Đặc điểm tình hình di dân đến Lâm Đồng từ năm 1975 đến năm 1995

KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018  
ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH DI DÂN ĐẾN LÂM ĐỒNG  
TỪ NĂM 1975 ĐẾN NĂM 1995  
Nguyễn Thị Hà Gianga*  
aKhoa Lịch sử, Trường Đại học Đà Lạt, Lâm Đồng, Việt Nam  
*Tác giả liên hệ: Email: [email protected]  
Tóm tắt  
Sau ngày miền Nam giải phóng, cùng với chủ trương phân bổ lực lượng lao động từ những  
vùng đông dân đến Tây Nguyên, Lâm Đồng đã thu hút một số lượng lớn cư dân từ nơi khác  
đến sinh sống và làm việc. Từ năm 1975 đến năm 1995, do nhu cầu của cuộc sống, dân di cư  
vào Tây Nguyên và Lâm Đồng tăng mạnh. Dân nhập cư là thành phần cơ bản của cộng đồng  
cư dân tỉnh Lâm Đồng. Mục tiêu của bài viết là khái quát tình hình di dân đến Lâm Đồng  
qua hai giai đoạn 1975 – 1985, 1986 – 1995. Để đạt được mục tiêu đề ra, phương pháp  
nghiên cứu định tính được thực hiện dựa trên cơ sở các nguồn tài liệu lưu trữ về Lâm Đồng.  
Từ khóa: Di dân; di dân tự do; Lâm Đồng.  
256  
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018  
THE CHARACTERISTICS OF MIGRATION TO LAM DONG  
PROVINCE FROM 1975 TỔ CHỨC 1995  
Nguyen Thi Ha Gianga*  
aFaculty of History, Dalat University, Lamdong, Vietnam  
*Corresponding author: Email: [email protected]  
Abstract  
After the liberation in the South of Vietnam, together with the policy of distributing labor  
force from the populous areas to the Central Highlands, Lamdong province has attracted  
many residents from other places to live and work. From 1975 to 1995 due to the needs of  
life, the migrants to the Central Highlands and Lamdong province has been a sharp increase.  
The immigrants are basic components of Lamdong community. The objective of the article is  
to generalize the situation of migration to Lamdong through two periods: 1976 – 1985, 1986  
– 1995. To achieve this goal, the qualitative research methodology was implemented on the  
basis of Lamdong archives.  
Keywords: migration, free migration, Lamdong.  
257  
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018  
1.  
ĐẶT VẤN ĐỀ  
Lâm Đồng là một tỉnh nằm phía Nam Tây Nguyên có vị trí chiến lược vô cùng  
quan trọng cả chính trị, quân sự và kinh tế. Từ sau ngày miền Nam giải phóng, đất nước  
thống nhất, với chính sách phát triển kinh tế - xã hội, Đảng và Nhà nước chủ trương đưa  
một bộ phận dân cư ở các tỉnh đồng bằng đông dân vào Tây Nguyên, trong đó có Lâm  
Đồng để hướng tới mục tiêu phân bổ lại lực lượng lao động trong cả nước và phát triển  
kinh tế - xã hội của địa bàn chiến lược này. Điều này đã làm dân số Lâm Đồng tăng nhanh  
và kinh tế, xã hội Lâm Đồng có những thay đổi quan trọng.  
Từ năm 1975 đến những năm cuối của thế kỷ XX, do nhu cầu của cuộc sống, các  
luồng di dân, đặc biệt là di dân tự do vào Tây Nguyên và Lâm Đồng tăng mạnh. Quá trình  
gia nhập cộng đồng dân cư của các luồng di dân tự do đã trở thành một đặc trưng trong  
quá trình phát triển của tỉnh Lâm Đồng. Việc di dân một cách ồ ạt này đã tác động cả tích  
cực lẫn tiêu cực đến tình hình chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa Lâm Đồng.  
2.  
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU  
Lý thuyết về di dân  
2.1.  
Di cư và di dân là hiện tượng phổ biến trên thế giới, gắn liền với quá trình phát  
triển không đồng đều giữa các vùng, miền, quốc gia. Di dân gồm hai loại hình: di dân  
theo kế hoạch và di dân tự do. Di dân tự do được hiểu là sự di chuyển địa bàn cư trú của  
cá nhân hay một nhóm người không theo kế hoạch của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm  
quyền.  
Ngày nay, đã có nhiều các lý thuyết nghiên cứu về hiện tượng di dân. Để thực  
hiện bài viết, chúng tôi sử dụng lý thuyết lực hút và lực đẩy của Everett. S. Lee làm cơ sở  
lý thuyết cho nghiên cứu tình hình di dân tự do đến Lâm Đồng. Có nhiều yếu tố tác động  
dẫn đến sự di chuyển của dân cư như khí hậu, địa hình, đất đai, tài nguyên… Sự thuận lợi  
hay khó khăn của các yếu tố này ở các vùng sẽ tạo nên “lực hút” hay “lực đẩy” của mỗi  
vùng mà có ảnh hưởng tới sự chuyển đến hay ra đi của dân cư. Lý thuyết lực hút và lực  
đẩy đã đưa ra quy luật chung của di dân là dân cư sẽ di chuyển từ nơi có đời sống thấp  
đến nơi có đời sống cao hơn, từ vùng có điều kiện tự nhiên kém thuận lợi đến vùng có  
điều kiện tự nhiên thuận lợi hơn.  
2.2.  
Tình hình nghiên cứu về di dân ở Lâm Đồng  
Vùng đất Lâm Đồng thực sự được biết đến và xây dựng cùng với những chuyến  
khảo sát của người Pháp từ cuối thế kỷ XX. Với các dự án xây dựng Đà Lạt – Lâm Đồng  
thành thành phố nghỉ dưỡng, đã thu hút được nhiều luồng di dân từ mọi miền tổ quốc đến  
Lâm Đồng sinh sống. Thành phần di dân giai đoạn này chủ yếu là người Kinh. Luồng di  
dân khác, trong đó có thành phần là các tộc người Thái, Mường, Hmông, Tày, Nùng…  
chỉ bắt đầu di cư đến vùng đất này từ sau 1954, đặc biệt nhiều hơn từ năm 1976.  
258  
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018  
Vấn đề di dân đến Lâm Đồng được nhắc tới trong công trình nghiên cứu Những  
vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng do Mạc Đường chủ biên (1983). Trong cuốn này, tác giả đã  
đề cập tới cuộc di dân của các dân tộc ở trung du miền núi phía Bắc vào Lâm Đồng sau  
Hiệp định Geneve năm 1954.  
Cuốn Những kết quả nghiên cứu kinh tế - xã hội Lâm Đồng của Ủy ban Khoa học  
Xã hội Việt Nam phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng (1989) đã đề cập đến  
nhiều vấn đề của lĩnh vực kinh tế và xã hội của tỉnh theo Chương trình 48C. Trong đó,  
vấn đề di dân đã được trình bày dưới dạng một kết quả nghiên cứu về việc tiếp nhận dân  
di cư và phân bố lao động – dân cư phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế của địa phương.  
Cuốn Địa chí Lâm Đồng của Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, trong phần dân cư  
– xã hội, đã đề cập đến nguồn gốc người Kinh và những dân tộc thiểu số phía Bắc di cư  
vào đây gồm các dân tộc chính là Nùng, Tày, Thổ, Thái, Mường. Tuy nhiên, phần đề cập  
này chỉ mang tính chất khái quát.  
Đáng chú ý trong lĩnh vực nghiên cứu di dân ở Lâm Đồng nói riêng và Tây  
Nguyên nói chung, đặc biệt là di dân là dân tộc thiểu số có cuốn Di cư của người dân tộc  
thiểu số đến Tây Nguyên từ năm 1975 đến năm 2015 của Nguyễn Duy Thụy xuất bản tại  
Nxb. Khoa học xã hội năm 2016. Đề tài đã tìm hiểu thực trạng di dân của người dân tộc  
thiểu số đến Tây Nguyên từ năm 1975 đến năm 2015, đồng thời đề cập đến vai trò của  
cộng đồng di cư đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của Tây nguyên cũng như những hệ  
lụy của di dân tự do đới với Tây Nguyên và đề xuất những giải pháp giúp việc hoạch định  
chính sách về di dân theo hướng phát triển bền vững.  
Vấn đề di cư của các dân tộc thiểu số đến Lâm Đồng cũng được tác giả Ngô Xuân  
Trường đề cập đến trong Luận án Tiến sĩ ngành Lịch sử “Đảng bộ Lâm Đồng lãnh đạo  
thực hiện chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số (1975 – 1995)” bảo  
vệ năm 2000 tại Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Trong luận án, tác giả đã  
trình bày về vấn đề di cư của các đồng bào dân tộc thiểu số phía Bắc đến Lâm Đồng như  
là một bộ phận của chính sách phát triển kinh tế - xã hội vùng dân tộc thiểu số cũng như  
hiệu quả của chính sách này đối với bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số di cư của Đảng bộ  
Lâm Đồng trong giai đoạn 1975 – 1995.  
Như vậy, chưa có một công trình nào đề cập một cách đầy đủ đến di cư tự do qua  
các mốc thời gian cũng như tác động tích cực và tiêu cực của vấn đề di cư tự do đến nơi  
nhập cư cụ thể là tỉnh Lâm Đồng. Đây là một vấn đề còn thiếu sót đòi hỏi phải được  
nghiên cứu, luận giải một cách thỏa đáng. Nhưng những nghiên cứu của các tác giả trong  
và ngoài nước về các vấn đề nêu trên là tài liệu tham khảo quan trọng cho việc nghiên  
cứu đề tài.  
259  
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018  
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
3.  
Trong bài viết này, để đạt được mục tiêu đặt ra, chúng tôi sử dụng phương pháp  
nghiên cứu lịch sử và logic trên cơ sở các tài liệu được lưu trữ tại trung tâm lưu trữ Quốc  
gia IV, Chi cục văn thư lưu trữ thuộc sở Nội vụ tỉnh Lâm Đồng, cục Thống kê tỉnh Lâm  
Đồng. Những hồ sơ và tài liệu gốc đó là cơ sở quan trọng để đề tài phác họa bức tranh  
toàn cảnh tình hình di cư tự do ở Lâm Đồng qua giai đoạn lịch sử từ năm 1975 đến năm  
1995. Đây là cơ sở quan trọng trong việc rút ra những đặc trưng của của luồng di dân tự  
do đến Lâm Đồng qua mỗi thời kỳ.  
4.  
KẾT QUẢ  
4.1.  
Khái quát tình hình di dân ở Lâm Đồng trước năm 1975  
Lâm Đồng là một vùng đất trẻ được hình thành và phát triển vào cuối thế kỷ XIX  
– đầu thế kỷ XX cùng với kế hoạch xây dựng thành phố Đà Lạt của người Pháp. Bắt đầu  
từ đây, Lâm Đồng trở thành nơi quy tụ của các luồng di dân thuộc các địa phương khác  
nhau trong cả nước đến lập nghiệp trong nhiều hoàn cảnh và thời điểm lịch sử khác nhau.  
Đợt di dân lớn thứ nhất bắt đầu khi Toàn quyền Pháp có chủ trương xây dựng Đà  
Lạt làm đô thị nghỉ dưỡng và thành lập đơn vị hành chính tỉnh Đồng Nai Thượng (1899)  
đến trước năm 1945. Thành phần chủ yếu của luồng di dân này là người Kinh nhằm đáp  
ứng nhu cầu lao động cho công việc kiến thiết, xây dựng cơ sở hạ tầng, khai khẩn các đồn  
điền trồng chè, rau hoa phục vụ tại chỗ và bán ra thị trường. Một bộ phận lớn của di dân  
trong đợt này là cư dân các tỉnh Nghệ Tĩnh, Hà Đông với hình thức di chuyển do nhà  
nước tổ chức. Còn lại chủ yếu là người lao động có nguồn gốc từ các tỉnh miền Trung  
vào tìm kiếm cơ hội việc làm, lúc đầu mang tính thời vụ, sau là định cư lập nghiệp lâu dài  
ở Lâm Đồng. Vùng tập trung người Kinh ở Lâm Đồng đến năm 1945 là vùng Đà Lạt-  
Dran (Đơn Dương). Ngoài ra, còn rải rác ở Bảo Lộc, Di Linh ven quốc lộ 20, ven quốc  
lộ 18 đi Đắk Lắk (La Bá, Phú Sơn,... Từ năm 1945 - 1954, luồng di dân đến Lâm Đồng  
bị hạn chế.  
Từ năm 1954 đến 1975 là đợt di dân lớn thứ hai. Trong những năm đầu của giai  
đoạn này, một đợt di dân diễn ra ồ ạt, chủ yếu là người có nguồn gốc ở các tỉnh phía Bắc  
như: Nam Định, Thanh Hóa, Cao Bằng, Lạng Sơn,... được chính quyền Việt Nam cộng  
hòa tổ chức di dân tập thể. Phần lớn trong số đó là tín đồ Thiên chúa giáo và gia đình  
quân nhân. Ở Lâm Đồng, họ đến ở những địa bàn được chuẩn bị trước. Chính vì vậy, đã  
hình thành nên những vùng tập trung người Kinh mới, như Thanh Bình (Đức Trọng), Kim  
Phát (Bảo Lộc) và vùng người dân tộc miền núi phía Bắc ở Đức Trọng (Nam Sơn, Tùng  
Nghĩa). Trong các năm tiếp theo, do nhu cầu khai thác gỗ cơ giới qui mô lớn, khai hoang  
mở vùng mới trồng chè, cà phê đi đôi với mở đường, xây dựng cơ sở nghỉ dưỡng, các cơ  
sở hạ tầng khác... đã tạo ra lực hút mạnh lao động khắp miền Nam. Di dân đến Lâm Đồng  
trong giai đoạn này là di dân tự do, chủ yếu là cư dân ven biển miền Trung từ vĩ tuyến  
17 trở vào.  
260  
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018  
Như vậy, từ khi Lâm Đồng được người Pháp đặt vấn đề khai thác vào cuối thế kỷ  
XIX, các luồng di dân tự do đã đến vùng đất này trong các thời kỳ khác nhau của lịch sử  
với các đặc trưng riêng. Chính những đợt di dân này, đặc biệt là đợt di dân sau ngày miền  
Nam hoàn toàn giải phóng, gắn với chương trình bố trí lại dân cư, lao động và phát triển  
các vùng kinh tế mới của Nhà nước, đã tác động không nhỏ trong quá trình phát triển kinh  
tế - xã hội của tỉnh Lâm Đồng.  
4.2.  
Tình hình di dân đến Lâm Đồng từ năm 1975 đến năm 1995  
4.2.1. Giai đoạn 1975 - 1985  
Năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, song Việt  
Nam gặp nhiều khó khăn trong phát triển kinh tế - xã hội. Sản xuất nông nghiệp chậm  
phát triển, lương thực không đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng trong nước, một số tỉnh miền  
Bắc đứng trước nguy cơ đói kém mỗi khi mất mùa. Trong khi đó, ở miền Nam – chủ yếu  
là đồng bằng sông Cửu Long, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, diện tích đất hoang  
hóa chưa sử dụng còn nhiều, tiềm năng sản xuất lúa khá lớn. Trước tình hình này, Đảng  
và Nhà nước đã chủ trương điều động lao động, phân bổ lại dân cư từ những vùng tập  
trung đông dân số vào các tỉnh Tây Nguyên và Đông Nam Bộ nhằm đẩy nhanh tốc độ  
khai hoang tăng cường diện tích nông nghiệp và sản lượng lương thực.  
Lâm Đồng là một tỉnh nằm trên địa bàn nam Tây Nguyên, được thiên nhiên ưu  
đãi về khí hậu, đất đai. Đây là một trong những địa bàn nằm trong chiến lược điều chỉnh  
lao động, dân cư, phát triển kinh tế-xã hội vùng Tây Nguyên và Đông Nam Bộ. Từ chủ  
trương đó, hàng năm, tỉnh Lâm Đồng đã tiếp nhận một số lượng lớn người chuyển cư tới  
để xây dựng các vùng kinh tế mới. Tháng 12/1975, 10.000 dân của tỉnh Quảng Ngãi  
chuyển cư đến Lâm Đồng, thành lập xã Lộc Ngãi và các thôn Sơn Tịnh, Bình Sơn ở Bảo  
Lộc (BCH Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng, 2010, tr.41). Năm 1976, có 3.000 lao động của Hà  
Nội, Hà Tây, Hòa Bình vào xây dựng kinh tế mới ở Nam Ban (Đức Trọng) và vùng Ba  
(Bảo Lộc) (BCH Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng, 2010, tr.49). Trong giai đoạn 1976 – 1978, số  
người ngoại tỉnh nhập cư đến Lâm Đồng là 16.846 người (Ủy ban KHXH Việt Nam,  
1989, 213). Trong đó, thành phần cơ bản chuyển cư tới là người Kinh. Điều này đã làm  
cho số lượng người Kinh ở Lâm Đồng tăng lên 26.989 người vào năm 1979. Ngoài 3 dân  
tộc tại chỗ là Cơ ho, Mạ, Chu ru, sự biến động dân số đáng kể của Lâm Đồng giai đoạn  
này còn là sự gia tăng của các tộc người thiểu số phía Bắc như: Nùng, Tày, Thái. Năm  
1979, số lượng người Nùng ở Lâm Đồng là 5.750 người, người Tày là 4.479 người, người  
Thái có 2.887 người (Trần Sỹ Thứ, 1992, tr.62-63).  
Từ năm 1979 đến 1985, với mục tiêu tiếp nhận và phân bố lại lao động theo mục  
tiêu kinh tế có trọng điểm, dân nhập cư vào Lâm Đồng phân bố chủ yếu ở các vùng chuyên  
canh như: vùng chuyên canh cây lương thực – chủ yếu ở Cát Tiên, Đạ Tẻh, vùng cây  
lương thực và cây công nghiệp – trọng điểm ở Đạ Huoai với cây lương thực là chính;  
vùng cây công nghiệp và cây lương thực, trọng điểm là vùng nam Di Linh với cây công  
nghiệp là chính; vùng lâm nghiệp và cây lương thực, trọng điểm ở huyện Lạc Dương, lấy  
261  
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018  
nghề rừng làm chính. Năm 1983, có 1.372 hộ với 6.534 người từ các tỉnh Quảng Ngãi,  
Bình Định, Quảng Bình, Quảng Trị, Thứa Thiên Huế, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình,  
Hà Tây, Hòa Bình (BCH Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng, 2010, tr.112). Năm 1984, có 2.231 hộ  
với 9.737 người, 4.558 lao động đã chuyển cư đến Lâm Đồng để xây dựng vùng kinh tế  
mới (BCH Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng, 2010, tr.120). Số dân nhập cư ngoại tỉnh vào Lâm  
Đồng thời kỳ này chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp ở khu kinh tế mới. Ngoài  
ra còn làm một số nghề để sinh sống như: làm thuê, buôn bán, khai thác lâm sản.  
Đây là đợt di dân có quy mô lớn với những diễn biến và tính chất phức tạp. Trong  
những năm đầu, cùng với chính sách phân bổ lực lượng lao động đến Lâm Đồng xây dựng  
vùng kinh tế mới, đây là cuộc di dân lớn, trật tự và có tổ chức. Người dân đến Lâm Đồng  
chủ yếu là người Hà Nội, định cư tập trung ở huyện Lâm Hà. Những di dân từ các tỉnh  
Hà Đông, Quảng Ngãi, Thừa Thiên Huế sinh sống tập trung tại các huyện Cát Tiên, Đạ  
Tẻh, Đạ Huoai. Người Hà Nam, Nam Định vào vùng Đinh Trang Thượng, Đinh Trang  
Hòa của huyện Di Linh.  
Sự gia tăng đột ngột của dân số Lâm Đồng chủ yếu là gia tăng cơ học do chính  
sách xây dựng vùng kinh tế mới ở Lâm Đồng. Kéo theo luồng di dân theo kế hoạch của  
Nhà nước này là luồng di dân tự do. Ban đầu, luồng di dân tự do này diễn ra khá khiêm  
tốn so với luồng di dân có tổ chức. Tuy nhiên, khi chính sách xây dựng vùng kinh tế mới  
ở Lâm Đồng kết thúc, đặc biệt là khi huyện Lâm Hà được thành lập (1987) đánh dấu  
chấm dứt quá trình di dân có tổ chức, mà thay vào đó là sự nổi lên của các dòng di dân tự  
phát, đặc biệt trở nên mạnh mẽ từ sau năm 1986.  
4.2.2. Giai đoạn 1986 – 1995  
Từ sau năm 1986, những đổi mới trong quản lý chính sách kinh tế - xã hội ở Việt  
Nam đã tạo ra sự thay đổi căn bản, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tự do phát triển  
kinh tế, di chuyển qua lại giữa các vùng. Từ đây, cùng với sự chuyển mình của đất nước  
theo con đường đổi mới, tỉnh Lâm Đồng cũng có sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế - xã  
hội. Với sự bùng nổ mạnh mẽ của ngành trồng cà phê ở Tây Nguyên vào những năm  
1990, đã tạo nên sức hút một lượng dân từ khắp các vùng trên cả nước di chuyển về Tây  
Nguyên, trong đó có Lâm Đồng.  
Trong giai đoạn này, dòng người chuyển cư tự do đến Lâm Đồng tăng nhanh, chỉ  
trong 6 tháng đầu năm 1988, đã có 3.043 người di cư tự do tới (Ủy ban KHXH Việt Nam,  
1989, tr.227). Họ đến các vùng đất hoang ở các huyện Di Linh, Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Lâm  
Hà với mục đích khai hoang, kiếm sống. Năm 1989, dân số Lâm Đồng là 639.224, tăng  
gấp 2 lần so với năm 1979 (dân số năm 2979 là 388.256 người) (Trần Sỹ Thứ, 1992, tr.62-  
63). Đến năm 1995, dân số Lâm Đồng là 836.335 người. Sự tăng nhanh dân số của Lâm  
Đồng thời kỳ này vẫn là gia tăng cơ học do dòng người nhập cư ngoại tỉnh. Nếu trong  
giai đoạn trước, dòng người di cư đến Lâm Đồng chủ yếu là dòng di dân có kế hoạch thì  
giai đoạn này dòng người chuyển cư đến Lâm Đồng lại mang tính chất tự phát. Tình hình  
di cư tự do đến Lâm Đồng từ năm 1990 đến năm 1995 được thể hiện qua Bảng 2.1.  
262  
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018  
Bảng 2.5. Di cư tự do đến tỉnh Lâm Đồng từ 1990 – 1995  
(Đơn vị tính: Hộ)  
TT Các huyện  
Toàn tỉnh  
Tổng cộng 1990  
1991  
5.824  
796  
1992  
4.316  
897  
286  
270  
696  
1.260  
174  
488  
764  
48  
1993  
4.982  
329  
1994  
5.513  
508  
590  
494  
358  
501  
868  
730  
1.372  
95  
1995  
6.763  
587  
31.544  
3.834  
23.760  
1.858  
3.123  
5.630  
5.028  
3.375  
5.343  
564  
3.840  
617  
353  
202  
510  
924  
126  
1
2
3
4
5
6
7
8
9
Cát Tiên  
Đạ Tẻh  
399  
140  
962  
Đạ Hoai  
Bảo Lâm  
Bảo Lộc  
Di Linh  
339  
237  
316  
580  
536  
502  
1.050  
1.574  
376  
963  
927  
1.012  
632  
1.301  
1.189  
740  
Đức Trọng  
Lâm Hà  
785  
126  
680  
1.002  
126  
Lạc Dương  
30  
139  
Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, (1997), tr.16  
Như vậy, trong giai đoạn này, tình trạng di cư tự do đến Lâm Đồng một cách ồ ạt.  
Số lượng dân di cư tự do chủ yếu đến ở các địa phương mới thành lập, đặc biệt là các  
huyện Lâm Hà, Di Linh, Đức Trọng, Bảo Lâm và Bảo Lộc, Đạ Tẻh, Cát Tiên,… và tăng  
dần qua các năm. Đây là những vùng còn nhiều tiềm năng về đất đai để khai phá và sản  
xuất, cũng như có nhiều cơ hội việc làm trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp. Nguồn xuất  
cư của dân di cư tự do đến Lâm Đồng giai đoạn này được thể hiện qua bảng 2.2.  
Các luồng di cư tự do đến Lâm Đồng trong giai đoạn này có nguồn gốc xuất cư  
từ các tỉnh Cao Bằng (6.043 hộ), Thanh Hóa (2.621 hộ), Lạng Sơn (2.600 hộ), Quảng  
Ngãi (2.258 hộ), Nghệ An (2.093 hộ), Hà Tĩnh (1.639 hộ), Hà Nội (1.511 hộ), Hà Tây  
(1.369 hộ),… Trong số đó, di dân tự do là người dân tộc thiểu số chiếm khối lượng đáng  
kể là các dân tộc Tày, Nùng, Dao chủ yếu đến từ các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn. Đây chính  
là đặc điểm của luồng dân di cư tự phát trong giai đoạn này. Việc lựa chọn địa bàn nhập  
cư của họ là theo kinh nghiệm và tập quán quản lý sản xuất nông, lâm nghiệp truyền thống  
thường là những địa bàn cư trú giữa rừng, vùng sâu, xa với lý do chính là có rừng để chặt  
phá lấy gỗ, lấy đất làm nương rẫy với độ phì nhiêu tự nhiên đặc biệt tốt, có nhiều thú săn  
bắt và để tránh phát hiện, kiểm soát của chính quyền và các cơ quan chức năng.  
263  
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018  
Bảng 2.2. Nguồn gốc xuất cư và địa bàn đến của di dân tự do đến tỉnh Lâm Đồng  
từ 1990 đến 1995 (Đơn vị tính: Hộ)  
Địa bàn đến các huyện trong tỉnh  
Tổng  
số đến  
TT Địa phương đi  
Đạ  
Đạ  
Cát  
Di  
Đức  
TX Bảo Bảo  
Lâm  
Lạc  
Huoai  
Tẻh  
Tiên  
Linh  
Trọng Lộc  
Lâm Hà  
Dương  
Toàn tỉnh  
Quảng Ngãi  
Ninh Bình  
Hà Tây  
31.544 1.858  
2.730  
3.834  
99  
5.028  
353  
263  
136  
63  
3.375  
356  
5.630  
3182 5.343  
564  
1
2
3
4
2.258  
809  
635  
221  
330  
134  
678  
121  
148  
55  
83  
54  
204  
43  
1.369  
561  
129  
174  
254  
135  
329  
Thừa Thiên  
Huế  
5
QNĐN  
782  
89  
60  
373  
1.059  
351  
251  
257  
165  
135  
268  
171  
250  
146  
352  
297  
138  
129  
809  
543  
833  
745  
191  
364  
207  
125  
6
Nam Hà  
2.786  
1.639  
1.511  
2.621  
242  
25  
176  
195  
237  
381  
196  
535  
7
Hà Tĩnh  
8
Thái Bình  
Thanh Hóa  
Hải Hưng  
Bình Định  
Đồng Nai  
Vĩnh Phú  
Nghệ An  
Minh Hải  
Cao Bằng  
Lạng Sơn  
Bắc Thái  
Hà Bắc  
231  
841  
9
36  
77  
10  
11  
12  
13  
14  
15  
16  
17  
18  
19  
20  
21  
22  
673  
311  
35  
102  
862  
371  
103  
114  
907  
587  
456  
2.093  
146  
51  
310  
164  
6.043  
2.600  
1.101  
240  
1.775  
199  
50  
1.649  
747  
452  
37  
513  
451  
89  
431  
83  
615  
409  
167  
599  
317  
205  
122  
1.511  
93  
109  
97  
81  
Hà Nội  
1.511  
305  
Quảng Bình  
Các tỉnh  
107  
282  
105  
237  
976  
102  
81  
183  
Nguồn: Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng, (1997), tr.18  
5.  
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO  
Chính làn sóng di cư đã làm cho cơ cấu và thành phần dân tộc ở Lâm Đồng biến  
đổi nhanh. Năm 1979, dân số Lâm Đồng có 388.256 người nhưng đến năm 1989 đã tăng  
lên gần gấp 2 là 639.224 người. Trong đó, số lượng người Kinh tăng đột biến từ 26.989  
người (1979) lên 488.462 người (1989) (Trần Sỹ Thứ, 1992, tr.62-63), chủ yếu theo hình  
thức di cư có kế hoạch theo chủ trương phân bổ dân số và xây dựng vùng kinh tế mới của  
Nhà nước. Luồng di cư người Kinh đến Lâm Đồng tập trung chủ yếu trong giai đoạn 1976  
264  
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018  
– 1986 và chuyển cư đến các vùng chuyên canh trọng điểm của địa phương. Chính sách  
xây dựng vùng kinh tế mới ở những vùng có nhiều tiềm năng của tỉnh đã trở thành tiền  
đề tạo nên sức hút của các luồng di dân tự phát đến đây từ sau năm 1986. Giai đoạn 1986  
– 1995 đã chứng kiến sự chuyển cư ồ ạt đến Lâm Đồng của các luồng di dân tự phát.  
Trong đó, thành phần di dân tự do là người dân tộc thiểu số đến từ phía Bắc gia tăng và  
chiếm tỷ lệ đáng kể. Điều này đã tạo nên sự đa dạng cho thành phần dân tộc của tỉnh Lâm  
Đồng, tuy nhiên cũng mang lại nhiều vấn đề phức tạp đối với địa phương.  
Nghiên cứu này là kết quả bước đầu, mở ra định hướng cho kế hoạch nghiên cứu  
về luồng di dân tự do ở Lâm Đồng – một hiện tượng kinh tế - xã hội còn được nghiên cứu  
hạn chế trong lịch sử địa phương cho đến giai đoạn hiện nay. Từ nghiên cứu này, vấn đề  
tiếp tục đặt ra sự tiếp diễn của quá trình di dân tự do từ năm 1995 đến nay và sự tác động  
của cư dân nhập cư tới kinh tế, xã hội và văn hóa của tỉnh Lâm Đồng trên cả phương diện  
tích cực và hạn chế. Những nghiên cứu này sẽ góp phần tham vấn cho các cơ quan chức  
năng trong việc chiến lược quản lý và phát triển dân cư vì sự phát triển trong tương lai  
của tỉnh Lâm Đồng.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
Cục định canh định cư và vùng kinh tế mới. (2001). Di dân, kinh tế mới, định canh định  
cư – Lịch sử và truyền thống. Hà Nội: Nông nghiệp.  
Đinh, Q. H. (2013). Di dân, kinh tế mới, định canh định cư – Lịch sử và truyền thống.  
Khoa học xã hội Việt Nam, số 11, 66-74.  
Lee, E. S. (1966). A theory of migration. Demography, Vol 3 (1), 49-50.  
Mạc, Đ. (1983). Vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng. Lâm Đồng: Sở Văn hóa Thông tin tỉnh Lâm  
Đồng.  
Ngô, X. T. (2000). Đảng bộ Lâm Đồng lãnh đạo thực hiện chính sách phát triển kinh tế  
- xã hội vùng dân tộc thiểu số (1975 – 1995). Hà Nội: Học viện Chính trị Quốc  
gia Hồ Chí Minh.  
Nguyễn, D. T. (2016). Di cư của người dân tộc thiểu số đến Tây Nguyên từ năm 1975  
đến năm 2015,. Hà Nội: Khoa học xã hội.  
Nguyễn, H. T., Dương, N. T., Ngô, V. H., & Trịnh, K. T. (1997). Một số vấn đề về định  
canh định cư và phát triển nông thôn bền vững. Hà Nội: Nông nghiệp.  
Ravenstein, E. G. (1889). The Law of migration. Journal of the Royal Statistical Society,  
Vol 52, No.2, 241-305.  
Trần, S. T. (1992). Một số vấn đề về dân số Lâm Đồng. Lâm Đồng: Cục Thống kê Lâm  
Đồng.  
Ủy ban nhân dân huyện Đam Rông. (2014). Báo cáo Tình hình dân di cư tự do trên địa  
bàn huyện Đam Rông. Lâm Đồng.  
265  
KỶ YẾU HỘI NGHỊ KHOA HỌC THƯỜNG NIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÀ LẠT NĂM 2018  
Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng. (1997). Báo cáo tình hình ổn định dân di cư tự do đến  
Lâm Đồng. Lâm Đồng.  
Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng. (1997). Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện công tác  
phân bổ lao động dân cư kinh tế mới tỉnh Lâm Đồng 1976 – 1996 và định hướng  
phân bố lao động 1997 – 2000. Lâm Đồng.  
Ủy ban nhân dân tỉnh Lâm Đồng. (2001). Địa chí Lâm Đồng. Hà Nội: Văn hóa dân tộc.  
266  
pdf 11 trang baolam 21980 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đặc điểm tình hình di dân đến Lâm Đồng từ năm 1975 đến năm 1995", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdac_diem_tinh_hinh_di_dan_den_lam_dong_tu_nam_1975_den_nam_1.pdf