Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ tín dụng ngân hàng dài hạn của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

PHAÙT TRIEÅN KINH TEÁ  
Soá 266, Thaùng Möôøi Hai naêm 2012  
CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ TÍN DỤNG  
NGÂN HÀNG DÀI HẠN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP  
NGÀNH SẢN XUẤT CHẾ BIẾN THỰC PHẨM NIÊM  
YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM  
LÊ PHƯƠNG DUNG* & NGUYỄN THỊ NAM THANH**  
Bài báo này sử dụng số liệu từ báo cáo tài chính quý I/2007 đến quý IV/2011 của 39 doanh  
nghiệp (DN) ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán VN để xác  
định các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nợ tín dụng ngân hàng dài hạn của các doanh  
nghiệp này. Bài báo sử dụng mô hình dữ liệu bảng động với cách tiếp cận theo hai phương pháp:  
mô hình ảnh hưởng cố định (Fixed Effects Method - FEM) và mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên  
(Random Effects Method - REM). Kết quả nghiên cứu cho thấy nợ tín dụng ngân hàng dài hạn  
của các DN ngành sản xuất chế biến thực phẩm có mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả hoạt  
động kinh doanh, cơ cấu tài sản và khả năng thanh khoản; có mối quan hệ nghịch chiều với quy  
mô DN, rủi ro tín dụng và tỉ lệ nợ dài hạn của kì trước đó.  
Từ khóa: Nợ tín dụng ngân hàng dài hạn, ngành sản xuất chế biến thực phẩm, nhân tố ảnh  
hưởng, mô hình động.  
biến thực phẩm niêm yết trên sàn giao dịch chứng  
1. Đặt vấn đề  
khoán TP.HCM (HOSE) và sàn giao dịch chứng  
Xác định một tỉ lệ nợ dài hạn ngân hàng cho DN  
khoán Hà Nội (HNX).  
là vấn đề quan trọng không chỉ đối với nhà quản trị  
2. Cơ sở lí thuyết về nợ tín dụng và các  
nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nợ  
tín dụng ngân hàng của DN  
mà còn đối với các nhà hoạch định tài chính nhằm  
xây dựng cấu trúc nợ hợp lí nhất. Cấu trúc nợ hợp lí  
sẽ vừa đảm bảo khả năng thanh khoản vừa tận dụng  
hiệu ứng tích cực của đòn cân nợ, góp phần gia tăng  
giá trị DN.  
2.1. Nợ tín dụng ngân hàng và các lí thuyết về  
nợ tín dụng của DN  
Đã có nhiều nghiên cứu về cấu trúc nợ và các  
nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc nợ từ trước đến nay,  
đặc biệt là ở các nước phát triển như: Nghiên cứu  
của Shane A. Johnson (1997) và nghiên cứu của  
Florian Peters (2004). Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu  
thực nghiệm thường không đồng nhất tùy theo phạm  
vi nghiên cứu và phương pháp áp dụng trong xử lí  
mô hình. Theo đó, nghiên cứu này tiếp tục phân tích  
các nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc nợ của DN theo  
hướng phát triển mối quan hệ giữa mô hình lí thuyết  
và kết quả thực nghiệm. Cụ thể, tác giả tập trung vào  
nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến nợ tín dụng  
ngân hàng dài hạn của DN trong ngành sản xuất chế  
Có thể thấy sự phát triển của các DN ở VN trong  
thời gian qua có sự đóng góp không nhỏ của hệ  
thống ngân hàng. Vốn vay ngân hàng tạo điều kiện  
cho các DN đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm máy  
móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh, góp  
phần thúc đẩy quá trình phát triển sản xuất kinh  
doanh đựơc liên tục đồng thời nâng cao hiệu quả sử  
dụng vốn của DN.  
Lí thuyết tài chính DN tiếp cận theo hướng hiện  
đại bắt đầu với lí thuyết không liên quan cấu trúc tài  
chính của Modigliani và Miller (1958), theo đó bất  
chấp việc phân chia cơ cấu vốn của công ty thành  
* ThS., ** CN, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng  
Email: lephuongdung1[email protected],  
THƯƠNG HIỆU VÀ DỊCH VỤ TẠI VN  
22  
PHAÙT TRIEÅN KINH TEÁ  
Soá 266, Thaùng Möôøi Hai naêm 2012  
nợ, vốn cổ phần hay bất cứ nguồn vốn nào khác vẫn suất sinh lời tài sản (ROA) và tỉ suất sinh lời vốn  
có một sự chuyển đổi trong giá trị đầu tư khiến cho chủ sở hữu (ROE). Theo lí thuyết trật tự phân hạng  
giá trị công ty vẫn không đổi cho dù cơ cấu vốn của thì các nhà quản lí thích tài trợ cho các dự án bằng  
công ty thay đổi. Hay nói cách khác, cơ cấu giữa nợ nguồn vốn từ nội bộ hơn, sau đó mới đến nguồn vốn  
và vốn chủ sở hữu không làm thay đổi giá trị công từ bên ngoài, có nghĩa là các DN có tỉ suất sinh lời  
ty. Vì tài trợ bằng nợ tín dụng rẻ hơn vốn cổ phần do cao sẽ có tỉ lệ nợ tín dụng thấp. Theo quan điểm của  
lãi suất mà DN trả cho chủ nợ được miễn thuế (thuế Modiglani & Miller thì các DN có hiệu quả hoạt  
được đánh sau lãi vay), nên một DN sử dụng nợ sẽ động kinh doanh cao hơn sẽ có động cơ tăng lượng  
có khả năng tạo được kết quả hoạt động kinh doanh nợ nhiều hơn để được khấu trừ chi phí lãi vay.  
tốt hơn 100% vốn cổ phần do tận dụng lợi ích từ lá  
chắn thuế của nợ. Trên thực tế không phải giá trị DN  
tăng mãi khi tỉ suất nợ gia tăng, bởi vì khi gia tăng  
việc sử dụng nợ sẽ gia tăng chi phí tài chính, gia  
tăng khả năng phá sản và sẽ làm giảm giá trị DN do  
đó lí thuyết cân đối vốn cho rằng cấu trúc tài chính  
tối ưu là cấu trúc đòi hỏi phải cân bằng giữa lợi ích  
do sử dụng nợ và chi phí tài chính. Bên cạnh đó, lí  
thuyết trật tự phân hạng lại cho rằng nếu một DN  
phải sử dụng nguồn tài trợ bên ngoài thì nhà quản trị  
sẽ ưu tiên sử dụng nợ tín dụng trước, sau đó là phát  
hành trái phiếu và giải pháp cuối cùng là phát hành  
cổ phiếu thường. Trật tự này phản ánh động cơ của  
nhà quản trị tài chính là duy trì sự kiểm soát DN,  
giảm chi phí và tránh được những phản ứng của thị  
trường chứng khoán.  
2.2.3. Cơ cấu tài sản  
Được đo lường bằng giá trị tài sản cố định trên  
tổng tài sản. Tài sản cố định hữu hình vừa có ý nghĩa  
về giá trị thế chấp cho các khoản vay từ các tổ chức  
tín dụng, vừa hàm chứa một nguy cơ rủi ro lớn do  
tác động của đòn cân định phí. Theo nghiên cứu của  
Johnson (1997), giá trị tài sản thế chấp phụ thuộc  
trực tiếp vào giá trị thanh khoản của tài sản đó và kết  
quả nghiên cứu cho thấy tỉ trọng tài sản cố định trên  
tổng tài sản có mối quan hệ thuận chiều tỉ suất nợ.  
Trong khi đó, nghiên cứu của Florian Peters (2004)  
lại cho thấy một mối quan hệ ngược chiều giữa tỉ  
trọng tài sản cố định trên tổng tài sản và tỉ trọng nợ  
ngân hàng trên tổng nợ.  
2.2.4. Khả năng thanh khoản  
Tính thanh khoản có tác động thuận chiều hoặc  
ngược chiều đến quyết định sử dụng nợ tín dụng của  
DN. Một mặt, các DN có hệ số thanh khoản cao có  
thể sử dụng nhiều nợ tín dụng do DN có thể trả các  
khoản nợ khi đến hạn. Mặt khác, các DN có nhiều  
tài sản có tính thanh khoản cao có thể sử dụng các  
tài sản này tài trợ cho các khoản đầu tư của mình mà  
không cần sử dụng đến nợ tín dụng, do đó, khả năng  
2.2. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng  
nợ tín dụng ngân hàng của DN  
Đã có nhiều nghiên cứu thực nghiệm về các nhân  
tố ảnh hưởng đến cấu trúc nợ của DN tại các nước  
phát triển, những nhân tố được xác định phổ biến  
bao gồm:  
2.2.1. Quy mô DN  
Nghiên cứu của Berlin và Loeys (1988) cho rằng thanh khoản của DN có quan hệ nghịch chiều với nợ  
các DN lớn có chi phí đại diện của việc ủy quyền tín dụng.  
giám sát cho ngân hàng, chi phí kiểm soát thấp, ít  
chênh lệch thông tin hơn với các DN khác thường có  
xu hướng sử dụng nợ tín dụng ngân hàng nhiều hơn.  
Theo Fama (1985) và Nakamura (1989) thì các DN  
nhỏ thường sử dụng nợ tín dụng ngân hàng bởi vì  
những DN này sẽ có lợi thế giảm được chi phí thông  
tin, chi phí giám sát vì ngân hàng có thể thu thập  
được thông tin thông qua các giao dịch trên tài  
khoản của DN.  
2.2.5. Cơ hội tăng trưởng  
Được đo lường qua tốc độ tăng trưởng của tổng  
tài sản. Hầu hết các quan điểm tài chính cho rằng có  
mối quan hệ ngược chiều giữa tốc độ tăng trưởng và  
tỉ lệ nợ, lý do là các DN có tốc độ tăng trưởng cao  
thường đi đôi với các rủi ro phá sản cao nên tỉ lệ nợ  
thấp.  
2.2.6. Danh tiếng của DN  
Danh tiếng của DN được đo lường thông qua độ  
tuổi của DN và hình thức sở hữu DN (DN đó có vốn  
đầu tư của Nhà nước hay không). Theo kết quả  
2.2.2. Hiệu quả hoạt động kinh doanh  
Hiệu quả hoạt động kinh doanh được đo lường  
theo các chỉ tiêu: tỉ suất lợi nhuận trên doanh thu, tỉ  
THƯƠNG HIỆU VÀ DỊCH VỤ TẠI VN  
23  
PHAÙT TRIEÅN KINH TEÁ  
Soá 266, Thaùng Möôøi Hai naêm 2012  
nghiên cứu thực nghiệm của Diamond (1991),  
những DN trẻ, quy mô nhỏ, danh tiếng thấp thường  
sử dụng nợ ngân hàng bởi vì đối với họ, việc vay  
mượn thông qua phát hành cổ phiếu khá khó khăn.  
Những DN này có động cơ duy trì những thành tích  
tốt trong quá khứ từ đó nâng cao độ tín nhiệm và có  
thể nhận được những ưu đãi lãi suất từ ngân hàng.  
Kết quả nghiên cứu của Pierre Pessarossi và Laurent  
Weill (2011) cho thấy các DN nhà nước có xu  
hướng sử dụng nợ tín dụng nhiều hơn là phát hành  
cổ phiếu.  
Bảng 2. Định nghĩa các biến trong mô hình  
Quy mô DN  
Logarit tự nhiên của Tổng  
doanh thu  
X1  
Logarit tự nhiên của Vốn chủ  
sở hữu  
X2  
X3  
Logarit tự nhiên của Tổng tài  
sản  
Hiệu quả hoạt động kinh doanh  
Tỉ suất sinh lời tài sản (ROA)  
2.2.7. Rủi ro tín dụng  
X4  
Tỉ suất sinh lời vốn chủ sở  
X5  
X6  
hữu (ROE)  
Được đo lường qua chỉ tiêu đòn bẩy (tính theo  
công thức Nợ phải trả trên tổng tài sản). Nghiên cứu  
của Merton (1974) và Johnson (1997) nhấn mạnh  
tầm quan trọng của đòn bẩy như một nhân tố quyết  
định đối với rủi ro tín dụng của DN và kết quả thực  
nghiệm cho thấy rằng đòn bẩy có tác động ngược  
chiều đến quyết định sử dụng nợ tín dụng của DN.  
Tỉ suất lợi nhuận trên doanh  
thu  
Cơ cấu tài sản  
Tài sản cố định trên tổng tài  
X7  
sản  
Khả năng thanh khoản  
Khả năng thanh khoản hiện  
Biến độc lập  
X8  
hành  
Cơ hội tăng trưởng  
Tốc độ tăng trưởng tổng tài  
Bảng 1. Tóm tắt các nhân tố tác động đến lựa chọn  
nợ tín dụng ngân hàng của DN  
Biến giải thích  
Dấu tác động theo  
lí thuyết  
X9  
sản  
Danh tiếng của DN  
DN có vốn đầu tư của nhà  
Quy mô DN  
+/-  
+/-  
+/-  
+/-  
-
Hiệu quả hoạt động kinh doanh  
Cơ cấu tài sản  
X10  
nước (1: mã hóa cho DN có  
vốn đầu tư của nhà nước; 0:  
mã hóa cho DN không có  
vốn đầu tư của nhà nước)  
Khả năng thanh khoản  
Cơ hội tăng trưởng  
Danh tiếng DN  
X11  
Độ tuổi của DN  
-
Rủi ro tín dụng  
Rủi ro tín dụng  
-
X12  
Đòn bẩy  
3. Phương pháp nghiên cứu  
3.1. Dữ liệu nghiên cứu  
Cấu trúc nợ  
Nợ dài hạn ngân hàng trên  
nợ phải trả  
Y1  
Y2  
Biến phụ thuộc  
Dựa vào số liệu Báo cáo tài chính từ quý I/2007  
đến quý IV/2011 của 39 DN ngành sản xuất chế biến  
thực phẩm niêm yết trên hai sàn HOSE và HNX  
Nợ dài hạn ngân hàng trên  
tổng tài sản  
3.3. Phương pháp nghiên cứu  
3.2. Mã hóa biến nghiên cứu  
Mô hình bảng động được mô tả bởi sự hiện diện  
của các giá trị quá khứ của biến hồi quy. Trong phân  
tích hồi quy liên quan đến số liệu chuỗi thời gian,  
nếu mô hình hồi quy không chỉ bao gồm các giá trị  
hiện tại mà còn bao gồm các giá trị trễ (giá trị quá  
khứ) của các biến độc lập (các biến X), mô hình đó  
THƯƠNG HIỆU VÀ DỊCH VỤ TẠI VN  
24  
PHAÙT TRIEÅN KINH TEÁ  
Soá 266, Thaùng Möôøi Hai naêm 2012  
được gọi là mô hình phân phối trễ. Nếu trong số các  
biến giải thích của mô hình bao gồm một hay nhiều  
giá trị trễ của biến phụ thuộc, mô hình được gọi là  
mô hình tự hồi quy. Như vậy, ta có:  
Yit - Yi,t-k = λ (Yit*-Yi,t-k  
)
(1)  
Trong đó, Yit* tỉ lệ nợ mục tiêu ước tính từ  
phương trình, và λ là tham số điều chỉnh  
Nếu λ = 1, sự điều chỉnh được thực hiện trong  
vòng k giai đoạn và DN sẽ đạt tỉ lệ nợ mục tiêu tại  
Yi,t = ai+ βiXi,t + βiXi,t-k + uit  
Phương trình trên tiêu biểu cho một mô hình thời điểm t. Nếu λ <1 thì sự điều chỉnh từ thời điểm  
phân phối trễ, trong khi phương trình sau:  
t-k đến thời điểm t sẽ rút ngắn để đạt được mục tiêu.  
Nếu λ > 1 thì công ty dù có điều chỉnh thế nào thì  
vẫn không thể đạt tỉ lệ nợ tối ưu.  
Yi,t = ai + βiXi,t + γYi,t-k + uit  
là ví dụ về một mô hình tự hồi quy (trong đó γ là  
một lượng vô hướng, k là số thời điểm lùi về trước  
đó).  
Sau khi được điều chỉnh; phương trình (1) có thể  
viết lại như sau:  
Yit = (1- λ)Yi,t-k + λYit*  
Yit: biến phụ thuộc, Xit: biến độc lập  
i: thực thể (DN), t: thời gian (quý)  
a: hệ số chặn  
Trong đó λ có thể được xem như tốc độ của sự  
điều chỉnh và theo cách này, λ càng lớn thì điều  
chỉnh càng nhanh.  
βi : hệ số góc đối với nhân tố Xi  
uit: phần dư  
Đối với mô hình phân phối trễ (mô hình bao  
gồm giá trị trễ của biến độc lập)  
Việc sử dụng mô hình động được giải thích là do  
những thay đổi trong chính sách của DN hầu như  
không bao giờ xảy ra tức thời mà phải trải qua quá  
trình ứng dụng, thực thi trong một khoảng thời gian  
nào đó mới nhận biết được những ảnh hưởng mà  
chính sách mới đem lại. Vì thế, mô hình bảng động  
được sử dụng để xem xét đến những tác động trễ  
này. Tỉ lệ vay nợ kì này có thể phụ thuộc một phần  
nào đó vào tỉ lệ vay nợ của kì trước đó hoặc các chỉ  
tiêu phản ánh hiệu quả hoạt động, hiệu quả tài chính  
của DN trong kì trước, theo đó, ngân hàng sẽ dựa  
trên tỉ lệ vay nợ của những kì trước và năng lực trả  
nợ của DN để xem xét có nên cho DN vay vốn hay  
không.  
Giả sử Yt là tỉ lệ nợ quan sát của DN tại thời  
điểm t, Xt* là giá trị kỳ vọng của một nhân tố và Xt  
là giá trị thực tế của nhân tố đó. Yt được giả sử là  
không liên quan đến Xt mà liên quan đến Xt*, vì vậy  
ta có phương trình:  
Yit = ai + βXit* + uit  
(2)  
Thực tế, bởi vì Xt* có đặc trưng là không thể  
quan sát được và không có dữ liệu về nó vì vậy  
chúng ta cần giả sử rằng DN có sự thay đổi trong giá  
trị kì vọng của nhân tố, sự thay đổi này được mô tả  
như sau:  
*
Xit* - Xi,t-k* = λ (Xit-Xi,t-k  
)
0 < λ <1  
(3)  
Sau khi điều chỉnh, phương trình (3) trở thành  
*
Xit* = λXi,t-k + (1- λ)Xi,t-k  
(4)  
Đối với mô hình tự hồi quy (mô hình bao gồm  
các giá trị trễ của biến phụ thuộc), ta có mô hình dữ  
liệu tuyến tính như sau:  
Từ phương trình (2), tìm Xt* theo Yt, thay vào  
phương trình (4) và sắp xếp lại số hạng ta được mô  
hình  
Yit = ai + βXit + uit  
Trong điều kiện lí tưởng, tỉ lệ nợ quan sát của  
DN tại thời điểm t (Yit), bằng với tỉ lệ nợ tối ưu Yit*  
= Yit. Trong thiết lập động, điều này ngụ ý rằng sự  
thay đổi trong tỉ lệ nợ thực tế từ trước đến giai đoạn  
hiện nay cần được cân bằng một cách chính xác với  
sự thay đổi được yêu cầu cho công ty để được ở tối  
ưu tại thời điểm t, tức là:  
Yt = aiλ + (1-λ)Yi,t-k + λβXi,t-k + uit – (1-λ)ui,t-k  
Yt = β1 + β2Yi,t-k + β3Xi,t-k + vit  
Trong đó, β1 = aiλ, β2 = 1-λ và vit = uit – (1-λ)ui,t-k  
Với giả định mỗi thực thể đều có những đặc điểm  
riêng biệt có thể ảnh hưởng đến các biến giải thích,  
phương pháp FEM cho phép có các hệ số chặn khác  
nhau cho mỗi thực thể nhằm tách ảnh hưởng của các  
đặc điểm riêng biệt ra khỏi các biến giải thích để có  
Yit - Yi,t-k = Yit*-Yi,t-k*  
Quá trình này có thể được đại diện bằng cách sử  
dụng mô hình điều chỉnh sau:  
THƯƠNG HIỆU VÀ DỊCH VỤ TẠI VN  
25  
PHAÙT TRIEÅN KINH TEÁ  
Soá 266, Thaùng Möôøi Hai naêm 2012  
thể ước lượng những ảnh hưởng thực của biến giải Tình hình phân bổ vào hai loại tài sản chủ yếu là tài  
thích lên biến phụ thuộc.  
sản ngắn hạn và tài sản cố định dựa trên số liệu  
thống kê từ bảng cân đối kế toán của 39 DN nghiên  
cứu trong giai đoạn 2007-2011 được phản ánh trong  
đồ thị sau (Hình 1).  
Phương pháp REM dựa vào giả thuyết rằng sự  
khác biệt giữa các thực thể được chứa đựng trong  
phần sai số ngẫu nhiên và không tương quan đến các  
biến giải thích.  
Do đặc điểm ngành nghề kinh doanh nên hầu hết  
các DN trong ngành có tỉ trọng tài sản ngắn hạn lớn  
(trên 50%), qua đó có thể dự đoán các DN trong  
ngành có tỉ lệ tài sản ngắn hạn cao sẽ có xu hướng  
tài trợ thông qua vay ngắn hạn.  
Kiểm định Hausman nhằm lựa chọn phương  
pháp FEM hay REM phù hợp cho hồi quy dữ liệu  
mẫu, với giả thiết:  
H0: FEM và REM không khác biệt đáng kể  
Với (Prob>λ2) <0,05, bác bỏ H0  
Trong cơ cấu tài sản dài hạn của các công ty chủ  
yếu là tài sản cố định chiếm tỉ trọng lớn nhất, còn lại  
là chi phí xây dựng cơ bản dở dang và các khoản  
đầu tư tài chính dài hạn. Tài sản cố định của các DN  
trong ngành bao gồm: nhà xưởng, máy móc thiết bị,  
dụng cụ phục vụ cho hoạt động sản xuất chế biến  
thực phẩm. Hình 1 cho thấy ngoại trừ một số công ty  
như CLC, HHC, LAF, ABT... có tỉ trọng tài sản cố  
định ở mức thấp (khoảng 10%-20%) thì phần lớn  
Nếu bác bỏ H0, ta kết luận mô hình ảnh hưởng  
ngẫu nhiên không phù hợp và trong trường hợp này  
FEM được lựa chọn sử dụng.  
4. Đặc điểm cấu trúc nợ của các DN ngành  
sản xuất chế biến thực phẩm  
4.1. Cấu trúc tài sản của các DN ngành sản xuất  
chế biến thực phẩm trong giai đoạn 2007-2011  
Hình 1. Tỉ trọng đầu tư bình quân vào tài sản ngắn hạn của các DN ngành sản xuất chế biến thực phẩm  
giai đoạn 2007-2011  
Hình 2. Tỉ trọng đầu tư bình quân vào tài sản cố định của các DN ngành sản xuất chế biến thực phẩm  
giai đoạn 2007-2011  
THƯƠNG HIỆU VÀ DỊCH VỤ TẠI VN  
26  
PHAÙT TRIEÅN KINH TEÁ  
Soá 266, Thaùng Möôøi Hai naêm 2012  
các DN trong ngành đều có tỉ trọng tài sản cố định ngân hàng dài hạn. Chỉ có 12 DN có tỉ suất nợ dài  
trong tổng tài sản ở mức cao (trong khoảng từ 30%- hạn ngân hàng trên tổng tài sản bình quân cao hơn  
70%), tiêu biểu là THB với tỉ trọng tài sản cố định là giá trị trung bình, tiêu biểu là CAP 18%, MSN 19%,  
70% và CAN, CAP với tỉ trọng tài sản cố định là các DN còn lại có tỉ suất này tương đối thấp.  
60%.  
4.3. Cơ cấu nợ phải trả của các DN ngành sản  
4.2. Tỉ lệ nợ dài hạn bình quân của các DN xuất chế biến thực phẩm trong giai đoạn 2007-  
ngành sản xuất chế biến thực phẩm trong giai 2011  
đoạn 2007-2011  
Hình 3. Nợ dài hạn ngân hàng trên Nợ phải trả bình quân của các DN ngành sản xuất chế biến  
thực phẩm giai đoạn 2007-2011  
Hình 4. Nợ dài hạn ngân hàng trên Tổng tài sản bình quân của các DN ngành sản xuất chế biến  
thực phẩm giai đoạn 2007-2011  
Trong tổng số 39 DN nghiên cứu, chỉ có 13 DN Có thể thấy các DN đều sử dụng phần lớn các khoản  
có tỉ lệ Nợ dài hạn ngân hàng trên Nợ phải trả lớn vay ngắn hạn. Tỉ lệ nợ dài hạn trung bình thấp cho  
hơn 20%, tiêu biểu như SEC 59% và MSN 58%, số thấy các DN khó có thể tiếp cận được nguồn vốn vay  
DN còn lại thì Nợ dài hạn ngân hàng chiếm tỉ trọng dài hạn bởi hầu hết các ngân hàng có xu hướng cho  
nhỏ, một số DN có tỉ lệ này rất nhỏ như VNM 2% vay nợ ngắn hạn hơn dài hạn. Nguyên nhân thứ hai  
hay LAF 1%.  
là do thị trường chứng khoán VN vẫn còn nhiều bất  
ổn nên các DN vẫn còn gặp khó khăn trong việc huy  
động vốn từ bên ngoài. Do đó, các DN vẫn phải sử  
dụng chủ yếu là nguồn vốn vay ngắn hạn từ ngân  
hàng để phục vụ cho nhu cầu về tài sản lưu động hay  
hỗ trợ thanh khoản.  
Giá trị trung bình của tỉ suất nợ dài hạn ngân  
hàng trên Tổng tài sản bình quân của các DN ngành  
sản xuất chế biến thực phẩm là 9% trong đó có sự  
khác biệt khá lớn giữa các DN. Giá trị này cho thấy  
các DN trong ngành ít chịu áp lực về nợ tín dụng  
THƯƠNG HIỆU VÀ DỊCH VỤ TẠI VN  
27  
PHAÙT TRIEÅN KINH TEÁ  
Soá 266, Thaùng Möôøi Hai naêm 2012  
Hình 5. Cơ cấu nợ tín dụng bình quân của các DN ngành sản xuất chế biến thực phẩm giai đoạn 2007-2011  
(0,0560)  
5. Kết quả nghiên cứu  
X12  
Sau khi phân tích tương quan để kiểm định mối  
-0,0023  
(0,0565)  
-0,1011***  
(0,0516)  
quan hệ giữa các biến, để đánh giá mức độ ảnh  
hưởng của các nhân tố đến tỉ suất nợ dài hạn của các  
DN, cần phải lựa chọn các biến theo nguyên tắc:  
Mỗi nhân tố chỉ chọn một biến đại diện có quan hệ  
chặt chẽ nhất với tỉ suất nợ dài hạn, nếu hai biến  
trong cùng một nhân tố có tương quan chặt chẽ với tỉ  
suất nợ dài hạn thì sẽ chọn biến có quan hệ chặt chẽ  
hơn.  
Yi,t-4  
0,1161*  
(0,0284)  
0,8267***  
(0,4267)  
C
(*) hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa α =  
1%  
(**) hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa α =  
5%  
(***) hệ số hồi quy có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa α  
= 10%  
Kết quả kiểm định Hausman cho giá trị P-value =  
0,0000 < 0,05 đối với mô hình hồi quy của biến Y1  
và Y2 nên phương pháp FEM là lựa chọn phù hợp để  
thể hiện ảnh hưởng của các nhân tố đến lựa chọn nợ  
tín dụng dài hạn của các DN ngành sản xuất chế biến  
thực phẩm.  
Nợ dài hạn NH/Nợ  
phải trả  
Y1 = 0,12 + 0,27X4,t-4 + 0,47X7t  
0,01X8t - 0,27X12t  
+
Nợ dài hạn  
NH/Tổng tài sản  
Y2 = 0,83 - 0,07X3t + 0,22X7t - 0,1Y2,t-4  
Bảng 3. Tóm tắt kết quả nghiên cứu mô hình nợ dài  
hạn ngân hàng  
Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy việc sử  
dụng nợ tín dụng ngân hàng dài hạn có mối quan hệ  
tỉ lệ thuận với các nhân tố hiệu quả hoạt động kinh  
doanh, cơ cấu tài sản, khả năng thanh khoản và có  
quan hệ nghịch chiều với quy mô và rủi ro tín dụng  
của DN và không có mối quan hệ với tốc độ tăng  
trưởng tài sản và danh tiếng DN. Tỉ lệ nợ dài hạn  
ngân hàng của các DN kì này cũng chịu ảnh hưởng  
của tỉ lệ nợ dài hạn ngân hàng kì trước do vậy, cần  
thiết phải điều chỉnh để đạt được tỉ lệ nợ hợp lí.  
Y1  
Y2  
-0,0686***  
(0,0353)  
X3  
0,2740**  
(0,1369)  
0,0397  
X4,t-4  
(0,0633)  
0,4668*  
(0,0837)  
0,2224*  
(0,0440)  
X7  
0,0121**  
(0,0054)  
-0,0004  
(0,0025)  
X8  
6. Kết luận và kiến nghị đối với các DN  
ngành sản xuất chế biến thực phẩm  
0,0016  
X9  
Kết quả nghiên cứu đã làm rõ ảnh hưởng của các  
nhân tố đến việc sử dụng nợ tín dụng ngân hàng dài  
hạn của các DN ngành sản xuất chế biến thực phẩm,  
góp phần tạo tiền đề cho việc xác định tỉ lệ nợ hợp  
(0,0040)  
X11  
X12  
-0,2658*  
THƯƠNG HIỆU VÀ DỊCH VỤ TẠI VN  
28  
PHAÙT TRIEÅN KINH TEÁ  
Soá 266, Thaùng Möôøi Hai naêm 2012  
lí, trong đó cân đối giữa tỉ lệ nợ tín dụng ngắn hạn vay vốn của DN cũng chịu ảnh hưởng một phần bởi  
và dài hạn ngân hàng của DN. Tỉ lệ nợ hợp lí sẽ giúp tỉ lệ nợ kì trước đó. Trên thực tế, các cán bộ tín dụng  
DN giảm được áp lực thanh toán nợ ngắn hạn, đảm khi làm hồ sơ cho DN vay vốn luôn quan tâm đến  
bảo khả năng thanh khoản đồng thời sử dụng hiệu các khoản nợ trước đó của DN là nhiều hay ít, đã  
quả đòn cân nợ, ảnh hưởng của lá chắn thuế giúp được chi trả chưa nhằm xem xét khả năng DN có thể  
nâng cao hiệu quả kinh doanh, gia tăng giá trị DN.  
hoàn trả nợ tín dụng hay không.  
Cơ cấu tài sản, rủi ro tín dụng và hiệu quả hoạt  
Có thấy khả năng tiếp cận thông tin là một trong  
động kinh doanh là ba nhân tố có tác động mạnh mẽ những rào cản lớn nhất hiện nay đối với DN cũng  
nhất đến nợ tín dụng ngân hàng dài hạn của DN. Tài như các nhà tài trợ. Khi các ngân hàng có thể dễ  
sản cố định đóng vai trò quan trọng trong hoạt động dàng tiếp cận được những thông tin chính xác của  
sản xuất kinh doanh của DN, nó có khả năng thế DN, đặc biệt là đối với những DN nhỏ và vừa thì sẽ  
chấp cho các khoản vay, làm giảm thiệt hại cho các giúp các DN dễ dàng hơn trong việc tiếp cận cơ hội  
chủ nợ khi DN không có khả năng hoàn trả nợ tín vay vốn, giúp quyết định cho vay được thực hiện  
dụng. Mặt khác, rủi ro tín dụng được đo lường thông nhanh chóng hơn. Bên cạnh đó, Nhà nước cần mở  
qua biến đòn bẩy cho thấy hiệu quả tích cực trong rộng chính sách ưu tiên hỗ trợ về vốn và cho vay ưu  
việc tận dụng ảnh hưởng của đòn cân nợ, ảnh hưởng đãi đối với các công ty để mở rộng sản xuất kinh  
của lá chắn thuế góp phần gia tăng giá trị DN, nâng doanh. Các hệ thống ngân hàng thương mại cần tạo  
cao vị thế của DN trên thị trường. Bên cạnh đó, mục điều kiện, hỗ trợ và cải tiến các thủ tục vay cho các  
đích cuối cùng của nhà đầu tư là làm tăng giá trị tài DN có quy mô nhỏ, đẩy nhanh quá trình giải ngân,  
sản của mình thông qua việc đầu tư vào các hoạt xây dựng hệ thống khuôn khổ cơ chế, chính sách tín  
động kinh tế, tỉ suất sinh lời của tài sản càng cao cho dụng rõ ràng, đồng bộ, phù hợp với từng loại hình  
thấy triển vọng đạt được hiệu quả kinh tế càng cao, DN và hình thành nguồn vốn cho thuê tài chính  
do đó thúc đẩy các nhà quản lí tăng cường hoạt động trung và dài hạn để các DN có điều kiện mua sắm tài  
đầu tư mở rộng và phát triển DN nhằm đạt được sản cố định. Sản xuất chế biến thực phẩm là ngành  
mục tiêu tăng giá trị DN còn đối với các ngân hàng nghề đòi hỏi thiết bị công nghệ hiện đại để tạo ra sản  
thì sẽ dễ dàng cho DN vay vốn để đạt được lợi ích phẩm có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng  
kinh tế mong muốn.  
quốc dân và các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường  
xuất khẩu, do đó Nhà nước cần khuyến khích và tạo  
điều kiện ưu đãi cho các DN có thể tiếp cận với  
nguồn vốn tín dụng  
Ảnh hưởng của quy mô DN, khả năng thanh  
khoản mặc dù có ý nghĩa thống kê nhưng tác động  
khá thấp cho thấy những nhân tố này không phải là  
nhân tố quyết định ảnh hưởng đến việc ra quyết định  
tài trợ bằng nợ tín dụng của DN. Bên cạnh đó, việc  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
Báo cáo tài chính của các DN trong giai đoạn 2007-2011, đăng tải trên website: www.vietstock.vn  
Berlin, M., & J. Loeys (1988), “Bond Covenants and Delegated Monitoring”, Journal of Finance: 43, 397-412.  
Diamond, D.W. (1991), “Monitoring and Reputation: The Choice between Bank Loans and Directly Placed Debt”, Journal of  
Polotical Economy: 99, 689-721.  
Fama, E. (1985), “What’s Different About Banks?”, Journal of Monetary Economics: 15, 29-37.  
Florian Peters (2004), The Choice Between Bank Debt and Public Debt: Evidence on the Role of Anticipated Bargaining,  
Summer Research Paper.  
Johnson, S. (1997), “An Empirical Analysis of The Determinants of Corporate Debt Ownership Structure”, Journal of Financial  
and Quantitative Analysis: 32, 47-69.  
Merton, R.C. (1974), “On The Pricing of Corporate Debt: The Risk Structure of Interest Rates, The Journal of Finance: 29, 449-  
470.  
Modigliani, F. & M.H. Miller (1958), “The Cost of Capital, Corporate Finance and the Theory of Investment”, American Economic  
Review: 48, 261-297.  
Nakamura, L. (1989), Loan Workouts and Commercial Bank Information: Why Banks are Special?, Working Paper, Federal  
Reserve Bank of Philadelphia, 89-111.  
Pierre Pessarossi & Laurent Weill (2011), Choice of Corporate Debt in China: The Role of State Ownership, BOFIT Discussion  
Paper.  
THƯƠNG HIỆU VÀ DỊCH VỤ TẠI VN  
29  
pdf 8 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 15340 Free
Bạn đang xem tài liệu "Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ tín dụng ngân hàng dài hạn của các doanh nghiệp ngành sản xuất chế biến thực phẩm niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfcac_nhan_to_anh_huong_den_no_tin_dung_ngan_hang_dai_han_cua.pdf