Tài liệu Công tác xã hội với nạn nhân buôn bán người

for every child  
VIET NAM  
BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH  
(Dành cho cán bộ cấp cơ sở)  
VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
Hà Nội, 2017  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
MỤC LỤC  
LỜI MỞ ĐẦU................................................................................................................................... 4  
BÀI 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BUÔN BÁN NGƯỜI ............................................................... 6  
I. Khái niệm về buôn bán người ............................................................................................................................... 6  
II. Các nhóm đối tượng thường là nạn nhân của buôn bán người............................................................... 7  
III. Các nhóm nguy cơ là nạn nhân của buôn bán người ................................................................................. 8  
IV. Các thủ đoạn mà kẻ buôn người thường sử dụng....................................................................................... 9  
BÀI 2: TINH HINH NẠN BUÔN BÁN NGƯỜI VÀ NHỮNG CAN THIỆP HIỆN NAY........................10  
I. Tinh hinh nạn buôn bán người ...........................................................................................................................10  
II. Những can thiệp của xã hội đối với nạn buôn bán người ........................................................................17  
BÀI 3: MỘT SỐ VẤN ĐỂ CƠ BẢN CỦA NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI......................................26  
I. Một số vấn đề nạn nhân buôn bán người thường gặp phải.....................................................................26  
II. Nhu cầu của nạn nhân bị buôn bán..................................................................................................................30  
BÀI 4: VAI TRÒ CỦA NHÂN VIÊN CTXH VỚI NẠN NHÂN CỦA BUÔN BÁN NGƯỜI....................32  
I. Vai trò của nhân viên CTXH trong hỗ trợ nạn nhân buôn bán chưa trở về..........................................32  
II. Vai trò của nhân viên CTXH đối với nạn nhân bị buôn bán trở về tái hòa nhập cộng đồng ..................33  
BÀI 5: CÁC NGUYÊN TẮC VÀ PHƯƠNG PHÁP CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG TRỢ GIÚP  
NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI ..................................................................................................36  
I. Các nguyên tắc khi làm việc với nạn nhân buôn bán người .....................................................................36  
II. Các phương pháp CTXH trong trợ giúp NNBBN...........................................................................................38  
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................................................52  
3
LỜI MỞ ĐẦU  
Công tác xã hội có vị trí quan trọng trong giải quyết các vấn đề xã hội, nhằm đảm bảo công bằng  
và tiến bộ xã hội trong mỗi quốc gia. Chính vi vậy, Tháng 3 năm 2010 Thủ tưởng Chính phủ phê  
duyệt Đề án phát triển Nghề Công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 trong Quyết định số  
32/2010 – QĐ/TTg. Việc phát triển Công tác xã hội theo hướng chuyên nghiệp nhằm thực thi các  
chính sách an sinh xã hội có hiệu quả đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ xã hội chuyên nghiệp. Do vậy,  
một trong mục tiêu của Đề án đó là tới 2020 cần đào tạo mới và đào tạo lại 60.000 cán bộ xã hội có  
trinh độ kiến thức, kỹ năng nghề công tác xã hội.  
Đội ngũ nhân viên Công tác xã hội được đào tạo, trang bị những kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp  
để có thể làm việc, trợ giúp cho các đối tượng yếu thế trong xã hội. Một trong những đối tượng đó  
chính là những nạn nhân của nạn buôn bán người – một vấn nạn rất bức xúc và đau lòng ở Việt  
Nam hiện nay. Do vậy cuốn tài liệu này được biên soạn nhằm cung cấp những thông tin nền tảng  
về buôn bán người, những vấn đề gặp phải của nạn nhân bị buôn bán, nhu cầu của họ và hướng  
dẫn quy trinh hỗ trợ cho nạn nhân buôn bán trở về.  
Tài liệu được biên soạn với sự phối hợp của UNICEF, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội, Khoa  
Công tác xã hội - trường Đại học Sư phạm Hà Nội và những đóng góp chuyên môn của các nhà  
khoa học trong lĩnh vực này.  
Do lĩnh vực công tác xã hội với nạn nhân buôn bán người còn rất mới mẻ nên khi biên soạn không  
tránh khỏi những thiếu sót, nhóm biên soạn rất mong nhận được sự góp ý của bạn đọc để lần tái  
bản sau được hoàn thiện hơn.  
Trân trọng cảm ơn!  
Nhóm tác giả/Ban biên tập  
4
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
5
BÀI  
NHỮNG VẤN ĐỀ  
CHUNG VỀ BUÔN  
BÁN NGƯỜI  
I. KHÁI NIỆM VỀ BUÔN BÁN NGƯỜI  
Theo Điều 3, Nghị định thư của Liên Hợp Quốc về phòng, chống và trừng phạt việc buôn bán  
người (đặc biệt là phụ nữ và trẻ em) thi việc buôn bán người bao gồm: “các hình thức tuyển dụng,  
vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp, tiếp nhận người thông qua các biện pháp đe dọa, sử dụng vũ lực  
hoặc các hình thức khác như ép buộc, bắt cóc, lừa đảo, hoặc gian lận, lạm dụng quyền lực hoặc vị trí  
của nhóm dễ bị tổn thương hoặc thông qua việc nhận hoặc trả tiền… cho người đang nắm quyền kiểm  
soát người khác, vì mục đích bóc lột”. Nghị định này đã được bổ sung cho Công ước Liên Hợp Quốc  
về chống Tội phạm Có tổ chức Xuyên quốc gia.  
Như vậy, về cơ bản buôn bán người được hiểu một cách chung nhất là việc một cá nhân, nhóm  
hay tổ chức có liên quan đến việc vận chuyển, chuyển giao, chứa chấp người thông qua lừa đảo  
hoặc cưỡng chế, bắt ép, đe dọa, tước đoạt quyền con người và đẩy họ vào tinh trạng bị bóc lột dưới  
nhiều hinh thức như: bóc lột tinh dục, cưỡng bức lao động, phục dịch, nô lệ hoặc làm việc hay giúp  
việc tương tự như nô lệ nhằm mục đích bóc lột và kiếm lời cho minh.  
Quá trinh buôn bán người thường gồm 3 bước:  
Bước 1: Dụ dỗ nạn nhân tại nước xuất phát  
6
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
Bước 2: Vận chuyển nạn nhân qua các nước trung gian,qua các biên giới quốc tế  
Bước 3: Khai thác nạn nhân vi vụ lợi tại nước đến  
Nạn buôn bán người hiện nay đang diễn ra dưới nhiều hinh thức tinh vi và xảo trá. Trên thế giới, dù  
là nước giàu hay nước nghèo đều có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi loại hinh tội phạm này.  
Một điểm cũng cần lưu ý là hiện nay nạn buôn bán người không chỉ xảy ra giữa các nước mà còn  
xảy ra giữa các địa phương trong cùng một nước. Ví dụ: lừa bán nạn nhân từ khu vực nông thôn,  
miền núi đến các thành phố để trục lợi.  
II. CÁC NHóM ĐỐI TƯỢNG THƯỜNG LÀ NẠN NHÂN CỦA BUÔN BÁN NGƯỜI  
Bất kỳ ai cũng có thể trở thành nạn nhân của buôn bán người, bao gồm cả phụ nữ và nam giới, trẻ  
em gái và trẻ em nam, trong đó phụ nữ và trẻ em gái thường có nguy cơ nhiều nhất bị buôn bán.  
- Phụ nữ và trẻ em gái:  
Những lý do chính khiến cho phụ nữ và trẻ em gái bị bán là để làm gái mại dâm, bóc lột tinh dục  
và kết hôn (kể cả hợp pháp và bất hợp pháp). Trong rất nhiều trường hợp, phụ nữ và trẻ em đã bị  
lừa gạt, ép buộc, thậm chí là bắt cóc. Tuy nhiên cũng có những trường hợp phụ nữ và trẻ em ra đi  
tự nguyện với mục đích để có thu nhập đỡ đần cho gia đinh ở quê hương.  
Có hai loại hinh buôn bán phụ nữ để kết hôn phổ biến nhất ở Việt Nam: Một là phụ nữ bị bán, bị xui  
khiến, bị lừa và đôi khi là bị bắt cóc qua biên giới phía Bắc để làm vợ, hoặc một số khác được môi  
giới kết hôn với những người đàn ông Châu Á đến từ các nước như Đài Loan, Singapore, Nhật Bản  
hay Hàn Quốc; Hai là phụ nữ bị buôn bán thông qua mạng lưới“đặt hàng cô dâu qua thư tín”để lấy  
những người đàn ông ở các quốc gia khác, song vẫn chủ yếu là đàn ông Châu Á.  
Bên cạnh việc buôn bán để kết hôn thi phụ nữ cùng với trẻ em là đối tượng bị buôn bán vi mục đích  
bóc lột tinh dục hoặc vi mục đích bóc lột lao động.  
Phần lớn những phụ nữ và trẻ em bị buôn bán thường có trinh độ văn hóa thấp như tiểu học, trung  
học cơ sở, trung học phổ thông. Bên cạnh đó, họ cũng thường thiếu hụt các kinh nghiệm sống, các  
kỹ năng xã hội để tự bảo vệ minh trước các hành vi buôn bán người.  
- Nam giới và trẻ em nam:  
Nhiều nam giới tinh nguyện đi lao động ở nước ngoài phải trả một khoản chi phí ban đầu cho các  
dịch vụ và sau đó được tuyển vào làm việc tại các nhà máy ở nước ngoài. Và sau đó họ có thể dễ  
dàng bị lừa quỵt vi không có giấy tờ, thủ tục hợp lệ để lao động tại nước ngoài. Họ dễ rơi vào tinh  
trạng bị lao động trừ nợ và lao động cưỡng bức và khó khăn trong việc tim kiếm các dịch vụ hỗ trợ  
tại nước đến. Còn đối với nhóm trẻ em nam, các em thường bị bán để đi ăn xin, làm giúp việc, hay  
chủ yếu là trong các công trường xây dựng, lao động trong các doanh nghiệp nhỏ, làm việc trong  
các hầm mỏ hay trên tàu thuyền đánh cá. Một số em bị bán thông qua việc nhận con nuôi, sang  
đến nơi ở mới các em bị ngược đãi và đối xử như nô lệ phục dịch giúp việc hoặc lại bị bán qua lại  
giữa nhiều nhóm sử dụng khác nhau.  
7
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
III. CÁC NHóM NGUY CƠ LÀ NẠN NHÂN CỦA BUÔN BÁN NGƯỜI  
- Nhóm di cư:  
Nhóm di cư, trong đó có di cư trong nước và di cư lao động nước ngoài là những đối tượng có nguy  
cơ rơi vào cạm bẫy của những kẻ buôn người.  
+ Nhóm di cư nội địa:  
Cùng với quá trinh đô thị hóa, người dân có xu hướng di cư tới các thành phố lớn như Hà Nội,  
Thành phố Hồ Chí Minh để kiếm tiền, sinh sống. Họ tham gia vào thị trường lao động tay chân, dịch  
vụ như xây dựng, buôn bản nhỏ, giúp việc gia đinh... Với những hạn chế về nhận thức, sự thiếu hụt  
kiến thức xã hội, kỹ năng sống, các dịch vụ hỗ trợ, họ có nguy cơ trở thành nạn nhân của buôn bán  
người vi mục đích bóc lột lao động, bóc lột tinh dục từ chính chủ lao động, người môi giới.  
+ Nhóm di cư lao động nước ngoài:  
Ngoại trừ những nhóm di cư lao động một cách chính thống, hợp pháp thi nhóm những người đi  
xuất khẩu lao động qua môi giới bất hợp pháp có tỷ lệ nguy cơ cao đối với buôn bán người. Di cư  
bất hợp pháp có thể dẫn tới buôn bán người do những người di cư không có giấy tờ, không tiếp  
cận được với những dịch vụ được xã hội bảo vệ, dễ bị tổn thương trước sự lạm dụng tại các nước  
đến. Thêm vào đó, việc không thông thạo ngôn ngữ, khác biệt về văn hóa cùng với sự hạn chế  
trong khả năng thích ứng đối phó với môi trưởng mới càng khiến những người di cư dễ bị lừa gạt  
và trở thành đối tượng “mồi”cho bọn buôn người lợi dụng.  
- Nhóm dân tộc ít người:  
Nhiều ý kiến cho rằng, người dân tộc thiểu số là nhóm người có nguy cơ ít bị buôn bán nhất vi họ  
sống ở những vùng xa xôi, hẻo lánh. Tuy nhiên chính sự tách biệt về mặt địa lý cùng với điều kiện  
kinh tế - xã hội kém phát triển ở những vùng này dẫn đến trinh độ dân trí thấp, nhận thức người  
dân hạn chế, dễ tin người lại càng làm tăng tính nguy cơ trở thành nạn nhân buôn bán người đối  
với người dân tộc thiểu số.  
- Nhóm nghèo, sống ở vùng nông thôn:  
Buôn bán người luôn được hiểu như là một hệ quả của nghèo đói do đại đa số những phụ nữ và trẻ  
em bị buôn bán đều xuất phát từ các vùng nông thôn và từ các gia đinh nông dân nghèo. Cha mẹ  
thông thường có trinh độ học vấn thấp, giáo dục gia đinh kém. Nhiều gia đinh còn gặp phải những  
vấn đề như rượu chè, bạo lực, tàn tật, cha mẹ đơn thân, ly dị hoặc có cuộc sống không hạnh phúc.  
Các nghiên cứu về buôn bán người cũng thường nhấn mạnh sự nghèo khổ như là một trong  
những nguyên nhân gốc rễ. Trong tất cả các cuộc phỏng vấn với những nhóm người di cư, bị buôn  
bán, nghèo đói và khó khăn về kinh tế luôn là chủ đề được người trả lời phỏng vấn nhắc đi nhắc lại.  
Ngoài ra, tinh trạng thất nghiệp, không có công ăn việc làm ổn định ở các vùng nông thôn cũng là  
một yếu tố rủi ro khiến nhiều người trở thành nạn nhân của buôn bán người  
8
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
IV. CÁC THỦ ĐOẠN MÀ Kẻ BUÔN NGƯỜI THƯỜNG Sử DụNG  
- Hứa hẹn công việc, dụ dỗ làm ăn xa:  
Trên thực tế, có nhiều phụ nữ, trẻ em gái hay cả nam giới sống ở khu vực kinh tế khó khăn, cơ hội  
việc làm ít nên bọn buôn người thường tiếp cận và đưa ra những hứa hẹn về công việc để dụ dỗ  
họ và đưa họ ra khỏi nơi họ sinh sống tới một nơi khác, rồi từ đó biến họ thành mại dâm, nô lệ tinh  
dục, phục vụ trong gia đinh hay bị bóc lột và họ khó thoát ra được tinh cảnh đó.  
- Môi giới lấy chồng nước ngoài:  
Đây là một hinh thức buôn bán người dưới dạng kết hôn với người nước ngoài.  
Những thay đổi về nhân khẩu học và văn hóa ở một số quốc gia trong khu vực đã làm tăng nhu cầu  
về lao động và cả nhu cầu tim kiếm vợ nước ngoài. Phụ nữ di cư đi kết hôn với những người nước  
ngoài tại các quốc gia giàu có hơn là một xu hướng đang nổi lên ở Châu Á, trong đó có Việt Nam.  
Từ giữa những năm 1990, Việt Nam đã cung cấp gần 100.000 cô dâu cho những người đàn ông Đài  
Loan, 10.000 cô dâu sang Hàn Quốc. Trong số đó, rất nhiều cô dâu khi về nhà chồng đã bị ngược  
đãi, bóc lột, bị bạo lực cả thể chất, tinh dục và tinh thần, thậm chí có những người đã bị giết chết  
hoặc tự tử hoặc tim cách trốn về nước nhưng thất bại.  
- Lợi dụng việc cho nhận con nuôi với người nước ngoài:  
Trong những năm gần đây, xuất hiện nhiều trường hợp buôn bán trẻ em thông qua con đường  
nhận con nuôi. Năm 1999, báo Công an (số 17, ra ngày 19/07/1999) đã đưa tin về vụ buôn bán trẻ  
với số lượng lớn, 371 đứa trẻ đã bị bán thông qua việc cho người nước ngoài làm con nuôi.  
- Bắt cóc:  
Bắt cóc là một trong những thủ đoạn bọn buôn người thường thực hiện. Đối tượng bị bắt cóc  
nhiều nhất là trẻ em và phụ nữ. Nạn nhân bị bắt cóc được bán qua biên giới và luân chuyển qua  
các đường dây buôn bán người.  
- Du lịch, xuất khẩu lao động trá hình:  
Lợi dụng việc tổ chức du lịch hay đưa người đi xuất khẩu lao động quốc tế bọn buôn bán người  
đã đưa những phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài với mục đích thương mại. Bọn buôn người thường  
đưa người đi xuất khẩu lao động làm việc trong những ngành như nông nghiệp, trên tàu biển hay  
chăm sóc người già, giúp việc trong gia đinh…  
9
BÀI  
TINH HINH NẠN  
BUÔN BÁN NGƯỜI VÀ  
NHỮNG CAN THIỆP HIỆN NAY  
2
I. TINH HINH NẠN BUÔN BÁN NGƯỜI  
1. Thực trạng nạn buôn bán người trên thế giới  
Hoạt động buôn bán người đang diễn ra ngày càng đa dạng và phức tạp, gây ra nhiều hậu quả  
nghiêm trọng. Thực trạng buôn bán người có đặc điểm riêng theo từng quốc gia, khu vực.  
Nạn buôn người rất phổ biến, là hoạt động thương mại bất hợp pháp và trở thành ngành công  
nghiệp tội phạm lớn thứ ba trên thế giới sau ma túy và mua bán vũ khí, bọn tội phạm buôn người  
kiếm được 32 tỉ USD mỗi năm thông qua việc buôn và bán người1.  
Theo Liên Hợp Quốc ước tính, vào năm 2010 có khoảng 2,5 triệu nạn nhân bị buôn bán trên toàn  
thế giới đa, số là ở Châu Á - Thái Binh Dương. Theo các con số của ILO được thống kê vào tháng 5  
năm 2011, trong số 2,7 triệu nạn nhân bị buôn bán có 80% là phụ nữ và trẻ em gái, 50% nạn nhân  
là trẻ em chưa đến tuổi vị thành niên, tuổi trung binh của những em gái bị bán làm nô lệ tinh dục  
là khoảng 12 tuổi2.  
10  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
Trong vài thập kỷ vừa qua ở Châu Á đã có khoảng 30 triệu phụ nữ và trẻ em bị buôn bán3, con số  
này chỉ tính riêng những người bị buôn bán vi mục đích kết hôn, hay ép buộc làm những công việc  
rẻ mạt như giúp việc gia đinh, làm nông nghiệp hay làm việc trong các nhà máy.  
2. Thực trạng nạn buôn bán người ở Việt Nam  
Nằm ngay ở trung tâm của tiểu vùng sông Mekong, từ đầu những năm 1990, Việt Nam đã trở  
thành nguồn cung cấp, là trung tâm trung chuyển và ở một mức độ nào đó là điểm đến của các  
hoạt động buôn bán người xuyên quốc gia. Mặc dù rất khó để nắm bắt được chính xác quy mô của  
tinh trạng buôn bán người do bản chất phi pháp cũng như những khó khăn trong việc xác định  
các hoạt động cấu thành của nó nhưng các cơ quan nhà nước và quốc tế vẫn khẳng định rằng nạn  
buôn người ở Việt Nam (chủ yếu là buôn bán phụ nữ ở trẻ em) rất trầm trọng và ngày một gia tăng.  
Theo ước tính chính thức, đã có hàng chục ngàn phụ nữ và trẻ em bị bán sang Campuchia, Trung  
Quốc, Hồng Kông, Ma Cao, Đài Loan và các quốc gia khác ở Châu Úc, Châu Âu và Bắc Mỹ.  
Từ năm 1998 đến năm 2007 trên địa bàn cả nước đã xác định được 33 tuyến, 139 địa bàn trọng  
điểm thường diễn ra hoạt động buôn bán phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài, trong đó đã lập danh sách  
5.746 phụ nữ trẻ em bị buôn bán ra nước ngoài; 7.940 phụ nữ và trẻ em vắng mặt lâu ngày tại địa  
phương nghi đã bị bán.  
2
Theo báo cáo của chương trinh hành động phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em giai  
đoạn 2004-2010 có 4.793 nạn nhân là phụ nữ và trẻ em bị mua bán4. Đây là số được phát hiện, giải  
cứu nên chưa phản ánh đúng số nạn nhân của tệ nạn này. Rất nhiều các báo cáo khác cũng cho  
thấy số lượng mua bán phụ nữ và trẻ em ở mức báo động.  
Thường trực Ban chỉ đạo 130/CP ra Kế hoạch số 38/BCA (2005), Kế hoạch số 61/BCA 92008 chỉ  
đạo toàn quốc tổng điều tra, rà soát tội phạm và các đối tượng khác có liên quan đến buôn bán  
người, tinh hinh nạn nhân là phụ nữ, trẻ em bị buôn bán trở về tái hòa nhập cộng đồng giai  
đoạn 1998- 2008, qua đó đã lập danh sách 7.035 nạn nhân bị bán ra nước ngoài, 22.000 phụ nữ,  
trẻ em vắng mặt lâu ngày tại địa phương nghi bị buôn bán, 17.217 trẻ em Việt Nam cho người  
nước ngoài làm con nuôi, 251.492 phụ nữ Việt Nam kết hôn với người nước ngoài5. Cũng theo  
Báo cáo kết quả thực hiện chương trinh 130/CP từ năm 2005 đến năm 2010 có 4.300 phụ nữ,  
trẻ em bị mua bán, trong đó trên 60% nạn nhân buôn bán tự trở về, 19% trở về qua con đường  
giải cứu, 21% qua con đường trao trả. Địa bàn đi và đến của nạn buôn bán người  
Hoạt động buôn bán phụ nữ trẻ em tập trung chủ yếu ở địa bàn biên giới. Trong số các vụ việc bị  
phát hiện, ở biên giới Việt - Trung là 50%, còn biên giới Việt - Campuchia là khoảng 10%6. Hầu hết  
phụ nữ bị bán làm gái mại dâm tại các nước Trung Quốc, Thái Lan, Campuchia, Singapore, Malaysia,  
thậm chí sang một số nước Châu Âu như Cộng hòa Liên bang Đức, Séc…  
3 Flamm, M.,2003 “Buôn bán phụ nữ và trẻ em ở Đông Nam Á”, Báo cáo của UN 40(2), tr.34-37  
4 Phan Thị Việt Thu, Thực trạng và giải pháp phòng chống tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em, 13/1/2008. Nguồn http://  
thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2008/01/13/1241-5/  
tre-em-nghi-bi-ban-ra-nuoc-ngoai/7031537.epi  
11  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
Theo Báo cáo kết quả thực hiện chương trinh 130/CP từ năm 2005 đến năm 2010, trong tổng số  
4.300 phụ nữ trẻ em bị mua bán có 60% vụ mua bán sang Trung Quốc, 11% sang Campuchia, số  
còn lại sang Lào qua tuyến hàng không, tuyến biển để bán ra một số nước khác. Từ năm 2011 đến  
tháng 6/2015, toàn quốc xảy ra 2.108 vụ, với 3.108 đối tượng, lừa bán 4.265 nạn nhân. So với cùng  
thời gian trước (từ năm 2006 - 2010), tăng 23% số vụ và 14,5% số nạn nhân; trong đó, 15% số vụ  
trong nội địa và 85% ra nước ngoài, chủ yếu sang Trung Quốc (chiếm 70%).  
Địa phương xảy ra tinh trạng trên nhiều nhất là Hà Giang, Lạng Sơn, Quảng Ninh, Hà Nội, Nghệ An,  
Lai Châu, Bắc Giang7.  
Theo báo cáo của các cơ quan đại diện của Việt Nam tại nước ngoài, trong 5 năm (từ năm 2005 đến  
2010), các cơ quan đại diện ngoại giao đã tiến hành trực tiếp phỏng vấn và làm các thủ tục cần  
thiết, cấp giấy phép thông hành và hỗ trợ hồi hương cho trên 500 nạn nhân bị buôn bán về nước,  
trong đó nhiều nhất là Nam Ninh - Trung Quốc (157 người), Malayxia (120 người), Campuchia (73  
người)8 ... Những người này được giải cứu qua những đợt truy quét tệ nạn của các cơ quan chức  
năng sở tại, qua thông tin do các cơ quan trong nước cung cấp hoặc tự đến Cơ quan đại diện nhờ  
giúp đỡ.  
Lào Cai  
Hà Giang  
Lạng Sơn  
Hà Nội  
Quảng Ninh  
Nghệ An  
Tây Ninh  
Đồng Tháp  
An Giang  
7 Tuyển tập báo cáo sinh viên nghiên cứu Đà Năng 2010, tr.411-412  
12  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
Đối tượng là nạn nhân của buôn bán người  
Bất kỳ ai cũng có thể bị buôn bán, trong đó không chỉ phụ nữ mà trẻ em đang ngày càng trở thành  
một nhóm đối tượng dễ bị tổn thương hơn, độ tuổi trung binh của trẻ em bị buôn bán là 10 tuổi9.  
Chủ yếu trẻ em bị buôn bán là các bé gái nhưng trong một số trường hợp lại là bé trai. Nhin chung  
phụ nữ và trẻ em bị buôn bán đều không có trinh độ giáo dục cao, chưa học hết tiểu học hoặc phổ  
thông cơ sở, thiếu hụt các kinh nghiệm sống và các kỹ năng xã hội. Bên cạnh nhóm nạn nhân thuộc  
dân tộc đa số (dân tộc Kinh) ở Việt Nam thi cũng có một số lượng lớn các đồng bào dân tộc thiểu  
số ở các vùng biên giới, vùng sâu, vùng xa. Đây là nhóm có nguy cơ bị buôn bán cao nhất vi họ ở  
những nơi hẻo lánh, cách biệt về địa lý, trinh độ kinh tế, xã hội thấp kém. Nam giới cũng là một đối  
tượng bị mua bán dù chưa có nhiều công trinh nghiên cứu cụ thể về đối tượng này. Họ bị bán dưới  
hinh thức tuyển dụng lao động xuất khẩu ra nước ngoài.  
Tội phạm buôn bán người  
Những người tham gia vào buôn bán người có nhiều thành phần khác nhau. Nhóm thứ nhất chủ  
yếu là những người có tiền án, tiền sự. Ngoài ra, một số người nước ngoài, lợi dụng chính sách mở  
cửa, hội nhập vào Việt Nam cấu kết với một số cò mồi, môi giới hinh thành những đường dây buôn  
bán xuyên quốc gia hoặc một số phụ nữ, trẻ em từng là nạn nhân bị buôn bán ra nước ngoài làm  
mại dâm hoặc lấy chồng khi về thăm quê lại trở thành thủ phạm dụ dỗ, lừa bán phụ nữ, trẻ em kể  
cả người thân trong gia đinh. Một số đối tượng tuy chưa có tiền án, tiền sự song lợi dụng việc buôn  
bán, làm ăn qua lại biên giới hoặc kinh doanh các dịch vụ cắt tóc, massage, gội đầu, nhà hàng, quán  
trọ ở dọc biên giới, thông thuộc địa bàn nên đã lừa phụ nữ, trẻ em ra nước ngoài bán.  
Các thủ đoạn buôn bán người khá đa dạng, thường là lợi dụng những phụ nữ, trẻ em có hoàn cảnh  
kinh tế khó khăn, văn hóa thấp… bằng những lời hứa hẹn tim việc làm có thu nhập cao, rồi tim mọi  
cách đưa ra nước ngoài bán. Bên cạnh đó còn có những thủ đoạn tinh vi như lừa bán phụ nữ núp  
bóng hinh thức kết hôn với người nước ngoài (ở Binh Dương, Hải Phòng, Hồ Chí Minh…); lợi dụng  
công nghệ thông tin để giả kết thân với học sinh, sinh viên nữ rồi lừa đem qua nước ngoài bán. Với  
trẻ em, một số thủ đoạn đáng chú ý như đột nhập nhà dân, chiếm đoạt, bắt cóc trẻ em (ở Hà Giang);  
lừa gạt, thu gom, buôn bán trẻ sơ sinh (ở Quảng Ninh, Lạng Sơn, Sóc Trăng…); chuyển bán trẻ em  
qua nước ngoài dưới hinh thức nhận con nuôi (ở Ninh Binh, Hòa Binh,…).  
3. Nguyên nhân của nạn buôn bán người ở Việt Nam hiện nay  
Có nhiều nguyên nhân làm gia tăng nạn buôn bán người  
Ÿ Nguyên nhân kinh tế: nghèo đói, thiếu cơ hội học tập, việc làm  
Có thể nói, sự gia tăng nhanh chóng hoạt động buôn người chủ yếu là kết quả của toàn cầu hóa  
khiến sự phân hóa giàu, nghèo và thiếu việc làm ngày càng tăng. Theo kết quả nghiên cứu về thực  
trạng phụ nữ, trẻ em bị lừa bán ra nước ngoài do Bộ Công an hợp tác với tổ chức UNICEF (Quỹ Nhi  
đồng Liên Hợp Quốc) thực hiện, nguyên nhân chủ yếu để dẫn đến tinh trạng buôn bán người ngày  
càng tăng là do đời sống kinh tế còn nghèo nàn. Nạn nhân của những đường dây “buôn người”  
9 Lê Bạch Dương, Khuất Thu Hồng, Viện nghiên cứu phát triển xã hội, Di dân và Bảo trợ xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ quá độ  
sang kinh tế thị trường(2008), NXB Thế giới, tr.209  
13  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
thường tập trung ở nông thôn, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, các tỉnh giáp biên giới - nơi đời sống  
nhân dân còn rất khó khăn, dân trí thấp, nhiều phụ nữ, trẻ em và gia đinh họ ở trong hoàn cảnh đặc  
biệt khó khăn nên luôn mong ước có cuộc sống tốt hơn, tim kiếm các cơ hội việc làm, chủ động  
tim con đường thay đổi cuộc đời, kiếm kế sinh nhai và do đó bị lôi cuốn vào quá trinh tim kiếm việc  
làm ở đô thị hay ở nước ngoài.  
Nhưng đồng thời cũng do tác động của nền kinh tế thị trường, một số người bất chấp luật pháp,  
nhân tính để kiếm tiền bằng mọi cách nên đã sẵn sàng tham gia vào các đường dây buôn bán  
người bởi hoạt động kinh doanh bất nhân này mang lại lợi ích kinh tế khổng lồ, đang là nguồn lợi  
nhuận lớn thứ 3 của các tổ chức tội phạm trên toàn cầu với doanh thu ước tính khoảng 30-40 tỷ  
USD mỗi năm.  
• Nguyên nhân xuất phát từ phía gia đình  
Đại đa số những phụ nữ và trẻ em bị buôn bán đều xuất thân từ các vùng nông thôn và từ các gia  
đinh nông dân nghèo. Do đó, cha mẹ thông thường có trinh độ học vấn thấp, giáo dục gia đinh  
kém. Nhiều gia đinh còn gặp phải những vấn đề như rượu chè, ma túy, bạo lực, tàn tật, cha mẹ đơn  
thân, ly dị hoặc có cuộc sống không hạnh phúc. Không ít trường hợp cha mẹ hay gia đinh bán con  
gái cho các chủ nhà chứa thông qua bọn mối lái. Rất nhiều trẻ em bị bán là con gái lớn hoặc con  
thứ hai trong các gia đinh, và các em đều phải gánh trách nhiệm kinh tế nặng nề. Lòng hiếu thảo  
với cha mẹ thường được xem là động lực khiến nhiều phụ nữ và trẻ em dấn thân vào con đường bị  
mua bán, bóc lột tinh dục và làm gái mại dâm.  
• Nguyên nhân do trình độ, nhận thức hạn chế của nạn nhân  
Phần lớn nạn nhân bị buôn bán có trinh độ dân trí hạn chế, sự hiểu biết còn thấp. Các nạn nhân  
thường là người mù chữ hoặc chỉ dừng lại ở cấp tiểu học. Nghề nghiệp của các nạn nhân trước khi  
bị lừa bán ra nước ngoài chủ yếu là làm ruộng và thất nghiệp.  
Những khó khăn trong cuộc sống, hạn chế về trinh độ nhận thức đã“đẩy”họ trở thành“miếng mồi”  
ngon cho những tên buôn người. Với những lời hứa hẹn, giúp đỡ một việc làm ổn định, thu nhập  
cao, hoặc lấy một người chồng nước ngoài khá giả, những cô gái nghèo, nhẹ dạ đã bị lừa đưa sang  
đất khách quê người. Cũng có những cô gái trẻ, thích hưởng thụ, bị dụ dỗ đi du lịch, tham quan…  
và rơi vào cảnh ngộ bị bán.  
• Nguyên nhân từ phía xã hội  
- Việc mất cân bằng giới tính hiện nay cũng là một vấn đề lớn. Bởi vi có nhiều đàn ông không tim  
được vợ, nhất là những người nghèo và ít học. Khi đó, họ sẽ có nhu cầu thỏa mãn về sinh lý, gây  
ra nhiều vấn đề xã hội khác như: nạn mại dâm, buôn bán phụ nữ và trẻ em, nô lệ tinh dục, sinh  
hoạt tinh dục bừa bãi… khiến tội phạm buôn bán phụ nữ và trẻ em ngày càng tăng. Đặc biệt,  
tệ nạn buôn người ở tiểu vùng Mêkong dễ làm người ta liên tưởng đến cảnh phụ nữ, trẻ em từ  
nước này bị buôn sang nước khác để hành nghề mại dâm, nhất là những quốc gia có phần biên  
giới chung hoặc lân cận nhau như Việt Nam - Trung Quốc, Việt Nam - Campuchia, Thái Lan - Miến  
Điện, Lào - Campuchia.  
14  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
- Với mô hinh kinh tế cung - cầu toàn cầu, các cá nhân có nhiều lựa chọn để đáp ứng nhu cầu về  
tinh dục thương mại như mãi dâm và khiêu dâm, và lao động không hợp pháp trong những khu  
vực như nhà máy, mỏ than, nhà hàng và chợ phố, và mua bán các bộ phận cơ thể. Nhu cầu đó  
tăng tỷ lệ với sự phát triển của hầu hết các ngành công nghiệp trên thế giới.  
- Do tác động ảnh hưởng của nhiều yếu tố xấu như các luồng văn hoá độc hại, các tệ nạn xã hội  
như mại dâm, ma tuý trong nước và khu vực; bọn tội phạm trong nước móc nối với tội phạm  
người nước ngoài khai thác lợi dụng các điều kiện này để hoạt động phạm tội. Chính điều này đã  
khiến các cá nhân trở thành nạn nhân của buôn bán người.  
- Công tác truyền thông đại chúng chưa thật sự hiệu quả. Việc truyền thông bề rộng thi rất nhiều,  
nhưng chưa đi vào bề sâu. Chẳng hạn như đi đến các cộng đồng nhỏ bé cụ thể ở các làng quê  
để phổ biến cho người dân biết được những thủ đoạn phức tạp và tinh vi của bọn buôn người  
cũng như những điều cảnh giác cần biết khi phụ nữ phải đi làm ăn xa. Vậy nên truyền thông thi  
rất nhiều, nhưng số nạn nhân của tinh trạng buôn người vẫn tiếp tục gia tăng.  
• Nguyên nhân về pháp luật: Hệ thống bảo vệ xã hội và pháp lý còn bất cập, nhiều hạn chế.  
- Trên mức độ quốc tế, việc thất bại để nhận dạng, khởi tố và kết án bọn buôn người cũng như  
những yếu kém trong hệ thống bảo vệ biên giới quốc tế và thiếu chứng cứ pháp lý là những tác  
nhân có lợi cho sự gia tăng của buôn bán người.  
- Luật xử phạt các đối tượng môi giới buôn bán phụ nữ, trẻ em hiện nay vẫn chưa nghiêm và chưa  
đủ sức răn đe với các đối tượng vi phạm. Ví dụ: ở Việt Nam, việc xử lý hành vi vi phạm của những  
đối tượng tổ chức môi giới xem mặt cô dâu trái pháp luật chỉ ở mức xử lý vi phạm hành chính, chế  
tài phạt còn rất nhẹ (từ 1 triệu đến 3 triệu đồng/vụ). Điều này dẫn đến việc ham lợi và coi thường  
pháp luật của bọn tội phạm. Đó là chưa kể đến việc bọn tội phạm buôn người thường xuyên thay  
đổi phương thức hoạt động, luôn tim cách luồn lách, né tránh và tim mọi cách đối phó với cơ  
quan bảo vệ pháp luật đã gây không ít khó khăn cho các lực lượng chức năng.  
- Những bất cập, sơ hở trong công tác quản lý nhà nước, quản lý xã hội chính là những điều kiện để  
bọn tội phạm lợi dụng hoạt động, nhất là trong quản lý người nước ngoài, quản lý nhận hộ khẩu,  
quản lý an ninh biên giới, xuất nhập cảnh, hôn nhân và con nuôi có yếu tố nước ngoài... Nhiều  
đối tượng người nước ngoài, lợi dụng chính sách đối ngoại mở cửa và hội nhập vào nước ta núp  
dưới danh nghĩa ký kết, làm ăn kinh tế, tham quan, du lịch… cấu kết với một số cò mồi, môi giới  
trong nước hinh thành đường dây buôn người xuyên quốc gia.  
- Những cán bộ làm công tác phòng chống buôn bán người còn nhiều thiếu sót. Nhận thức về tính  
nghiêm trọng, sự cần thiết và trách nhiệm phải tăng cường phòng, chống tội phạm buôn bán  
phụ nữ, trẻ em ở nhiều cấp uỷ Đảng, chính quyền, Ban ngành, đoàn thể còn hạn chế. Công tác  
phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm buôn bán phụ nữ, trẻ em chưa được triển khai một cách  
toàn diện, đồng bộ. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng thiếu chặt chẽ, cơ chế tổ chức bộ  
máy thực hiện chưa đáp ứng yêu cầu phòng chống tội phạm buôn bán người. Hệ thống giúp đỡ  
các nạn nhân buôn bán người còn chưa được mở rộng.  
15  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
4. Hậu quả của nạn buôn bán người ở Việt Nam  
Buôn bán người để lại hậu quả đa chiều nghiêm trọng đối với nạn nhân, các gia đinh và xã hội.  
• Đối với bản thân nạn nhân  
- Tổn thương nghiêm trọng tới sức khỏe:  
Bị bóc lột sức lao động, làm những công việc nặng nhọc, quá sức.  
Bị hành hạ, đánh đập tàn nhẫn.  
Bị thương tích, tàn phế suốt đời, thậm chí tử vong.  
Bị cưỡng bức, bóc lột tinh dục.  
Có nguy cơ bị mắc các bệnh lây truyền tinh dục, HIV/AIDS, mang thai ngoài ý muốn.  
- Tổn thương tâm lý:  
Tinh thần suy sụp, lo âu, sợ hãi.  
Mặc cảm, bi quan, mất niềm tin vào cuộc sống.  
Phát triển lệch lạc về nhận thức và thường để lại những di chứng vĩnh viễn lâu dài.  
- Mất cơ hội học hành. Thất học khiến cơ hội phát triển kinh tế trong tương lai của nạn nhân giảm  
đi và làm tăng nguy cơ họ bị tiếp tục buôn bán.  
- Có thể bị tước mất quyền công dân và quyền con người như quyền được sống, quyền tự do và  
quyền được giải phóng khỏi mọi hinh thức nô lệ.  
- Trẻ em bị vi phạm quyền được sống và lớn lên trong một môi trường không được bảo vệ, dễ bị  
lạm dụng hay bóc lột dưới bất cứ hinh thức nào.  
- Khó hoà nhập với cuộc sống và cộng đồng. Họ thường bị bêu riếu hoặc tẩy chay, khó kiếm được  
kế sinh nhai bền vững.  
- Dễ sa vào các tệ nạn xã hội: mại dâm, ma tuý,… hoặc trở thành kẻ buôn bán người.  
• Đối với gia đình nạn nhân:  
- Tốn kém tiền bạc, thời gian và sức lực để tim kiếm người thân.  
- Gia đinh bị khủng hoảng, hạnh phúc bị tan vỡ.  
- Con cái thiếu sự quan tâm, chăm sóc, dạy dỗ ảnh hưởng tới sự phát triển thể chất, tâm sinh lý của  
đứa trẻ. Đứa trẻ lớn lên trong sự thiếu thốn, khi lớn lên có nhiều nguy cơ mắc phải nhiều bệnh  
tật, tham gia vào tệ nạn xã hội...  
- Các thành viên trong gia đinh sống trong lo âu, mặc cảm.  
16  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
- Người thân đi tim người nhà là nạn nhân cũng dễ có nguy cơ trở thành nạn nhân.  
- Sự thất bại của những người đi xuất khẩu bị buôn bán gây lại hậu quả nặng nề cho gia đinh.  
• Đối với xã hội:  
- Gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội.  
- Làm thiếu hụt lao động, suy yếu nguồn vốn con người, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế và từ  
đó phần nào làm ảnh hưởng đến sự phát triển của quốc gia đó.  
- Tăng gánh nặng kinh tế cho địa phương trong việc giải quyết hậu quả của nạn buôn người.  
- Làm tăng nguy cơ lây nhiễm bệnh, ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng.  
- Gia tăng hệ thống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Những nơi mà có tội phạm có tổ chức  
phát triển thi chính phủ và luật pháp trở nên yếu kém và mất tác dụng.  
II. NHỮNG CAN THIỆP CỦA XÃ HỘI ĐỐI VỚI NẠN BUÔN BÁN NGƯỜI  
1. Luật pháp và chính sách phòng chống buôn bán người và hỗ trợ nạn nhân bị  
buôn bán  
a. Một số hiệp định, điều ước quốc tế có liên quan đến buôn bán người  
- Hiệp định về phòng chống, khởi tố và xử phạt tội phạm buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em,  
bổ sung Công ước Liên Hiệp Quốc về đấu tranh chống Tội phạm có Tổ chức Xuyên quốc gia (Hiệp định  
Palermo, 2000)  
Mục đích của hiệp định này:  
+ Ngăn chặn và phòng chống việc buôn bán người, trong đó đặc biệt chú ý đến phụ nữ và trẻ em.  
+ Bảo vệ và hỗ trợ các nạn nhân của việc buôn bán này, cùng với việc tôn trọng các quyền đầy  
đủ của họ.  
+ Thúc đẩy sự hợp tác giữa các quốc gia để đạt được mục tiêu này.  
(http://www2.ohchr.org/english/law/protocoltraffic.htm)  
- Hiệp định Không bắt buộc đối với Công ước Liên Hiệp Quốc về Quyền trẻ em, buôn bán, mại dâm và  
khiêu dâm trẻ em (2000)  
Hiệp định này được Đại Hội đồng thông qua ngày 25/5/2000, Hiệp định này nhấn mạnh việc ngăn  
cấm buôn bán, mại dâm và khiêu dâm trẻ em, đồng thời tội phạm hoá những hành động có liên  
quan đến những hiện tượng trên, đồng thời khởi tố tội phạm và bảo vệ nạn nhân của những hiện  
tượng kể trên. (http://www.unhchr.ch/html/menu2/dopchild.htm)  
17  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
- Tuyên bố Brussels về Phòng chống và ngăn chặn Buôn bán người (2002)  
Tuyên bố này được thông qua trong Hội nghị Châu Âu về Phòng chống và Ngăn chặn Buôn bán  
người ngày 18-20/9/2002, bản Tuyên bố nhằm tăng cường sự phối hợp quốc tế và Châu Âu và phát  
triển những chỉ số đo lường bảo vệ cụ thể, những chuẩn mực, thông lệ và các cơ chế tốt để phòng  
chống và ngăn chặn nạn buôn bán người.  
documents/declaration_1709.pdf)  
- Công ước của Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) về Phòng chống và Ngăn chặn Buôn bán Phụ  
nữ và Trẻ em vì mục đích mại dâm (2002)  
Công ước được sự thông qua của Hiệp hội hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) ngày 5/1/2002 tại Hội  
nghị Thượng đỉnh SAARC lần thứ 11, Hiệp ước tiểu vùng thúc đẩy sự hợp tác giữa các nước trong  
phòng chống và ngăn chặn buôn bán người. Hiệp ước này cũng quy định thành điều khoản trách  
nhiệm của các bên liên quan trong việc coi buôn bán người là một hinh thức phạm tội, khởi tố kẻ  
buôn người và phối hợp trong việc tố giác tội phạm, đồng thời bảo vệ nạn nhân bị buôn bán.  
- Tuyên bố chung trong sáng kiến của các Bộ trưởng khu vực sông Mêkong về phòng chống buôn  
bán người (2007)  
Được ký ngày 14/12/2007 tại Bắc Kinh, Trung Quốc trong phiên họp Liên bộ trưởng lần thứ 2 - Sáng  
kiến của các Bộ trưởng khu vực sông Mêkong về phòng chống buôn bán người (COMMIT), Tuyên  
bố chung nhằm nhắc lại cam kết của Campuchia, Trung Quốc, Lào, Mianma, Thái Lan và Việt Nam  
trong việc thúc đẩy hợp tác tiểu vùng về phòng chống buôn bán người. Các bên liên quan đã cam  
kết ngăn chặn buôn bán người thông qua những hành động nhằm nhận dạng và bảo vệ nạn nhân  
bị buôn bán ở bất kỳ giai đoạn nào của chu trinh buôn người, và nhằm bảo đảm việc bảo vệ sự an  
toàn, giá trị và quyền con người của nạn nhân.  
Signed%20in%20Beijing%2014%20Dec%2007.pdf)  
- Hội đồng Châu Âu, Công ước Hành động phòng chống buôn bán người (2005)  
Được ký ngày 16/5/2005 tại Warsaw, và có hiệu lực ngày 1/2/2008, bản Công ước là một Hiệp ước  
hoàn thiện tập trung chủ yếu vào bảo vệ nạn nhân của buôn bán người và quyền con người của  
họ, đồng thời ngăn chặn và khởi tố tội phạm buôn người. Bản Công ước áp dụng cho mọi hinh thức  
buôn bán; bất kể nội địa hay xuyên quốc gia, dù có liên quan đến phạm tội có tổ chức hay không.  
Công ước về hành động chống buôn người (tiếng Anh: Convention on Action against Trafficking in  
Human Beings) là một hiệp ước khu vực về nhân quyền của Ủy hội châu Âu  
18  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
Công ước này nhằm phòng chống và đấu tranh việc buôn người cho các mục đích khai thác tinh  
dục theo cách thương mại hoặc lao động cưỡng bách để:  
+ Bảo vệ và hỗ trợ nạn nhân và nhân chứng của nạn buôn người  
+ Bảo đảm việc điều tra hiệu quả và truy tố kẻ phạm pháp  
+ Thúc đẩy việc hợp tác quốc tế chống buôn người.  
(http://conventions.coe.int/Treaty/EN/Treaties/Html/197.htm)  
- Liên minh Châu Âu, Chỉ thị Hội đồng 2004/81/EC ngày 29/4/2004 về việc cấp phép định cư cho các  
nước thứ 3 nơi có nạn nhân của buôn bán người hay những người được coi là có liên quan đến hành  
động nhập cư bất hợp pháp, đây là những lực lượng sẽ phối hợp với các cơ quan chức năng có thẩm  
quyền (2004).  
Chỉ thị này đã đưa ra những tiêu chí cho các nước thành viên trong việc ban hành giấy phép định  
cư cho nạn nhân của buôn bán người - những người thể hiện thái độ sẵn sàng hợp tác với các cơ  
quan chức năng. Chỉ thị cũng quy định thành điều khoản rằng nạn nhân bị buôn bán nên được  
thông báo về khả năng có thể lấy được giấy phép định cư và có một khoảng thời gian để xem lại  
hoàn cảnh của minh và từ đó, quyết định xem có nên phối hợp với các cơ quan chức năng liên quan  
hay không.  
(http://eurlex.europa.eu/LexUriServ/LexUriServ.do?uri=CELEX:32004L0081:EN:NOT)  
- Liên minh Châu Âu, Nghị định Hội đồng số 2001/87/EC được ký ngày 8/12/2000, đại diện cho  
Cộng đồng Châu Âu, của Công ước Liên Hiệp Quốc (LHQ) về phòng chống tội phạm có tổ chức  
xuyên quốc gia và Hiệp định đấu tranh ngăn chặn buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em,  
và buôn bán dân di cư bằng đường bộ, thuỷ và hàng không (2000).  
( h t t p : / / e u r l e x . e u r o p a . e u / s m a r t a p i / c g i / s g a _  
doc?smartapi!celexplus!prod!CELEXnumdoc&lg=en&numdoc=32001D0087)  
- Liên minh Châu Âu, Nghị quyết Hội đồng số 2003/C ngày 20/10/2003 về sáng kiến phòng chống buôn  
bán người đặc biệt là phụ nữ (2003).  
Nghị quyết này kêu gọi các nước thành viên tiếp tục cam kết đầy đủ nhằm thực hiện hiệu quả các  
hoạt động phòng chống buôn bán người, ở cấp độ quốc gia, Châu Âu, và cấp độ quốc tế, đồng  
thời đẩy mạnh việc tái hoà nhập xã hội và đào tạo nghề cho nạn nhân của buôn bán người và đưa  
ra những chỉ số đo lường bắt buộc để xây dựng một hệ thống giám sát việc phòng chống buôn  
bán người.  
doc?smartapi!celexapi!prod!CELEXnumdoc&numdoc=32003G1029(02)&model=guichett&lg=en)  
19  
CÔNG TÁC XÃ HỘI VỚI NẠN NHÂN BUÔN BÁN NGƯỜI  
b. Hiệp định hợp tác song phương  
- Tuyên bố chung về việc hợp tác đấu tranh chống nhập cư bất hợp pháp và buôn bán phụ nữ, trẻ  
em giữa Việt Nam và Australia năm 2000.  
- Tuyên bố ASEAN về chống buôn bán người, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em, thông qua ngày  
29/11/2004 tại Viên Chăn, Lào.  
- Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ Hoàng gia  
Campuchia về hợp tác song phương để loại trừ nạn buôn bán phụ nữ, trẻ em và giúp đỡ nạn nhân  
bị buôn bán được kí kết ngày 10/10/2005. Hai bên đã tổ chức các hội thảo đánh giá nhu cầu hợp  
tác, bàn kế hoạch triển khai hiệp định về phòng chống buôn bán phụ nữ và trẻ em. Hai bên đã tiến  
hành họp sơ kết hợp tác song phương về công tác phòng chống buôn bán phụ nữ trẻ em tại 7 tỉnh:  
An Giang, Tây Ninh, Đồng Tháp; Svay rieng, Kandal, Takeo, Pray vieng. Hai nước cũng đã tổ chức các  
cuộc họp xây dựng kế hoạch hành động chung phòng, chống buôn bán phụ nữ và trẻ em.  
- Hiệp định ngày 24/03/2008 giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Vương quốc Thái  
Lan về hợp tác song phương nhằm loại trừ nạn buôn bán người, đặc biệt là buôn bán phụ nữ và  
trẻ em và giúp đỡ nạn nhân bị buôn bán.  
- Hiệp định ngày 03/11/2010 giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ nước CHDCND Lào  
về hợp tác phòng chống buôn bán người và bảo vệ nạn nhân bị buôn bán.  
- Hiệp định ngày 15/09/2010 giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ CHND Trung Hoa về  
tăng cường hợp tác phòng chống buôn bán người.  
- Thỏa thuận hợp tác ngày 03/12/2009 giữa Chính phủ CHXHCN Việt Nam và Chính phủ Hoàng gia  
Campuchia về quy trinh chuẩn trong xác định và hồi hương các nạn nhân bị buôn bán trở về.  
2.1.3. Luật phòng chống buôn bán người của Việt Nam  
Về mặt chính sách, pháp luật, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng, chống  
mua bán người, đặc biệt là mua bán phụ nữ và trẻ em. Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp  
luật nhằm bảo vệ quyền con người nói chung, quyền của phụ nữ và trẻ em nói riêng như: Hiến  
pháp; Luật Hôn nhân và gia đinh; Bộ luật hinh sự; Bộ luật Tố tụng hinh sự; Luật Binh đẳng giới; Luật  
Phòng, chống bạo lực gia đinh; Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính; Pháp lệnh Phòng chống mại  
dâm; Pháp lệnh Xuất cảnh, nhập cảnh, v.v. Những quy định pháp luật này đã góp phần quan trọng  
vào việc phòng ngừa, ngăn chặn, trừng trị tội phạm mua bán người. Bên cạnh đó, Chính phủ cũng  
đã ban hành một số văn bản cụ thể liên quan để phòng chống buôn bán người, như Luật phòng  
chống buôn bán người có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2012 và các chính sách, chương trinh  
phòng chống buôn bán người và hỗ trợ nạn nhân.  
1.2. Các chính sách hỗ trợ nạn nhân bị buôn bán  
Ngày 29/01/2007, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 17/2007/QĐ-TTg về Quy chế  
tiếp nhận và hỗ trợ tái hoà nhập cộng đồng cho phụ nữ trẻ em bị buôn bán từ nước ngoài trở về,  
giao Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội là cơ quan chủ tri và chỉ đạo thực hiện công tác hỗ trợ  
nạn nhân.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 54 trang baolam 27400 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Công tác xã hội với nạn nhân buôn bán người", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_cong_tac_xa_hoi_voi_nan_nhan_buon_ban_nguoi.pdf