Tứ đức của nho giáo và ý nghĩa tham chiếu của nó đối với sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam hiện nay

TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
TỨ ĐỨC CỦA NHO GIÁO VÀ Ý NGHĨA THAM CHIẾU CỦA NÓ  
ĐỐI VỚI SỰ TIẾN BỘ CỦA PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY  
Trần Thị Hà Trang  
Khoa Lý luận chính trị, Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế  
Email: hatrang [email protected]  
Ngày nhận bài: 24/02/2021; ngày hoàn thành phản biện: 28/02/2021; ngày duyệt đăng: 15/4/2021  
TÓM TẮT  
Trong xu thế hội nhập hiện nay, sự chuyển biến nhanh chóng của đời sống xã hội  
đòi hỏi người phụ nữ phải năng động và hiện đại, song điều đó không có nghĩa  
phủ nhận giá trị tích cực của những phẩm chất đạo đức tốt đẹp của người phụ nữ  
truyền thống. Với suy nghĩ ấy, trên cơ sở phân tích quan niệm của Nho giáo về Tứ  
đức, chúng tôi mong muốn truy tìm những ý nghĩa tham chiếu của quan niệm này  
đối với người phụ nữ Việt Nam hiện đại.  
Từ khóa: Nho giáo, Tứ đức, Truyền thống, Phụ nữ.  
1. ĐẶT VẤN ĐỀ  
Về mặt lịch sử, học thuyết Nho giáo khởi sinh vào thời Xuân Thu - Chiến Quốc  
trong bối cảnh xã hội Trung Hoa có nhiều biến động phức tạp. Trước tình hình ấy, các  
nhà Nho đã nỗ lực tìm kiếm phương thức phù hợp để thiết định sự ổn định xã hội. Đó  
chính là cơ sở thực tiễn cho sự ra đời của đường lối Đức trị với biện pháp căn bản là lấy  
đạo đức làm trung tâm để giáo hóa con người, để từ đó hướng đến một xã hội có tôn ti  
trật tự. Đối với người phụ nữ, nội dung giáo hóa đạo đức theo quan niệm của các nhà  
Nho được thể hiện tập trung ở Tam tòng và Tứ đức. Trong bài viết này, chúng tôi chỉ  
tập trung làm rõ những luận bàn của Nho giáo về Tứ đức với tính cách là những chuẩn  
mực đạo đức căn bản cần được giáo dục đối với người phụ nữ có đức hạnh.  
Khi được du nhập vào Việt Nam, quan niệm của Nho giáo về Tứ đức đã có ảnh  
hưởng sâu sắc đối với cái nhìn của xã hội về người phụ nữ. Ở một mức độ nhất định,  
có thể nói rằng, những chuẩn mực về Công, Dung, Ngôn, Hạnh đã góp phần khắc họa  
hình ảnh phụ nữ Việt Nam truyền thống. Từ chiều dài lịch sử nước ta cho thấy, người  
phụ nữ giữ một vai trò vô cùng quan trọng trong sự tiến bộ của xã hội. Người ta có lý  
khi cho rằng, “họ vừa là người lao động, người mẹ, người thầy đầu tiên của con. Khả  
năng và điều kiện lao động, trình độ văn hóa, vị trí xã hội, đời sống vật chất và tinh  
123  
Tứ đức của Nho giáo và ý nghĩa tham chiếu của nó đối với sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam hiện nay  
thần của phụ nữ có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển của thế hệ tương lai, đến sự  
phồn vinh của quê hương, đất nước”[5, tr.20].  
Trong xu thế hội nhập đang diễn ra mạnh mẽ hiện nay, sự chuyển biến nhanh  
chóng của đời sống xã hội đòi hỏi người phụ nữ phải năng động và hiện đại. Trải qua  
gần 35 năm, sự nghiệp đổi mới của Việt Nam đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn  
trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong sự thay đổi đó, con người đóng vai trò  
là yếu tố quan trọng hàng đầu, và người phụ nữ là lực lượng đông đảo nắm vai trò to  
lớn trong gia đình và xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển chung của xã hội. Việc  
xây dựng người phụ nữ Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu của thời kỳ  
mới; phát triển nguồn nhân lực nữ chất lượng cao; đào tạo; trọng dụng; tôn vinh nhằm  
khơi dậy tiềm năng trí tuệ, sức sáng tạo, khát vọng của đội ngũ nữ lãnh đạo quản lý,  
nữ trí thức, nữ cán bộ khoa học, nữ doanh nhân... là nhiệm vụ vô cùng quan trọng. Do  
đó, tiêu chí để đánh giá người phụ nữ trong thời đại mới cũng thay đổi theo hướng  
hiện đại. Tuy nhiên, chúng tôi cho rằng, quan niệm của Nho giáo về những phẩm chất  
đạo đức tốt đẹp nơi người phụ nữ truyền thống không hoàn toàn mất đi giá trị. Nói  
cách khác, biện chứng giữa cái hiện đại và cái truyền thống sẽ tạo nên một diện mạo  
mới cho người phụ nữ Việt Nam cân bằng, toàn diện. Với suy nghĩ ấy, trong bài viết  
này, chúng tôi mong muốn tìm kiếm trong quan niệm của Nho giáo về Tứ đức những  
ý nghĩa tham chiếu khả dĩ phù hợp với người phụ nữ Việt Nam hiện đại.  
2. “TỨ ĐỨC” VÀ HÌNH ẢNH NGƯỜI PHỤ NỮ TRUYỀN THỐNG  
2.1 Tứ đức trong quan niệm của các nhà Nho  
Về mặt kinh điển, quan niệm của Nho giáo về Tứ đức có nguồn gốc từ Chu lễ  
(sách ghi những quy định về lễ nghĩa thời nhà Chu). Thiên Quan trủng tể có ghi: Cửu  
tần chưởng phụ học chi pháp, dĩ cửu giáo ngự: phụ đức, phụ ngôn, phụ dung, phụ  
công. (Nghĩa là: Cái phép học của người vợ cả là lấy chín điều - tập trung trong bốn  
đức: công, dung, ngôn, hạnh) [8, tr.134]. Về sau, các nhà Nho quán triệt Tứ đức vào  
việc giáo hóa và tu dưỡng phẩm chất đạo đức của người phụ nữ. Vậy thực chất Công,  
Dung, Ngôn, Hạnh là gì?  
Về mặt ngữ nghĩa, Tứ đức được giải thích như sau: “Công là khéo léo. Dung là  
dáng mạo. Gồm có: dung mạo (chỉ dáng điệu và sắc mặt) và dung sắc (nhan sắc). Ngôn  
là lời nói. Hạnh chỉ đức hạnh nết na, hành vi mực thước” [8,tr.20].  
Trong quan niệm của các nhà Nho, Tứ đức gồm phụ công, phụ dung, phụ ngôn  
và phụ hạnh, là bốn tính nết tốt mà người phụ nữ đức hạnh cần phải có.  
"Công là nữ công gia chánh, là người phụ nữ biết tề gia nội trợ, biết sắp xếp  
công việc gia đình, nuôi dạy con cái. Công với phụ nữ ngày xưa chủ yếu là may, vá,  
thêu, dệt, bếp núc, buôn bán, với người phụ nữ giỏi thì có thêm cầm kỳ thi hoạ.  
124  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
Dung là dung nhan, diện mạo, hòa nhã trong sắc diện. Dáng dấp của người phụ  
nữ phải đoan trang, thùy mị, gọn gàng, biết tôn trọng hình thức bản thân. Đó cũng là  
cái nết na thể hiện qua cách ứng xử, nói cười. Trang phục của người phụ nữ phải chỉnh  
tề, không lộ liễu, gợi cảm.  
Ngôn là mềm mại trong lời ăn tiếng nói. Ngôn từ giao tiếp phải dịu dàng, mềm  
mỏng, có duyên, biết thưa, biết gửi; người phụ nữ không được quá nặng lời lúc nóng  
giận, không ba hoa khi hứng chí, không nói đãi bôi, giả dối khi giao tiếp.  
Hạnh là nhu mì trong tính nết. Đạo đức phải đoan trang, đúng đắn, nết na.  
Hạnh thể hiện những phẩm chất đạo đức cơ bản của người phụ nữ, trước hết là sự  
thủy chung với chồng, đức hy sinh với con cái và giàu lòng nhân ái với mọi người  
xung quanh. “Hạnh còn biểu hiện ở tính nết hiền thảo, kính trên nhường dưới, chiều  
chồng thương con, ăn ở tốt với anh em họ nhà chồng. Ra ngoài thì nhu mì, chín chắn,  
không hợm hĩnh, cay nghiệt” [1, tr.77].  
Mạnh Tử cũng diễn giải rõ thêm bổn phận của người con gái khi "về nhà  
chồng". Hầu hết các cô gái khi đi lấy chồng đều được mẹ đẻ dặn rằng: “Mày về nhà  
chồng, phải kín, phải răn, chớ trái lời chồng. Lấy nhu thuận làm chính yếu, ấy là đạo  
người vợ” [4, tr.971].  
Như vậy, theo quan niệm của các nhà Nho, đạo người làm vợ đó là phải kính  
trọng, tuân thủ, không được làm trái ý chồng, trong mọi tình thế dù đúng dù sai người  
con gái đều phải nhẫn nhịn, chịu đựng, không được phản kháng.  
Các “đức” (phẩm chất đạo đức) trong Tứ đức không tồn tại tách biệt, mà tồn tại  
như những thành tố có mối quan hệ biện chứng với nhau tạo nên một chỉnh thể . Cụ  
thể, nếu như “Hạnh” là nội dung, thì “Công”, “Dung”, “Ngôn” là hình thức. Chúng  
hòa quyện, bổ sung và thể hiện thông qua nhau. Công, Dung, Ngôn là biểu hiện cụ thể  
hóa của đức hạnh. Đức hạnh tốt đẹp tất yếu công, dung, ngôn sẽ thể hiện đúng theo  
chuẩn mực của Lễ. Ngược lại, qua Công, Dung, Ngôn, người ta có thể đánh giá được  
phẩm hạnh của người phụ nữ. Như vậy, Nho giáo đòi hỏi ở người phụ nữ vẻ đẹp toàn  
diện trong một khuôn mẫu nhất định (chúng tôi nhấn mạnh). Xét đến cùng, nhìn ở góc độ  
giới, quan niệm của các nhà Nho về Tứ đức không phải xuất phát từ bản thân người  
phụ nữ, mà được sử dụng như một công cụ để giáo hóa người phụ nữ nhằm mục đích  
ổn định trật tự xã hội theo khuôn mẫu phụ quyền.  
2.2. Hình ảnh người phụ nữ truyền thống  
Khi được du nhập vào nước ta, Nho giáo nói chung, quan niệm của Nho giáo  
về Tứ đức nói riêng được dung hợp và hòa đồng vào cuộc sống người Việt, tạo thành  
một bộ phận của văn hóa Việt. Trong quá trình tiếp biến, bản địa hóa, quan niệm Nho  
giáo về Tứ đức của người phụ nữ, về tổng thể, vẫn giữ được nội dung cốt lõi của nó,  
125  
Tứ đức của Nho giáo và ý nghĩa tham chiếu của nó đối với sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam hiện nay  
song ít nhiều đã được các nhà Nho luận bàn một cách uyển chuyển, mềm mại phù hợp  
với đặc tính của văn hóa Việt.  
Trong xã hội phong kiến, người ta thường lấy Tứ Đức làm khuôn vàng thước  
ngọc để răn dạy người con gái trong gia đình. Khi nhắc tới chữ Công thì có thể hiểu đó  
là việc nữ công gia chánh phải khéo léo. Ngay từ thuở ấu thơ, người con gái trong gia  
đình đã được dạy dỗ: “Con ơi muốn nên thân người/ Lắng tai nghe lấy những lời mẹ  
cha/ Gái thì giữ việc trong nhà/ Khi vào canh cửi, khi ra thêu thùa” (Gia huấn diễn ca)  
Như vậy, đức Công đã quy định nội dung và giới hạn phạm vi công việc mà  
người phụ nữ được quyền tham gia đó là gia đình (domestic). Người ta thường mặc  
định rằng, một người vợ mẫu mực trong xã hội phong kiến phải là người phụ nữ hiền  
thục, chăm chỉ, lo toan việc nhà. Công việc ngoài xã hội không dành cho họ, đó là công  
việc của người đàn ông - trụ cột của gia đình. Nói theo ngôn ngữ phương Tây, người  
phụ nữ bị trói buộc trong "cái riêng tư" (the private), và "cái công cộng" (the public) là  
lãnh địa của nam giới.  
Trong đời sống vật chất của gia đình người Việt truyền thống, người phụ nữ  
đóng góp rất nhiều sức lực từ công việc đồng áng, chợ búa, đến hàng loạt công việc  
không tên khác: Vì chồng nên phải gắng công/ Nào ai xương sắt da đồng chi đây (ca dao). Họ  
hi sinh tuổi xuân của mình để Một ngày hai bữa cơm đèn/ Còn đâu má phấn răng đen hỡi  
chàng. (ca dao)  
Chuẩn mực về vẻ đẹp xưa của người phụ nữ là vẻ đẹp thùy mị, kín đáo, duyên  
dáng. Ngay trong quan niệm về hình thức cũng đã thể hiện vị trí khiêm nhường của  
phụ nữ trong gia đình, ngoài xã hội. Có nhiều câu ca ca ngợi vẻ đẹp của người phụ nữ:  
Những người thắt đáy lưng ong / Vừa khéo chiều chồng, vừa khéo nuôi con. (ca dao)  
Hình ảnh người phụ nữ truyền thống đi đứng, nói năng ra thưa vào gửi, không  
được nói to, đi mạnh, không được cãi lại chồng. Ngay cả khi chồng quát, chửi mắng,  
thậm chí đánh thì phải cúi đầu nhịn nhục: Chồng giận thì vợ làm lành / Miệng cười hớn  
hở… rằng anh giận gì? (ca dao)  
Quan niệm về dung nhan của người phụ nữ không tách rời vẻ đẹp đức hạnh.  
Vẻ đẹp hình thức luôn gắn với vẻ đẹp tâm hồn, tính cách, ứng xử. Nho giáo luôn chú  
trọng xây dựng một vẻ đẹp toàn diện đối với người phụ nữ.  
Hạnh là hạnh kiểm, đạo đức, là nhân hậu, là thủy chung, là giàu tình  
yêu thương và giữ trọn gia phong nề nếp. Đức hạnh của người phụ nữ được thể hiện  
qua các mối quan hệ: quan hệ vợ - chồng, con cái - cha mẹ... Trong Tứ đức, Hạnh được  
xem là phẩm chất quan trọng nhất của người phụ nữ có đức hạnh; là một đức tính tạo  
nên cái đẹp trong tính nết, đạo đức, tinh thần, tình cảm người con gái, làm thành vẻ  
đẹp đích thực của Tứ đức. Trong Giáo huấn diễn ca bình dân thư quán, Nguyễn Trãi có  
viết về đức Hạnh như sau: “Phận làm gái nghe lời khéo khuyến/ Lắng tai nghe truyện cổ mới  
126  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
nên/ Hãy xem xưa những bậc dâu hiền/ Kiêm tứ đức Công - Dung - Ngôn - Hạnh/ Công là đủ  
mùi xôi thức bánh/ Nhiệm nhặt thay đường chỉ mũi kim/ Dung là nét mặt ngọc đoan trai/  
Không tha thướt không chiều lả lướt/ Ngôn là lạy, trình, thưa, vâng, dạ/ Hạnh là đường ngay  
thảo kính tin/ Xưa nay mấy kẻ dâu hiền/ Công - Dung - Ngôn - Hạnh là tiên phàm trần” [2,  
tr.5].  
Chi Thanh trong Tiết Hạnh thì lại diễn giải: Tứ đức: “Dọc, ngang, chí khí trị bình/  
Tu thân trước, lập gia - đình cho nên/ Xét xem lề thói xưa truyền/ Tam tòng, tứ đức những  
khuyên một chiều…/ Nữ công kể đã là nhiều/ Đôi câu bếp nước, vài điều buồng the/ Nữ dung  
ngượng ngịu rụt rè/ Tấm thân ẻo lả mặc bề chăm lo/ Vui cười chẳng dám reo to/ Nói năng  
chẳng dám he ho rộng nhời…/ Giữ mình chẳng dám gần trai/ Chẳng nhìn tận mắt, chẳng mời  
tận tay” [6, tr.12].  
Chắc hẳn có thể đánh giá, nhìn nhận về Tứ đức từ nhiều góc độ khác nhau.  
Song, chúng tôi cho rằng, ở mức độ nhất định, quan niệm Nho giáo về Tứ đức vẫn  
hàm chứa những giá trị cần được lưu giữ và phát huy. Nếu như ngày xưa, Tứ đức là  
khuôn vàng thước ngọc, là chuẩn mực để người phụ nữ có đức hạnh suốt đời rèn  
luyện phấn đấu, giữ gìn, thì ngày nay, đó vẫn có thể được xem là những phẩm chất  
cần thiết đối với người phụ nữ hiện đại. Có khác chăng, giờ đây, những chuẩn mực ấy  
được thay bằng những sắc thái mới, phù hợp với đặc điểm và xu thế của thời đại.  
3. THAM CHIẾU MỘT SỐ Ý NGHĨA TÍCH CỰC CỦA QUAN NIỆM VỀ TỨ ĐỨC  
ĐỐI VỚI NGƯỜI PHỤ NỮ VIỆT NAM HIỆN NAY  
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Nho giáo không còn đóng vai trò là hệ tư  
*
tưởng chính trị . Song với tính cách là hình thái ý thức đạo đức, Nho giáo vẫn neo lại  
ảnh hưởng trong các quan hệ xã hội, trong ứng xử giữa người với người, trong phong  
tục tập quán của người Việt. Đạo đức của Nho giáo nói chung và đạo đức người phụ  
nữ trong Nho giáo qua Tứ Đức có ảnh hưởng sâu sắc đến vai trò, vị trí và đạo đức của  
người phụ nữ Việt Nam hiện nay. Từ những nội dung của quan niệm Nho giáo về Tứ  
đức, ở phần này, chúng tôi xin mạnh dạn khái quát một vài ý nghĩa đối với phụ nữ  
Việt Nam hiện nay như sau:  
Thứ nhất, quan niệm về Tứ Đức góp phần hình thành người phụ nữ Việt Nam phát  
triển cân bằng và toàn diện. Xã hội càng hiện đại thì người phụ nữ càng phải biết học và  
hoàn thiện mình theo giá trị của Tứ Đức để đẹp cả về hình thức lẫn nội dung. Nếu như  
*
Ở đây, chúng tôi nhấn mạnh thêm rằng, xét trên phương diện chính trị, sau Cách mạng tháng  
Tám 1945, cùng với sự sụp đổ của chế độ phong kiến thì Nho giáo cũng không còn đóng vai trò  
là hệ tư tưởng chi phối xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, xét trên phương diện văn hóa, Nho giáo  
(cùng với Phật giáo và Đạo giáo) vẫn còn lưu lại ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống, lối tư duy  
và cách ứng xử của người Việt.  
127  
Tứ đức của Nho giáo và ý nghĩa tham chiếu của nó đối với sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam hiện nay  
trước đây, người phụ nữ chỉ đảm đang công việc gia đình thì ngày nay ngoài vai trò đó  
họ cũng cần tham gia vào công việc xã hội để tạo thu nhập cho gia đình, nâng cao tri  
thức cá nhân và góp phần vào sự phát triển xã hội. Phụ nữ thời nay không chỉ đóng vai  
trò là người giữ lửa cho gia đình mà còn có vai trò quan trọng trong các lĩnh vực khác  
như của xã hội nên “Công - Dung - Ngôn - Hạnh” không còn nguyên nghĩa như ban  
đầu mà được mở rộng, phát triển theo nhiều hướng khác nhau. Trong hành trình mở  
rộng và phát triển đó, Tứ đức tác động đến người phụ nữ Việt Nam nhiều yếu tố tích  
cực, nhân văn, góp phần giáo dục lòng nhân ái, vị tha, bao dung, trọng tình nghĩa, góp  
phần giáo dục ý thức tôn trọng kỷ cương, nền nếp gia đình, củng cố tinh thần trách  
nhiệm với gia đình, làng xóm, cộng đồng và ổn định trật tự xã hội… Như vậy, có thể  
nói Tứ đức đã góp phần không nhỏ trong việc giáo dục người phụ nữ hoàn thiện vẻ  
đẹp của mình để đáp ứng yêu cầu phát triển của xã hội mới.  
Thứ hai, người phụ nữ hiện đại phải biết “khéo” theo quan niệm mới, tức là biết chu  
toàn mọi việc trong gia đình, biết tính toán, biết chi tiêu tiết kiệm, biết làm sao cho vừa  
có của ăn của để, vừa phòng khi có chuyện bất thường. Bên cạnh đó, người phụ nữ còn  
phải biết đối nhân xử thế với các thành viên trong gia đình, với họ hàng, chòm xóm.  
Người phụ nữ còn góp phần hỗ trợ chồng trong công việc. Người vợ luôn là chỗ dựa  
tinh thần, là người chia sẻ mọi niềm vui, sự đau khổ và thành bại của chồng. Đây cũng  
là nét đẹp truyền thống về đạo vợ chồng xưa mà người phụ nữ hôm nay cần phát huy.  
Trong xã hội hiện đại, người phụ nữ tích cực hơn trong tham gia các hoạt động  
chính trị - xã hội. Với thiên chức làm vợ, làm mẹ, là người xây tổ ấm của gia đình,  
người phụ nữ hiện đại luôn ý thức trách nhiệm của mình trong gia đình và vai trò của  
mình đối với xã hội, vì vậy, họ phải biết kết hợp hài hòa về thời gian để giải quyết tốt  
công việc gia đình và xã hội được hiệu quả. Đây chính là sự đóng góp công sức của  
phụ nữ hiện đại với sự phát triển của đất nước, là sự cố gắng giữ gìn nét đẹp của đức  
công truyền thống, là sự hòa hợp, vươn lên tầm cao của thời đại mới. Không phải ngẫu  
nhiên trong bài phát biểu tại buổi tọa đàm “Vai trò của phụ nữ Việt Nam trong thế kỷ  
XXI” do Quỹ Phát triển Phụ nữ Liên Hiệp Quốc tổ chức, phụ nữ Việt Nam đã tôn vinh  
như sau: “Trong thành tựu chung của đất nước, có sự đóng góp tích cực của các tầng  
lớp phụ nữ Việt. Là một lực lượng lao động xã hội đông, phụ nữ Việt Nam đã tỏ rõ vai  
trò, khả năng, sức sáng tạo trên mọi lĩnh vực của đời sống xã, thích ứng với sự hội  
nhập và phát triển theo xu thế chung của nhân loại” [dẫn theo 7, tr.2]  
Thứ ba, hình thành nên vẻ đẹp của người phụ nữ hiện đại và góp phần vào sự phát  
triển xã hội. Do đó, nội hàm của “Công – Dung – Ngôn – Hạnh” cũng trở nên phong  
phú hơn, có tác động tích cực đến người phụ nữ Việt Nam, góp phần giáo dục lòng  
nhân ái, vị tha, bao dung, trọng tình nghĩa, góp phần giáo dục ý thức tôn trọng kỷ  
cương, nền nếp gia đình, củng cố tinh thần trách nhiệm với gia đình, làng xóm, cộng  
đồng và ổn định trật tự xã hội… Xã hội càng hiện đại thì người phụ nữ càng phải biết  
học và hoàn thiện mình theo giá trị của Tứ đức để đẹp cả về hình thức và nội dung.  
128  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
Công: Ngoài sự khéo léo về nữ công gia chánh như trước đây, người phụ nữ  
ngày nay còn phải có óc tổ chức cuộc sống gia đình hạnh phúc, nuôi dạy con cái ngoan,  
khỏe, học giỏi; đồng thời là người lao động có trình độ, có tay nghề…, có đóng góp  
nhiều hơn cho gia đình và xã hội.  
Dung: Cái đẹp của người phụ nữ ngày nay là sự kết hợp giữa vẻ đẹp hình thức  
với vẻ đẹp tâm hồn; không chỉ là người ăn mặc đẹp, duyên dáng, nhanh nhẹn, năng  
động, mà còn có một tâm hồn cao đẹp, vẻ đẹp bên trong; không có tâm hồn cao  
thượng, vị tha thì thật sự không có vẻ đẹp. Cái đẹp và vẻ đẹp của người phụ nữ hiện  
nay được xã hội quan tâm và khuyến khích chị em làm đẹp. Tuy nhiên, có nhiều người  
quá coi trọng về mặt hình thức, thẩm mỹ viện, quá nặng về trang phục này nọ, mà ít  
quan tâm trau dồi vẻ đẹp tâm hồn.  
Ngôn: Không chỉ là lời nói dịu dàng có duyên, mà người phụ nữ còn phải biết  
nói năng lịch thiệp, thẳng thắn, mạnh dạn, dám đấu tranh chống lại sự bất công, bất  
bình đẳng trong quan hệ gia đình và ngoài xã hội; luôn thể hiện được sự thông minh,  
có kiến thức và biết ứng xử có văn hóa... Điều đó thể hiện tầm văn hóa và vốn học thức  
của người phụ nữ thời hiện đại.  
Hạnh: Là người phụ nữ đoan trang, nết na, giàu lòng nhân ái, có đức tính thủy  
chung son sắt, yêu thương gia đình, đồng loại, giữ trọn nền nếp gia phong, yêu cái tốt,  
ghét cái xấu, phải biết giữ mình trước những thử thách trong cuộc sống, đấu tranh  
trước những cám dỗ để không sa vào cuộc sống thấp hèn; là một công dân tốt, sống  
cần kiệm, có ước mơ, có lương tâm nghề nghiệp, biết hy sinh và có lòng độ lượng vị  
tha; có tinh thần trách nhiệm đối với cơ quan, đơn vị, với gia đình và bản thân…  
Hiện nay, nước ta đang bước sang thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế những  
thay đổi mạnh mẽ trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hoá,... Điều đó, đã đặt  
ra yêu cầu, đòi hỏi, những tiêu chí đánh giá của xã hội về con người nói chung, người  
phụ nữ nói riêng. Công cuộc đổi mới của đất nước đã đem lại sự thay đổi mới về vai  
trò và địa vị của người phụ nữ. Nội dung của đức công không bị bó hẹp trong phạm vi  
gia đình mà ngày càng mở rộng hơn trong lĩnh vực xã hội (bao gồm trong nước và  
quốc tế). Trong thời đại mới, quan niệm về nội dung, tính chất công việc của người  
phụ nữ được nhìn nhận ở hai phương diện: Một là, đảm đang công việc gia đình, tổ  
chức đời sống vật chất và tinh thần một cách hợp lý. Hai là, bằng năng lực của mình, họ  
tham gia vào công việc xã hội để tạo thu nhập cho gia đình, nâng cao tri thức cá nhân  
và góp phần vào sự phát triển của xã hội.  
Hiện nay, ngoài việc thực hiện thiên chức, vai trò, trách nhiệm của mình ở gia  
đình, người phụ nữ còn phải không ngừng học hỏi, rèn luyện để trở thành người có  
văn hóa, có tri thức, có kỹ năng sống và khả năng biết tính toán, có sức khoẻ tốt để tiếp  
cận, nắm bắt kịp thời kiến thức khoa học, kiến thức thực tiễn để phục vụ công tác.  
Trong thực tế, ngày càng có nhiều phụ nữ tham gia các hoạt xã hội hơn cả nam giới và  
129  
Tứ đức của Nho giáo và ý nghĩa tham chiếu của nó đối với sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam hiện nay  
họ đã mạnh dạn ứng cử, xung phong làm những công việc mà từ trước đến nay chỉ  
dành cho nam giới. Họ đã thật sự thoát khỏi những định kiến, lễ giáo cổ hủ, hà khắc để  
vươn lên sống tốt hơn và có nhiều đóng góp hơn cho gia đình và xã hội. Phải nói rằng,  
khi xã hội có bình đẳng giới, nhận thức về vai trò và vị thế của phụ nữ đã thay đổi  
hoàn toàn. Họ không còn quẩn quanh với công việc nội trợ mà tích cực tham gia vào  
các hoạt động xã hội, không ngừng nghiên cứu, trau dồi khả năng và không ít người  
trong số họ đã đạt đến những địa vị rất cao trong mọi lĩnh vực.  
Công cuộc đổi mới đất nước từ năm 1986 đến nay, đặc biệt, sự nghiệp công  
nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo những điều kiện thuận lợi và cơ hội để phụ nữ Việt  
Nam phát huy khả năng và những phẩm chất tốt đẹp đã được xây đắp qua nhiều thế  
hệ. Tuy nhiên, những tác động của mặt trái nền kinh tế thị trường và những tác động  
tiêu cực của thời kỳ mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và thế giới đã và đang đặt ra  
nhiều thách thức đói với phụ nữ. Một số giá trị tốt đẹp về phẩm chất đạo đức của  
người phụ nữ Việt Nam có phần bị phai nhạt. Xuất phát từ đó, ngày 12 tháng 3 năm  
2010, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Đề án (343) của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt  
Nam về tuyên truyền, giáo dục phẩm chất, đạo đức phụ nữ Việt Nam thời kỳ đẩy  
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước (giai đoạn 2010 - 2015) với những phẩm  
chất cơ bản: “Tự tin, tự trọng, trung hậu, đảm đam”, với mong muốn giữ gìn, phát huy và  
xây dựng những phẩm chất tốt đẹp vừa mang nét truyền thống của phụ nữ Á Đông  
hòa quyện với phong cách hiện đại ngày nay. Trong đó, giữ lại hai phẩm chất “trung  
hậu, đảm đang” không thể thiếu của người phụ nữ Việt Nam trong mọi thời đại và bổ  
sung thêm hai phẩm chất “tự tin, tự trọng” để xây dựng hình ảnh đẹp của người phụ  
nữ khi sánh vai với cường quốc năm châu.  
“Tự tin: Là tin tưởng vào bản thân mình, có chí tiến thủ, tự đánh giá ưu, nhược  
điểm của bản thân… Trong công việc, người tự tin là người năng động, dám nghĩ, dám  
làm, dám chịu trách nhiệm, sẵn sàng nhận nhiệm vụ. Trong cuộc sống, người tự tin  
thường chủ động, bình tĩnh xử lý mọi tình huống…” [3, tr. 13-14].  
“Tự trọng: Là coi trọng phẩm giá, danh dự của bản thân mình. Đối với đất  
nước, người có lòng tự trọng là người yêu nước, không làm ảnh hưởng xấu đến đất  
nước…; Đối với mọi người, người tự trọng là người luôn có tinh thần đoàn kết, tương  
trợ, tôn trọng, không xúc phạm người khác…; Đối với gia đình, người tự trọng là  
người …biết yêu thương, giúp đỡ, tôn trọng, gắn bó với các thành viên trong gia đình,  
hiếu thảo với cha mẹ, ông bà; Đối với bản thân, người tự trọng là người tự giác thực  
hiện các nghĩa vụ của bản thân, không làm những việc không nên…” [3, tr. 14-15].  
“Trung hậu: Là trung thực, nhân hậu trong quan hệ với mọi người. Biểu hiện  
của phảm chất trung hậu là lòng trung thành, chung thủy. Trung thành với Tổ quốc,  
nhân dân, Chung thủy trong các mối quan hệ (tình bạn, tình yêu, tình đồng nghiệp);  
130  
TẠP CHÍ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ, Trường Đại học Khoa học, ĐH Huế  
Tập 18, Số 3 (2021)  
Người trung hậu còn là người nhân ái, sống có nghĩa có tình…; Người trung hậu cũng  
là người trung thực, thẳng thắn, công tâm, khách quan…” [3, tr. 15-16].  
“Đảm đang: Là những người biết lo toan, sắp xếp để thực hiện tốt cả công việc  
gia đình và xã hội… Người phụ nữ đảm đang biết sắp xếp thời gian nghỉ ngơi, học tập,  
chăm sóc sức khỏe bản thân và gia đình” [3, tr. 16].  
Bốn phẩm chất trên của phụ nữ Việt Nam ngày nay vừa mang tính kế thừa giá  
trị đạo đức truyền thống tốt đẹp, vừa đáp ứng yêu cầu bức thiết của thực tiễn. Như  
vậy, các tiêu chí này không phủ nhận những giá trị Tứ đức đã được lịch sử ghi nhận  
mà là sự phát triển trong điều kiện mới, bối cảnh mới, ở đó có sự dung hòa phù hợp  
giữa vai trò và vị trí của người phụ nữ trong phạm vi gia đình và bên ngoài xã hội. Bản  
chất của những phẩm chất này vẫn là sự kế thừa, phát huy những giá trị tuyền thống  
nhưng được đặt trong thời kỳ mới - thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập.  
Trong giai đoạn hiện nay, Công - Dung - Ngôn - Hạnh, Anh hùng – Bất khuất và Tự tin -  
Tự trọng - Trung hậu - Đảm đang đang hòa quyện, kết hợp với nhau, trở thành chuẩn  
mực nhân cách của người phụ nữ Việt Nam, qua đó góp phần nâng cao vai trò, vị trí  
của người phụ nữ trong gia đình và trong xã hội.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1]. Phan Kế Bính (2001). Việt Nam phong tục, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin, Hà Nội.  
[2]. Lê Thị Bừng, Nguyễn Thị Vân Hương (2006). Công - dung - ngôn - hạnh thời nay, Nxb Thanh  
niên, Hà Nội  
[3]. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (2012). Một số quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh và của  
Đảng về vấn đề đạo đức và giáo dục phẩm chất đạo đức phụ nữ, Nxb. Phụ nữ, Hà Nội.  
[4]. Chu Hy (1999). Nguyễn Đức Lân dịch và chú giải, Tứ thư tập chú, Nxb Văn hóa thông tin,  
Hà Nội.  
[5]. Dương Thị Minh (2004). Gia đình Việt Nam và vai trò người phụ nữ trong giai đoạn hiện nay,  
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.  
[6]. Chi Thanh (1939). Tiết - Hạnh, Nxb Bibliotheque.  
[7]. Lê Thị Linh Trang. “Vị trí vai trò của người phụ nữ trong xu thế hội nhập của đất nước”,  
cua-dat-nuoc.evygvq.html.  
[8]. Từ điển Hán nôm, hannom.huecit.vn/VietHan/Tabid/60/Default.aspx.  
131  
Tứ đức của Nho giáo và ý nghĩa tham chiếu của nó đối với sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam hiện nay  
TU DUC OF CONFUCIAN AND ITS REFERENCE MEANINGS TO THE  
PROGRESS OF VIETNAMESE WOMEN TODAY  
Tran Thi Ha Trang  
Faculty of Political Theory, University of Sciences, Hue University  
Email: hatrang [email protected]  
ABSTRACT  
In the current integration trend, the rapid change of social life requires women to  
be dynamic and modern, but that does not mean denying the positive values of  
good moral qualities of the traditional women. Accordingly, on the basis of  
analyzing Confucian conceptions of TU DUC, we wish to seek the reference  
meanings of this concept to modern Vietnamese women.  
Keywords: Confucianism, Tu Duc, tradition, women.  
Trần Thị Hà Trang sinh ngày 28/07/1991 tại Quảng Bình. Bà tốt nghiệp  
Đại học năm 2013 và Thạc sỹ năm 2015 chuyên ngành Triết học tại  
Trường Đại học Khoa học, Đại học Huế. Hiện bà đang công tác tại Trường  
Đại học Khoa học, Đại học Huế.  
Lĩnh vực nghiên cứu: Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học.  
132  
pdf 10 trang baolam 37421 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tứ đức của nho giáo và ý nghĩa tham chiếu của nó đối với sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam hiện nay", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftu_duc_cua_nho_giao_va_y_nghia_tham_chieu_cua_no_doi_voi_su.pdf