Ảnh hưởng ngập do triều cường đến đời sống người dân nghèo ven biển tỉnh Bạc Liêu
TẠP CHÍ KHOA HỌC
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH
HO CHI MINH CITY UNIVERSITY OF EDUCATION
JOURNAL OF SCIENCE
Tập 18, Số 12 (2021): 2267-2282
Vol. 18, No. 12 (2021): 2267-2282
Website: http://journal.hcmue.edu.vn
ISSN:
2734-9918
Bài báo nghiên cứu*
ẢNH HƯỞNG NGẬP DO TRIỀU CƯỜNG
ĐẾN ĐỜI SỐNG NGƯỜI DÂN NGHÈO VEN BIỂN TỈNH BẠC LIÊU
Phạm Trần Thùy Linh
Trường Đại học Bạc Liêu, Việt Nam
Ngày nhận bài: 08-10-2021; ngày nhận bài sửa: 13-12-2021; ngày duyệt đăng: 18-12-2021
TÓM TẮT
Từ năm 2005 đến nay, người dân sống dọc 56km đường bờ biển tỉnh Bạc Liêu luôn lo lắng khi
triều cường có xu hướng dâng cao vượt mức báo động III, gây thiệt hại nặng nề đến đời sống và sản
xuất, đặc biệt là người nghèo – đối tượng dễ bị tổn thương. Bằng việc khảo sát dựa vào phỏng vấn
bán cấu trúc 233 hộ nghèo, họp dân và tham vấn chuyên gia, nghiên cứu đã cho cái nhìn toàn diện
về thực trạng triều cường, xác định 05 tình trạng dễ bị tổn thương, đánh giá năng lực ứng phó với
với tình trạng ngập lụt do triều cường của các hộ nghèo ven biển tỉnh Bạc Liêu. Trên cơ sở đó,
nghiên cứu đề xuất các giải pháp giúp cộng đồng nâng cao năng lực ứng phó, đảm bảo sinh kế, sức
khỏe, ổn định cuộc sống. Kết quả nghiên cứu là thông tin hữu ích cho các nhà quản lí các sở ban
ngành trong việc hoạch định chính sách, tăng cường các biện pháp nhằm hướng đến phát triển bền
vững cho các hộ nghèo vùng ven biển Bạc Liêu.
Từ khóa: triều cường; ngập; năng lực ứng phó; tình trạng dễ bị tổn thương; hộ nghèo; ven
biển; tỉnh Bạc Liêu
1.
Đặt vấn đề
Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia bị ảnh hưởng nặng nề nhất của
biến đổi khí hậu. Trong những năm qua, dưới tác động của biến đổi khí hậu, tần suất và
cường độ các thiên tai ngày càng gia tăng, gây nhiều tổn thất to lớn về người, tài sản, cơ sở
hạ tầng, kinh tế, văn hoá, xã hội, tác động xấu đến môi trường. Tác động của biến đổi khí
hậu đối với nước ta là rất nghiêm trọng, là nguy cơ hiện hữu cho mục tiêu xóa đói giảm
nghèo, cho việc thực hiện các mục tiêu thiên niên kỉ và sự phát triển bền vững của đất nước.
(MONRE, 2016, p.2). Bạc Liêu là một tỉnh thành thuộc đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL),
nằm tiếp giáp với Biển Đông, có hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, địa hình thấp
(cao độ phổ biến từ 0,2-1,3m so với mực nước biển) nên rất dễ bị ảnh hưởng bởi nước biển
dâng và các thiên tai khác, trong đó có triều cường. Theo kết quả nghiên cứu, do tác động
của các yếu tố tự nhiên như nước biển dâng, xói lở, độ lún của bề mặt đất, sóng, gió mùa, áp
Cite this article as: Pham Tran Thuy Linh (2021). The effects of flood-tide on the poor’s life in the coastal area
of Bac Lieu Province. Ho Chi Minh City University of Education Journal of Science, 18(12), 2267-2282.
2267
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Phạm Trần Thùy Linh
thấp, bão, La Nina, lũ từ hệ thống sông Mekong và yếu tố con người như quá trình đô thị
hóa, hệ thống công trình giao thông, thủy lợi, khai thác nước ngầm, từ năm 1982, mực nước
triều cao nhất (Hmax) tại cửa sông Gành Hào có xu hướng tăng, đặc biệt giai đoạn từ năm
2005 đến nay tình trạng nước biển liên tục dâng cao bất thường, triều cường luôn vượt mức
báo động III (+2,00m) (Hình 5) kèm theo sóng to, gió lớn đã làm sạt lở, mất đi nhiều diện
tích rừng phòng hộ, sạt lở đê biển và làm ngập nhà cửa của hàng trăm hộ dân nghèo sống
dọc theo chiều dài gần 56 km ven đê biển (thành phố Bạc Liêu, huyện Hòa Bình và huyện
Đông Hải), ảnh hưởng không nhỏ tới sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản (NTTS),
giao thông và cơ sở hạ tầng, nước sạch và vệ sinh môi trường. Cuộc sống của các hộ nghèo
ven biển rất bấp bênh, sinh kế hoàn toàn dựa vào tự nhiên: đánh bắt, NTTS, trồng rau màu,
làm thuê; tài sản nhỏ bé, trình độ học vấn thấp, môi trường sống không đảm bảo; sống ở ven
sông nơi dễ bị sạt lở, ven biển, vùng trũng thấp, ô nhiễm. Họ là đối tượng rất nhạy cảm và
dễ bị tổn thương trước các vấn đề môi trường, đặc biệt khi có thiên tai như ngập lụt, hạn hán,
triều cường. Mục tiêu chính của nghiên cứu là: Tìm hiểu thực trạng triều cường; Đánh giá
tình trạng dễ bị tổn thương của người nghèo ven biển khi triều cường dâng cao gây ngập;
Đánh giá năng lực ứng phó; từ đó đề xuất giải pháp nâng cao nhận thức và năng lực của cộng
đồng trong việc ứng phó với tình trạng ngập do triều cường, đảm bảo sức khỏe và sinh kế
bền vững. Thời gian thực hiện từ tháng 10/2019 – tháng 12/2020.
Hình 1. Bản đồ hành chính tỉnh Bạc Liêu
Nguồn: BL DONRE, 2012
2.
Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
2.1. Đối tượng nghiên cứu
Ảnh hưởng của triều cường gây ngập đến đời sống và sản xuất người dân nghèo ven
biển tỉnh Bạc Liêu.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Phương pháp thu thập và xử lí dữ liệu thứ cấp
2268
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Tập 18, Số 12 (2021): 2267-2282
Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ Internet, văn bản, báo cáo của các cơ quan ban ngành
có liên quan. Các phương pháp phân tích và tổng hợp được thực hiện để xử lí các nguồn dữ liệu
này nhằm tiếp nhận những thông tin, nhận định có giá trị và phù hợp với vấn đề nghiên cứu.
2.2.2 Phương pháp khảo sát thực địa
Lập kế hoạch đi thực tế vùng ven biển tỉnh Bạc Liêu, thu thập những tư liệu bằng văn
bản, bằng ảnh chụp, kết hợp quan sát và ghi chép những kiến thức thực tiễn phục vụ cho nghiên
cứu, từ đó có cái nhìn khách quan, đa chiều, đảm bảo nghiên cứu chính xác hơn.
2.2.3. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu sơ cấp
Việc thu thập dữ liệu chủ yếu là sử dụng bảng hỏi, phỏng vấn sâu và họp dân.
• Phỏng vấn bằng bảng hỏi
Nhằm tìm hiểu đặc điểm kinh tế – xã hội của hộ dân, thực trạng và ảnh hưởng của ngập
do triều cường, tìm hiểu nhận thức và kinh nghiệm về ứng phó với những ảnh hưởng ngập do
triều cường, nghiên cứu đã sử dụng phương pháp phỏng vấn bằng bảng hỏi. Những hộ phỏng
vấn được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên trong nhóm các hộ nghèo, cận nghèo do
chính quyền địa phương xác định.
Các hộ nghèo, cận nghèo nghiên cứu dựa trên Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ
tướng Chính phủ v/v Ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn
2016-2020. (Prime Minister, 2015). Năm 2019, số hộ nghèo, cận nghèo của phường Nhà Mát:
89 hộ, xã Vĩnh Hậu: 759 hộ, xã Vĩnh Thịnh: 716 hộ, xã Long Điền Đông A: 730 hộ, xã Long
Điền Đông: 861 hộ, thị trấn Gành Hào: 168 hộ. Để xác định cỡ mẫu, nghiên cứu áp dụng
công thức:
Nt2×0,25
n =
Nε 2 +t2×0,25
Trong đó: n: kích thước mẫu cần chọn, N: kích thước của tổng thể, t: hệ số tin cậy,
ε: phạm vi sai số chọn mẫu (Pham & Nguyen, 2016). Với mỗi phạm vi nghiên cứu có quy mô
tổng thể khác nhau, ước lượng tỉ lệ với độ tin cậy là 85% (t=2), sai số ε = 15%. Từ công thức
trên, đề tài tính toán tổng số mẫu nghiên cứu bao gồm 233 mẫu (Bảng 1).
Bảng 1. Số lượng mẫu nghiên cứu ở từng xã
Xã
Số lượng
30
Tỉ lệ %
12,88
18,03
18,03
18,03
18,03
15
Nhà Mát (Tp. Bạc Liêu)
Vĩnh Hậu (Huyện Hòa Bình)
Vĩnh Thịnh (Huyện Hòa Binh)
Long Điền Đông (Huyện Đông Hải)
Long Điền Đông A (Huyện Đông Hải)
Gành Hào (Huyện Đông Hải)
Tổng
42
42
42
42
35
233
100
2269
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Phạm Trần Thùy Linh
Phân theo giới tính: mẫu nghiên cứu bao gồm 106 nam (chiếm 45,5%) và 127 nữ (chiếm
54,5%). Phân theo độ tuổi: >54 tuổi (19,4%), từ 45 đến 54 tuổi (32,6%), 35 đến 44 tuổi
(24,5%), 25 đến 34 tuổi (18,7%), <25 tuổi (4,8%).
• Họp dân
Nghiên cứu đã tổ chức họp dân tại 6 xã/phường (15 người/xã/phường): chủ yếu là các
trưởng khóm/ấp, đại diện hội phụ nữ, hội nông dân, mặt trận khóm/ấp, người lớn tuổi và người
dân đại diện các hộ nghèo. Nghiên cứu sử dụng phương pháp “Đánh giá rủi ro thiên tai dựa
vào cộng đồng” của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (MARD, 2014) để đánh giá điểm
mạnh, điểm yếu của cộng đồng nhằm đối chứng với những thông tin đã thu thập được từ việc
phỏng vấn từng hộ dân; lấy ý kiến chung về lịch sử và ảnh hưởng của triều cường đến đời sống
người dân; đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và nguyên nhân tình trạng dễ bị tổn thương;
Tìm hiểu năng lực của cộng đồng trong ứng phó với triều cường; lấy ý kiến đề xuất về các giải
pháp ứng phó, thích nghi với triều cường. Nghiên cứu đã xác định được 5 nhóm vấn đề là:
Sinh kế; An toàn nơi cư trú; Nước sạch – vệ sinh môi trường; Sức khỏe và Y tế; Các tổ chức
đoàn thể và ý thức người dân.
Hình 2. Họp dân ở xã Long Điền Đông, huyện Hình 3. Họp dân ở xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Bình
Đông Hải
Nguồn: Tác giả chụp trong đợt họp dân năm 2020
• Phỏng vấn sâu
Tham vấn ý kiến của 09 chuyên gia, những người có kiến thức và kinh nghiệm trong
lĩnh vực dự báo khí tượng thủy văn, phòng chống lụt bão, lãnh đạo các UBND xã/phường phụ
trách công tác phòng chống lụt bão, cứu hộ cứu nạn nhằm thu thập thông tin đánh giá về thực
trạng triều cường, tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực phòng chống của địa phương, từ đó
tổng hợp với kết quả nghiên cứu thực địa, số liệu thu thập để phân tích và đề xuất giải pháp
phù hợp.
Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê: hoàn chỉnh các số liệu thu thập và các
phiếu điều tra; tiến hành nhập, tổng hợp, phân tích, đánh giá dữ liệu dưới dạng phần trăm và
vẽ các biểu đồ dựa trên phần mềm Microsoft Excel.
2270
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Tập 18, Số 12 (2021): 2267-2282
3.
Kết quả và thảo luận
3.1. Thực trạng triều cường vùng ven biển tỉnh Bạc Liêu
Tỉnh Bạc Liêu nằm ở khu vực Bán đảo Cà Mau thuộc vùng ĐBSCL nên có địa hình
tương đối thấp (cao trình từ 0,2m-1,3m so với mực nước biển), hướng nghiêng từ biển vào
trong nội địa nên rất dễ bị ảnh hưởng bởi nước biển dâng và các thiên tai khác; hệ thống kênh
rạch dày đặc và có nhiều cửa sông, kênh rạch lớn ăn thông ra biển như: Kênh 30/4, kênh
Chùa Phật, kênh Cái Cùng, kênh Huyện Kệ và sông Gành Hào. Mực nước trong các kênh
rạch chịu ảnh hưởng chủ yếu của chế độ bán nhật triều biển Đông với lưu tốc dòng chảy
mạnh, biên độ triều khá lớn (bình quân 2,85m), biên độ triều cực đại tại Cửa sông Gành Hào
là ± 4,1m. (Hua, 2020).
Tình trạng ngập lụt do triều cường thường xảy ra vào những ngày cuối tháng 10 đến
những ngày đầu tháng 2. Theo kết quả đo đạc mực nước triều cao nhất (Hmax) tại trạm Gành
Hào (huyện Đông Hải) của Đài Khí tượng Thủy văn tỉnh Bạc Liêu (BL HMS, 2020): giai
đoạn 1 (1982-1994), đỉnh triều luôn duy trì ở mức dưới báo động III (+2,00m) dao động từ
1,55m-1,90m, trung bình 1,77m. Tuy nhiên, giai đoạn 2 (1995-2007), có 6 năm đỉnh triều
vượt mức báo động III, dao động từ 1,70m-2,14m, trung bình 1,94m; đỉnh triều cao nhất đạt
mức 2,14m xuất hiện trong đợt bão lịch sử số 5 năm 1997. Giai đoạn 3 (2008-2020), 13 năm
liên tục, năm nào đỉnh triều cũng vượt mức báo động III, dao động từ 2,05m-2,54m, trung
bình 2,21m; Số ngày triều có mực nước từ 2,00m trở lên xuất hiện ngày càng nhiều hơn. Đợt
triều cường 2,54m vào lúc 2 giờ 30 phút ngày 16/11/2020 là đỉnh triều cao nhất tại Bạc Liêu
trong suốt 38 năm qua. Sau mốc lịch sử đỉnh triều cường lúc 2 giờ 00 phút sáng ngày
07/11/2018 là 2,42m, năm 2020 đã xuất hiện đỉnh triều lịch sử mới tại địa bàn tỉnh Bạc Liêu.
Trung bình đỉnh triều giai đoạn 2 cao hơn giai đoạn 1 là 1,7cm và giai đoạn 3 cao hơn giai
đoạn 2 là 2,7cm. Trung bình đỉnh triều cả 3 giai đoạn là 1,97cm. Như vậy, từ kết quả phân
tích cho thấy được tần suất xuất hiện đỉnh triều vượt mức báo động III ngày càng nhiều hơn
và đỉnh triều giai đoạn sau luôn cao hơn giai đoạn trước. (Hình 4, 5)
Đỉnh triều và biểu đồ tần suất xuất hiện triều cường
vượt mức báo động III tại trạm Gành Hào
15
10
5
13
6
0
0
1982 - 1994
>=200 cm
1995-2007
>=200 cm
2008-2020
>=200 cm
Đỉnh triều qua các giai đoạn
Hình 4. Biểu đồ đỉnh triều và tần suất xuất hiện tại trạm Gành Hào giai đoạn 1982-2020
Nguồn: Tác giả lập dựa vào số liệu của BL HMS, 2020
2271
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Phạm Trần Thùy Linh
Hình 5 thể hiện rõ xu thế biến đổi mực nước triều cực đại Hmax tại trạm Gành Hào.
Mực nước có xu hướng tăng ở cả 3 giai đoạn, tốc độ tăng mạnh khoảng từ 1,5cm/năm và có
xu hướng tiếp tục tăng ở những năm tiếp theo. Điều này cũng phù hợp với xu thế biến đổi
mực nước biển tại các trạm hải văn của Việt Nam có xu hướng tăng rõ rệt với mức tăng
khoảng 2,45mm/năm. Nếu tính trong giai đoạn 1993-2014, mực nước biển trung bình
khoảng 3,34mm/năm có xu thế tăng cao hơn những năm trước. (MONRE, 2016, p.35).
Xu thế biến đổi mực nước triều cao nhất tại trạm Gành Hào giai đoạn
1982-2020
275
254
250
214
225
190
200
1982 - 1994
175
1995 - 2007
150
125
100
75
50
25
0
2008 - 2020
Linear (1982 - 1994)
Linear (1995 - 2007)
Linear (2008 - 2020)
1982 1985 1988 1991 1994 1997 2000 2003 2006 2009 2012 2015 2018 2021
Thời gian (năm)
Hình 5. Biểu đồ xu thế biến đổi mực nước triều cao nhất tại trạm Gành Hào
giai đoạn 1982-2020
Nguồn: Tác giả lập dựa vào số liệu của BL HMS, 2020
Theo Ban Chỉ huy phòng, chống thiên tai và tìm kiếm cứu nạn tỉnh Bạc Liêu (The
Committee for Disaster Prevention and Search and Rescue of Bac Lieu province, 2020), tình
trạng triều cường dâng cao đã ảnh hưởng nặng nề đến kết cấu hạ tầng, sản xuất và đời sống
người dân ven biển. Ngập thường diễn ra trên diện rộng tại cửa biển Nhà Mát, Gành Hào,
Cái Cùng, thị trấn Hộ Phòng và nhiều tuyến sông ở huyện Hòa Bình, thị xã Giá Rai, huyện
Đông Hải…, có nơi nước ngập sâu 40-50cm. Hàng loạt tuyến đường, chợ, khu dân cư thường
bị nước tràn sâu vào trong nhà, chợ, đe dọa hàng hóa. Đợt triều cường năm 2016, 2017 đã
lấn sâu vào các tuyến sông nằm cách cửa biển hàng chục km, gây ngập sâu từ 20-30cm nhiều
khu vực nội ô của thành phố Bạc Liêu, thị xã Giá Rai, thị trấn Hòa Bình…. Ngày 12/02/2017
tại cửa biển Gành Hào, một đoạn kè bị sóng biển phá vỡ gần 20m, bê tông thân kè cũng bị
sóng cuốn ra xa; sạt lở cũng làm các cầu giao thông hư hại nặng (gãy Cầu Rạch Vượt, thị
trấn Gành Hào), gián đoạn việc lưu thông của người dân. Ngày 13/02/2017, đê kè ven biển
Nhà Mát cũng bị triều cường, sóng biển làm sạt lở một đoạn khoảng 20m. Triều cường đã
làm tràn bờ bao, ao hồ NTTS; xâm nhập mặn diện tích trồng màu, đe dọa đến diện tích sản
xuất nông nghiệp vùng ngọt hóa phía Bắc tỉnh như khu vực xã Hưng Hội thuộc huyện Vĩnh
Lợi và xã Vĩnh Mỹ B thuộc huyện Hòa Bình… Năm 2018, trong tháng 10 và 11, đỉnh triều
cường đo được tại trạm Gành Hào dao động từ 2,02m-2,42m. Triều cường dâng cao, khiến
2272
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Tập 18, Số 12 (2021): 2267-2282
3,6km tuyến QL1 đi qua huyện Hòa Bình và thị xã Giá Rai bị chìm trong nước; nhiều tuyến
đường trong nội ô thành phố Bạc Liêu, đường nông thôn ở các huyện, với tổng chiều dài
trên 40km bị ngập nặng, độ sâu có nơi trên 40cm. Ngay trong đợt triều dâng cao lịch sử năm
2020 với đỉnh triều 2,54m, nhiều tuyến đường vùng ven biền bị ngập, có nơi ngập sâu 30-
40cm. Đỉnh triều cao kết hợp với sóng to, gió lớn nên đã gây sụp lở kè Nhà Mát. Giao thông
ở các tuyến đường bị ngập gặp nhiều khó khăn; hoạt động học tập, kinh doanh và sinh hoạt
của người dân bị đảo lộn. Triều cường dâng cao kéo theo bùn, đất, cát… không chỉ gây khó
khăn cho các phương tiện lưu thông mà còn làm ô nhiễm môi trường. Sống với tình trạng
thu nhập thấp và trong bối cảnh ảnh hưởng của lũ lụt do thủy triều gây ra, các hộ nghèo ven
biển tỉnh Bạc Liêu đã bộc lộ rất rõ tình trạng dễ bị tổn thương.
Hình 6. Ngập lụt ở xã Vĩnh Hậu, huyện Hòa Hình 7. Sóng lớn đánh sạt lở bờ kè Gành Hào ngày
Bình ngày 07/11/2018
Nguồn: The Committee for Disaster Prevention and Search and Rescue of Bac Lieu
province, 2020
13/2/2017
3.2. Tình trạng dễ bị tổn thương của người nghèo ven biển khi triều cường gây ngập
3.2.1. Sinh kế
Nguồn sinh kế chính của các hộ nghèo chủ yếu là làm thuê, NTTS, trồng màu, đánh
bắt, buôn bán nhỏ, làm muối. Không có khu công nghiệp trong khu vực nghiên cứu nên
không có công nhân. Hầu hết thanh niên trong độ tuổi lao động đều đi lên các thành phố lớn
như Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương để tìm việc làm, chỉ còn lại người già,
phụ nữ và trẻ em ở lại. Sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, thiếu áp dụng khoa học kĩ thuật, chủ yếu
dựa vào kinh nghiệm, chủ quan trong việc phòng trừ dịch bệnh nên hiệu quả sản xuất chưa
cao. Lĩnh vực NTTS thiếu bền vững do nguồn nước bị ô nhiễm, kênh mương không thông
thoáng; thả giống không đúng lịch thời vụ do tuyên truyền của các ngành, ấp chưa kịp thời
và do quyền lợi kinh tế, giá đầu ra tăng cao; tôm giống bị bơm chích tạp chất, hàng hóa vật
tư nông nghiệp kém chất lượng, không rõ nguồn gốc; Cơ quan chức năng chưa thường xuyên
kiểm tra; thị trường và giá cả xuất khẩu không ổn định gây thiệt hại đến thu nhập; Vai trò
của chính quyền địa phương và doanh nghiệp trong chính sách thu mua, hỗ trợ thiệt hại và
thực hiện bảo hiểm trong sản xuất còn nhiều bất cập. Trình độ dân trí thấp với 13,73% không
biết chữ, 46,78% học tiểu học, 32,62% học đến THCS, và chỉ 6,01% học THPT, 0,86% học
2273
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Phạm Trần Thùy Linh
đại học, sống ở xa trung tâm nên không tiếp cận kịp thời thông tin triều cường, chưa chủ động
trong việc xây sửa đê bao, sửa cống nên triều dâng dễ làm vỡ bờ bao, toàn bộ tôm nuôi và rau
màu đều bị mất trắng... Ngập lụt, các hộ dân buôn bán nhỏ không thể làm ăn được, không ai có
nhu cầu thuê lực lượng lao động làm thuê. Mặc dù, người dân biết sinh kế của họ là những
nghề nghiệp nhạy cảm với điều kiện khí hậu, không bền vững, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên
nên rủi ro rất cao, nhưng do không có vốn, thiếu lực lượng lao động và trình độ thấp nên họ
không thể chuyển đổi nghề nghiệp. Cuộc sống bấp bênh, sinh kế của hơn 80% hộ nghèo, cận
nghèo không đủ chi phí cho cuộc sống hàng ngày, đặc biệt là khi triều dâng gây ngập.
Bảng 2. Nghề nghiệp đối tượng tham gia điều tra khảo sát
Công
nhân
Làm
thuê
Buôn bán
Làm
Làm
Trồng
Đánh
bắt
Nghề nghiệp
NTTS
nhỏ
muối
ruộng
màu
0
0
60
Số phiếu
Tỉ lệ (%)
25
22
5
42
45
34
25,72
10,74
9,44
2,17
18,05
19,32
14,56
Nguồn: Điều tra của tác giả, 2020
3.2.2. An toàn nơi cư trú
Điều kiện cơ sở hạ tầng tiềm ẩn nhiều nguy cơ dễ bị tổn thương: khoảng 60% hộ nghèo,
cận nghèo sống trong những căn nhà tạm, cây lá địa phương, không tiền sửa chữa, nâng cấp
nền nhà, dễ bị mục và sụp đổ khi ngập nước thường xuyên; nhiều nhà ở ven sông dễ bị sạt lở.
Các hộ sống tại những vùng đất trũng thấp, trong rừng phòng hộ dễ bị ngập bởi triều cường.
Hình 8. Nhà hộ nghèo phường Nhà Mát
Hình 9. Các hộ dân sống ven kênh 30/4 khóm
Chòm Xoài, Nhà Mát có nguy cơ sạt lở cao
Nguồn: Tác giả chụp năm 2020
Nhiều tuyến đường nông thôn xây dựng chưa đảm bảo chất lượng, còn thấp, nhanh bị
xuống cấp, sạt lở. Nhà nước chưa công khai minh bạch nguồn kinh phí đầu tư và thiết kế
bản vẽ; Người dân không có điều kiện để giám sát. Nhiều tuyến đường xuống cấp, hoặc bị
triều cường dâng cao dòng chảy mạnh làm sạt lở hai bên nhưng nhà nước chưa có kinh phí
hỗ trợ nâng cấp, sửa chữa.
2274
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Tập 18, Số 12 (2021): 2267-2282
3.2.3. Nước sạch và vệ sinh môi trường (VSMT)
Ô nhiễm môi trường, thiếu nước sạch, không đảm bảo điều kiện vệ sinh là những vấn
đề tiềm ẩn gây ra tình trạng dễ bị tổn thương của cộng đồng nghèo.
13,36% hộ còn chủ quan, chưa có thói quen dự trữ nước sạch trong lu chứa. 23,81%
giếng khoan bị thiếu hoặc nhiễm mặn vào mùa khô. Nhà nước chưa có kinh phí để đầu tư
xây dựng đầy đủ các trạm cấp nước sạch cho các khóm/ấp tại các xã phường. Hiện tại chỉ có
13 trạm cấp nước/6 xã chỉ đáp ứng cho 44,21% hộ (ven các lộ chính của xã). Nhiều trạm cấp
nước đã xuống cấp. Tỉ lệ hộ chưa có nhà vệ sinh tự hoại còn khá cao: Nhà vệ sinh tạm
(15,54%), chưa có nhà vệ sinh (3,35%). Khi triều cường gây ngập, những hộ dân không có
nhà vệ sinh thường đi vệ sinh quanh nhà hoặc đi nhờ nhà hàng xóm.
Các trại giống và doanh nghiệp chưa đầu tư xây dựng hệ thống xử lí nước thải. Ao hồ
nuôi tôm thâm canh, bán thâm canh bị nhiễm bệnh, thải trực tiếp ra sông không xử lí. Bơm
bùn thải trực tiếp ra sông. Hầu hết xã/phường ven biển không có bãi rác tập trung và hệ
thống thu gom. Nhận thức một bộ phận người dân về giữ gìn VSMT còn thấp, 79,87% vứt
rác ra đường, sông, kênh rạch, chỉ có 8,19% có xe thu gom rác, 9,85% là chôn, đốt rác và
2,09% là biết xử lí rác làm phân bón. Nhiều kênh rạch ứ đọng rác và nước thải ô nhiễm.
Chính quyền địa phương chưa tổ chức các hình thức thu gom rác hiệu quả. Việc thu gom rác
của địa phương còn chậm trễ, chưa đáp ứng nhu cầu của người dân, gây ứ đọng rác phát sinh
ruồi muỗi, ô nhiễm.
Hình 10. Rác thải dọc theo các con kênh ở Long Điền Đông, Đông Hải
Nguồn: Tác giả chụp năm 2020
Bảng 3. Khảo sát về việc xử lí rác thải
Phương thức xử lí
Số phiếu
Tỉ lệ %
8,19
Xe thu gom
19
23
186
5
Đốt rác, chôn rác
9,85
Vứt ra đường, sông, kênh
Tái chế thành phân bón
79,87
2,09
Nguồn: Điều tra của tác giả, 2020
2275
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Phạm Trần Thùy Linh
3.2.4. Sức khỏe và y tế
87,85% hộ không có nguồn lương thực thực phẩm dự trữ, nhà đông con. 100% hộ
không có tiền để dự trữ thuốc. Nhà xa trung tâm xã, không có phương tiện giao thông đi lại.
Mỗi ấp/khóm đều có Tổ Y tế nhưng lực lượng y bác sĩ và trang thiết bị còn thiếu. Vì vậy,
khi lũ do triều cường kéo dài, các hộ dân này gặp rất nhiều khó khăn trong việc ăn uống,
chăm sóc sức khỏe và sinh hoạt. Trong một cuộc phỏng vấn với một hộ dân ở xã Vĩnh Thịnh,
việc không có lương thực dự trữ đã buộc một số hộ phải bán những vật dụng, tài sản có giá
trị với giá rẻ trong những đợt thời tiết khắc nghiệt vừa qua.
Ngập lụt làm tăng độ ẩm là điều kiện thuận lợi cho ruồi, muỗi phát triển và có thể làm
gia tăng các bệnh như sốt rét, sốt xuất huyết, các bệnh kí sinh trùng, viêm đường hô hấp, tiêu
chảy. Đặc biệt là những vùng không có nguồn nước sạch, vùng trũng ngập lụt, điều kiện vệ
sinh kém, các đối tượng dễ bị tổn thương như trẻ em, người già, người bệnh, người nghèo bị
ảnh hưởng nhiều nhất. May mắn là đợt triều cường chỉ kéo dài trong thời gian ngắn khoảng
3-4 ngày, tình hình dịch bệnh do triều cường không xảy ra.
3.2.5. Các tổ chức đoàn thể và ý thức người dân
Chính quyền địa phương và các đoàn thể chưa phối hợp chặt chẽ trong việc tuyên
truyền sâu rộng về cảnh báo triều cường đến các hộ ở vùng sâu vùng xa, nơi thưa dân. Trình
độ một số cán bộ khóm/ấp còn thấp, chưa chủ động và quan tâm đến việc tuyên truyền, vận
động nhân dân phát hoang, duy tu, sửa chữa cầu đường.
Ý thức một bộ phận người dân còn hạn chế, trông chờ, ỷ lại vào sự đầu tư của nhà
nước nên không chủ động trong việc nâng cao nền nhà, đắp bờ bao, nâng lộ, sửa cống. Trình
độ học vấn của các hộ nghèo thấp nên gặp nhiều khó khăn trong việc nắm bắt các thông tin
và chưa biết cách phòng chống thiên tai, dễ bị thiệt hại khi có thiên tai xảy ra.
3.3. Đánh giá năng lực thích ứng với triều cường của người nghèo ven biển
3.3.1. Sinh kế
Tỉ lệ hộ nghèo qua các năm có xu hướng giảm, thu nhập bình quân đầu người có xu
hướng tăng bởi các mạnh thường quân, các tổ chức đoàn thể, cơ quan ban ngành, hợp tác xã
nhận đỡ đầu hộ nghèo, trao phương tiện, cây con giống, vốn sản xuất, dạy nghề, tạo công ăn
việc làm giúp người dân thoát nghèo. Ví dụ Hợp tác xã Đồng Tiến thuộc xã Vĩnh Thịnh,
huyện Hòa Bình được xem là điển hình thành công trong phát triển kinh tế tập thể tại tỉnh
Bạc Liêu nuôi nghêu trên 900 ha bãi bồi ven biển, giải quyết công ăn việc làm cho gần 540
thành viên, hầu hết các xã viên tham gia đều thuộc diện hộ nghèo. Hiện nay, các hộ đang
dần thoát nghèo và được đảm bảo an sinh xã hội.
Nhà nước tăng cường các hoạt động kiểm soát triều cường, phát triển cơ sở hạ tầng,
giao thông, cải thiện việc tiếp cận tín dụng và thị trường đóng vai trò quan trọng trong việc
nâng cao năng lực thích ứng của cộng đồng trước tác động của triều cường.
2276
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Tập 18, Số 12 (2021): 2267-2282
3.3.2. An toàn nơi cư trú
2,82% nhà ở kiên cố, 76,79% nhà bán kiên cố và các địa điểm an toàn như các trụ sở
UBND xã/phường, trường học, chùa… nằm gần tuyến lộ chính cao, ít bị ảnh hưởng ngập
phục vụ di dời dân khi có thiên tai và triều cường dâng cao. Phần lớn đường giao thông liên
khóm/ấp, liên xã được bê tông hóa đảm bảo nhu cầu đi lại. Hệ thống thủy lợi đang được
quan tâm xây dựng, trùng tu, sửa chữa, nạo vét. 70%-95% hộ sử dụng điện, còn lại sử dụng
điện chia hơi. Phường Nhà Mát và thị trấn Gành Hào có 100% hộ dùng điện. Các xã/phường
đều trang bị loa phóng thanh, xe truyền thông lưu động đảm bảo thông tin kịp thời, đầy đủ.
>90% hộ dân cư, kể cả các hộ nghèo có các phương tiện nghe nhìn: tivi, đài radio để theo
dõi tin tức.
3.3.3. Nước sạch và vệ sinh môi trường
54,07% hộ sử dụng nước giếng khoan và 42,21% sử dụng nước máy, không có hộ sử
dụng nguồn nước sông, kênh rạch làm nguồn nước sinh hoạt. Mặc dù chỉ có 1,72% hộ sử
dụng nước mưa làm nguồn nước sinh hoạt chính nhưng có đến 86,64% hộ có ý thức dự trữ
nước mưa trong các lu chứa.
Bảng 4. Khảo sát nguồn nước sinh hoạt chính của hộ
Nguồn nước
Nước sông,
kênh rạch
Nhà máy
Nước
Nước mưa
inh hoạt chính
cung cấp
giếng khoan
Số phiếu
Tỉ lệ (%)
0
0
4
103
126
1,72
44,21
54,07
Nguồn: Điều tra của tác giả, 2020
Tỉ lệ sử dụng nhà vệ sinh tự hoại khá cao 81,11%. Thị trấn Gành Hào có hệ thống thu
gom và 01 bãi rác xử lí rác thải tập trung đạt 70%. Chợ Cống Xề (xã Long Điền Đông) có
01 bãi rác tập trung. Một bộ phận dân cư có ý thức xử lí rác thải: 9,85% hộ chôn đốt rác và
2,09% tái chế rác thành phân bón phục vụ trồng rau màu.
3.3.4. Sức khỏe và y tế
Các hoạt động chăm sóc sức khỏe cho nhân dân ngày càng được thực hiện tốt, kịp
thời. Ngành y tế thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra VSMT, an toàn thực phẩm, vệ
sinh học đường tại các điểm trường, vận động nhân dân ăn ở sạch, dùng nước hợp vệ sinh.
Các trạm y tế của xã đều có bác sĩ. Mỗi khóm/ấp đều có tổ y tế phục vụ khám chữa bệnh.
Cụ thể: Phường Nhà Mát có 01 trạm y tế đạt chuẩn, 06 tổ y tế. Xã Vĩnh Hậu và xã Vĩnh
Thịnh đều có 01 trạm y tế và 07 tổ y tế. Thị trấn Gành Hào có 01 bệnh viện huyện, 01 trạm
y tế thị trấn, 05 ấp có tổ y tế. Xã Long Điền Đông và xã Long Điền Đông A đều có 01 trạm
y tế xã, 08 tổ y tế.
3.3.5. Chính quyền địa phương, tổ chức đoàn thể và người dân
• Chính quyền địa phương: Các cán bộ khóm/ấp đã kịp thời thông báo đến hộ dân các
thông tin triều cường, hỗ trợ thực hiện các biện pháp phòng tránh, ứng phó; Thông báo lịch
2277
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Phạm Trần Thùy Linh
thời vụ, kết hợp các ngành chức năng tổ chức các lớp tập huấn về kĩ thuật NTTS giúp người
dân nâng cao năng suất sản xuất, tránh tình trạng thiệt hại do sản xuất trái mùa và thiên tai,
hạn chế gây ô nhiễm môi trường; Kiểm tra, xử lí nghiêm các trường hợp cải tạo ao đầm, bơm
bùn hoặc nước thải ra sông gây ô nhiễm nguồn nước.
• Các tổ chức đoàn thể: Đẩy mạnh công tác tuyên truyền Luật bảo vệ rừng, thường xuyên
kiểm tra, quản lí tốt cây rừng và cây trồng phân tán trên địa bàn; Xử lí nghiêm những trường
hợp chặt phá, lấn chiếm đất rừng và đê biển phòng hộ; Tuyên truyền tác hại của thiên tai,
vận động hộ dân sửa chữa lộ trước nhà, gia cố bờ bao, làm cống thoát nước; Qua đợt triều
cường giúp dân sửa chữa nhà cửa, diệt khuẩn, VSMT, thăm hỏi và hỗ trợ kịp thời tiền, nhu
yếu phẩm cho các hộ bị thiệt hại.
• Người dân: Một bộ phận có ý thức, kinh nghiệm và tinh thần đoàn kết trong ứng phó
triều cường: đắp đập, gia cố, cuốc đắp bờ bao, sửa chữa các phai cống, sửa chữa và nâng nền
nhà, trồng cây ven khu vực đê yếu chống sạt lở, đóng góp ngày công lao động trong việc bê
tông hóa các tuyến lộ nông thôn; thường xuyên tự cập nhật thông tin thời sự, chủ động nắm
thông tin về thiên tai trên các phương tiện thông tin để phòng tránh.
Tổng kết đánh giá tình trạng dễ bị tổn thương và năng lực ứng phó với triều cường của
người nghèo ven biển, nghiên cứu đã cho thấy năng lực ứng phó với triều cường gây ngập
chủ yếu là năng lực hỗ trợ từ nhà nước, chính quyền địa phương trong việc giảm nghèo,
tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng, xây dựng, sửa chữa cơ sở hạ tầng. Người nghèo
dù được hỗ trợ phát triển kinh tế, có tinh thần đoàn kết trong việc cùng nhau ứng phó triều
cường, tuy nhiên, với trình độ học vấn thấp, sinh kế chủ yếu dựa vào tự nhiên, tài sản nhỏ
bé không có điều kiện để nâng cấp cơ sở hạ tầng để ứng phó với ngập lụt, ý thức giữ gìn vệ
sinh môi trường chưa cao, không có thuốc men dự trữ tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh khi ngập
lụt. Trong khi đó, triều cường mỗi năm lại dâng cao, tình trạng ngập lụt vẫn tiếp tục có nhiều
diễn biến phức tạp và ảnh hưởng nặng nề đến đời sống, sản xuất người dân, cơ sở hạ tầng.
Do đó, chúng ta thấy rằng năng lực ứng phó với tình trạng ngập do triều cường của người
nghèo vùng ven biển vẫn rất hạn chế.
Vì vậy, để hạn chế những thiệt hại do triều cường và các loại thiên tai khác gây ra, đặc
biệt là trong điều kiện biến đổi khí hậu đang có những biểu hiện rõ rệt, tần suất xuất hiện
đỉnh triều vượt mức báo động III ngày càng nhiều hơn và đỉnh triều giai đoạn sau luôn cao
hơn giai đoạn trước, đòi hỏi từ các nhà lãnh đạo đến người dân trên tất cả các lĩnh vực cần
có những hành động cấp thiết nhằm đạt được các mục tiêu về xóa đói giảm nghèo, đảm bảo
sức khỏe, phát triển bền vững.
3.4. Giải pháp thích ứng với triều cường cho người nghèo ven biển tỉnh Bạc Liêu
3.4.1. Giải pháp cho sinh kế
• Người dân: cần chủ động tôn cao bờ ao, đầm NTTS, diện tích lúa, rau màu, nhà, tài
sản, kho hàng… để chủ động ứng phó triều cường. Thực hiện lịch thời vụ theo khuyến cáo
của các cơ quan chức năng để tránh thất mùa, dịch bệnh và thiên tai. Chủ động nắm bắt thông
2278
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Tập 18, Số 12 (2021): 2267-2282
tin triều cường để thu hoạch sớm sản lượng NTTS, muối, rau màu, lợp tu bảo quản sản phẩm
để hạn chế tổn thất sau thu hoạch. Chủ động học tập, áp dụng các biện pháp khoa học kĩ
thuật để tăng hiệu quả sản xuất.
• Chính quyền địa phương: Tuyên truyền các mô hình sản xuất mới về NTTS, trồng trọt
đạt hiệu quả cao, tổ chức tập huấn nâng cao trình độ kĩ thuật, dạy nghề; Áp dụng phù hợp
các cơ chế, chính sách hỗ trợ nông dân nghèo vay vốn phục vụ sản xuất, cải thiện đời sống;
Tiếp tục vận động các mạnh thường quân, tổ chức đoàn thể, cơ quan ban ngành nhận đỡ đầu
hộ nghèo, tạo công ăn việc làm giúp người dân thoát nghèo, như vậy sẽ thu hút lực lượng
lao động ở lại địa phương để làm việc. Ngoài ra, chính quyền cần vận động người dân tham
gia bảo hiểm nông nghiệp; Có chính sách ưu đãi, hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư bao tiêu sản phẩm
trong điều kiện thị trường luôn biến động; Phổ biến sâu rộng dự báo thiên tai, triều cường đến
người dân để có biện pháp chủ động phòng ngừa giảm thiệt hại.
3.4.2. Giải pháp trong lĩnh vực an toàn nơi cư trú
• Nhà ở: Chính quyền địa phương phối hợp với các ngành chức năng sớm khảo sát để
hỗ trợ các hộ gia đình nghèo nâng cấp nhà ở, đắp bờ bao, trồng cây ven khu vực đê yếu
chống sạt lở xây dựng kế hoạch di dời, đồng thời tái định cư các hộ dân ra khỏi các khu vực
nguy hiểm có nguy cơ sạt lở cao, hộ lấn chiếm đất rừng phòng hộ.
• Giao thông: Người dân chủ động đóng góp ngày công lao động để nâng cấp các tuyến
đường nông thôn. Chính quyền địa phương cần rà soát lại các tuyến giao thông thấp, xuống cấp,
có nguy cơ sạt lở để có biện pháp khắc phục kịp thời. Sở Giao thông Vận tải cần thường xuyên
kiểm tra cao trình Quốc lộ 1A và xây dựng phương án phòng, chống triều cường tràn qua Quốc
lộ để bảo vệ tiểu vùng sản xuất nông nghiệp ổn định và giao thông đi lại của người dân.
• Hệ thống thủy lợi: Trung tâm Dịch vụ Đô thị cần rà soát lại toàn bộ hệ thống cửa van
cống dọc theo hai bên bờ sông Bạc Liêu – Cà Mau để có biện pháp sửa chữa, khắc phục kịp
thời nếu có sự cố, nhằm đảm bảo ngăn triều cường gây ngập. Kiểm tra, ngăn chặn và xử lí
kịp thời các trường hợp xây dựng lấn chiếm hành lang công trình đê biển, đê sông; Kiểm tra
xác định các vị trí có nguy cơ sạt lở cao bố trí cắm biển cảnh báo nguy hiểm; nâng cấp và
đầu tư hoàn chỉnh hệ thống đê biển, đê sông và bờ bao, cống, bọng để hạn chế thiệt hại về
lâu dài; kiểm tra và tôn cao bờ bao hạ lưu các cống dọc theo Quốc lộ 1A để chống nước triều
cường tràn, đảm bảo ngăn mặn an toàn cho diện tích lúa Thu-Đông, Đông-Xuân trong tiểu
vùng giữ ngọt ổn định; vận hành các cống Nhà Mát, Huyện Kệ để ngăn triều cường; gia cố
đê, kè ven biển; vận động nhân dân gia cố bờ bao ao, đầm, ruộng muối… để bảo vệ diện tích
muối và NTTS.
3.4.3. Giải pháp trong lĩnh vực Nước sạch và vệ sinh môi trường
Nâng cấp hệ thống cấp nước sạch hiện có; tăng cường xây dựng hệ thống cấp nước
sạch cho các xã/phường còn đang thiếu nước sạch sử dụng. Tuyên truyền nâng cao ý thức
người dân sử dụng tiết kiệm nước, dự trữ nước trong các lu chứa. Người dân cần thu gom,
chôn đốt rác thải. Chính quyền địa phương cần xây dựng mô hình thu gom rác dân lập, giao
2279
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Phạm Trần Thùy Linh
Ban nhân dân các khóm/ấp quản lí và xử phạt những khu dân cư xả rác bừa bãi. Hỗ trợ người
dân nghèo vay vốn xây dựng nhà vệ sinh tự hoại.
3.4.4. Giải pháp trong lĩnh vực Y tế và chăm sóc sức khỏe cộng đồng
Tăng cường các biện pháp tuyên truyền, hỗ trợ hộ dân dự trữ thuốc điều trị các loại
bệnh thông thường, ăn chín uống sôi, giữ gìn VSMT, xử lí ô nhiễm nguồn nước.
Các trạm y tế xã/phường và tổ y tế khóm/ấp cần chuẩn bị khả năng ứng phó các tác
động đến sức khỏe cộng đồng khi triều cường và các hiện tượng khí hậu cực đoan xảy ra.
Hoàn thiện hệ thống chính sách chăm sóc sức khỏe cộng đồng, đảm bảo quyền lợi các nhóm
xã hội dễ bị tổn thương.
3.4.5. Xây dựng cộng đồng ứng phó hiệu quả với triều cường
• Cấp xã/phường: Lồng ghép nội dung phòng, chống và giảm nhẹ rủi ro thiên tai và thích
ứng với biến đổi khí hậu trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Xây
dựng phương án cụ thể đối với từng khóm/ấp để chủ động phòng tránh, ứng phó triều cường
theo phương châm bốn tại chỗ: chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện, vật tư tại chỗ,
hậu cần tại chỗ.
• Ban nhân dân khóm/ấp và các tổ chức đoàn thể: Tăng cường công tác vận động, tuyên
truyền, phổ biến và hướng dẫn các biện pháp phòng, tránh, ứng phó thiên tai thông qua tờ
bướm, lớp tập huấn, hệ thống thông tin đại chúng. Cập nhật thông tin diễn biến thiên tai, có
phương án nguồn nhân lực ứng phó, ưu tiên đối tượng dễ bị tổn thương. Tổ chức thăm hỏi,
hỗ trợ hộ gặp khó khăn, bị thiệt hại.
• Người dân: Nâng cao nhận thức về triều cường và các rủi ro thiên tai. Chủ động cập
nhật thông tin thời sự, thiên tai trên các phương tiện thông tin. Tiếp tục phát huy tinh thần
đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, các kinh nghiệm ứng phó tại chỗ nhằm phát huy tối đa năng lực
của cộng đồng.
4.
Kết luận và kiến nghị
Nhìn chung, sự xuất hiện tổ hợp trùng pha giữa hiện tượng thủy triều với các yếu tố
sóng, gió mùa Đông Bắc, lũ từ hệ thống sông Mekong, xói lở... và ảnh hưởng của biến đổi
khí hậu, nước biển dâng, các tác động của con người như quá trình đô thị hóa, hệ thống công
trình thủy lợi, chặt phá rừng ngập mặn, khai thác nước ngầm quá mức… đã làm cho triều
cường có xu hướng ngày càng mạnh dần vượt mức báo động III ảnh hưởng lớn đến đời sống
và sản xuất của người dân ven biển tỉnh Bạc Liêu.
Qua đánh giá những ảnh hưởng của triều cường, nghiên cứu xác định được 05 tình
trạng dễ bị tổn thương được người dân quan tâm nhiều nhất đó là: Sinh kế, An toàn nơi cư
trú, Nước sạch và vệ sinh môi trường, Sức khỏe và y tế, Các tổ chức đoàn thể và ý thức
người dân và cũng đánh giá được năng lực thích ứng của cộng đồng, từ đó xác định cơ sở lí
luận để tìm ra giải pháp cho việc phòng ngừa và ứng phó với ngập triều trong tương lai.
Khi các hộ dân dần được thoát nghèo, nâng cao nhận thức về thiên tai, triều cường, cơ
sở hạ tầng được nâng cấp, nước sạch và vệ sinh môi trường, y tế, đường xá dần được đảm
2280
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Tập 18, Số 12 (2021): 2267-2282
bảo… sẽ góp phần rất lớn trong việc hạn chế đến mức thấp nhất thiệt hại do triều cường và
các loại thiên tai khác gây ra, bảo vệ an toàn tính mạng và tài sản nhân dân, nhất là đối tượng
yếu thế trong xã hội như người già, trẻ em, người khuyết tật, phụ nữ, người nghèo. Để làm
được điều này đòi hỏi những hành động cần thực hiện ngay của các cấp lãnh đạo trên tất cả
các lĩnh vực nhằm đạt được các mục tiêu về an ninh sinh kế, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo
sức khỏe, phát triển bền vững trong bối cảnh triều cường ngày càng diễn biến bất thường.
Đồng thời, cần có sự phối kết hợp chặt chẽ và những hành động thiết thực của các cấp từ
Trung ương đến địa phương, các sở ban ngành của tỉnh.
Tuyên bố về quyền lợi: Tá c giả xá c nhận hoàn toàn khô ng có xung đột về quyền lợi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Department of Natural Resources and Environment of Bac Lieu province – BL DONRE (2012).
Khung ke hoach hanh đong thich ung voi bien đoi khi hau cua tinh Bac Lieu [Framework of
action plan to respond to climate change of Bac Lieu province]. Bac Lieu.
Hua, M. T (2020). Tham luan Tinh hinh bien doi khi hau, xam nhap man, nuoc bien dang tren dia
ban tinh Bac Lieu va nhung giai phap khac phuc [Report on climate change, saltwater
intrusion, sea level rise in Bac Lieu province and solutions to overcome]. Department of
Natural Resources and Environment of Bac Lieu province.
Hydrology-Meteorology Station in Bac Lieu Province – BL HMS (2020). Muc nuoc trieu cao nhat
(Hmax) tai tram Ganh Hao tu nam 1982 đen nam 2020 [The highest tidal water level (Hmax) at
Ganh Hao station from 1982 to 2020]. Bac Lieu.
Ministry of Agriculture and Rural Development of Vietnam - MARD (2014). Tai lieu quan ly rui ro
thien tai dua vao cong dong (Tai lieu danh cho cap xa) [Document on Community-Based
Disaster Risk Management (Document for Commune Level)]. Ha Noi.
Ministry of Natural Resources and Environment – MONRE (2016). Kich ban bien doi khi hau va
nuoc bien dang cho Viet Nam [Climate Change and Sea Level Rise Scenarios for Vietnam].
Hanoi: Environmental resources and Vietnam map Publishing House.
Pham, V. Q. & Nguyen, Q. T. (2016). Phuong phap nghien cuu xa hoi hoc [Methods of Sociological
research]. Hanoi: Ha Noi National University Publishing House.
Prime Minister (2015). Quyet đinh so 59/2015 / QĐ-TTg ngay 19 thang 11 nam 2015 cua Thu tuong
Chinh phu ve viec Ban hanh chuan ngheo tiep can da chieu giai đoan 2016-2020 [Decision No.
59/2015/QD-TTg dated November 19, 2015 of the Prime Minister on promulgating
multidimensional poverty standards applicable to the period 2016-2020]. Hanoi.
The Committee for Disaster Response and Search and Rescue in Bac Lieu Province, Bac Lieu
Provincial People's Committee (2020). Bao cao tong hop dien bien cac dot trieu cuong va thiet
hai trên dia ban tinh Bac Lieu giai doan 2010-2020. [Summary report on the occurrence of
high tides and damage in Bac Lieu province in the period 2010-2020]. Bac Lieu.
2281
Tạp chí Khoa học Trường ĐHSP TPHCM
Phạm Trần Thùy Linh
THE EFFECTS OF FLOOD-TIDE ON THE POOR’S LIFE IN THE COASTAL AREA
OF BAC LIEU PROVINCE
Pham Tran Thuy Linh
Bac Lieu University, Viet Nam
Corresponding author: Pham Tran Thuy Linh – Email: [email protected]
Received: October 08, 2021; Revised: December 13, 2021; Accepted: December 18, 2021
ABSTRACT
Since 2005, people living along the 56 km coastline of Bac Lieu Province have faced high tides
tending to rise over alarming levels III, which results in many damagesto life and production,
especially of the poor – the vulnerable. The study using semi-structured interviews with 233
households, community discussions, and expert consultation shows a comprehensive view of the
flood-tide status, identifies five vulnerabilities, and assesses the adaptative capacity of the poor in
the coastal region in Bac Lieu Province. On that basis, the research proposes solutions to help the
poor respond to flood-tide, ensure livelihoods andhealth, and stabilize life. The researchis also useful
for managers of related departments and agencies in making policies towards sustainable
development for communities in the coastal areas of Bac Lieu province.
Keywords: high tide; flood-tide; adaptative capacity; vulnerability; low-income households;
the coastal area; Bac Lieu province
2282
Bạn đang xem tài liệu "Ảnh hưởng ngập do triều cường đến đời sống người dân nghèo ven biển tỉnh Bạc Liêu", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
anh_huong_ngap_do_trieu_cuong_den_doi_song_nguoi_dan_ngheo_v.pdf

