Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế

Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 34, Số 1 (2018) 32-41  
Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế  
Hoàng Khắc Lịch*, Dương Cẩm Tú  
Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, 144 Xuân Thủy, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam  
Nhận ngày 30 tháng 3 năm 2018  
Chỉnh sửa ngày 23 tháng 3 năm 2018; Chấp nhận đăng ngày 24 tháng 3 năm 2018  
Tóm tắt: Bài viết tìm hiểu ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế bằng phương pháp phân  
tích hồi quy mô hình có tác động cố định, với dữ liệu mảng của 58 nước phát triển (thu nhập cao)  
và nước đang phát triển (thu nhập thấp và trung bình)1. Kết quả phân tích cho thấy, tăng trưởng bị  
kìm hãm bởi nợ công (cả về quy mô và tốc độ gia tăng), lạm phát, chi tiêu dùng của chính phủ và  
thất nghiệp. Nghiên cứu còn cho thấy kế hoạch chi tiêu ngân sách hợp lý (trong trường hợp này là  
chi tiêu dùng) giúp kiểm soát tác động của nợ công tới tăng trưởng kinh tế, cụ thể nếu nhà nước  
duy trì chi tiêu tiêu dùng trên mức 14-16% thì nợ công sẽ có tác động tích cực. Bên cạnh đó, các  
yếu tố khác như năng suất yếu tố tổng hợp, thương mại và đầu tư công có tác động kích thích tăng  
trưởng ở các mẫu được quan sát. Đặc biệt, nghiên cứu còn chỉ ra các nước thu nhập cao thuộc nền  
cộng hòa lưỡng thể có nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn các nước cùng nhóm thu nhập nhưng  
thuộc chế độ cộng hòa tổng thống2.  
Từ khóa: Nợ công, chi tiêu công, tăng trưởng kinh tế.  
1. Giới thiệu 12  
lại. Tuy nhiên, cho đến nay, nguồn vốn đầu tư  
bằng hình thức vay nợ của khu vực công vẫn  
còn rất phổ biến bởi vai trò của nó trong điều  
tiết nền kinh tế. Các chỉ số nợ trong những năm  
gần đây cho thấy xu hướng vay nợ của hầu hết  
các chính phủ đang ngày càng gia tăng. Đặc  
biệt trong thời kỳ hội nhập, việc tiếp cận thị  
trường vốn quốc tế không còn quá khó khăn,  
khi mà các thỏa thuận dỡ bỏ hạn chế đối với  
đầu tư và vay nợ nước ngoài đang ngày càng  
phổ biến.  
Để theo đuổi mục tiêu tăng trưởng, các  
chính phủ luôn cố gắng khai thác tối đa nội lực  
trong nước và giảm thiểu nhu cầu vay mượn do  
những rủi ro kinh tế - xã hội mà nợ công mang  
_______  
Tác giả liên hệ. ĐT.: 84-978135777.  
Email: hoangkhaclich@gmail.com  
Theo cách gọi thông thường của Chỉ số Phát triển Thế  
1
Dựa trên số liệu thống kê tình hình nợ  
công của Ngân hàng Thế giới (WB), Hình 1  
cho thấy tỷ lệ nợ trên GDP toàn cầu giảm sâu  
trong giai đoạn khủng hoảng tài chính toàn cầu  
2007-2008 nhưng lại liên tục tăng vọt ngay sau  
đó, mặc dù tăng trưởng kinh tế toàn cầu những  
năm gần đây không có nhiều đột phá.  
giới (WDI), mặc dù không phải tuyệt đối, nhưng các nước  
có thu nhập thấp và trung bình (gồm thu nhập trung bình  
thấp và thu nhập trung bình cao) đều được xếp chung vào  
nhóm các quốc gia đang phát triển. Xem thêm tại  
2
Theo Database of Political Institutions (DPI2015) do  
Ngân hàng Phát triển Liên Mỹ (Inter-American  
Development Bank) phát hành, có ba chế độ cộng hòa  
gồm: cộng hòa đại nghị, cộng hòa tổng thống và cộng hòa  
lưỡng thể.  
32  
H.K. Lịch, D.C. Tú / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 34, Số 1 (2018) 32-41  
33  
2. Tổng quan nghiên cứu  
Hiện nay có ba quan niệm cơ bản về tác  
động của nợ công tới tăng trưởng kinh tế, gồm:  
(1) Nợ công thúc đẩy tăng trưởng kinh tế;  
(2) Nợ công kìm hãm tăng trưởng kinh tế;  
(3) Nợ công vừa có tác động thúc đẩy lại vừa  
kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế.  
Nợ công thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: Rất  
nhiều nghiên cứu bỏ qua lập luận về ngưỡng nợ  
công và cho rằng nợ công chỉ có tác động thúc  
đẩy tăng trưởng kinh tế. Nổi bật là quan điểm  
truyền thống, đại diện là John Maynard Keynes,  
cho rằng nếu được duy trì ở một mức hợp lý, nợ  
công sẽ giúp kích thích tăng trưởng nhờ làm gia  
tăng nguồn lực cho chính phủ. Đặc biệt, đối với  
các nước đang phát triển, muốn nhanh chóng  
xây dựng và đồng bộ cơ sở hạ tầng, vốn là yếu  
tố quan trọng nhất. Với chính sách huy động nợ  
công hợp lý, nhu cầu về vốn sẽ từng bước được  
giải quyết để đầu tư cơ sở hạ tầng, từ đó gia  
tăng năng lực sản xuất cho nền kinh tế. Huy  
động nợ công góp phần tận dụng được nguồn  
tài chính nhàn rỗi trong dân cư, đem lại hiệu  
quả kinh tế cho cả khu vực công lẫn khu vực tư.  
Mặt khác, khi chính phủ vay nợ để bù đắp cho  
thâm hụt ngân sách do cắt giảm các nguồn thu  
từ thuế trong khi mức chi tiêu công không thay  
đổi thì sẽ tác động đến hành vi tiêu dùng của  
người dân. Cụ thể, nó sẽ làm mức tiêu dùng  
tăng, từ đó làm tăng tổng cầu về hàng hóa và  
dịch vụ, tăng sản lượng, việc làm trong ngắn  
hạn. Tuy nhiên, về dài hạn điều này lại làm cho  
tiết kiệm quốc gia giảm và kèm theo đó là  
những hệ lụy khác. Tương tự, nghiên cứu của  
Eisner (1992) cho rằng nếu duy trì tỷ lệ nợ  
công/GDP ở mức sao cho nợ không tăng nhanh  
hơn mức tăng GDP thì sẽ có tác động tích cực  
lên lao động, tiêu dùng, đầu tư và tăng trưởng  
kinh tế [2]. Mặc dù thuyết phục, nhưng hạn chế  
của mô hình Keynes là dựa trên giả định sẵn có  
rằng các nhà đầu tư sẽ lạc quan hơn về nền kinh  
tế khi chính phủ gia tăng chi tiêu. Các nghiên  
cứu của Aschauer (1989) [3], Eisner (1989) [4],  
Heng (1997) [5], Lê Thị Minh Ngọc (2011) [6]  
cũng có cùng quan điểm này.  
Hình 1. Diễn biến nợ công ở các nhóm nước phân  
theo thu nhập giai đoạn 2000-2015.  
Nguồn: Tác giả tổng hợp tài liệu từ WB.  
Những nước càng giàu thì tỷ lệ vay nợ càng  
cao, cụ thể nhóm thu nhập cao đã chạm mức nợ  
trung bình 70% GDP năm 2015. Theo WB  
(2017), từ thời điểm năm 2007 đến cuối năm  
2016, hơn một nửa chính phủ các nước phát  
triển và mới nổi có dư nợ tăng lên hơn 10%,  
thâm hụt ngân sách cũng tăng cao tới 5% tại  
một phần ba các nước trong khu vực này. Các  
gói kích cầu kinh tế với tổng số vốn hơn  
2,2 nghìn tỷ USD tương đương 4,7% GDP toàn  
cầu vào cuối năm 2009 càng khiến thâm hụt  
ngân sách của nhiều quốc gia tăng vọt. Vào  
cùng thời điểm, các nước thuộc nhóm thu nhập  
thấp và trung bình thấp có tỷ lệ nợ trên GDP  
thấp hơn hẳn - khoảng 45% GDP, xấp xỉ mức  
thấp nhất của các nước giàu trong giai đoạn  
2000-2015 nhưng có xu hướng tăng vọt trong  
hai năm gần đây, tổng nợ ròng tăng mạnh từ  
mức 184 tỷ USD năm 2014 lên tới 542 tỷ USD  
cuối năm 2015 [1].  
Chính vì những phức tạp khi xem xét các  
vấn đề tăng trưởng kinh tế và nợ công mà chủ  
đề này luôn nhận được rất nhiều quan tâm từ  
giới nghiên cứu và các nhà hoạch định chính  
sách, yêu cầu những phân tích sâu rộng từ nhiều  
khía cạnh kinh tế, chính trị và xã hội. Do đó,  
trong phạm vi bài viết này, tác giả sẽ chỉ ra ảnh  
hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế cùng  
với một số yếu tố vĩ mô khác.  
Đi tìm bằng chứng chứng minh những nhận  
định trên, nghiên cứu của Võ Hữu Phước và  
H.K. Lịch, D.C. Tú / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 34, Số 1 (2018) 32-41  
34  
nhân; (ii) Đầu tư công; (iii) Năng suất các nhân  
tố tổng hợp (TFP); (iv) Lãi suất danh nghĩa và  
lãi suất thực quốc gia trong dài hạn. Trước đó,  
một số nghiên cứu thực nghiệm (Hameed và  
cộng sự, 2008 [10]; Reinhart và cộng sự, 2012  
[11]; Presbitero, 2006 [12]…) cũng cho thấy  
chỉ tồn tại mối quan hệ ngược chiều giữa nợ  
công và tăng trưởng kinh tế.  
Nợ công vừa có tác động thúc đẩy lại vừa  
kìm hãm sự tăng trưởng kinh tế: Theo James và  
cộng sự (1986), khi tốc độ tăng trưởng kinh tế  
cao hơn lãi suất trung bình của các khoản vay  
nợ công thì nợ công lúc này được xem như là  
tài sản ròng của quốc gia vì khả năng tạo ra giá  
trị cao hơn là chi phí [13]. Và khi đó chính phủ  
không cần có các biện pháp tăng thuế để bù đắp  
nợ. Chỉ khi lãi suất trung bình của các khoản nợ  
của chính phủ cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh  
tế thì nợ công mới mang lại một số rủi ro. Nhìn  
ở khía cạnh khác, theo Elmendorf và Mankiw  
(1999), nếu nợ công tăng lên với mục đích bù  
đắp cho thâm hụt ngân sách thì trong ngắn hạn  
sẽ tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và  
là nhân tố kích thích tổng cầu [14]. Tuy nhiên,  
về dài hạn, do hiệu ứng lấn át về vốn mà nợ có  
thể tác động tiêu cực đến sự tăng trưởng.  
Gần đây, Teles và Mussolini (2014) đã phát  
triển các lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công  
và tăng trưởng kinh tế bằng cách đề xuất một  
mô hình có liên quan đến các thế hệ và tăng  
trưởng nội sinh [15]. Trong đó, nợ công có thể  
có tác động tích cực nhờ việc chi tiêu công một  
cách hiệu quả và cũng có thể tác động tiêu cực  
do yêu cầu tăng thuế và giảm đầu tư. Các nước  
có tỷ lệ nợ công càng cao thì hiện tượng “chèn  
ép đầu tư tư nhân” càng tăng. Tuy nhiên, tỷ lệ  
nợ công thế nào gọi là cao hay thấp và bao  
nhiêu là tốt nhất thì lại chưa được bàn tới trong  
nghiên cứu này.  
Như vậy, các nghiên cứu trên không đưa ra  
một kết luận chung về mối quan hệ giữa nợ  
công và tăng trưởng kinh tế, nguyên nhân có  
thể do khác nhau về phương pháp, không gian  
và thời gian nghiên cứu. Hơn nữa, chúng ta đều  
biết rằng nợ công bắt nguồn từ thâm hụt ngân  
sách và mục đích tìm kiếm nguồn vốn cho tăng  
trưởng kinh tế. Nhưng ở hầu hết các quốc gia,  
thâm hụt ngân sách cơ bản lại phụ thuộc vào kế  
hoạch thu - chi hàng năm của các cơ quan quản  
lý nhà nước, hay nói cách khác, một phần nợ  
Nguyễn Quyết (2016) sử dụng phương pháp  
ARDL3 cho trường hợp Việt Nam giai đoạn  
1986-2013 [7]. Kết quả cho thấy nợ công tác  
động tích cực đến tăng trưởng, với giả sử các  
yếu tố khác không đổi, nếu ở hiện tại nợ công  
tăng 1% thì một năm sau sẽ làm gia tăng GDP  
trung bình 0,26%.  
Nợ công kìm hãm tăng trưởng kinh tế: Trái  
ngược với quan điểm truyền thống về nợ công,  
những người theo quan điểm trường phái  
Ricardo (hình thành từ thập niên 1970), Robert  
Barro (1989) cho rằng, biện pháp cắt giảm thuế  
được bù đắp bằng nợ chính phủ không kích  
thích chi tiêu trong ngắn hạn, vì nó không làm  
tăng thu nhập thường xuyên của các cá nhân mà  
chỉ làm dịch chuyển thuế từ hiện tại sang tương  
lai [8]. Chính sách cắt giảm thuế và tài trợ bằng  
vay nợ sẽ không gây ra những tác động thật sự  
đối với nền kinh tế. Việc chấp nhận thâm hụt  
giảm thu trong thời kỳ suy thoái, tăng thu trong  
giai đoạn hưng thịnh và vay nợ cũng là cách  
“lưu thông thuế” để giảm thiểu những tác động  
tiêu cực của thuế đối với chu trình kinh doanh.  
Mức thuế cắt giảm được bù đắp bằng nợ chính  
phủ sẽ không có tác động đến tiêu dùng như  
quan điểm về nợ truyền thống, kể cả trong ngắn  
hạn. Ngược lại, nó sẽ làm các khoản tiết kiệm  
tư nhân tăng lên bởi người dân đang chuẩn bị  
cho mức thuế cao sẽ đến trong tương lai để chi  
trả lãi và gốc cho các khoản nợ hiện tại. Trong  
thực tế, hai quan điểm trên luôn tồn tại  
song hành.  
Checherita-Westphal và Rother (2010) đã  
tiến hành một nghiên cứu thực nghiệm trên khu  
vực đồng Euro nhằm xác định tác động của nợ  
chính phủ tới tăng trưởng kinh tế [9]. Bằng  
nghiên cứu thực nghiệm trên 12 quốc gia châu  
Âu từ 1970-2010, nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ  
nợ chính phủ/GDP từ 90-100% sẽ có tác động  
tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế trong dài hạn;  
tỷ lệ nợ từ 70-80% GDP làm xuất hiện tăng  
trưởng âm do tác dụng của nợ công tăng cao.  
Các kênh mà qua đó nợ chính phủ tác động đến  
tốc độ tăng trưởng kinh tế là: (i) Tiết kiệm tư  
_______  
3
ARDL (Auto Regressive Distributed Lag): Là mô hình  
kết hợp giữa mô hình Var và OLS, thường được ưu tiên sử  
dụng trong phân tích mô hình chuỗi thời gian.  
H.K. Lịch, D.C. Tú / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 34, Số 1 (2018) 32-41  
35  
công và thâm hụt ngân sách bắt nguồn từ nhiều  
yếu tố chủ quan có thể điều tiết, với mục đích  
cuối cùng là tăng trưởng kinh tế. Dù vậy,  
nghiên cứu mối quan hệ giữa nợ công và tăng  
trưởng kinh tế, dưới sự ảnh hưởng của các biến  
số vĩ mô vẫn có thể mang lại những gợi ý chính  
sách hữu ích trong quản lý nợ, điều tiết ngân  
sách quốc gia để từ đó đề xuất các chính sách  
tài khóa phù hợp.  
phát, đầu tư công, xuất nhập khẩu…) đến tăng  
trưởng kinh tế ở các quốc gia và khu vực khác  
nhau. Nhằm phân tách tác động ảnh hưởng của  
nợ công cùng các yếu tố vĩ mô và thể chế đến  
tăng trưởng kinh tế, tác giả thực hiện mô hình  
hồi quy chia theo nhóm thu nhập (giai đoạn  
1993-2014) dựa trên cách phân loại của WB.  
Mẫu nghiên cứu gồm có hỗn hợp 58 nước phát  
triển và nước đang phát triển, các mẫu riêng  
gồm 20 nước phát triển (thu nhập cao) và 44  
nước đang phát triển (thu nhập thấp và trung  
bình) (Phụ lục). Tất cả số liệu được lấy từ các  
công bố tin cậy (Bảng 1).  
3. Số liệu và mô hình hồi quy  
Từ các phân tích trước đây và bức tranh nợ  
công trên thế giới và khu vực, chúng ta có thể  
hình dung được mối liên quan chặt chẽ giữa nợ  
công và các biến số vĩ mô (giá cả hàng hóa, lạm  
Bảng 1. Các biến sử dụng trong mô hình hồi quy  
Giải thích biến Các nghiên cứu trước đây  
Tăng trưởng GDP hàng năm (%) Aly và Strazicich (2000),  
Asimakopoulos và Karavias  
Biến sử dụng  
GR  
Nguồn dữ liệu  
World Developing  
Indicators  
(2015), Checherita và Rother  
(2010)  
DEBT  
Tổng quy mô nợ công của chính Kumar và Woo (2015),  
IMF  
phủ (% GDP)  
Reinhart và cộng sự (2012),  
Hansen và Caner (2004)  
DEBT_GR  
EXP  
Tốc độ gia tăng nợ hàng năm  
(%/năm)  
Tổng chi tiêu dùng của chính  
phủ (% GDP)  
Aly và Strazicich (2000),  
Asimakopoulos và Karavias  
(2015)  
World Developing  
Indicators  
EXP_GR  
Tốc độ gia tăng chi tiêu dùng  
hàng năm  
EXP_DEBT  
Biến tương tác giữa quy mô nợ  
và chi tiêu dùng chính phủ  
(EXP*DEBT)  
System  
Hệ thống chính trị gồm có 3  
nhóm là quốc hội, tổng thống và  
tổng thống/chủ tịch do quốc hội  
bầu ra  
Haggard và Kaufman (1992)  
Checherita và Rother (2010)  
The Database of  
Political Institutions,  
2015  
TFP  
INV  
Năng suất yếu tố tổng hợp  
Penn World Table,  
version 9.0  
Tỷ lệ đầu tư công (% GDP)  
Ram (1986), Asimakopoulos World Developing  
và Karavias (2015), Vittorio  
(2009)  
Indicators  
INF  
Tỷ lệ lạm phát (%)  
Presbitero (2012), Kumar và  
Woo (2015)  
World Developing  
Indicators  
OPEN  
UNEMP  
Tổng giá trị xuất nhập khẩu  
Asimakopoulos và Karavias  
(2015)  
Baum và cộng sự (2010)  
World Developing  
Indicators  
World Developing  
Indicators  
Tỷ lệ thất nghiệp trên tổng lực  
lượng lao động (%)  
Time  
Thời điểm quan sát qua các năm  
H.K. Lịch, D.C. Tú / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 34, Số 1 (2018) 32-41  
36  
Trước hết, tác giả cho rằng tăng trưởng GDP  
Institutions (DPI2015) [24], nghiên cứu này đề  
cập tới ba hệ thống chính trị, gồm: (i) Cộng  
hòa đại nghị (gồm cả các nước một viện và  
lưỡng viện), (ii) Cộng hòa tổng thống hoặc  
(iii) cộng hòa lưỡng thể. Trong mô hình, yếu  
tố chế độ chính trị được biểu diễn thông qua  
hai biến giả là chế độ chính trị:  
Presidential = 1 nếu là cộng hòa tổng thống  
hàng năm tuân thủ khá chặt xu hướng biến động  
của nó, có nghĩa là tăng trưởng kinh tế ở thời  
điểm hiện tại chịu ảnh hưởng lớn bởi khả năng  
tăng trưởng trong quá khứ. Do vậy, biến trễ của  
tăng trưởng, ở đây được xác định là biến trễ một  
kỳ (GR_lag1), sẽ được đưa vào mô hình hồi quy.  
Mục đích của nghiên cứu là xác định mối  
quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, do  
đó quy mô nợ công trên GDP (DEBT) là biến  
giải thích của mô hình, cùng với tốc độ gia tăng  
nợ (DEBT_GR) phản ánh tốc độ gia tăng nợ  
hàng năm.  
Chi tiêu tiêu dùng của chính phủ (EXP)  
theo định nghĩa của WB bao gồm chi tiêu của  
chính phủ cho hàng hóa dịch vụ (bao gồm cả  
chi trả lương cán bộ nhân viên) và chi tiêu cho  
an ninh quốc phòng. Trong một vài mô hình,  
nghiên cứu sử dụng biến tốc độ tăng trưởng chi  
tiêu (EXP_GR) để thấy được sự thay đổi trong  
tài khóa tác động đến tăng trưởng kinh tế.  
Một điểm đặc biệt khác trong nghiên cứu là  
sự xuất hiện của biến tương tác giữa quy mô nợ  
công và quy mô chi tiêu dùng của chính phủ  
(EXP_DEBT = EXP*DEBT). Biến tương tác  
này nhằm mục đích tìm hiểu tác động của nợ  
công tới tăng trưởng kinh tế trong mối liên quan  
với chi tiêu dùng của chính phủ. Lý giải cho sự  
tồn tại của biến tương tác này, có thể hiểu đơn  
giản như sau: Trong thực tế, nhiều quốc gia quy  
định không sử dụng hoặc giảm thiếu tối đa việc  
sử dụng nợ công cho chi tiêu dùng mà sử dụng  
trực tiếp từ ngân sách, tuy nhiên việc tăng  
cường ngân sách cho chi tiêu dùng có thể làm  
giảm nguồn vốn khả dụng dành cho các khoản  
chi tiêu đầu tư/chi khác của chính và buộc nhà  
nước phải đi vay nợ để bù đắp. Vì vậy, tác giả  
kỳ vọng rằng, nếu quy mô chi tiêu dùng ở mức  
thấp thì gia tăng nợ công có thể mang lại tác  
động tích cực đối với tăng trưởng, và ngược lại  
nếu quy mô chi tiêu dùng ở mức cao sẽ gây ra  
một số hạn chế nhất định cho tăng trưởng.  
(Afghanistan,  
Algeria,  
Argentina,  
Bangladesh…) và Presidential = 0 nếu là chế  
độ khác; Parliamentary = 1 nếu quốc gia có hệ  
thống chính trị là cộng hòa đại nghị (Malaysia,  
New Zealand, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Albania,  
Australia, Anh…) và Parliamentary = 0 nếu là  
chế độ khác. Như vậy, nhóm tham chiếu trong  
mô hình hồi quy sẽ là các nước có chế cộng  
hòa lưỡng thể (Việt Nam, Lào, Bulgaria  
(từ 1975-2001), Cuba, Cộng hòa Czech (từ  
1975-1992), Indonesia (từ 1975-2004), Đài  
Loan (từ 1975-1995)).  
Để xác định tác động của nợ công tới tăng  
trưởng, nghiên cứu sử dụng thêm một số biến  
kinh tế vĩ mô khác làm biến kiểm soát, gồm:  
lạm phát (INF), đầu tư công (INV) tính bằng %  
GDP, tổng giá trị xuất nhập khẩu (OPEN), năng  
suất yếu tố tổng hợp (TFP) và tỷ lệ thất nghiệp  
(UNEMP) tính trên tổng lực lượng lao động.  
Các biến giải thích này đều là các biến vĩ mô  
quan trọng của mỗi quốc gia. Đáng lưu ý là  
chúng có mức biến động lớn qua thời gian, do  
đó có thể cho biết xu hướng tác động rõ ràng  
đối với tăng trưởng kinh tế.  
Bằng kỹ thuật xử lý để có được một bảng số  
liệu cân đối, tác giả loại bỏ một số quốc gia có  
số liệu không liên tục, hoặc thu hẹp khoảng thời  
gian để tổng số quan sát sử dụng trong mỗi  
phương trình hồi quy đáp ứng đủ. Số lượng  
mẫu quan sát cũng khác nhau khi phân chia  
từng nhóm theo thu nhập hoặc vùng địa lý. Cả  
hai tiêu chí phân loại theo thu nhập và địa lý  
đều dựa trên cách phân loại đã có của WB. Dữ  
liệu hồi quy từ năm 1993-2014 với phương  
trình hồi quy theo nhóm thu nhập, và từ năm  
1995-2014 với phương trình hồi quy theo địa  
lý. Nghiên cứu tiến hành phân tích mô hình hồi  
quy với dữ liệu mảng, dùng mô hình tác động  
cố định (FEM) để kết luận và đánh giá.  
Ở một khía cạnh khác, hệ thống chính trị là  
yếu tố quyết định chiến lược phát triển kinh tế  
và định hình phương thức sản xuất của một  
quốc gia. Theo phân loại của Cruz và cộng sự  
(2016) trong cuốn Database of Political  
H.K. Lịch, D.C. Tú / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 34, Số 1 (2018) 32-41  
37  
Phương trình hồi quy mẫu có dạng như sau:  
ꢆ
ꢆ
ꢆ
ꢆ
ꢆ
ꢆ
ꢆ
ꢆ
ꢀꢁꢂꢃ = ꢄꢅ + ꢄꢇꢀꢁ_ꢈꢉꢊ1ꢂꢃ + ꢄꢋꢌꢍꢎꢏ + ꢄꢐꢍꢑꢒ_ꢌꢍꢎꢏ + ꢄꢓꢌꢍꢎꢏ_ꢀꢁꢂꢃ + ꢄꢔꢕꢖꢍꢗꢒ  
ꢂꢃ  
ꢂꢃ  
ꢂꢃ  
ꢆ
ꢆ
ꢆ
ꢆ
+ ꢄꢘꢍꢑꢒ + ꢄꢙꢍꢑꢒ_ꢀꢁꢂꢃ + ꢄꢚꢛꢖꢜ + ꢄꢝꢞꢒꢍꢖ + ꢄꢇꢅꢛꢖꢟ + ꢄꢇꢇꢏꢜꢒ  
ꢂꢃ  
+ ꢄꢇꢋPresidentialꢂꢃ + ꢄꢇꢐParliamentaryꢂꢃ + ꢄꢇꢓꢠꢡꢢꢣꢃ + ꢤꢂ + ꢥꢂꢃ  
ꢂꢃ  
ꢂꢃ  
ꢂꢃ  
ꢂꢃ  
ꢆ
ꢆ
ꢆ
d
Việc xác định mô hình FEM phù hợp căn  
cứ vào kết quả của kiểm định Hausman với lựa  
chọn Sigmamore4 trong phần mềm STATA 12.  
Về cơ bản, phép kiểm định này kiểm tra sai số  
của mô hình ứng với mỗi quan sát có tương  
quan với các hệ số hồi quy hay không. Nếu  
không có sự tương quan, mô hình tác động  
ngẫu nhiên sẽ được lựa chọn, và ngược lại. Hơn  
thế nữa, lựa chọn Sigmamore còn cung cấp các  
ước lượng chính xác đối với ma trận hiệp  
phương sai trong mô hình hồi quy đa biến hơn  
là kiểm định Hausman thông thường.  
Tuy nhiên, trong hồi quy dữ liệu bảng có  
thể xảy ra một số khuyết tật khiến cho các ước  
lượng và kiểm định hồi quy không còn chính  
xác. Đầu tiên có thể kể tới phương sai sai số  
thay đổi, đây là hiện tượng khá phổ biến nhưng  
có thể khắc phục với tùy chọn robust. Tiếp theo  
là vấn đề tương quan chéo, xảy ra khi các phần  
dư của mỗi phương trình hồi quy cho từng quốc  
gia có sự tương quan với nhau, thường gặp với  
chuỗi thời gian lớn từ 20-30 năm. Để khắc phục  
vấn đề này, chúng tôi sử dụng lựa chọn với sai  
số chuẩn Driscoll và Kraay để điều chỉnh. Hơn  
nữa, tùy chọn này còn khắc phục cả phương sai  
sai số thay đổi (như tùy chọn robust) và hiện  
tượng tự tương quan. Rõ ràng, lựa chọn  
Driscoll và Kraay đã cơ bản khắc phục các  
khuyết tật trong mô hình.  
Trước tiên, tốc độ tăng trưởng năm trước là  
đà tăng trưởng tích cực cho năm kế tiếp, kết quả  
hồi quy ở nhóm các nước đang phát triển cho  
thấy 1% tăng lên của tốc độ tăng trưởng năm  
trước đóng góp 0,202% vào tốc độ tăng trưởng  
năm liền kề.  
Tốc độ nợ tăng lên qua các năm cũng làm  
giảm tốc độ tăng trưởng ở tất cả các mẫu quan  
sát, ảnh hưởng mạnh hơn đối với nhóm nước  
thu nhập cao: nợ tăng lên 1% khiến tốc độ tăng  
trưởng giảm 0,0320% với các nước có thu nhập  
cao, 0,00805% với các nước đang phát triển, và  
mẫu hỗn hợp các quan sát là 0,000567%. Tác  
động tiêu cực này đã được tìm thấy trong  
nghiên cứu của Woo và Kumar (2015) [18].  
Đáng chú ý, Bảng 2 cho thấy mối quan hệ  
giữa quy mô nợ công và tăng trưởng kinh tế  
phụ thuộc vào độ lớn của quy mô chi tiêu tiêu  
dùng. Theo tính toán từ kết quả hồi quy đối với  
toàn bộ 58 nước, để nợ công thúc đẩy tăng  
trưởng thì các quốc gia cần giữ mức chi tiêu  
dùng chính phủ trên 16,44% GDP. Nghiên cứu  
với từng nhóm cụ thể cho thấy kết quả khá  
tương đồng, các nước thu nhập cao nên giữ  
mức chi này trên 15,78% GDP, nhiều quốc gia  
hưng thịnh đã duy trì mức chi tiêu này trong  
suốt giai đoạn như Canada, Australia, Pháp, Hà  
Lan, New Zealand…; trong khi con số này ở  
các nước đang phát triển là trên 14,62% GDP  
(Morocco, Suriname, Ukraine, Mali, Jordan…).  
Tương tự, chi tiêu dùng của chính phủ sẽ có  
tác động tích cực tới tăng trưởng kinh tế khi  
quy mô nợ công ở trên một mức nhất định: đối  
với nhóm nước thu nhập cao thì ngưỡng này là  
82,9% GDP. Thống kê từ các mẫu quan sát cho  
thấy 30% nước thu nhập cao đang duy trì mức  
nợ công trên 82,9% GDP như Singapore, Nhật  
Bản, Italy, Israel…  
4. Kết quả và bình luận  
Từ các bước phân tích hồi quy và kiểm  
định, kết quả nghiên cứu cho thấy (chi tiết xem  
Bảng 2):  
_______  
4
Sigmamore: Được sử dụng trong hồi quy bằng Stata sau  
lựa chọn Hausman. Lựa chọn Sigmamore cung cấp các  
ước lượng chính xác đối với ma trận hiệp phương sai trong  
mô hình hồi quy đa biến; đồng thời khắc phục các dấu  
hiệu tiêu cực của ước lượng trong trường hợp cỡ mẫu nhỏ.  
H.K. Lịch, D.C. Tú / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 34, Số 1 (2018) 32-41  
38  
Bảng 2. Kết quả phân tích hồi quy  
Tất cả các quốc gia Các nước thu nhập cao Các nước đang phát triển  
GR_lag1  
0,202**  
(2,76)  
DEBT  
-0,0255**  
(-3,20)  
0,00135**  
(2,88)  
-0,000567*  
(-2,28)  
-0,130*  
(-2,18)  
-0,217***  
(-3,58)  
0,118***  
(4,86)  
-0,119+  
(-1,80)  
0,00754+  
(2,09)  
-0,0320*  
(-2,35)  
-0,133+  
(-1,86)  
-0,625*  
(-2,79)  
0,288**  
(3,51)  
-0,0212+  
(-1,96)  
0,00145*  
(2,28)  
-0,00805+  
(-1,80)  
0,0129  
(0,28)  
-0,227+  
(-1,72)  
0,0984***  
(4,13)  
EXP_DEBT  
DEBT_GR  
UNEMP  
EXP  
INV  
INF  
-0,00349***  
(-6,07)  
0,00829  
(1,25)  
-0,330+  
(-1,74)  
0,0399***  
(4,40)  
-0,00462***  
(-8,58)  
0,0161  
(1,04)  
OPEN  
Presidential  
1,543  
(1,12)  
-2,019*  
(-2,42)  
0
0,975  
(0,99)  
-1,663  
(-0,86)  
Parliamentary -1,659  
(-0,68)  
.
TFP  
3,571*  
(2,16)  
3,163  
(1,04)  
Time  
EXP_GR  
_cons  
N
-0,192***  
(-5,03)  
-0,0366  
(-0,78)  
385,9***  
(5,07)  
-0,00715  
(-0,25)  
2,55  
(0,83)  
1276  
17,05  
(0,31)  
968  
440  
Thống kê t ở trong ngoặc.  
+ p < 0,1; * p < 0,05; ** p < 0,01; *** p < 0,001.  
p
Đối với nhóm nước đang phát triển chi tiêu  
nghệ. Kết quả cho thấy ở tất cả các mẫu quan  
sát, đầu tư công đều thúc đẩy tăng trưởng kinh  
tế, mở rộng đầu tư công lên 1% giúp GDP của  
các nước phát triển tăng lên 0,288%, các nước  
đang phát triển tăng 0,0984%. Ngược lại, tác  
động của mở cửa thương mại chỉ thể hiện rõ  
ràng ở nhóm các quốc gia thu nhập cao, tăng  
trưởng kinh tế ở các nước này tăng lên 0,0399%  
khi tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng lên 1%  
(tương tự Presbitero, 2010; Cecchetti và cộng  
sự, 2011) [12, 25].  
dùng sẽ có tác động tích cực tới tăng trưởng  
kinh tế khi quy mô nợ công trên 156,6% GDP,  
theo dữ liệu thống kê thì không có quan sát nào  
thuộc nhóm các nước đang phát triển giữ mức  
nợ công trên 156,6% GDP. Như vậy có nghĩa là  
việc tăng chi tiêu dùng ở các nước đang phát  
triển sẽ là gánh nặng làm kìm hãm đà tăng  
trưởng của nền kinh tế.  
Tiếp theo, ba trong số các yếu tố tác động  
tới sản lượng của một nền kinh tế mở là đầu tư  
công (INV), thương mại (OPEN) và năng suất  
yếu tố tổng hợp (TFP) đại diện cho tiến bộ công  
Trong trường hợp các quốc gia có lượng  
đầu vào như nhau, nếu TFP cao hơn gắn liền  
H.K. Lịch, D.C. Tú / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 34, Số 1 (2018) 32-41  
39  
với áp dụng các tiến bộ kỹ thuật, đổi mới công  
nghệ, cải tiến phương thức quản lý và nâng cao  
kỹ năng, trình độ tay nghề của người lao  
động… thì sẽ có sản lượng đầu ra cao hơn. Mức  
tin cậy là 95% với nhóm mẫu chung cho tất cả  
các nước cho thấy, 1% tăng lên của TFP sẽ thúc  
đẩy tăng trưởng kinh tế lên tới 3,571%.  
Về ảnh hưởng của chế độ chính trị tới tăng  
trưởng kinh tế, nghiên cứu cho tìm thấy kết quả  
có ý nghĩa thống kê ở nhóm các nước thu nhập  
cao. Cụ thể, cùng thuộc nhóm nước phát triển,  
các quốc gia thuộc cộng hòa tổng thống có tốc  
độ tăng trưởng thấp hơn 2,019% so với các  
quốc gia thuộc hệ thống cộng hòa lưỡng thể.  
Quan sát biến thời gian cho thấy, tốc độ  
tăng trưởng kinh tế của các nước thu nhập cao  
giảm 0,192% mỗi năm, với độ tin cậy 99%.  
Thực tế, các quốc gia thường sẽ trải qua một  
thời kỳ tăng trưởng cao trước khi chững lại và  
bước sang giai đoạn phát triển hơn với tốc độ  
tăng trưởng kinh tế giữ ở mức tương đối ổn  
định. Trong khi hồi quy với các nước thu thập  
thấp và trung bình thấp không có kết quả rõ  
ràng với biến số này.  
Thất nghiệp và tăng trưởng kinh tế có quan  
hệ ngược chiều với nhau ở tất cả các nước nói  
chung và các nước thu nhập cao nói riêng. Nếu  
thất nghiệp tăng thêm 1% sẽ khiến tăng trưởng  
kinh tế ở các nước thu nhập cao giảm 0,133%,  
mẫu chung cho tất cả các nước là 0,13%, tuy  
nhiên kết quả hồi quy không cho thấy tác động  
rõ ràng của biến số này với riêng nhóm nước  
đang phát triển.  
Cuối cùng, lạm phát là một trong những yếu  
tố làm tốc độ tăng trưởng kinh tế giảm ở tất cả  
các nước. Kết quả hồi quy cho thấy, 1% tăng  
lên của lạm phát khiến tăng trưởng chung của  
tất cả các nước giảm 0,00349%, các nước đang  
phát triển giảm mức tương đương 0,00462%  
(độ tin cậy 99%), trong khi ở các nước thu nhập  
cao, lạm phát khiến tăng trưởng giảm tới 0,33%  
(độ tin cậy 90%) (Presbiero, 2010; Cecchetti và  
cộng sự, 2011) [12, 25].  
trưởng kinh tế. Kết quả cho thấy, giai đoạn  
1993-2014, mở rộng quy mô nợ công, chi tiêu  
tiêu dùng chính phủ, thất nghiệp và lạm phát tác  
động tiêu cực tới tăng trưởng kinh tế quốc gia  
(thể hiện qua tăng trưởng GDP). Ngược lại, sự  
gia tăng đầu tư, thương mại, công nghệ (thể  
hiện qua chỉ số TFP) có xu hướng kích thích  
tăng trưởng. Bên cạnh đó, nghiên cứu còn cho  
thấy mối liên hệ giữa quy mô nợ công, chi tiêu  
tiêu dùng và tăng trưởng GDP. Tuy nhiên, các  
nghiên cứu thường đa dạng về không gian, thời  
gian, phương pháp nghiên cứu và lựa chọn các  
biến kiểm soát dẫn tới kết quả nghiên cứu là  
khác nhau, và do đó các kết luận có thể là  
những gợi ý chính sách cho các quốc gia trong  
phạm vi của nghiên cứu này.  
Mặc dù vậy, tác giả vẫn mong muốn có  
được các đóng góp cụ thể hơn về mặt chính  
sách, vì vậy việc tập trung đánh giá tính hiệu  
quả/bất cập của các khoản nợ công đến tăng  
trưởng kinh tế thông qua từng thời kỳ, hay phân  
tích các đối tượng được hưởng những lợi ích  
trực tiếp/gián tiếp từ hoạt động vay nợ của  
chính phủ có thể là hướng nghiên cứu tiếp theo  
mà nhóm tác giả muốn hướng đến trong  
tương lai.  
Tài liệu tham khảo  
[1] World Bank, International Debt Statistics 2017.  
Washington, DC., 2017.  
[2] Eisner, R., “Deficits: which, how much, and so  
what?” The American Economic Review, 82  
(1992) 2, 295-298.  
[3] Aschauer, D. A., “Is public expenditure  
productive?”, Journal of Monetary Economics, 23  
(1989) 2, 177-200.  
[4] Eisner, R., “Budget deficits: Rhetoric and  
reality”, The Journal of Economic Perspectives, 3  
(1989) 2, 73-93.  
[5] Heng, H. K., “Economic development and  
political change: The democratization process in  
Singapore”, Democratization in Southeast and  
East Asia, 1997, 13-140.  
[6] Lê Thị Minh Ngọc, “Nợ công: Sự tác động đến  
tăng trưởng kinh tế và gánh nặng của thế hệ tương  
lai”, Học viện Ngân hàng, 2011.  
5. Kết luận  
[7] Võ Hữu Phước, & Nguyễn Quyết., “Impact of  
Public Debt and Inflation on Vietnam's Economic  
Growth: Quantitative Study Using the ARDL  
Model”, Economic Studies, 453 (2017) 2, 3-11.  
Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy  
cho dữ liệu mảng với mô hình tác động cố định  
để tìm hiểu mối quan hệ giữa nợ công và tăng  
H.K. Lịch, D.C. Tú / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 34, Số 1 (2018) 32-41  
40  
[8] Barro, R. J., “The Ricardian to Budget Deficits”,  
An empirical investigation”, International Review  
of Applied Economics, 14 (2000) 4, 475-483.  
[17] Asimakopoulos, S., & Karavias, Y., “The impact  
of government size on economic growth: A  
Journal of Economic Perspectives, 3 (1989) 2,  
37-54.  
[9] Checherita-Westphal, C., & Rother, P., “The  
impact of high and growing government debt on  
economic growth - An empirical investigation for  
the Euro area” European Central Bank, Working  
paper No. 1237 (2010).  
threshold  
analysis”, Economics  
Letters, 139  
(2016), 65-68.  
[18] Woo, J., & Kumar, M. S., “Public debt and  
growth”, Economica, 82 (2015) 328, 705-739.  
[10] Hameed, A., Ashraf, H., & Chaudhary, M. A.,  
“External debt and its impact on economic and  
business growth in Pakistan”, International  
Research Journal of Finance and Economics, 20  
(2008), 132-140.  
[11] Reinhart, C. M., Reinhart, V. R., & Rogoff, K. S.,  
“Public debt overhangs: Advanced-economy  
episodes since 1800”, The Journal of Economic  
Perspectives, 26 (2012) 3, 69-86.  
[19] Caner, M., & Hansen, B. E., “Instrumental  
variable  
estimation  
of  
a
threshold  
model”, Econometric Theory, 20 (2004) 5,  
813-843.  
[20] Haggard, S., & Kaufman, R. R. (Eds.), The  
politics of economic adjustment: International  
constraints, distributive conflicts, and the state,  
Princeton University Press, 1992.  
[21] Ram, R., “Government Size and Economic Growth:  
A New Framework and Some Evidence from Cross-  
Section and Time-Series Data”, The American  
Economic Review, 76 (1986) 1, 191-203.  
[12] Presbitero, A. F., “The debt-growth nexus: A  
dynamic panel data estimation”, Rivista italiana  
degli economisti, 11 (2006) 3, 417-462.  
[13] James, R. B., George, I.,  
&
Frank, S. R.,  
[22] Vittorio, D., “Public spending and regional  
convergence in Italy”, Journal of Applied  
Economic Sciences, 4 (2009) 8, 2.  
[23] Baum, S., Ma, J., & Payea, K., “Education Pays,  
2010: The Benefits of Higher Education for  
Individuals and Society. Trends in Higher  
Education Series”, College Board Advocacy &  
Policy Center, 2010.  
“Government Debt, Government Spending, and  
Private Sector Behavior: Comment”, The American  
Economic Review, 76 (1986) 5, 1158-1167.  
[14] Elmendorf, D. W.,  
&
Mankiw, N. G.,  
“Government  
debt”, Handbook of  
Macroeconomics, 1 (1999), 1615-1669.  
[15] Teles & Mussolini, “Public debt and the limits of  
fiscal policy to increase economic growth”,  
European Economic Review (2014).  
[16] Aly, H., & Strazicich, M., “Is government size  
optimal in the gulf countries of the middle east?  
[24] Cruz, C., Keefer, P., & Scartascini, C., “Database of  
political institutions codebook, 2015 update (DPI2015)”.  
Inter-American Development Bank, 2016.  
[25] Cecchetti, S. G., Mohanty, M. S., & Zampolli, F.,  
“The real effects of debt”, 2011.  
The Impact of Government Debt on Economic Growth  
Hoang Khac Lich, Duong Cam Tu  
VNU University of Economics and Business, 144 Xuan Thuy Str., Cau Giay Dist., Hanoi, Vietnam  
Abstract: This paper aims to examine the effects of public debt on economic growth by using a  
regression method of a fixed effect model with the data of 58 developed countries (high-income countries)  
and developing countries (low and medium income countries). The analysis shows that public debt (both in  
terms of scale and rate of increase), inflation, government spending and unemployment are negatively  
associated with economic growth. A reasonable expenditure plan (in this case, consumption expenditure)  
can control the impact of public debt on economic growth. More particularly, public debt has a positive  
impact on economic growth if consumption expenditure is larger than 14-16% of the GDP. Other factors  
such as TFP (Total-Factor Productivity), trade and public investment can stimulate growth in the observed  
sample. Interestingly, for high-income countries, economic growth rate in Assembly-elected President  
countries is higher than that in the Presidential countries.  
Keywords: Public debt, consumption expenditure, economic growth, developing countries, fixed  
effect model.  
H.K. Lịch, D.C. Tú / Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh, Tập 34, Số 1 (2018) 32-41  
41  
PHỤ LỤC  
Danh sách các nước sử dụng trong mẫu phân tích  
Các nước có mặt trong hồi quy tổng thể (58)  
Singapore  
Tây Ban Nha  
Sri Lanka  
Swaziland  
Thụy Sỹ  
Australia  
Áo  
Ecuador  
Phần Lan  
Pháp  
Nhật Bản  
Jordan  
Nicaragua  
Niger  
Bahrain  
Barbados  
Bỉ  
Kenya  
Nigeria  
Gabon  
Kuwait  
Na Uy  
Hy Lạp  
Honduras  
Iceland  
Luxembourg  
Malaysia  
Malta  
Panama  
Thái Lan  
Tunisia  
Botswana  
Brazil  
Paraguay  
Philippines  
Ba Lan  
Thổ Nhĩ Kỳ  
Ukraine  
Burkina Faso  
Burundi  
Cameroon  
Canada  
Ấn Độ  
Mauritania  
Mexico  
Indonesia  
Cộng hòa Ai-len  
Israel  
Bồ Đào Nha  
Romania  
Ả Rập Xê Út  
Sierra Leone  
Uruguay  
Morocco  
Hà Lan  
Cộng hòa Síp  
Italy  
New Zealand  
Các nước có thu nhập cao (20)  
Na Uy  
Australia  
Áo  
Cyprus  
Phần Lan  
Pháp  
Cộng hòa Ai-len  
Kuwait  
Singapore  
Tây Ban Nha  
Thụy Sỹ  
Israel  
Ý
Luxembourg  
Hà Lan  
Bỉ  
Canada  
Iceland  
Nhật Bản  
New Zealand  
Các nước có thu nhập thấp và trung bình - các nước đang phát triển (44)  
Sudan  
Algeria  
Chad  
Jordan  
Nicaragua  
Niger  
Suriname  
Swaziland  
Thái Lan  
Tunisia  
Azerbaijan  
Belize  
Ecuador  
El Salvador  
Gabon  
Kenya  
Madagascar  
Malaysia  
Mali  
Nigeria  
Bolivia  
Panama  
Botswana  
Brazil  
Ghana  
Paraguay  
Philippines  
Romania  
Sierra Leone  
Sri Lanka  
Thổ Nhĩ Kỳ  
Uganda  
Guinea-Bissau  
Honduras  
Ấn Độ  
Mauritania  
Mexico  
Morocco  
Nepal  
Burkina Faso  
Burundi  
Cameroon  
Ukraine  
Indonesia  
pdf 10 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 19660 Free
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng của nợ công tới tăng trưởng kinh tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfanh_huong_cua_no_cong_toi_tang_truong_kinh_te.pdf