra đã khắp, thấm vào đã sâu”  
[5, tr.128]. Tinh thần đó cũng được thể hiện trong thư Hồ Chí Minh gửi đồng bào Phật giáo nhân ngày  
Phật đản năm 1947: “Đức Phật là đại từ đại bi, cứu khổ cứu nạn, muốn cứu chúng sinh ra khỏi khổ nạn  
Người phải hy sinh tranh đấu, diệt lũ ác ma” [6, tr.197]. Thừa nhận những đóng góp của người sáng lập  
các tôn giáo cho tự do, hạnh phúc của con người nên Hồ Chí Minh luôn bày tỏ sự tôn trọng của mình đối  
với các vị ấy. Trong những bức thư, bài viết, lời phát biểu của Chủ tịch Hồ Chí Minh với đồng bào Công  
giáo, Người thường nói đến Chúa trước khi nói đến Tổ quốc, như: “Tôi cầu nguyện Đức Chúa phù hộ cho  
đồng bào giữ vững tinh thần ái quốc, đủ sức chống lại giặc Pháp, đặng làm tròn nhiệm vụ thiêng liêng là  
phụng sự Đức Chúa, phụng sự Tổ quốc” [5, tr.701]. Hồ Chí Minh cũng luôn đề cao người sáng lập các  
tôn giáo, nêu gương tốt của họ và khuyến khích tín đồ và chức sắc tôn giáo noi theo những tấm gương ấy.  
Trong lời cảm ơn đồng bào Công giáo ngày 14-10-1945, Người viết: “Đức Giêsu hy sinh vì muốn loài  
người được tự do hạnh phúc, đồng bào ta cả lương cả giáo cũng vì tự do hạnh phúc cho toàn dân mà hy  
sinh phấn đấu” [5, tr.50].  
Hồ Chí Minh cho rằng, bản chất hướng thiện và nhân bản của tôn giáo, những giá trị về đạo đức trong các  
tôn giáo chân chính la điểm phù hợp với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội, với đường lối của Đảng và Nhà  
nước Việt Nam; và đó cũng chính là điểm tương đồng để đoàn kết giữa những người có tín ngưỡng tôn  
giáo với những người không có tín ngưỡng tôn giáo, giữa những người có tín ngưỡng tôn giáo khác nhau  
trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Mục tiêu đoàn kết lương giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc  
của Hồ Chí Minh là nhằm đạt ước vọng mà cả cuộc đời Người nguyện hy sinh phấn đấu để thực hiện, đó  
là độc lập cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân. Hồ Chí Minh khẳng định: “Ta đoàn kết để đấu tranh  
cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết để xây dựng nước nhà” [7, tr.438]. Độc lập  
cho dân tộc và hạnh phúc cho nhân dân cũng được Hồ Chí Minh xem là mẫu số chung để đoàn kết mọi  
tầng lớp nhân dân Việt Nam, không phân biệt đảng phái, giai tầng xã hội, dân tộc, tôn giáo, già trẻ, gái  
trai, ở trong nước hay ngoài nước.  
Việc phát hiện ra bản chất hướng thiện và nhân bản của các tôn giáo chân chính đã giúp Hồ Chí Minh  
vượt qua các tư tưởng duy vật tầm thường - “xem tôn giáo chỉ là tập đại thành của những luận thuyết ủy  
mị, chống lý tính, tử thù của khoa học”, đưa ra cách ứng xử đúng đắn với tôn giáo trong điều kiện cụ thể  
ở Việt Nam. Đó cũng là cơ sở để Hồ Chí Minh không rập khuôn tiến hành một cuộc đấu tranh về mặt tư  
tưởng một cách trừu tượng với thế giới quan tôn giáo như thường thấy ở châu Âu; không khai thác những  
điều khác biệt, trái ngược về thế giới quan giữa chủ nghĩa duy vật và tôn giáo. Ngược lại, Hồ Chí Minh  
luôn có ý thức tìm kiếm, khai thác những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp chứa đựng trong các tôn giáo để  
kế thừa, bổ sung làm giàu thêm nền văn hóa của nước nhà; phục vụ cho việc xây dựng xã hội mới trên cơ  
sở độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Tuy nhiên, khẳng định những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp chứa  
đựng trong các tôn giáo hoàn toàn không có nghĩa là Hồ Chí Minh đồng nhất thế giới quan duy vật và thế  
giới quan duy tâm. Người từng nói chủ nghĩa duy linh và chủ nghĩa duy vật là khác nhau, nhưng không  
phải vì thế mà bài xích, nghi kỵ, đối đầu nhau, chà đạp lên quyền tự do của nhau; trái lại cần phải tôn  
trọng tự do tín ngưỡng của công dân, trân trọng những giá trị nhân văn của tôn giáo.  
3. PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC TỐT ĐẸP CỦA CÁC TÔN  
GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
Học tập và vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất hướng thiện và nhân bản của tôn giáo,  
trong thời kỳ đổi mới đất nước Đảng và Nhà nước Việt Nam chủ trương “phát huy những giá trị văn hóa,  
đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo”, nhằm bảo tồn các giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc, đạo đức truyền  
thống, huy động mọi nguồn lực từ tôn giáo góp phần xây dựng xã hội mới hiện nay.  
Trong thời kỳ đổi mới đất nước, sự khẳng định về những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo  
lần đầu tiên được thể hiện ở Nghị quyết 24/NQ-TW ngày 16-10-1990 của Bộ Chính trị “Về tăng cường  
công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Nghị quyết này được xem là mốc đánh dấu bước ngoặt trong việc  
đổi mới tư duy về tôn giáo của Đảng Cộng sản Việt Nam; trong đó có quan điểm mang “tính đột phá” là:  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
24 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ BẢN CHẤT HƯỚNG THIỆN, NHÂN BẢN CỦA TÔN GIÁO  
VÀ VIỆC PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
“Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân và tôn giáo có những giá trị văn  
hoá, đạo đức phù hợp với chế độ xã hội mới” [8, tr.208]. Quan điểm chỉ đạo này đã nhanh chóng tạo  
nên sự thay đổi về nhận thức: Không thể nhìn tôn giáo qua mệnh đề của C.Mác đã bị cắt xén và phiến  
diện “Tôn giáo là thuốc phiện của nhân dân”; hay coi tôn giáo như là “tàn dư” của xã hội cũ, là kết quả sai  
lầm trong nhận thức của con người, tôn giáo đối lập với chủ nghĩa xã hội, với khoa học, kỹ thuật hiện đại  
và cần phải loại bỏ... Cần phải nhìn nhận tôn giáo như một “thực tại xã hội” và là nhu cầu của một bộ  
phận quần chúng và tôn giáo hoàn toàn có thể đồng hành với chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt luận điểm mới  
mẻ về văn hóa, đạo đức tôn giáo đã khơi dậy những suy nghĩ, hành động tích cực của quần chúng có tôn  
giáo cũng như không có tôn giáo. Khi các giá trị văn hóa, đạo đức của tôn giáo được đặt trong khuôn khổ  
của văn hóa dân tộc một mặt đã thừa nhận sự đa dạng của văn hóa dân tộc, mặt khác tạo thêm một con  
đường đoàn kết dân tộc, tôn giáo.  
Sau Nghị quyết 24/NQ-TW, quan điểm phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo  
còn được Đảng và Nhà nước khẳng định ở nhiều văn bản, trong đó đáng chú ý nhất là Chỉ thị 37- CT/TW  
ngày 2/7/1998 của Bộ Chính trị “Về công tác tôn giáo trong tình hình mới” - Một văn kiện quan trọng lần  
đầu tiên được đăng tải công khai trên tờ Nhân dân và hàng loạt các tờ báo khác. Nếu Nghị quyết 24 làm  
sáng tỏ quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về nhìn nhận tôn giáo và công tác tôn giáo thì Chỉ thị 37  
là sự cụ thể hóa những quan điểm đó bằng việc đề ra những nguyên tắc, chính sách và nhiệm vụ của công  
tác tôn giáo. Trong các nguyên tắc, đáng chú ý nhất là: “Những hoạt động tôn giáo ích nước lợi dân, phù  
hợp với nguyện vọng và lợi ích chính đáng, hợp pháp của tín đồ được bảo đảm. Những giá trị văn hóa,  
đạo đức tốt đẹp của tôn giáo được tôn trọng và khuyến khích phát huy” [9, tr.323]. Chỉ thị cũng đề ra  
nhiệm vụ mà Đảng và chính quyền các cấp phải thực hiện là: “Hướng dẫn các tôn giáo hoạt động theo  
hướng: Phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức lành mạnh, hướng thiện của tôn giáo phù hợp với truyền  
thống văn hóa dân tộc và đời sống xã hội; thực hiện tôn giáo gắn bó với dân tộc, đoàn kết hòa hợp đồng  
bào các tôn giáo cùng toàn dân xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [9, tr.324]. Nhìn một cách tổng thể, Chỉ thị  
37 không tạo bước đột phá mà là triển khai Nghị quyết Nghị quyết 24; cô đúc lại những vấn đề quan thiết  
mà Đảng, Nhà nước từ Trung ương đến địa phương phải thực hiện do nhu cầu thực tế đặt ra.  
Tiếp đến, ngày 12-3-2003, Nghị quyết 25-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khoá IX “Về công tác  
tôn giáo” được ban hành, đánh dấu thêm một bước tiến mới trong nhận thức của Đảng ta về lĩnh vực tôn  
giáo. Nội dung Nghị quyết 25 đến nay vẫn nguyên giá trị, có tính thời sự cao, phù hợp với công cuộc đổi  
mới của đất nước; chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay vẫn chủ yếu tuân theo  
những quan điểm chỉ đạo, những nhiệm vụ chủ yếu được thể hiện trong Nghị quyết này. Về văn hóa, đạo  
đức của tôn giáo cũng được Nghị quyết tái khẳng định: “Đạo đức tôn giáo có nhiều điều phù hợp với  
công cuộc xây dựng xã hội mới” [10, tr.46]. Để khuyến khích phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo  
trong các hoạt động thực tiễn, chia sẽ trách nhiệm với xã hội và đất nước, Đảng ta đưa ra giải pháp: “Giải  
quyết việc tôn giáo tham gia thực hiện chủ trương xã hội hóa các hoạt động y tế, văn hóa, xã hội, giáo  
dục… của Nhà nước, theo nguyên tắc: Khuyến khích các tôn giáo đã được Nhà nước thừa nhận tham gia  
phù hợp với chức năng, nguyên tắc tổ chức của mỗi tôn giáo và quy định của pháp luật. Cá nhân tín đồ,  
chức sắc, chức việc, nhà tu hành tham gia với tư cách công dân thì được khuyến khích và tạo điều kiện  
thực hiện theo quy định của pháp luật” [10, tr.54].  
Sau Nghị quyết 25-NQ/TW, tinh thần trên tiếp tục được Đảng Cộng sản Việt Nam tái khẳng định trong  
Báo cáo Chính trị các kỳ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII. Văn kiện Đại hội lần thứ XII  
(2016) nêu rõ: “Tiếp tục hoàn thiện chính sách, pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị  
văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Quan tâm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo sinh hoạt  
theo hiến chương, điều lệ của tổ chức tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, theo quy định của pháp luật,  
đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước” [11].  
Quan điểm về văn hóa, đạo đức tôn giáo không chỉ được thể hiện trong chủ trương đường lối của Đảng  
mà còn được thể chế hóa thành các quy định của pháp luật. Trong Luật tín ngưỡng, tôn giáo số  
02/2016/QH14, chủ trương của Đảng về phát huy giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo đã được  
ghi nhận ở một số điều, nhưng đáng chú ý nhất là Điều 3 quy định: “Nhà nước tôn trọng, bảo vệ giá trị  
văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công  
với đất nước, với cộng đồng đáp ứng nhu cầu tinh thần của Nhân dân” [12, tr.10]; Khuyến khích tôn giáo  
thể hiện tinh thần đạo đức trong thực tiễn cuộc sống, Điều 55 quy định các tổ chức tôn giáo “Được tham  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ BẢN CHẤT HƯỚNG THIỆN, NHÂN BẢN CỦA TÔN GIÁO 25  
VÀ VIỆC PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
gia các hoạt động giáo dục, đào tạo, y tế, bảo trợ xã hội, từ thiện, nhân đạo theo quy định của pháp luật có  
liên quan [12, tr.57]. Việc thể chế hóa thành các quy định của pháp luật như vậy đã tạo ra hành lang pháp  
lý cho hoạt động tôn giáo, là cơ sở để giải quyết các nhu cầu sinh hoạt tôn giáo, xác định rõ trách nhiệm  
của các cơ quan quản lý nhà nước về tôn giáo, quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức tôn giáo đang  
hoạt động ở Việt Nam; đồng thời cũng thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước Việt Nam đến nhu  
cầu tín ngưỡng của đồng bào có đạo.  
Thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật về tôn giáo của Đảng và Nhà nước, trong thời gian qua tôn  
giáo ở Việt Nam luôn phát huy truyền thống yêu nước, đoàn kết gắn bó đồng hành cùng dân tộc, tích cực  
hưởng ứng và tham gia các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động do các ban ngành đoàn thể  
phát động. Tôn giáo ở nước ta đã thực sự trở thành một nguồn lực quan trọng góp phần xây dựng và bảo  
vệ Tổ quốc. Về lĩnh vực văn hóa, các hoạt động từ thiện xã hội, tham gia chủ trương xã hội hóa y tế, giáo  
dục… các tổ chức tôn giáo có những đóng góp cụ thể như sau:  
Một là, tôn giáo tham gia xây dựng đời sống văn hóa cơ sở. Việt Nam là đất nước đa tín ngưỡng, đa tôn  
giáo và tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ đơn thuần là vấn đề tâm linh, tinh thần mà đó là vấn đề văn hóa,  
vấn đề đạo đức, lối sống. Các tôn giáo ở Việt Nam thông qua đường hướng hoạt động, thông qua giáo lý,  
giáo luật luôn tông hướng các tín đồ mở rộng tình yêu thương, sống vị tha, bác ái, bao dung. Các giá trị  
văn hóa, đạo đức, nhân văn kết tinh ở các tôn giáo được lan tỏa trong đời sống xã hội, góp phần xóa bỏ  
một số hủ tục lạc hậu, nhất là ở các vùng sâu, vùng xa. Một mặt tôn giáo góp phần chăm lo đời sống tinh  
thần, giải quyết nhu cầu tâm linh của tín đồ, góp phần hạn chế nảy sinh các loại hình tín ngưỡng mê tín dị  
đoan; mặt khác giáo lý, giáo luật các tôn giáo đều khuyên răn tín đồ và quần chúng nhân dân tuân thủ  
pháp luật, không làm những việc trái với đạo đức xã hội, góp phần cải tạo môi trường văn hóa lành mạnh,  
hướng thiện, sống tương thân tương ái. Văn hóa, đạo đức tôn giáo là một nhân tố tích cực góp phần cho  
văn hóa Việt Nam ngày càng phát triển phong phú và đa dạng. Trong công cuộc toàn dân đoàn kết xây  
dựng nông thôn mới, đô thị văn minh do Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc phát động, các tổ chức tôn  
giáo đã thực hiện tốt công tác tuyên truyền, vận động tín đồ tích cực hưởng ứng, chấp hành pháp luật và  
làm tròn nghĩa vụ công dân, giữ gìn và bảo vệ môi sinh, đẩy mạnh các hoạt động văn hóa văn nghệ, thể  
dục thể thao, nếp sống văn hóa, văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; đấu tranh với các hoạt động  
lợi dụng tôn giáo, hoạt động trái pháp luật, mê tín dị đoan. Do đó ở nhiều tỉnh thành trong cả nước đã xây  
dựng được những làng văn hóa, khu phố văn hóa với nét sinh hoạt đạo đời hòa hợp. Từ các phong trào thi  
đua đó đã xuất hiện ngày càng nhiều những gương tốt, việc tốt, những gương điển hình, xuất sắc trong lao  
động sản xuất phát triển kinh tế, giúp nhau xóa đói giảm nghèo. Các tổ chức tôn giáo ở nhiều tỉnh thành  
đã có nhiều mô hình hay, cách làm sáng tạo, như phong trao thi đua xây dựng xứ họ đạo tiên tiến, ông bà  
mẫu mực, con cháu thảo hiền, đẹp xóm làng, đẹp nhà cửa, đẹp ruộng vườn, tết của người nghèo, chùa tinh  
tiến, gia đình công giáo gương mẫu thực thi “tân phúc âm hóa gia đình”… Các phong trào “tốt đời đẹp  
đạo” lan tảo trong đời sống xã hội đã góp phần làm cho bản sắc văn hóa dân tộc, đạo đức truyền thống  
nhân văn của con người Việt Nam thêm phong phú, ngăn ngừa được tình trạng suy thoái đạo đức, lối  
sống thực dụng, vô cảm, thờ ơ của con người trong bối cảnh của toàn cầu hóa và tác động của mặt trái  
kinh tế thị trường.  
Hai là, tôn giáo tham gia chủ trương xã hội hóa y tế, giáo dục, các hoạt động từ thiện xã hội, góp phần  
đảm bảo an sinh xã hội. Với tinh thần đạo đức hướng thiện là nội dung tiêu biểu của các tôn giáo, thực  
hiện chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về xã hội hóa giáo dục và y tế, trong những năm qua nhiều cơ sở  
y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội do chức sắc tôn giáo thành lập, hoạt động vì mục đích nhân đạo, phi lợi  
nhuận, chủ yếu là giúp đỡ những người nghèo, những người có hoàn cảnh khó khăn.  
Về y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng: Hoạt động y tế được các tôn giáo triển khai theo hai hình thức  
chủ yếu là hoạt động thường xuyên và không thường xuyên. Về hoạt động thường xuyên, theo báo cáo  
của Ban Tôn giáo Chính phủ, cả nước hiện nay có gần 600 cơ sở y tế, phòng khám chữa bệnh từ thiện do  
các tổ chức tôn giáo ở các tỉnh thành lập ra dưới nhiều hình thức như là tuệ tỉnh đường, trạm xá, phòng  
khám đa khoa, phòng chẩn trị đông y, phòng nam tủ thuốc… Công giáo có gần 150 trạm xá, Tịnh độ Cư  
sỹ Phật hội Việt Nam có khoảng 210 hội quán và cũng là phòng thuốc nam phước thiện, Phật giáo có  
khoảng trên 130 phòng khám đông y, 10 phòng khám tây y, Cao Đài có 93 cơ sở khám chữa bệnh từ  
thiện. Mỗi năm các cơ sở y tế, phòng khám chữa bệnh của tôn giáo đã khám, bốc thuốc cho hàng vạn lượt  
bệnh nhân, trong đó ưu tiên khám chữa bệnh, cấp miễn phí thuốc cho người nghèo, những người có hoàn  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
26 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ BẢN CHẤT HƯỚNG THIỆN, NHÂN BẢN CỦA TÔN GIÁO  
VÀ VIỆC PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
cảnh đặc biệt khó khăn, với tổng kinh phí hàng trăm tỷ đồng đã góp phần cùng với chính quyền các cấp  
chăm lo sức khỏe cho nhân dân tốt hơn [1]. Những hoạt động không thường xuyên, hàng năm các tổ chức  
tôn giáo còn phối hợp với Hội Chữ thập đỏ, Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo, Hội Y học cổ truyền và đoàn  
thể các cấp trong việc hỗ trợ chuyến xe chuyển bênh; bữa ăn miễn phí cho bệnh nhân nghèo tại một số  
bệnh viện; tổ chức đoàn khám và cấp thuốc miễn phí; xây dựng nhà đoàn kết tại các bệnh viện lớn ở  
Trung ương và địa phương, hàng ngày những nồi cháo tình thương, những bữa cơm miễn phí do chức sắc,  
tín đồ tôn giáo đảm nhiệm vẫn duy trì đều đặn nhằm chia sẽ, động viên, giúp đỡ bệnh nhân nghèo yên tâm  
điều trị.  
Về giáo dục: Các cơ sở giáo dục do tôn giáo thành lập chủ yếu là tham gia giáo dục mầm non và dạy  
nghề. Tính đến nay cả nước có khoảng 300 trường mần non, 2000 lớp học tình thương, 12 cơ sở dạy nghề  
thuộc các tổ chức tôn giáo. Hàng năm các cơ sở dạy nghề tuyển sinh đào tạo hướng nghiệp cho hàng  
nghìn con em. Sau khi tốt nghiệp ra trường, đa số các học viên đều có việc làm ổn định, có mức thu nhập  
khá, người lao động từ các cơ sở dạy nghề của các tôn giáo được đánh giá cao về kỷ năng lao động, về  
trách nhiệm và kỷ luật lao động tốt [1]. Ngoài ra nhiều tổ chức tôn giáo có quỹ học bổng để hỗ trợ học  
sinh nghèo vượt khó, vận động học sinh đến trường nên tình trạng bỏ học ở nhiều nơi đã cơ bản được  
chấm dứt. Việc học hành của con em giáo dân được các tôn giáo, chức sắc quan tâm do đó tỷ lệ học sinh  
tiên tiến, học sinh giỏi ở các trường ngày càng tăng.  
Về công tác bảo trợ xã hội: Hiện nay cả nước có gần 800 cở sở bảo trợ xã hội của các tổ chức tôn giáo,  
đang nuôi dưỡng 12.000 trẻ mồ côi, trẻ em tàn tật, người già cô đơn, bệnh nhân tâm thần, bệnh nhân bị  
HIV/AIDS, tiếp nhận nhiều nhóm đối tượng có hoàn cảnh khó khăn góp phần chia sẽ với Nhà nước trong  
việc chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội [1]. Phát huy truyền thống tương thân tương ái, các tổ chức tôn  
giáo đã tham gia tích cực hoạt động từ thiện nhân đạo, luôn là điểm sáng trong phong trào thi đua yêu  
nước. Nhiều cơ sở tôn giáo là địa chỉ từ thiện giúp đỡ những mãnh đời khó khăn bất hạnh trong cuộc  
sống, hỗ trợ sách vỡ, xe đạp cho học sinh, tặng xe lăn cho người tàn tật, tặng quà, tặng bể nước, tặng bảo  
hiểm y tế, tặng chăn và áo ấm… Hàng năm các tổ chức tôn giáo đã đóng góp hàng nghì tỷ đồng cho hoạt  
động các cơ sở giáo dục, cơ sở y tế, bảo trợ xã hội và các hoạt động từ thiện. Chỉ tính 6 tháng đầu năm  
2019, các tổ chức tôn giáo đã đóng góp cho xã hội khoảng hơi 1 nghìn tỷ đồng về từ thiện xã hội [1].  
Nguồn kinh phí này được đóng góp từ chức sắc, tín đồ, các nhà hảo tâm, các doanh nghiệp, cơ sở sản  
xuất. Những việc làm thiện nguyện, nhân văn tốt đẹp ấy thể hiện vai trò của các tổ chức tôn giáo trong  
truyền thống đoàn kết, yêu thương, đùm bọc với nhau, tinh thần lá lành đùm lá rách của dân tộc Việt  
Nam, khẳng định chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước.  
Như vậy, việc phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo trong thời gian qua đã đạt  
được những thành tựu rất quan trọng. Những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tôn giáo không chỉ nằm  
trong tư tưởng, giáo lý mà đã và đang hiện diện thông qua hành động của đông đảo đồng bào có đạo  
nhằm vươn tới cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”. Tuy nhiên, liên quan đến lĩnh vực văn hóa, đạo đức tôn giáo  
cũng nảy sinh một số vấn đề:  
Một là, xuất hiện một số hiện tượng “tà đạo” có lý thuyết, nghi lễ trái với tôn giáo truyền thống; có những  
cách hành đạo trái với văn hóa truyền thống, trái với thuần phong mỹ tục của dân tộc nhằm mục đích gây  
thanh thế cá nhân, thu lợi bất chính về kinh tế, gây bất ổn về tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã  
hội.  
Hai là, một số kẻ đã núp bóng, trà trộn và lợi dụng các hình thức sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo để hành  
nghề mê tín dị đoan. Nó lôi kéo những người có niềm tin cuồng vọng vào các lực lượng siêu nhiên đến  
mức độ mê muội với những hành vi cực đoan, thái quá, phi nhân tính, phản văn hóa dẫn tới hậu quả xấu  
cho cá nhân, cộng đồng về thời gian, tài sản, sức khoẻ và thậm chí cả tính mạng.  
Ba là, trước tác động của mặt trái cơ chế thị trường, nhiều tiêu cực đã len lỏi vào sinh hoạt tôn giáo, hiện  
tượng “buôn thần bán thánh” có chiều hướng gia tăng nhằm lợi dụng niềm tin tôn giáo để trục lợi, vun  
vén cho cá nhân; một số chức sắc, nhà tu hành tôn giáo bị suy thoái về phẩm hạnh, đạo đức, chạy theo lối  
sống kim tiền, bị sa ngã vào vòng danh lợi… làm ảnh hưởng đến uy tín của giới chức sắc - “gương mặt  
văn hoá, đạo đức của tôn giáo, biểu tượng cao đẹp cho tín đồ noi theo”.  
Bốn là, bên cạnh phần lớn các hoạt động từ thiện của tôn giáo có ý nghĩa tích cực đối với xã hội, thể hiện  
tinh thần từ bi, bác ái của tôn giáo, thì đã có lúc có nơi bị kẻ xấu lợi dụng, hòng thông qua các hoạt động  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ BẢN CHẤT HƯỚNG THIỆN, NHÂN BẢN CỦA TÔN GIÁO 27  
VÀ VIỆC PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
từ thiện xã hội để làm động lực thu hút tín đồ, tập hợp lực lượng, lôi kéo, xúi giục, kích động quần chúng  
hoạt động vì mục đích chính trị phản động.  
Những vấn đề trên đã làm vẩn đục bầu sinh hoạt văn hóa tâm linh. Để giải quyết những vấn đề đó và phát  
huy hơn nữa những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo ở Việt Nam phục vụ công cuộc xây  
dựng xã hội mới hiện nay, tác giả bài báo đề xuất một số giải pháp cơ bản sau:  
Thứ nhất, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến chủ trương đường lối, chính sách, pháp luật về tôn  
giáo của Đảng và Nhà nước nhằm nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên, nhân dân, nhất là chắc sắc,  
chức việc, nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo về ý nghĩa, vai trò của những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp  
trong các tôn giáo ở Việt Nam hiện nay.  
Thứ hai, tăng cường quản lý nhà nước về hoạt động văn hóa tôn giáo, hoạt động từ thiện xã hội, tham gia  
chủ trương xã hội hóa y tế, giáo dục của các tổ chức tôn giáo; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các  
đoàn thể nhân dân và các hội văn học nghệ thuật trong công tác văn hóa tôn giáo.  
Thứ ba, nâng cao hiệu quả công tác vận động quần chúng; đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, xây  
dựng cuộc sống “tốt đời, đẹp đạo”, xây dựng đời sống văn hóa trong đồng bào có đạo; khuyến khích quần  
chúng tín đồ, chức sắc, nhà tu hành trong việc giữ gìn, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp  
của tôn giáo.  
Thứ tư, kịp thời phát hiện và đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng tôn giáo để hoạt động vì mục  
đích ngoài tôn giáo, nhằm bảo đảm các hoạt động tôn giáo diễn ra bình thường đúng theo pháp luật, thanh  
tịnh bầu sinh hoạt văn hóa tâm linh.  
4. KẾT LUẬN  
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh rất quan tâm đến việc đoàn kết đồng bào tôn  
giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân tộc; luôn có ý thức khai thác những giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo  
để kế thừa, bổ sung làm giàu nền văn hóa nước nhà, huy động mọi nguồn lực từ tôn giáo tham gia vào sự  
nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Học tập và làm theo tư tưởng của Hồ Chí Minh,  
trong thời kỳ đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta khẳng định “tôn giáo có những giá trị văn hoá, đạo  
đức phù hợp với chế độ xã hội mới”, cần phải “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của các  
tôn giáo” phục vụ công cuộc xây dựng xã hội mới hiện nay. Với vai trò là một thành tố cấu thành văn  
hóa, tôn giáo đã góp phần gìn giữ, bồi đắp và làm phong phú các giá trị truyền thống văn hóa, nhân văn  
có ảnh hưởng tích cực đến đời sống xã hội. Thông qua giáo lý khuyên con người hướng thiện, vị tha, bác  
ái. Những giới điều trong giáo lý các tôn giáo mang đạo đức và nhân văn sâu sắc, góp phần điều chỉnh  
hành vi ứng xử của con người. Các tôn giáo cùng với chính quyền và mặt trận Tổ quốc các cấp xây dựng  
đời sống văn hóa, xây dựng nông thôi mới và phát triển kinh tế - xã hội; cứu trợ thiên tai, chăm lo giúp đỡ  
người có hoàn cảnh khó khăn, giúp đỡ tiếp cận với các dịch vụ y tế, giáo dục, dạy nghề. Tuy nhiên bên  
cạnh đó, trong lĩnh vực văn hóa, đạo đức tôn giáo cũng nảy sinh một số hạn chế nhất định. Vấn đề đặt ra  
là cần phải có những giải pháp phù hợp để khắc phục những hạn chế, đồng thời tiếp tục phát huy vai trò  
của những giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo trong thực tiễn cuộc sống góp phần xây dựng nền đạo đức  
mới, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đóng góp vào sự phát triển chung của đất nước.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Ban Tôn giáo Chính phủ: http://www.btgcp.gov.vn/plus.aspx/vi/1  
[2] C.Mác và Ph.Ăngghen (2002), Toàn tập, tập 20, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
[3] Viện Nghiên cứu tôn giáo (1998), Hồ Chí Minh về vấn đề tôn giáo tín ngưỡng, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội.  
[4] Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 6, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
[5] Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 4, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
[6] Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 5, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
[7] Hồ Chí Minh (2000), Toàn tập, tập 7, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
[8] Nguyễn Đức Lữ (2009), Tôn giáo - Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam hiện nay, Nxb.  
Chính trị - Hành chính, Hà Nội.  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
28 QUAN ĐIỂM CỦA HỒ CHÍ MINH VỀ BẢN CHẤT HƯỚNG THIỆN, NHÂN BẢN CỦA TÔN GIÁO  
VÀ VIỆC PHÁT HUY NHỮNG GIÁ TRỊ VĂN HÓA, ĐẠO ĐỨC TÔN GIÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY  
[9] Nguyễn Đức Lữ chủ biên (2007), Lý luận về tôn giáo và chính sách tôn giáo ở Việt Nam, Nxb. Tôn giáo, Hà Nội.  
[10] Đảng Cộng sản Việt Nam (2003), Văn kiện Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa IX, Nxb.  
Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
[11] Đảng Cộng sản Việt Nam (2016), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương  
Đảng, Hà Nội.  
[12] Luật tín ngưỡng, tôn giáo, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2017.  
Ngày nhận bài: 03/03/2020  
Ngày chấp nhận đăng: 06/06/2020  
© 2020 Trường Đại học Công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh  
pdf 8 trang baolam 23000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Quan điểm của Hồ Chí Minh về bản chất hướng thiện, nhân bản của tôn giáo và việc phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tôn giáo ở Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfquan_diem_cua_ho_chi_minh_ve_ban_chat_huong_thien_nhan_ban_c.pdf