Hướng đi cho sản phẩm tín dụng bất động sản cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP  
Tạ Thanh Huyền  
Ngày nhận: 12/03/2019  
Ngày nhận bản sửa: 23/05/2019  
Ngày duyệt đăng: 17/06/2019  
Trong nhiều năm trở lại đây, cho vay bất động sản (BĐS) luôn là mảng  
cho vay có giá trị lớn nhất của các ngân hàng với tỷ trọng khoảng  
10% tổng dư nợ (Ủy ban giám sát tài chính quốc gia- UBGSTCQG,  
2018).Cho vay BĐS, đặc biệt là đối tượng khách hàng cá nhân vẫn  
sẽ tiếp tục thu hút sự chú ý của các ngân hàng do Việt Nam một quốc  
gia có cơ cấu dân số trẻ, nhu cầu nhà ở cao. Bài viết sử dụng phương  
pháp điều tra, khảo sát qua bảng hỏi để thu thập thông tin từ phía  
khách hàng cá nhân cũng như từ phía cán bộ cung cấp sản phẩm  
tín dụng BĐS ở các ngân hàng để đánh giá khả năng đáp ứng nhu  
cầu khách hàng của các sản phẩm tín dụng BĐS hiện tại, từ đó đưa  
ra các hướng giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển sản phẩm tín  
dụng BĐS trong tương lai.  
Từ khóa: Tín dụng, bất động sản, ngân hàng thương mại  
1. Giới thiệu  
nhất. Với các ngân hàng thương mại (NHTM)  
trên thế giới, tín dụng BĐS chiếm gần 1/3  
khoản mục cho vay và chiếm 1/5 tài sản của các  
NHTM, góp phần lớn vào nguồn thu trong hoạt  
động kinh doanh của ngân hàng (Edward Wreed  
và Edward K.Gill,2005). Còn ở Việt Nam,  
nguồn vốn từ ngân hàng chiếm khoảng 70%  
cấu trúc nguồn vốn cho BĐS hiện nay (Hiệp  
hội bất động sản Việt Nam, 2016). Tuy nhiên,  
nghiên cứu củaNgân hàng Mizuho (2013) chỉ  
ra rằng Việt Nam là quốc gia có tỷ lệ dư nợ tín  
dụng BĐS/GDP và tỷ lệ tăng trưởng dư nợ cho  
vay mua nhà thấp gần nhất so với các quốc gia  
Đông Nam Á, chỉ trên Philipine, trong khi đó  
Việt Nam lại là quốc gia có một cơ cấu dân số  
hị trường bất động sản (BĐS)  
là một bộ phận quan trọng của  
nền kinh tế, liên quan trực tiếp  
tới một lượng tài sản lớn kể cả  
về quy mô, tính chất cũng như  
giá trị trong nền kinh tế quốc dân. Tỷ trọng  
BĐS trong tổng số của cải xã hội không đồng  
nhất ở các quốc gia khác nhau nhưng thường  
chiếm trên dưới 40% tổng lượng của cải vật  
chất (Michael J.Lea,2006). Để thị trường BĐS  
có thể phát triển mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy  
tăng trưởng kinh tế thì tín dụng ngân hàng là  
một trong những kênh cung cấp vốn quan trọng  
© Học viện Ngân hàng  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
Số 205- Tháng 6. 2019  
48  
ISSN 1859 - 011X  
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP  
trẻ, nhu cầu nhà ở cao. Thêm vào đó, hiệu quả  
cho vay BĐS chưa đạt được kết quả như mong  
đợi của nhiều ngân hàng do sự đa dạng hoá về  
loại hình sản phẩm trong lĩnh vực này còn hạn  
chế. Từ thực tế đó, bài viết tập trung nghiên  
cứu thực trạng sản phẩm tín dụng BĐS của các  
NHTM cổ phần để tìm ra hướng đi hợp lý cho  
nhóm sản phẩm này nhằm đáp ứng đầy đủ và  
đúng nhu cầu của các đối tượng khách hàng.  
số khách hàng tham gia điều tra 33% là cán bộ  
công chức nhà nước, 46% khách hàng là cán bộ  
công nhân viên nhưng không thuộc tổ chức nhà  
nước, 13,7% là lao động tự do và 7,3% là thuộc  
đối tượng khác. 80% khách hàng đều có nhu  
cầu mua BĐS hoặc sửa chữa nhà, trong đó nhu  
cầu mua chung cư chiếm tỷ lệ lớn.  
Hai bảng hỏi được thiết kế để thu thập thông tin  
từ cả hai phía: những người trực tiếp cung ứng  
sản phẩm tín dụng BĐS của ngân hàng là các  
cán bộ tín dụng và những người sử dụng sản  
phẩm ngân hàng, khách hàng của ngân hàng.  
Bảng hỏi dành cho cán bộ tín dụng bao gồm 34  
câu hỏi, ngoài 5 câu hỏi phần nhận diện chung,  
còn lại 29 câu khai thác ba nội dung chính:  
đánh giá tầm quan trọng của tín dụng BĐS  
trong hoạt động kinh doanh ngân hàng (5 câu);  
đánh giá sự phù hợp của sản phẩm tín dụng  
BĐS đối với khách hàng cá nhân (17 câu); ý  
tưởng xây dựng và phát triển sản phẩm tín dụng  
BĐS (7 câu). Đối với bảng hỏi dành cho khách  
hàng ngoài 4 câu về thông tin của khách hàng,  
bảng hỏi tập trung đi vào hai nội dung chính  
được tập trung khai thác, đó là đánh giá nhu cầu  
sử dụng sản phẩm tín dụng BĐS (3 câu) và mức  
độ đáp ứng của sản phẩm hiện tại với nhu cầu  
của khách hàng (16 câu). Đối với cả 2 bảng hỏi,  
70% là các câu hỏi lựa chọn với mức độ trung  
bình 5 lựa chọn cho 1 câu trả lời (1 là mức thấp  
nhất và 5 là cao nhất); và 30% là các câu hỏi  
mở nhằm khai thác tối đa thông tin, suy nghĩ và  
cảm nhận của khách hàng cũng như cán bộ tín  
dụng liên quan đến các sản phẩm tín dụng BĐS.  
2. Phương pháp nghiên cứu và mục tiêu  
nghiên cứu  
Để trả lời câu hỏi nghiên cứu “Các sản phẩm  
tín dụng BĐS cá nhân đang triển khai tại các  
NHTM Việt Nam đã phù hợp và đáp ứng được  
nhu cầu của thị trường chưa?”, từ đó đưa ra  
gợi ý cho các NHTM Việt Nam nên xây dựng  
và phát triển dòng sản phẩm tín dụng BĐS cá  
nhân như thế nào, tác giả đã thực hiện điều tra  
khảo sát 2 nhóm: cán bộ ngân hàng và khách  
hàng. 200 bảng hỏi được gửi tới cán bộ tín dụng  
ngân hàng, 138 cán bộ tín dụng gửi câu trả lời  
về trong đó có 76 cán bộ tín dụng là nam và 62  
cán bộ tín dụng là nữ. Đa phần cán bộ tín dụng  
tham gia điều tra là cán bộ tín dụng trẻ, dưới  
40 tuổi, cụ thể 58,5% cán bộ tín dụng dưới 30  
tuổi, 40,6 % cán bộ tín dụng từ 30 đến 40 tuổi,  
chỉ có 0,9% cán bộ tín dụng trên 40 tuổi. Mặc  
dù tỷ lệ cán bộ tín dụng trẻ tham gia điều tra  
lớn, song tỷ lệ cán bộ có kinh nghiệm cao, chỉ  
có 26,4% cán bộ tín dụng có dưới 2 năm kinh  
nghiệm trong khi đó 27,3% cán bộ có từ 2 năm  
đến 5 năm kinh nghiệm, 30,2% cán bộ có từ 5  
năm đến 8 năm kinh nghiệm và 16,1% cán bộ  
có trên 8 năm kinh nghiệm. Với tỷ lệ cán bộ  
tín dụng có kinh nghiệm cao tham gia điều tra  
sẽ giúp cho nghiên cứu có những đánh giá xác  
thực và nhận xét sâu sắc hơn.  
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận  
3.1. Đánh giá nhu cầu tín dụng BĐS cá nhân  
Nghiên cứu tiến hành điều tra khách hàng để có  
cái nhìn cụ thể hơn về cầu tín dụng BĐS. Kết  
quả điều tra chỉ ra rằng trong 185 khách hàng  
gửi câu trả lời về, chỉ có 16,6% khách hàng ở  
nhà tầng kiên cố, 24,3% khách hàng đang sống  
cùng với người thân (bố mẹ, anh, chị, em...),  
31% đi thuê nhà và 23,1% khách hàng ở nhà  
chung cư. Số liệu này cho thấy nhu cầu về nhà  
riêng của khách hàng rất cao. Thực tế, khi hỏi  
về nhu cầu thay đổi và sửa sang nơi ở của mình,  
Đối với khách hàng tham gia điều tra, 185  
khách hàng gửi câu trả lời về, có 57% là khách  
hàng nữ và 43% là khách hàng nam. Đa phần  
khách hàng tham gia điều tra khá trẻ, tập trung  
chủ yếu ở độ tuổi từ 18 đến 35, chiếm khoảng  
70% mẫu điều tra, 22% khách hàng có độ tuổi  
từ 26 đến 45, trên 45 tuổi chỉ chiếm 8%. Điều  
này góp phần cho thấy nhu cầu mua nhà, ổn  
định cuộc sống của người trẻ tuổi cao. Trong  
Số 205- Tháng 6. 2019  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
49  
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP  
Bảng 1.Thứ tự thị phần và thứ tự ưu tiên phát triển sản phẩm của NHTM  
Đơn vị: %  
Sản phẩm tín dụng  
Thứ tự thị phần  
Thứ tự ưu tiên phát triển của NH  
1
2
3
4
5
6
TB1  
58.1 12.2 14.9 5.4 8.1 1.3 2.0 58.1 12.1 9.5 10.8 9.5  
1
2
3
4
5
6
0
TB  
Vay mua nhà dự án  
2.0  
Vay mua nhà ở xã hội  
2.7 1.4 4.1 10.8 12.2 68.8 5.3 4.1 10.8 17.6 21.6 37.8 8.1 3.3  
1.4 5.4 23 31.2 20.3 18.7 4,2 1.4 8.1 25.7 39.2 24.3 1.3 3.8  
Vay mua nhà cán bộ  
viên chức  
Vay xây/sửa nhà  
Vay mua nhà, đất  
Vay khác  
17.6 24.3 25.7 18.9 9.5  
17.6 31.1 21.6 2.7 20.3 6.5 3.0 24.3 37.6 15.8 5.4 12.2 4.7 2.6  
2.6 25.6 10.7 31 29.6 0.7 3.6 7.8 8.1 84.1 5.8  
Nguồn: Tổng hợp kết quả khảo sát các NHTM cổ phần trên địa bàn Hà Nội, tháng 01/2018  
4
2.9 12.1 31.4 31.4 15.2 8.1 1.8 2.8  
0
0
0
1 Cách tính trung bình:  
Thị phần trung bình cho vay mua nhà dự án = 58.1%*1 + 12.2%*2 + 14.9%*3 + 5.4%*4 + 8.1%*5 + 1.3%*6 = 2.0  
Biểu đồ 1. Thị phần các sản phẩm tín dụng  
Trong nhóm sản phẩm tín dụng BĐS cá nhân,  
hầu hết các ngân hàng cung cấp 5 loại sản  
phẩm: vay mua nhà dự án, vay mua nhà ở xã  
hội, vay mua nhà cán bộ viên chức, vay xây/sửa  
nhà và vay mua nhà đất. Trong các sản phẩm  
này, vay mua nhà dự án được 58,1% cán bộ tín  
dụng đánh giá có tỷ trọng thị phần cao nhất,  
tiếp đến là cho vay xây sửa nhà và vay mua  
nhà, đất. Tại vị trí thị phần thứ 2 và thứ 3 mua  
nhà đất và vay xây/sửa nhà có tỷ trọng đánh giá  
cao nhất, tiếp đến là cho vay mua nhà dự án.  
Bảng 1 cho thấy rõ vay mua nhà dự án được  
đánh giá có thị phần cao nhất tại các ngân hàng  
và đây cũng là sản phẩm được các ngân hàng  
ưu tiên phát triển so với các loại hình sản phẩm  
tín dụng BĐS khác. Vị trí thị phần cụ thể được  
thể hiện qua Biểu đồ 1.  
BĐS cá nhân  
Vay mua  
nhà dự án  
Vay  
mua  
nhà ở  
xã hội  
Vay  
khác  
Vay  
mua  
nhà cán  
bộ viên  
chức  
Vay  
mua  
nhà đất  
Vay xây/sửa  
Kết quả thu nhận được cho thấy nhà dự án hiện  
đang có vị trí thị phần lớn nhất trong số các sản  
phẩm tín dụng BĐS với vị trí trung bình 2.0,  
tiếp đến là các sản phẩm vay xây, sửa nhà, vay  
mua đất, vay mua nhà cán bộ viên chức và vay  
mua nhà ở xã hội với vị trí trung bình tương  
ứng là 2.9, 3.0, 4.2 và 5.3. Xu hướng này một  
lần nữa được khẳng định khi tiến hành điều  
tra khách hàng, ở vị trí ưu tiên số 1, có 65/185  
khách hàng (chiếm 35% tổng số khách hàng  
được hỏi) quan tâm đến sản phẩm vay mua nhà  
dự án, đây là tỷ lệ cao nhất.  
nhà  
Nguồn: Kết quả khảo sát các NHTM cổ phần trên  
địa bàn thành phố Hà Nội, tháng 01/2018  
có tới 57,4% có nhu cầu mua nhà chung cư  
hoặc nhà xây sẵn, 8,9% khách hàng có nhu cầu  
mua đất và 4,7% khách hàng có nhu cầu đầu  
tư BĐS. Những con số này đã khẳng định tiềm  
năng to lớn của thị trường này.  
Thực tế cho thấy nhu cầu mua nhà ở tại thị  
trường Hà Nội rất lớn, song việc phân khúc sản  
Số 205- Tháng 6. 2019  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
50  
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP  
phẩm của các doanh nghiệp BĐS chưa phù hợp,  
họ tập trung nhiều vào sản phẩm ở phân khúc  
trung và cao cấp vì những phân khúc này mang  
lại mức lợi nhuận lớn hơn, trong khí đó tại phân  
khúc thấp khách hàng có nhu cầu cao nhưng  
sản phẩm lại hạn chế. Mặt khác, ngay tại những  
phân khúc này, nguồn tài chính vẫn là một cản  
trở lớn với khách hàng bởi thu nhập hạn chế  
của họ, vì vậy nhu cầu vay vốn mua nhà của  
khách hàng tại nhóm này vẫn còn rất lớn. Khi  
đánh giá mức độ phát triển của sản phẩm tín  
dụng BĐS cá nhân, 90,5% cán bộ tín dụng được  
hỏi cho rằng tín dụng BĐS cá nhân sẽ phát triển  
hoặc rất phát triển, chỉ có 8,1% cho rằng nhóm  
sản phẩm này phát triển chậm và 1,4% cho rằng  
nhóm sản phẩm này có thể suy thoái. 77,3%  
tổng cán bộ tín dụng tham gia điều tra cho biết  
sản phẩm tín dụng BĐS cá nhân là sản phẩm ưu  
tiên phát triển tại NH của họ.  
- Đánh giá tính đa dạng của sản phẩm: 72,7%  
khách hàng cho rằng sản phẩm ngân hàng đa  
dạng và rất đa dạng, còn 27,3% còn lại đánh giá  
sản phẩm vẫn còn nghèo nàn. Như đã đề cập ở  
phần trên, sản phẩm tín dụng BĐS ngân hàng  
tập trung chủ yếu vào 5 sản phẩm là: cho vay  
mua nhà dự án, cho vay mua nhà ở xã hội, cho  
vay mua nhà cán bộ viên chức, vay xây/sửa nhà  
và vay mua nhà đất. Trong 5 sản phẩm này, chỉ  
có 3 sản phẩm được khách hàng chú ý đó là vay  
mua nhà dự án, vay mua nhà đất và vay xây/  
sửa nhà, còn cho vay mua nhà ở xã hội và vay  
mua nhà cán bộ viên chức chưa thực sự thu hút  
khách hàng.  
- Đánh giá tính hữu ích của sản phẩm: 94,8%  
khách hàng được hỏi đều thừa nhận sự cần thiết  
và tính hữu ích của sản phẩm này. Họ cho rằng  
đây là sản phẩm cần thiết cho xã hội, và với  
một xã hội văn minh, phát triển, nhu cầu nhà  
ở cá nhân tăng cao không chỉ về mặt số lượng  
mà cả về chất lượng sẽ khiến nhiều khách  
hàng quan tâm tới nhóm sản phẩm này hơn và  
thúc đẩy nhóm sản phẩm này phát triển. Nhiều  
khách hàng còn nhấn mạnh rằng, với những gia  
đình trẻ, việc có đủ số tiền lớn mua nhà là điều  
vô cùng khó khăn, tuy nhiên với giải pháp sử  
dụng sản phẩm tín dụng BĐS của ngân hàng,  
họ có thể “mơ” đến ngôi nhà của riêng mình và  
đó cũng chính là động lực để họ làm việc và tiết  
kiệm. Tại các nước phát triển, sự biến động của  
thị trường BĐS vô cùng nhạy cảm với sản phẩm  
tín dụng BĐS ngân hàng và sản phẩm này là  
người bạn đồng hành của hầu hết mọi gia đình.  
Việc phân tích kết quả điều tra ở trên cho thấy  
phần lớn khách hàng tham gia điều tra đều ghi  
nhận sự cần thiết, tính hữu ích của sản phẩm tín  
dụng BĐS, tỷ lệ đánh giá sự phù hợp cũng như  
tính đa dạng của sản phẩm cao, tuy nhiên hơn  
30% khách hàng trả lời phỏng vấn vẫn mong  
muốn sản phẩm cần được cải thiện hơn để đáp  
ứng nhu cầu của họ tốt hơn. Vậy, cụ thể khách  
hàng mong muốn được cải thiện như thế nào,  
phần tiếp theo được dành để phân tích những  
đánh giá của khách hàng về các đặc tính của  
sản phẩm tín dụng BĐS ngân hàng.  
3.2. Đánh giá sự phù hợp của sản phẩm tín  
dụng BĐS cá nhân  
Để đánh giá mức độ phù hợp của sản phẩm  
tín dụng BĐS cá nhân, nghiên cứu dựa trên  
đánh giá của khách hàng và cán bộ tín dụng  
trên hai cấp độ: Đánh giá tổng quát sự hài lòng  
của khách hàng, tiếp đến nghiên cứu sẽ tiến  
hành phân tích sự phù hợp của các đặc tính sản  
phẩm.  
Đánh giá sự hài lòng của sản phẩm với nhu cầu  
của khách hàng  
Nghiên cứu xem xét đánh giá của khách hàng  
thông qua các các câu hỏi về: Sự phù hợp của  
sản phẩm với nhu cầu khách hàng, tính đa dạng  
của sản phẩm, tính hữu ích của sản phẩm  
- Đánh giá sự phù hợp của sản phẩm đối với  
nhu cầu khách hàng, 61% khách hàng cho rằng  
sản phẩm ngân hàng đáp ứng được nhu cầu của  
khách hàng, 33,8% khách hàng cho rằng sản  
phẩm chỉ đáp được phần ít nhu cầu của họ và  
5,2% khách hàng cho rằng sản phẩm hoàn toàn  
chưa đáp ứng được nhu cầu. Từ số liệu trên ta  
thấy 1/3 khách hàng nhận thấy sản phẩm tín  
dụng BĐS của ngân hàng chưa thực sự đáp ứng  
được nhu cầu của họ, đây là một tỷ lệ tương đối  
cao, đòi hỏi ngân hàng cần xem xét để cải thiện  
tỷ lệ này.  
Đánh giá sự phù hợp của các đặc tính sản phẩm  
Để đánh giá khả năng đáp ứng của các sản  
phẩm tín dụng BĐS hiện tại, nghiên cứu dựa  
Số 205- Tháng 6. 2019  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
51  
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP  
Biểu đồ 2. Đánh giá của khách hàng về sự phù hợp của đặc tính sản phẩm tín dụng BĐS  
Nguồn: Kết quả khảo sát khách hàng, tháng 01/2018  
trên đánh giá của khách hàng đối với một số  
đặc điểm chính nổi bật của sản phẩm tín dụng.  
Kết quả cụ thể được thể hiện tại Biểu đồ 2.  
Kết quả khảo sát cho thấy trên 50% khách hàng  
đều cho rằng thời hạn khoản vay phù hợp, quy  
mô khoản vay hợp lý, đáp ứng được nhu cầu  
của khách hàng; về yêu cầu tải sản đảm bảo  
cũng như mức thu nhập tối thiểu cần có của  
khách hàng đều ở mức hợp lý, không quá cao;  
việc tiếp cận thông tin cũng như thời gian phê  
duyệt hồ sơ phù hợp. Nếu chúng ta chỉ nhìn vào  
đoạn 1 (màu ghi đậm), chúng ta thấy những dấu  
hiệu lạc quan, những con số đầy tích cực khi  
đánh giá đặc tính của sản phẩm tín dụng BĐS  
ngân hàng, nó cho thấy ngân hàng và khách  
hàng đang gần nhau hơn. Tuy nhiên, khi chúng  
ta nhìn vào đoạn 2 (màu ghi nhạt) thể hiện tỷ lệ  
% mức độ không phù hợp ít của từng đặc tính  
sản phẩm với nhu cầu của khách hàng, chúng  
ta thấy tỷ lệ này cũng không phải ở mức khiêm  
tốn, điển hình là thủ tục vay vốn. Cụ thể, tỷ lệ  
khách hàng đánh giá ở mức độ đơn giản của thủ  
tục vay vốn là rất thấp, chỉ có 13% khách hàng  
cho rằng hiện nay thủ tục vay vốn của ngân  
hàng là đơn giản, trong khi đó có tới 54,5%  
khách hàng nói thủ tục vay vốn của ngân hàng  
còn phức tạp và 32,5% đánh giá thủ tục vay vốn  
quá phức tạp. Vấn đề này đã được đề cập trong  
nhiều báo cáo cũng như trong các buổi hội thảo  
giữa ngân hàng và khách hàng, tuy nhiên dường  
như sự cải tiến vẫn còn chậm và nó trở thành  
một rào cản đối với việc tiếp cận tín dụng ngân  
hàng nói chung và tín dụng BĐS của khách  
hàng cá nhân nói riêng. Một số khách hàng chỉ  
rõ số lượng giấy tờ phải điền và nộp cho ngân  
hàng quá nhiều, đặc biệt các giấy tờ liên quan  
đến tài sản thế chấp và chứng minh nguồn thu  
nhập. Có tới 40,3% khách hàng cho rằng thời  
gian phê duyệt hồ sơ còn dài so với mong đợi  
của họ. Đối với tài sản đảm bảo và yêu cầu về  
mức thu nhập của khách hàng, 39% khách hàng  
cho rằng các yêu cầu này cao so với khả năng  
của họ, vì vậy mặc dù có nhu cầu song việc tiếp  
cận được các khoản vay không hề dễ. Thực tế,  
tài sản đảm bảo và thu nhập của khách hàng  
là hai chỉ tiêu chính và quan trọng, ảnh hưởng  
trực tiếp đến quyết định tín dụng của cán bộ tín  
dụng, song khả năng đáp ứng của khách hàng  
với hai chỉ tiêu này còn khiêm tốn. Đối với thời  
hạn khoản vay, 30% khách hàng mong muốn  
thời hạn khoản vay được kéo dài hơn. Về quy  
mô khoản vay và việc tiếp cận thông tin sản  
phẩm, 23,4 % đánh giá cần cải thiện. Đoạn 3  
(màu đen) thể hiện mức độ không phù hợp lớn  
Số 205- Tháng 6. 2019  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
52  
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP  
của đặc tính sản phẩm với nhu cầu khách hàng,  
nhìn chung tại cột này tỷ lệ tương đối thấp.  
Để đánh giá chính xác và cụ thể hơn khả năng  
đáp ứng nhu cầu khách hàng của các sản phẩm  
tín dụng bất động sản hiện tại, nghiên cứu đã  
tiến hành điều tra đánh giá của khách hàng về  
ưu, nhược điểm cũng như những mong muốn  
cần cải tiến sản phẩm của khách hàng thông qua  
các câu hỏi mở. Những ưu điểm nổi bật cuả sản  
phẩm được khách hàng nhấn mạnh có thể  
kể đến:  
ngân hàng còn ít, chưa phân khúc rõ được các  
nhóm khách hàng mà chỉ mới cung cấp các sản  
phẩm theo các dự án. Vì vậy, ngân hàng cần  
thiết kế các sản phẩm phù hợp với các phân  
khúc khách hàng và nhiều đối tượng khách  
hàng hơn. Đặc biệt đối với khách hàng có mức  
thu nhập trung bình, thấp, việc tiếp cận tín dụng  
BĐS rất thấp. Hiện nay một số ngân hàng tiến  
hành liên kết với một số dự án nên sản phẩm tín  
dụng BĐS của ngân hàng đó chỉ phục vụ cho  
các dự án đó, trong khi đó nhu cầu của khách  
hàng là đa dạng.  
- Giải ngân nhanh;  
- Lãi suất và phương thức trả nợ linh hoạt;  
- Cán bộ tín dụng nhiệt tình cung cấp thông tin  
đầy đủ;  
- Việc định giá tài sản đảm bảo thấp để nâng  
cao an toàn cho ngân hàng, song nó lại tăng  
thêm rào cản đối với việc tiếp cận tín dụng BĐS  
của khách hàng.  
- Hỗ trợ vay cao;  
- Giúp cho khách hàng có cơ hội mua được nhà.  
Bên cạnh đó khách hàng cũng chỉ rõ những  
nhược điểm, điểm chưa hài lòng khi sử dụng  
sản phẩm như thủ tục còn phức tạp; thời gian  
phê duyệt hồ sơ lâu; lãi suất còn cao. Ba yếu  
tố này cũng là những yếu tố khách hàng mong  
muốn ngân hàng cải thiện để họ có thể dễ dàng  
tiếp cận sản phẩm hơn. Ngoài ra khách hàng  
cũng nhấn mạnh việc mở rộng danh mục các  
tài sản đảm bảo, đặc biệt đối với việc mua nhà  
dự án nếu không có cam kết 3 bên, khách hàng  
không thể vay được bởi thiếu tài sản thế chấp.  
Bên cạnh đó, khi được hỏi cán bộ tín dụng  
những điểm chưa phù hợp của sản phẩm tín  
dụng BĐS mà ngân hàng họ cung cấp, ngoài  
những vấn đề khách hàng đã đề cập cán bộ tín  
dụng cũng nêu lên một số điểm ngân hàng cần  
cải thiện:  
- Đối với việc vay vốn sửa chữa nhà cửa, một  
số ngân hàng yêu cầu chứng minh chi phí, mục  
đích sử dụng vốn bằng việc nộp hoá đơn tài  
chính, song điều này là một khó khăn đối với  
khách hàng, làm tăng chi phí cũng như thủ tục,  
thời gian.  
- Ngoài những hạn chế liên quan trực tiếp đến  
sản phẩm, cán bộ tín dụng cũng nhấn mạnh việc  
truyền thông sản phẩm tới khách hàng để khách  
hàng nắm được tiện ích cũng như điều kiện để  
tiếp cận được sản phẩm và nâng cao việc nhận  
diện thương hiệu sản phẩm của ngân hàng.  
Những phân tích trên cho thấy đánh giá, nhìn  
nhận của khách hàng cũng như của ngân hàng  
về sản phẩm tín dụng BĐS hiện tại. Bên cạnh  
những ưu điểm của sản phẩm được khách hàng  
nhìn nhận thì vẫn còn những điểm cần cải tiến  
để đáp ứng nhu cầu của khách hàng tốt hơn.  
(xem tiếp kỳ sau)  
- Hiện tại sản phẩm tín dụng BĐS cá nhân của  
Tài liệu tham khảo  
hinh-thi-truong-bat-dong-san-nam-2018-va-kien-nghi-cac-giai-phap-de-thi-truong-phat-trien-minh-bach-on-dinh-lanh-manh-  
ben-vung.html).  
ungtinhhinhthuchien?categoryId=100003729&articleId=10059512).  
3. Công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt (2018), Có nên dãn lộ trình siết tín dụng bất động sản, Tài liệu nội bộ.  
4. Edward W.Reed Ph.D, Edward K. Gill Ph.D (2005), Commercial bank, Statistical publisher  
5. Hiệp hội bất động sản Việt Nam (VnRea2016), Báo cáo tình hình thị trường bất động sản 6 tháng đầu năm 2016  
6. Hoàng Văn Cường (2014), Quy luật giá cả đầu tư và dự báo thị trường BĐS, kỷ yếu hội thảo “Kinh doanh BĐS- Cơ hội và  
Số 205- Tháng 6. 2019  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
53  
QUẢN TRỊ NGÂN HÀNG & DOANH NGHIỆP  
thách thức trong bối cảnh thị trường có dấu hiệu phục hồi”, Đại học Kinh tế quốc dân 2014.  
7. Michael J.Lea (2006), Secondary mortgage markets: International perpective, page 34.  
8. Mizuho (2013), Research into mortgage market in Vietnam.  
9. Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (2018), Báo cáo về tình hình tăng trưởng dư nợ tín dụng 2018 (nfsc.gov.vn).  
Thông tin tác giả  
Tạ Thanh Huyền, Thạc sĩ  
Học viện Ngân hàng  
Email: huyentt@hvnh.edu.vn  
Summary  
The direction for real estate credit products in Vietnamese commercial banks  
In recent years, real estate lending has always been the most valuable lending segment of banks with the  
proportion of about 10% of total outstanding loans (National Financial Supervisory Committee, 2018). Real estate  
lending, especially for individual customers will continue to attract the attention of banks because Vietnam has a  
young population structure and high housing demand. The article focuses on collecting information from individual  
customers as well as bank staff to assess the ability to meet customer needs of current real estate credit products.  
At the same time, it also offers solutions to improve and develop real estate credit products in the future.  
Key words: credit, real estate lending, commercial banks  
Huyen Thanh Ta, M.Ec.  
Banking Academy of Viet Nam  
tiếp theo trang 30  
các nhà quản lý, giữa doanh nghiệp với các  
đối tượng bên ngoài như nhà cung cấp, các tổ  
chức tín dụng, kiểm toán độc lập, cơ quan quản  
lý nhà nước, khách hàng, đặc biệt là thiết lập  
các đường dây nóng để báo cáo các hành vi bất  
thường.  
nghi xảy ra tại thời điểm cuối năm, hoặc các  
giao dịch xảy ra cuối năm trước và bị ghi đảo  
vào đầu năm sau, từ đó cho phép ban quản lý và  
kiểm toán viên xác định và báo cáo các hành vi  
gian lận nhanh chóng hơn.  
Kiểm soát hành vi gian lận có vai trò không  
thể phủ nhận ở mọi doanh nghiệp Vì vậy, mọi  
doanh nghiệp cần nhận thức được vấn đề này và  
không ngừng cải thiện hệ thống kiểm soát nội  
bộ của mình nhằm đảm bảo an toàn, hiệu quả  
hoạt động của mình ■  
Các hoạt động kiểm soát cần chú trọng rà soát  
các bên thứ ba và giao dịch với các bên liên  
quan nhằm ngăn ngừa gian lận, đặc biệt là các  
bên liên quan do thành viên ban giám đốc hoặc  
các nhà quản lý kiểm soát, vì các cá nhân này  
có thể thực hiện các giao dịch đem lại lợi ích  
cho họ và gây thiệt hại cho doanh nghiệp.  
Bên cạnh các hoạt động kiểm soát truyền thống,  
các doanh nghiệp lớn có thể áp dụng các kỹ  
thuật phân tích dữ liệu, kỹ thuật kiểm toán liên  
tục (continuous auditing) để phát hiện hành vi  
gian lận (IIA, AICPA & ACFE, 2016). Các kỹ  
thuật phân tích dữ liệu có thể giúp phát hiện các  
số liệu, xu hướng bất thường trong một tập dữ  
liệu lớn. Người sử dụng có thể đào sâu số liệu  
trong các bút toán để xác định các giao dịch khả  
Số 205- Tháng 6. 2019  
Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng  
54  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 19300 Free
Bạn đang xem tài liệu "Hướng đi cho sản phẩm tín dụng bất động sản cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfhuong_di_cho_san_pham_tin_dung_bat_dong_san_ca_nhan_tai_cac.pdf