Tổ chức bản của một số tộc người ở miền núi phía Bắc Việt Nam
Tổ chức bản của một số tộc người
ở miền núi phía Bắc Việt Nam
Nguyễn Ngọc Thanh(*)
Tóm tắt: Bản là hình thức tổ chức xã hội quan trọng ở các dân tộc thiểu số thuộc khu
vực miền núi phía Bắc Việt Nam. Mỗi bản đều có miếu thổ thần, tọa lạc ở một nơi bên
trong bản hay khu rừng cấm, rừng thiêng - nơi tổ chức nghi lễ cầu an cho cộng đồng
hằng năm. Lễ hội của bản đã và đang làm thỏa mãn đời sống tâm linh, cũng là môi
trường bảo tồn và phát huy văn hóa tộc người. Bài viết phân tích các đặc trưng “bản”
của một số dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc Việt Nam từ tên gọi, ranh giới, hình
thức quản lý bản truyền thống và hiện nay, đồng thời chỉ rõ vai trò của trưởng bản
trong điều hành sản xuất, điều phối đất đai, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ rừng cấm và
giữ gìn trật tự, an ninh...
Từ khóa: Bản, Đơn vị hành chính, Ranh giới, Quy ước, Miền núi phía Bắc, Lễ hội,
Việt Nam
Abstract: Villages are a crucial form of social community in ethnic minorities in the
mountainous areas of Northern Vietnam. Each village has an Earth Shrine, located either
inside the village or in a forbidden/ sacred forest, which is the venue for annual peace
prayers for the community. The village festival has been part of the spiritual life and the
environmentforpreservingethnicculture.Thepaperanalyzesthe“village”characteristics
of some ethnic minorities in the northern mountainous region of Vietnam, including place
names, local borders, traditional and current management modes, identifying the role of
village leaders in production management, land distribution, water sources and forest
protection, order and security maintenance...
Keywords: Villages, Administrative Unit, Local Borders, Convention, Northern Upland,
Festival, Vietnam
1. Mở đầu 1(*)
hay thôn của người Kinh, lúng hay quel
Bản ở khu vực miền núi phía Bắc Việt của người Mường, buôn/bon/plei của các
Nam được xem là tương đương với làng dân tộc vùng Trường Sơn - Tây Nguyên,
phum, sóc của người Khmer ở Nam bộ...
Bản là nơi duy trì, đảm bảo cuộc sống của
người dân, bảo tồn và phát huy bản sắc văn
(*)
PGS.TS., Viện Dân tộc học, Viện Hàn lâm Khoa
học xã hội Việt Nam;
hóa tộc người. Tuy nhiên, đến nay, số lượng
Email: [email protected]
Tổ chức bản…
37
nghiên cứu về bản ở các dân tộc thiểu số Xan…) (Vi Văn An, 2019: 178). Ở Cao
khu vực miền núi phía Bắc còn ít ỏi1. Có thể Bằng, tên gọi với tiền tố “nà” có số lượng
nói, mặc dù các nghiên cứu đã chỉ ra được nhiều nhất: 159 bản/512 bản, chiếm tỷ lệ
một số đặc điểm của bản như cách đặt tên, 31,5%, số bản còn lại có tên bắt đầu bằng
không gian xã hội, thiết chế tự quản, các chữ khuổi (suối), lũng (thung lũng)… (Trần
quy ước trong quản lý cộng đồng dưới góc Văn Quỳnh, 2010: 33). Người Mường gọi
nhìn truyền thống với những miêu thuật dân tên bản theo tính chất đất đai, nơi cư trú
tộc học cụ thể, chi tiết, nhưng lại không chú có các bản Đung (rừng rậm), Dool (dãy
ý nhiều đến quá trình biến đổi của làng/bản đồi), Thung nganh (thung lũng), Bậy (lầy
qua từng giai đoạn lịch sử. Đặc biệt là còn thụt); mang tên cây có các bản: Lảo (nứa),
thiếu vắng những công trình chuyên sâu về Ạch (cây tre), Mít (cây mít), Pai (cỏ gianh),
vai trò, vị trí của bản trong công cuộc xây Thăm (rau răm), Ki (cây si), Mùn (tên một
dựng nông thôn mới ở vùng miền núi, dân loại lúa nếp), Chạo (giống lúa chạo). Xuất
tộc thiểu số hiện nay.
2. Đặc điểm, cấu trúc của bản
a) Tên gọi và ranh giới
xứ của những tên bản được người Mường
giải thích: ước khi lập bản đây là những nơi
rừng rậm, ruộng lầy thụt, nhiều tre, nứa, cỏ
Việc đặt tên bản ở các dân tộc theo gianh (Xem: Nguyễn Ngọc Thanh, 2003:
những đặc điểm tự nhiên của từng vùng như 24). Tên bản mang tên người cũng xuất
sông, suối, núi, đất, cỏ cây... là hiện tượng hiện ở nhiều vùng người Hmông như Lý
phổ biến, ví dụ như: núi Lát có tên bản Lát, Lao Chải, Giàng Chu Phìn, Mã Cha, Giàng
suối Sim có tên bản Sim... Ngoài ra, hiện Cha, Thào Dính Chải, Lầu Chá Tổng, Tà
tượng đặt tên bản với tiền tố “nà” (ruộng) Giàng Phình, Vàng Lứ (Xem: Nguyễn
xuất hiện nhiều ở người Tày, Thái vùng Tây Ngọc Thanh, 2000: 30). Đây là hình thức
Bắc, Đông Bắc Việt Nam như: Nà Tăm, Nà ghi nhớ công lao của những người đầu tiên
Mạ, Nà Ca, Nà Giàn. Ở miền Tây NghệAn, có công khai phá lập bản.
chữ đầu tiên của tên bản người Thái thường
Dù gọi theo hình thức nào thì tên bản
được gọi theo vị trí môi trường tạo lập của đều chứa đựng trong đó những ý nghĩa nhất
nó như sông, suối, bến nước, gò đồi… định. Đối với bên ngoài, đó là tín hiệu hàng
Những bản ở cạnh suối nhỏ, tên thường có đầu để phân biệt giữa người bản này với
chữ huổi ở đầu như Huổi Nọt, ở gần suối người bản kia. Còn trong nội bộ cộng đồng,
lớn hay sông có từ nặm (Nặm Xuồng, Nặm tên bản như một chất xúc tác gắn kết mọi
thành viên lại cùng chung sức gánh vác các
1 Điểm lại có một số bài viết và công trình sau: Làng
bản của người Tày (1988); Làng bản của các dân
tộc thiểu số miền núi miền Bắc Việt Nam (1993);
Làng Dao ở Ba Bể Cao Bằng (1993); Thôn làng
người Dao ở nước ta hiện nay: những biến đổi và
vấn đề đặt ra (2016); Làng bản cổ truyền của dân
tộc Tày ở huyện Võ Nhai Thái Nguyên (2010); Làng
bản của người Tày ở huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao
Bằng (2010); Làng của người Hmông ở Việt Nam
(2000); Thiết chế bản của người Dao (2014); Làng
người Tày trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại
hóa và hội nhập (2015),…
công việc chung.
Bản có ranh giới riêng, được ghi chép
rõ ràng trong văn tự hoặc truyền miệng
qua nhiều thế hệ. Ranh giới thường dựa
vào con suối, hòn đá, gốc cây to hoặc vách
đá... Khu vực đất đai thiên nhiên chung của
bản được xác lập một cách bền vững. Đất
ở, đất sản xuất, núi rừng được các thành
viên của bản biết rõ và cũng được các thành
viên của bản khác tôn trọng. Ruộng đất của
Thông tin Khoa học xã hội, số 4.2020
38
bản nào thuộc sở hữu của bản đó. Người Nùng. Theo nghiên cứu của Đàm Thị Tấm
dân của bản này không thể sản xuất trên (2020: 65), phần lớn trong các bản của
đất đai cũng như thu hái lâm thổ sản trên người Nùng đều có từ 3 đến 8 dân tộc cùng
rừng của bản khác. Người di cư đi nơi khác chung sống. Hiện tượng từ 2 đến 3 dân tộc
không còn có quyền lợi về đất đai ở bản cũ. cư trú trong một bản cũng thấy ở một số tộc
Xưa kia hiếm thấy hiện tượng xâm chiếm người khác vùng rẻo cao và rẻo giữa…
đất đai giữa các bản kề nhau (Xem: Nguyễn
Ngọc Thanh, 2000: 37).
Tùy theo điều kiện đất đai canh tác
cũng như hoàn cảnh lịch sử, xã hội ở từng
Những bản nằm sát biên giới thường giai đoạn, mỗi bản có quy mô dân số lớn
được bố trí theo kiểu phòng thủ với hệ nhỏ khác nhau. Bản của người Hmông, Hà
thống tường đá, rào tre, cửa, lô cốt... gọi là Nhì, Lô Lô ở vùng cao thường có quy mô
“khuyên” đá xung quanh bản, chỉ dành một nhỏ từ 30 đến 40 nóc nhà, bản của người
cổng ra vào bản, mỗi bản xưa kia thường có Thái, Tày, Mường, Nùng… ở vùng thấp
một đội dân binh do trưởng bản đứng đầu, có quy mô từ 70 đến 80 nóc nhà, thậm chí
nhằm chống lại nạn trộm cướp (Vi Văn An, hàng trăm nóc nhà. Mỗi bản có nhiều gia
1988: 130-135)…
đình nhỏ thuộc các dòng họ khác nhau cùng
b) Thành phần dân cư, quy mô dân số sinh sống, có gia đình có một hoặc hai thế
Trước đây, các tộc người ở miền núi hệ, có gia đình lớn với vài ba thế hệ.
phía Bắc dù ở vùng thung lũng chân núi 3. Các thiết chế và quan hệ cộng đồng
hay vùng rẻo giữa, rẻo cao hợp thành bản
thường là những gia đình thuộc nhiều dòng
a) Hình thức quản lý bản
Trong xã hội truyền thống, bản là tổ
họ cùng cư trú, bản ít có từ 2 đến 3 dòng họ, chức xã hội tự quản thông qua một bộ máy
bản đông tới 5 đến 7 dòng họ, thậm chí có điều hành do dân bản lựa chọn nhưng cũng
bản tới 12 dòng họ. Trong phạm vi bản, các có khi là thế tập. Chức năng của tổ chức tự
gia đình có quan hệ họ hàng thường cư trú quản này là điều hành công việc chung của
gần nhau. Dù lớn hay nhỏ ở bản nào cũng bản, giữ gìn lễ nghi, phong tục. Ở vùng
có 1 hoặc 2 dòng họ chiếm ưu thế, có uy tín người Thái xưa kia, bản được phân cấp rõ
và ảnh hưởng đến các quan hệ xã hội trong ràng: có bản của những gia đình chức dịch
bản. Những dòng họ lớn trong bản thường và quý tộc, bản của dân tự do (páy đinh),
là những họ có công khai phá đất đai, thành dân nửa tự do (páy cư) và bản của những
lập bản và chiếm hữu những mảnh ruộng tộc người khác tộc, lệ thuộc (cuông nhốc)
tốt nhất để canh tác (Dẫn theo: Nguyễn Văn (Vi Văn An, 2019: 171). Người đứng đầu
Huy, 1992: 156-157). Ở một số vùng người cao nhất và phụ trách chung mọi công
Hmông như Kỳ Sơn (Nghệ An), Thuận việc của bản gọi là quan bản (nếu là người
Châu (Sơn La), Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà thuộc các họ bình dân) hoặc tạo bản (nếu
Giang), một số bản chỉ có 1 dòng họ (cùng là người thuộc các họ quý tộc, tức dòng
họ, cùng ma) cư trú. Đây là điểm khác biệt dõi chúa đất địa phương - tạo mường)
so với các tộc người khác.
(Đặng Nghiêm Vạn, 2007: 561). Về danh
Hiện nay, cư trú đan xen, khác dân tộc nghĩa, chức vụ này do dân bản bầu ra trên
trong cùng một bản đã trở nên phổ biến, cơ sở lựa chọn những người đàn ông có
nhất là ở vùng thung lũng chân núi - nơi uy tín và gia đình khá giả, sau đó báo cáo
cư trú của các tộc người Thái, Mường, Tày, tạo bản xem xét và quyết định. Tuy không
Tổ chức bản…
39
được cha truyền con nối, nhưng trên thực luật tục, lễ nghi của bản để giải quyết, hòa
tế, chức vụ này do người trong dòng họ giải những vi phạm không thuộc phạm vi
tạo bản nắm giữ. Họ có trách nhiệm điều của dòng họ; chăm lo đến lợi ích chung của
hành công việc của bản theo tập quán cộng đồng (Nguyễn Ngọc Hà, 2006: 20).
và tinh thần cộng đồng, đồng thời đôn
Trong thời kỳ hợp tác hóa nông nghiệp,
đốc dân bản thực hiện nghĩa vụ đối với vai trò của trưởng bản bị thay thế bởi chủ
mường. Dưới quan bản có một chức giúp nhiệm hợp tác xã, và tổ chức bản - trên danh
việc gọi là chá bản. Theo nghĩa tiếng Thái nghĩa - chuyển thành đội sản xuất, hay bao
thì “chá” có nghĩa là “nói”. Có thể hiểu gồm vài ba đội sản xuất. Thời gian này, hợp
chá bản là người phổ biến, tuyên truyền tác xã hay đội sản xuất chi phối mọi hoạt
mọi tin tức, công việc của bản, mường động chủ yếu của cộng đồng dân cư… Vai
(Cầm Trọng, 2005: 174).
trò truyền thống của bản dần mờ nhạt, vai
Các bản của người Tày, Nùng từng trò điều tiết, quản lý kinh tế và xã hội của
trực thuộc vào các đơn vị hành chính cấp hợp tác xã xuất hiện và tăng lên (Nguyễn
xã, tổng, châu, tỉnh trực tiếp do nhà nước Văn Huy, 1992: 156).
phong kiến hay thực dân nửa phong kiến
Từ sau Đổi mới (năm 1986), chức
chi phối. Đứng đầu các cấp hành chính danh trưởng bản, trưởng thôn được khôi
này là tầng lớp thổ ty (quằng) người địa phục thay thế vai trò của chủ nhiệm hợp
phương hay các lưu quan được cử từ triều tác xã, đội trưởng sản xuất, chức năng tự
đình. Ở mỗi bản, đứng đầu là châu bàn, quản của bản lại được phát huy phần nào.
tầu bàn, những người này gần như được Trưởng bản hoạt động dưới sự lãnh đạo
dân trong bản suy tôn, phần nhiều là trực tiếp của cấp xã. Những bản đã được
người đại diện dòng họ gốc, dòng họ lớn gọi là thôn thì trưởng bản cũng có thể gọi
nhất của bản, cũng có thể đó là dòng họ là trưởng thôn.
thổ ty (Hoàng Nam, 1992: 187). Trong
Nhiệm vụ của trưởng bản hiện nay là
xã hội truyền thống các dân tộc thiểu số quán xuyến toàn bộ các công việc liên quan
phía Bắc nói chung, trưởng bản trong bộ đến kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh trật
máy tự quản là do dân cử theo những tiêu tự của bản; tiếp nhận chủ trương, đường lối
chuẩn của tập quán pháp quy định. Họ là của Đảng và Nhà nước cũng như Nghị quyết
những người có uy tín, được quần chúng của Đảng ủy, chính quyền xã, đồng thời phổ
suy tôn bởi những chuẩn mực như: biết tổ biến đầy đủ nội dung của các văn bản đó
chức làm kinh tế gia đình; hiểu biết quy đến người dân, kịp thời phản ánh tâm tư,
ước, luật tục, phong tục, tập quán và lịch nguyện vọng của dân bản lên cấp trên.
sử của bản; có khả năng ứng xử và giao
Trưởng bản chịu trách nhiệm hướng
tiếp; luôn chăm lo, bảo vệ cuộc sống bình dẫn dân bản tiến hành sản xuất, điều phối
an của dân bản. Trong số những thành viên đất đai, nhắc nhở mọi người không xâm
trong bản, người nào có khả năng vượt trội phạm đến khu vực canh tác của nhau.
về các chuẩn mực đó sẽ được quần chúng Trong việc bảo vệ nguồn nước, bảo vệ rừng
suy tôn. Do vậy, trưởng bản trong xã hội cấm, trưởng bản chịu trách nhiệm cao nhất
truyền thống thường được quần chúng và có quyền xử phạt trực tiếp những ai chặt
kính nể, tin yêu và nghe theo. Trong công phá bừa bãi rừng đầu nguồn, làm ô nhiễm
việc, họ thường căn cứ vào những quy ước, nguồn nước. Trưởng bản còn là người hiểu
Thông tin Khoa học xã hội, số 4.2020
40
biết rõ về nguồn gốc của từng dòng họ, về mọi thành viên của bản, dù người đó là cán
các mối quan hệ hôn nhân, nắm chắc các bộ hay dân thường, là người của dòng họ
phong tục, tập quán, chịu trách nhiệm chính này hay dòng họ kia, không ai dám không
trong các vụ xử phạt người vi phạm quy chấp hành. Do vậy, quy ước trở thành sợi
ước của cộng đồng (Nguyễn Ngọc Thanh, dây vô hình nhưng bền chặt cố kết mọi
2001: 28).
b) Quy ước của bản
thành viên trong cộng đồng (Nguyễn Ngọc
Thanh, 2002: 3-9).
Quy ước của mỗi bản là những điều
c) Quan hệ cộng đồng bản
khoản được truyền miệng từ đời này qua
Tinh thần cộng đồng được thể hiện rõ
đời khác, mặc dù không có văn bản nhưng nét trong sản xuất và đời sống hằng ngày,
được hầu hết người dân ghi nhớ và được là yếu tố quan trọng để củng cố sự đoàn kết
mọi người trong cộng đồng tự giác thực và phát triển của bản.
hiện. Nội dung của các quy ước gắn bó
Trong trồng trọt, để kịp thời vụ có hình
thiết thực với các lợi ích của người dân thức làm đổi công, người Cơ Lao gọi là
trong bản và được mọi người bảo vệ do phàng cống, người Dao Đỏ gọi là pui công,
điều hòa được các lợi ích (rừng, đất đai, người Tày gọi là vàn nà,… Theo đó, nhiều
nguồn nước, xã hội...). Quy ước thường gia đình trong bản có thể tạo thành một
được già bản, trưởng bản nhắc nhở vào dịp nhóm làm đổi công, ngày này đến làm giúp
đầu năm. Trong xã hội truyền thống, những cho một nhà nào đó (gia chủ chỉ cần chuẩn
ai vi phạm quy ước đều phải chịu hình phạt, bị một bữa cơm thết đãi sau khi hoàn thành
có thể bằng tiền, hiện vật, đánh đập bằng công việc) và ngày khác chuyển sang làm
roi, gậy, thậm chí đuổi ra khỏi bản.
cho nhà khác trong nhóm. Có thể thấy, đây
Hiện nay, bên cạnh quy ước có tính là truyền thống tốt đẹp, có ý nghĩa tích cực,
truyền thống thì Nhà nước đã và đang áp là một biện pháp giải quyết sức lao động
dụng hệ thống pháp luật ngày càng sâu nhằm giúp mỗi gia đình có đủ nhân lực để
rộng trong mọi lĩnh vực của đời sống. Hai hoàn thành công việc.
hệ thống quản lý xã hội này tồn tại bổ trợ
Trong đời sống hằng ngày, mỗi sự kiện
cho nhau và đang phát huy hiệu quả trong vui, buồn của mỗi gia đình trong bản cũng
cộng đồng. Thực tế cho thấy, quy ước ở là nỗi vui, buồn chung của cả cộng đồng
các dân tộc thiểu số có một số điểm tiến bản. Một đứa trẻ ra đời, khi hết thời gian
bộ cần tiếp tục được phát huy, khai thác ở cữ, theo tập quán, các gia đình trong bản
và vận dụng hiệu quả hơn nữa trong đời đến hỏi thăm và chia vui. Việc dựng vợ gả
sống xã hội tộc người nói chung và trong chồng cũng là sự kiện được dân bản quan
các lĩnh vực cụ thể nói riêng. Song, quy tâm chú ý, mọi người trong bản chủ động
ước hiện nay không thể đơn giản hóa thành đến gia đình nào có hôn lễ mà không cần
một công thức chung cho mọi nơi, mà phải phải mời mọc. Đám tang cũng vậy, vào
xuất phát từ thực tiễn cụ thể của từng địa những ngày gia đình tổ chức tang lễ, dân
phương với sự tham gia của chính chủ thể bản tạm dừng việc lao động sản xuất để
cộng đồng.
cùng chia sẻ sự mất mát với tang gia. Ở các
Có thể nói, quy ước như là một cương bản người Tày, Nùng còn có phường đám
lĩnh tinh thần đối với mọi tổ chức xã hội ma gọi là Phe, có nơi gọi là Hàng phường,
khác nhau trong bản và có tác động đến đây là một tổ chức tự nguyện tập hợp một
Tổ chức bản…
41
số thành viên trong bản hoặc ngoài bản để ngụ của nhiều thần linh, ma quỷ, không
lo việc tang lễ cho các gia đình có người ai dám đến chặt phá cây, săn bắn thú, do
qua đời. Phe có người trùm trưởng điều vậy thường có những cây cổ thụ, nhất là
khiển mọi hoạt động từ đào huyệt, phát cây đa. Bên cạnh đó, tuy không phổ biến
đường, sửa nhà, cơm nước..., gia đình của như ở thôn/làng của người Kinh, nhưng ở
người quá cố dù có thiếu tiền, gạo trong các bản của người Tày, Nùng cũng có ngôi
những ngày tang lễ cũng sẽ có Phe lo cho đình thờ Thành hoàng, thờ thần sông, thần
tất cả, khi nào gia đình tang chủ có điều núi, thần nông và có khi thờ cả Phật. So
kiện về kinh tế sẽ trả lại cho Phe (Đàm Thị với miếu thì đình ít phổ biến hơn, tức là
Tấm, 2020: 92). Để quản lý và thúc đẩy nếu bản nào có miếu thì đình không nhất
hoạt động, Phe xây dựng các nội quy và thiết có. Ngoài việc cúng lễ hằng năm theo
nếu ai vi phạm, mức nhẹ bị phạt tiền, mức lễ tiết, đình cùng với miếu cũng là nơi diễn
nặng bị đuổi khỏi Phe. Có những quy định ra các lễ hội hằng năm và sinh hoạt văn
tưởng khó thực hiện với người nông dân hóa cộng đồng. Một số bản còn có chùa thờ
vốn quen tác phong “dềnh dàng”, như đến Phật Bà Quan Âm - một vị thần mà trong
nhận nhiệm vụ muộn 5 phút bị phạt 50.000 tâm thức dân gian là rất thiêng, được người
đồng, muộn 30 phút bị phạt 100.000 đồng, Tày, Nùng tin thờ (Hoàng Bé - Hoàng
song hầu như hiếm người vi phạm (Vương Minh Lợi, 1988: 94-103). Mỗi bản người
Xuân Tình và cộng sự, 2015: 20). Theo Thái xưa thường có một thầy cúng đảm
tập quán của các tộc người Thái, Mường, nhận phần cúng chung cho cả bản. Khi bản
Tày, Hmông, Dao, Hà Nhì…, trong bản gặp khó khăn, thầy cúng của bản đóng vai
nếu gia đình nào làm nhà mới, mọi nhà trò chủ tế, cúng cầu mong cho các gia đình
đều cử người đến giúp…, gia đình nào gặp trong bản vượt qua khó khăn, gặp điều tốt
khó khăn có thể vay gạo và tiền của các lành trong cuộc sống. Hằng năm, vào dịp
gia đình khác, không phải tính lãi. Người Tết, thầy cúng thường đến cúng cầu sức
trong cùng họ thiếu đói đến cậy nhờ được khỏe cho các gia đình trong bản, đồng thời
cho không.
cúng để đuổi ma gây bệnh cho những người
Dân cư trong bản có sự gắn bó với nhau ốm trong bản. Cũng vào dịp này, người
trên cơ sở cùng tôn thờ những biểu tượng Thái còn có tập quán làm lễ gọi hồn (hiếc
tâm linh và sự che chở của thần bản mệnh khoăn) cho các thành viên trong gia đình
chung. Bản của người Tày, Nùng có miếu và được tiến hành tại bến nước chung của
thổ thần, tọa lạc ở trong bản, hoặc trong bản. Sáng mồng Một, những người phụ nữ
khu rừng cấm, rừng thiêng, và thường do sẽ dậy thật sớm, ra bến nước múc lấy một
những gia đình sinh sống lâu nhất trong ống nước suối gọi là nước năm mới (nặm
bản chịu trách nhiệm trông nom, thờ cúng. pi mớ), đem về cho con cháu trong gia đình
Vị thổ thần đó ở cả người Tày và người rửa mặt (Vi Văn An, 2011). Các tộc người
Nùng đều gọi là Thó tỉ (thổ địa), có nơi Hà Nhì, Cống, Si La đều tổ chức nghi lễ
gọi là Cốc bản (gốc bản). Đó có thể là một cúng thần bản, một năm hai lần ở một khu
người cụ thể, sau khi qua đời linh ứng và rừng cấm, cầu mong một năm yên lành,
trở thành thổ thần, cũng có thể là nhân vật dân bản khỏe mạnh, mùa màng tươi tốt. Ở
huyền thoại. Cánh rừng có miếu thổ thần người Dao còn có lễ cấp sắc cho nam giới,
thường được coi là rừng thiêng, nơi trú mục đích chính là công nhận nam thanh
Thông tin Khoa học xã hội, số 4.2020
42
niên đến tuổi trưởng thành, thừa nhận họ là tự nhiên hoặc gọi theo sự kiện đặc biệt nào
thành viên chính thức của tộc người. Đồng đó. Bản có không gian sinh tồn riêng bao
bào cho rằng, chỉ những người đã qua cấp gồm rừng, núi, sông, suối, đất đai để canh
sắc mới được coi là người lớn, người đàn tác với nơi cư trú của các nóc nhà. Mỗi
ông nào chưa được cấp sắc bị coi như trẻ bản đều có ranh giới để phân biệt, dù chỉ
con (Bế Viết Đẳng và cộng sự, 1971: 214). mang tính ước lệ nhưng luôn được mọi
Nghi lễ này không chỉ đóng khung trong người tôn trọng.
phạm vi gia đình, mà còn là sinh hoạt
Bản là một cộng đồng về văn hóa,
mang tính cộng đồng. Đối với các lễ hội thể hiện trong ý thức chung về cội nguồn
hằng năm trong bản, ngoài nghi lễ cúng tế, thông qua các nghi lễ, tín ngưỡng…, ở sự
các sinh hoạt văn hóa mang tính thi ca, vui đồng cảm về các sinh hoạt văn hóa chung
chơi giải trí đã thu hút đông đảo người dân như lễ hội truyền thống, mang đậm bản
trong bản, giữa các bản, có khi cả một vùng sắc tộc người, góp phần tạo nên niềm
rộng lớn. Hội Lồng tồng (xuống đồng) của cộng mệnh, cộng cảm của các thành viên
người Tày - Nùng vùng Đông Bắc và Xên trong bản
bản (cầu an) của người Thái vùng Tây Bắc
là những lễ hội lớn, chiếm vị trí quan trọng Tài liệu tham khảo
trong đời sống không chỉ của họ mà còn 1. Vi Văn An (1988), “Làng phòng thủ,
của nhiều tộc người xung quanh. Tùy từng
nơi mà những lễ hội này có sự khác biệt,
song cơ bản đều diễn ra vào mùa xuân và
sắp xếp thời gian tổ chức giữa các bản sao
nhà pháo đài ở vùng biên giới Việt -
Trung”, trong: Tuyển tập Hội nghị khoa
học Xứ Lạng - Lạng Sơn, Sở Văn hóa
- Thông tin tỉnh Lạng Sơn.
cho dân bản này đến góp vui được với dân 2. Vi Văn An (2011), Tri thức dân gian
bản kia. Lễ hội với những hình thức vui
chơi giải trí tạo nên không khí hồ hởi, hứng
khởi trước các sinh hoạt văn hóa cổ truyền,
là nơi gặp gỡ giao lưu tình cảm thông qua
ca hát đối đáp, là nơi để thế hệ trẻ nhập
thân vào hoạt động văn hóa chung, tiếp
nhận các giá trị văn hóa tiêu biểu từ thế hệ
trước truyền lại...
của người Thái trong việc sử dụng và
vanhoanghean.com.vn/component/k2/
34-cuoc-song-quanh-ta/2370-tri-thuc-
dan-gian-cua-nguoi-thai-trong-viec-su-
dung-va-bao-ve-tai-nguyen-nuoc, truy c ậ p
ngày 25/3/2020.
3 . V i Văn An (2019), Người Thái ở miền
Tây Nghệ An, Nxb. Thế giới, Hà Nội.
4. Kết luận
Bản là đơn vị cấp cơ sở, là chân rết 4. Hoàng Bé, Hoàng Minh Lợi (1988),
của chính quyền cấp xã. Bản cũng là môi
trường đầu tiên phát huy quyền dân chủ,
“Làng bản của người Tày”, Tạp chí
Dân tộc học, số 4 (60).
thúc đẩy sự tham gia của cá nhân, hộ gia 5. Bế Viết Đẳng và cộng sự (1971), Người
đình vào công cuộc xây dựng nông thôn
mới. Vai trò này ngày càng được khẳng
Dao ở Việt Nam, Nxb. Khoa học xã hội,
Hà Nội.
định trong bối cảnh thực hiện quy chế dân 6. Nguyễn Ngọc Hà (chủ nhiệm, 2006),
chủ ở cộng đồng.
Bản của các tộc người ở miền núi phía
Bắc đều có tên gọi riêng đặt theo điều kiện
Phát huy vai trò già làng, trưởng bản
người dân tộc thiểu số trong thực hiện
quy chế dân chủ tại các tỉnh miền núi
Tổ chức bản…
43
phía Bắc nước ta hiện nay, Đề tài khoa
học cấp Bộ, Viện Khoa học xã hội
Việt Nam.
Nghệ An”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử,
số 3 (316).
12. Nguyễn Ngọc Thanh (2002), “Những
quy ước của người Hmông”, Tạp chí
Dân tộc học, số 6 (120).
7. Nguyễn Văn Huy (1992), “Cộng đồng
bản”, trong: Viện Dân tộc học (1992),
Các dân tộc Tày Nùng ở Việt Nam, 13. Nguyễn Ngọc Thanh (2003), “Bổ sung
Xưởng in Liên hiệp Xí nghiệp Khảo
sát, Hà Nội.
8. Hoàng Nam (1992), Dân tộc Nùng
ở Việt Nam, Nxb. Văn hóa dân tộc,
Hà Nội.
9. Đàm Thị Tấm (2020), Tổ chức bản của
người Nùng Phàn Slình ở huyện Đồng
Hỷ, tỉnh Thái Nguyên, Luận án tiến sĩ
Nhân học, Học viện Khoa học xã hội.
10. Nguyễn Ngọc Thanh (2000), “Làng của
người Hmông ở Việt Nam”, Tạp chí
Dân tộc học, số 1 (105).
thêm tư liệu về thiết chế xã hội cổ truyền
của người Mường ở mường Bi, huyện
Tân Lạc, tỉnh Hòa Bình”, Tạp chí Dân
tộc học, số 5 (125).
14. Vương Xuân Tình và cộng sự (2015),
“Làng người Tày trong bối cảnh công
nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập”,
Tạp chí Dân tộc học, số 4&5.
15. Cầm Trọng (2005), Những hiểu biết về
người Thái ở Việt Nam, Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
16. Đặng Nghiêm Vạn (2007), Văn hóa
Việt Nam đa tộc người, Nxb. Giáo dục,
Hà Nội.
11. Nguyễn Ngọc Thanh (2001), “Làng của
người Hmông ở huyện Kỳ Sơn, tỉnh
(tiếp theo trang 51)
tintuc460383
6. Tiểu Thúy (2020), Hạn mặn “bủa vây”,
người dân đồng bằng sông Cửu Long
“khát” nước ngọt trên diện rộng, http://
kinhtedothi.vn/han-man-bua-vay-nguoi-
dan-dong-bang-song-cuu-long-khat-nuoc
-ngot-tren-dien-rong-376660.html
4. H. Phúc (2019), Người Việt có tầm ảnh
hưởng với khát vọng đưa nông nghiệp
thực sự trở thành thế mạnh của Việt
nguoi-viet-co-tam-anh-huong-voi-khat-
-the-manh-cua-viet-nam-2019032716
0046740.htm
-nghiep-cong-nghe-cao-cua-Hoa-Ky-
9795.html
khô Tây Nguyên, http://daidoanket.vn/
dan-toc/nuoc-va-mua-kho-tay-nguyen-
-nghiep-cong-nghe-cao-cua-trung-quoc
-a17184.html
Bạn đang xem tài liệu "Tổ chức bản của một số tộc người ở miền núi phía Bắc Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
to_chuc_ban_cua_mot_so_toc_nguoi_o_mien_nui_phia_bac_viet_na.pdf

