Vai trò của người cao tuổi trong gia đình nông thôn tỉnh Đồng Nai

TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
19  
VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI  
TRONG GIA ĐÌNH NÔNG THÔN TỈNH ĐỒNG NAI  
LÊ THẾ VỮNG*  
Để khẳng định vai trò của người cao tuổi trong xã hội, Đại Hội đồng Liên Hiệp  
Quốc đã thống nhất lấy ngày 01 tháng 10 hằng năm làm ngày Quốc tế Người  
cao tuổi. Người cao tuổi thật sự có một chỗ đứng quan trọng đối với sự tồn tại và  
phát triển của mỗi gia đình và mỗi quốc gia. Việt Nam hiện đang tiến vào con  
đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, người cao tuổi  
Việt Nam đang góp phần không nhỏ xây dựng gia đình, xã hội văn minh, tốt đẹp.  
Bài viết tìm hiểu những đóng góp thực tế, cũng như những yếu tố làm hạn chế  
sự đóng góp này của người cao tuổi trong đời sống gia đình tại vùng nông thôn  
tỉnh Đồng Nai.  
Từ khóa: người cao tuổi, gia đình nông thôn, Đồng Nai  
Nhận bài ngày: 3/3/2021; đưa vào biên tập: 4/3/2021; phản biện: 4/3/2021; duyệt  
đăng: 7/3/2021  
1. DẪN NHẬP  
giữ vững cấu trúc gia đình, ổn định và  
phát triển xã hội. Ngoài ra, trong xã  
hội Việt Nam hiện nay, đóng góp về  
lao động của người cao tuổi cho gia  
đình và xã hội là khá quan trọng,  
nhưng phần lớn lại là “những việc  
không tên”, không được đánh giá đúng  
mức (như trông cháu, nội trợ…). Bài  
viết này dựa trên tư liệu khảo sát 200  
hộ gia đình có người cao tuổi (98 hộ  
có người cao tuổi từ 60-69; 43 hộ có  
người cao tuổi từ 70-79); 42 hộ có  
người cao tuổi từ 80-89); và 17 hộ có  
người cao tuổi từ 90 tuổi trở lên) ở xã  
Phú Lâm (Tân Phú) và xã Bình Minh  
(Trảng Bom) tỉnh Đồng Nai (mỗi xã  
100 hộ và phỏng vấn sâu 5 người cao  
tuổi) (Lê Thế Vững, 2017); qua đó, đề  
cập về quan niệm, giá trị, đời sống cá  
nhân của người cao tuổi, phần nào  
Người cao tuổi là một nhóm xã hội,  
một bộ phận cấu thành của cơ cấu xã  
hội. Theo Điều 2 Luật Người cao tuổi  
2009, người cao tuổi là công dân Việt  
Nam từ đủ 60 tuổi trở lên. Thực tiễn  
Việt Nam cho thấy, nhiều người cao  
tuổi vẫn tiếp tục làm việc và đóng góp  
sức mình nhằm giúp đỡ gia đình cũng  
như cho sự phát triển chung của toàn  
xã hội. Ở mỗi người cao tuổi, không  
nhiều thì ít đều có những triết lý sống,  
kinh nghiệm sống quý giá mà các thế  
hệ sau cần học hỏi. Trên phương diện  
gia đình và xã hội, vai trò của người  
cao tuổi đặc biệt quan trọng. Người  
cao tuổi là hạt nhân, là lực hấp dẫn,  
* Viện Khoa học xã hội vùng Nam Bộ.  
LÊ THẾ VỮNG – VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TRONG…  
20  
làm rõ vai trò của họ trong gia đình xét 60% đang tham gia vào hoạt động sản  
trên khía cạnh đóng góp lao động, xuất, kinh doanh tạo ra thu nhập và  
kinh tế. Đồng thời, bài viết cũng chỉ ra  
những yếu tố cản trở người cao tuổi  
phát huy sức lao động của mình, hàm  
ý hướng tới những chính sách xã hội  
riêng dành cho người cao tuổi để phát  
huy được vai trò của họ trong đời  
sống gia đình và xã hội.  
40% là không tham gia hoạt động kinh  
tế. Lý do không tham gia hoạt động  
kinh tế phần lớn là do sức khỏe yếu.  
Phân tích theo giới tính cho thấy có  
45,5% cụ bà không tham gia các hoạt  
động kinh tế, cao hơn so với các cụ  
ông (31,2%). Xét theo nhóm tuổi, tỷ lệ  
tham gia hoạt động kinh tế giảm dần  
theo độ tuổi. Điều này cũng phù hợp  
với quy luật sinh học tự nhiên vì người  
có tuổi càng cao thì sức khỏe càng  
yếu và không thể tham gia sản xuất  
hoặc buôn bán. Qua khảo sát cho  
thấy, nhóm tuổi từ 60-69 có tỷ lệ tham  
gia hoạt động kinh tế cao nhất với  
83,7%; kế đến là nhóm tuổi 70-79 là  
46,5%; nhóm tuổi 80-89 là 38,1% và  
đáng ngạc nhiên là ở độ tuổi 90 trở  
lên vẫn có 11,8% còn tham gia lao  
động sản xuất, kinh doanh buôn bán  
(xem Bảng 1). Việc người cao tuổi còn  
tham gia hoạt động kinh tế cũng  
tương đồng với nghiên cứu của Lê  
Ngọc Lân (2011: 5) tỷ lệ người cao  
tuổi trong nhóm từ 60-64 tuổi vẫn còn  
làm việc chiếm khoảng 60%. Theo số  
2. VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI  
TRONG GIA ĐÌNH Ở NÔNG THÔN  
TỈNH ĐỒNG NAI VÀ RÀO CẢN  
2.1. Đóng góp về kinh tế cho hộ gia  
đình của người cao tuổi  
Mặc dù đã đến tuổi nghỉ ngơi, vui thú  
điền viên nhưng trong thực tế nhiều  
người cao tuổi vẫn có nhu cầu và  
tham gia các hoạt động sản xuất, làm  
ăn kinh tế phù hợp với sức khỏe và  
điều kiện của mình. Điều đó cũng giúp  
họ cảm thấy mình sống hữu ích và  
chủ động được về nguồn tài chính,  
giúp bản thân trang trải các nhu cầu  
cơ bản cũng như hỗ trợ phần nào cho  
con cái trong cuộc sống.  
Kết quả khảo sát của chúng tôi cho  
thấy, trong 200 người cao tuổi có tới  
Bảng 1. Người cao tuổi tham gia hoạt động sản xuất phân theo nhóm tuổi  
Nhóm tuổi  
60 - 69 70 - 79 80 - 89 90 trở lên  
Tổng  
80  
Tần số  
Tỷ lệ  
16  
82  
98  
23  
20  
43  
26  
16  
42  
15  
Không  
Có  
16,3  
83,7  
100  
53,5  
46,5  
100  
61,9  
38,1  
100  
88,2  
11,8  
100  
40,0  
Có tham gia lao  
động tạo thu  
nhập  
Tần số  
Tỷ lệ  
2
120  
200  
60  
Tần số  
Tỷ lệ  
17  
Tổng  
100  
Nguồn: Lê Thế Vững, 2017.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
21  
liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở 69,31% còn đang tham gia lao động.  
năm 2009, tỷ lệ người từ 60 tuổi trở Tỷ lệ này xấp xỉ gấp đôi ở các cụ cùng  
lên tham gia lực lượng lao động chiếm độ tuổi nhưng không có hưu trí: 60,3%  
khoảng từ 30-40%, trong đó nam giới các cụ làm nông dân và 55,6% các cụ  
cao tuổi tham gia vào thị trường lao không làm nông nghiệp”. Xét về độ  
động nhiều hơn nữ giới. Người 60 tuổi tuổi không có sự khác biệt nhiều về  
trở lên ở nông thôn chiếm tỷ trọng lớn lĩnh vực hoạt động kinh tế. Tuy nhiên,  
hơn trong lực lượng lao động so với khi phân tích dưới góc độ giới tính lại  
người ở khu vực thành thị”.  
cho thấy có sự khác biệt tương đối rõ.  
Người cao tuổi là nam làm nông  
nghiệp có tỷ lệ tới 66%, cao hơn so  
với nữ - chỉ có 49,3%; trong khi đó  
tham gia vào lĩnh vực phi nông nghiệp  
thì nữ lại có tỷ lệ cao hơn nam 37,3%  
so với 24,5% (xem Bảng 2). Có sự  
khác biệt này là do các cụ bà thường  
buôn bán ở chợ hoặc mở tiệm tạp hóa  
ở nhà hoặc làm nội trợ trong khi các  
cụ ông làm các công việc nặng nhọc  
hơn như lao động sản xuất và tham  
gia các hoạt động xã hội. Điều này  
Qua khảo sát có 56,7% làm trong lĩnh  
vực nông nghiệp và 31,7% trong lĩnh  
vực phi nông nghiệp (buôn bán ở chợ,  
bán hàng tạp hóa ở nhà…), chỉ có 5%  
đi làm công ăn lương và 5% làm cho  
gia đình không trả lương. Điều này  
cũng gần tương đồng với kết quả  
nghiên cứu trước đây của Bùi Thế  
Cường (2000: 28) khi nghiên cứu về  
người cao tuổi ở nông thôn Đồng  
bằng sông Hồng: “Trong số những  
người có trợ cấp hưu trí ở độ tuổi 60-  
Bảng 2. Lĩnh vực công việc phân theo giới tính (% tính trên những người đang làm  
việc)  
Giới tính  
Nam  
Nữ  
Tổng  
Tần số  
Tỷ lệ  
0
35  
13  
0
1
1
68  
38  
6
Chủ cơ sở sản xuất/kinh  
doanh  
0,0  
1,5  
0,8  
Tần số  
Tỷ lệ  
33  
25  
6
Nông nghiệp  
66,0  
24,5  
0,0  
49,3  
37,3  
9,0  
56,7  
31,7  
5,0  
Tần số  
Tỷ lệ  
Phi nông nghiệp  
Tần số  
Tỷ lệ  
Lao động gia đình không trả  
lương  
Nghề nghiệp  
Tần số  
Tỷ lệ  
5
1
6
Làm công ăn lương  
9,4  
1,5  
5,0  
Tần số  
Tỷ lệ  
0
1
1
Khác  
0,0  
1,5  
0,8  
Tần số  
Tỷ lệ  
53  
67  
120  
Tổng  
100  
100  
100  
Nguồn: Lê Thế Vững, 2017.  
LÊ THẾ VỮNG – VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TRONG…  
22  
phù hợp với sự phân công lao động với 61,9%; độ tuổi 70-79 với 51,2%.  
theo giới trong truyền thống của người Điều đáng ngạc nhiên là ngay cả các  
cụ 90 tuổi trở lên cũng có tỷ lệ khẳng  
định mình đóng góp vào kinh tế của  
hộ khá cao với 52,9%, mặc dù tỷ lệ  
hiện đang làm việc tạo ra thu nhập  
của các cụ trong độ tuổi này chỉ có  
11,8%. Điều này được các cụ lý giải là  
do có tiền tích lũy từ trước và con cái  
cho để chi dùng.  
Việt Nam.  
Khi chia theo địa bàn nghiên cứu cũng  
cho thấy sự khác biệt về lĩnh vực  
tham gia hoạt động kinh tế. Ở địa bàn  
xã Phú Lâm tỷ lệ tham gia hoạt động  
kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp cao  
hơn xã Bình Minh với tỷ lệ lần lượt là  
68,5% so với 47%. Ngược lại, người  
cao tuổi làm trong lĩnh vực phi nông  
nghiệp ở Bình Minh có tỷ lệ 37,9%  
cao hơn ở Phú Lâm chỉ có 24,1%. Có  
sự khác biệt trên là do xã Bình Minh  
gần khu công nghiệp, diện tích đất  
nông nghiệp đang giảm dần và trong  
xã có làng nghề thủ công mỹ nghệ  
truyền thống (làm đàn guitar và các đồ  
mỹ nghệ trưng bày xuất khẩu); còn xã  
Phú Lâm chủ yếu thuần túy làm nông  
nghiệp.  
Hộp 1.  
Trước đây mình còn trẻ, khỏe mình  
làm được để dành dụm phòng khi hữu  
sự, ốm đau giờ mình đưa cho con cái  
nó làm ăn nó nuôi lại mình như vậy  
mình cũng giúp chúng nó được phần  
nào. Chứ mình giữ mà khi chúng nó  
khó khăn mình không giúp chúng nó  
mà mình cũng có đem theo xuống mồ  
được đâu (PVS cụ M, nam 91 tuổi, xã  
Bình Minh).  
Giờ mình lớn tuổi rồi không làm ăn  
được gì nữa, nguồn sống của bác giờ  
là mấy đứa con nó lấy vợ, lấy chồng  
ra ở riêng nó làm ăn được nó cho  
mình thì mình phụ giúp vào với vợ  
chồng thằng út ở với mình (PVS cụ H,  
nữ 90 tuổi, xã Phú Lâm).  
Khi chúng tôi đặt câu hỏi cho các cụ  
về sự đóng góp của mình vào kinh tế  
của hộ gia đình, tỷ lệ khẳng định mình  
có đóng góp chiếm rất cao với 70,5%,  
chỉ có 29,5% cho rằng là không có  
đóng góp. Về độ tuổi, nhóm tuổi 60-69  
có tỷ lệ khẳng định đóng góp cao nhất  
với 85,7%; kế đến là độ tuổi từ 80-89  
Bảng 3. Đóng góp kinh tế vào hộ gia gia đình chia theo nhóm tuổi  
Nhóm tuổi  
60 - 69 70 - 79 80 - 89 90 trở lên  
Tổng  
141  
Tần số  
Tỷ lệ  
84  
14  
98  
22  
21  
43  
26  
16  
42  
9
Có  
85,7  
14,3  
100  
51,2  
48,8  
100  
61,9  
38,1  
100  
52,9  
47,1  
100  
70,5  
29,5  
100  
Tần số  
Tỷ lệ  
8
59  
Có đóng góp vào  
kinh tế gia đình  
Không  
Tổng  
Tần số  
Tỷ lệ  
17  
200  
Nguồn: Lê Thế Vững, 2017.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
23  
Tỷ lệ không đóng góp xét tăng dần  
theo độ tuổi càng cao, nếu ở độ tuổi  
60-69, tỷ lệ này chỉ có 14,3% thì tới độ  
tuổi 90 trở lên tỷ lệ đã tăng lên là  
47,1% (xem Bảng 3).  
có vốn để chăn nuôi (PVS cụ P.H.T,  
nam 71 tuổi, xã Phú Lâm).  
Mặt khác, đa số người cao tuổi không  
biết đến điều khoản này. Có 88,1%  
các cụ không biết người cao tuổi có  
quyền được tạo điều kiện để làm việc,  
chỉ 11,9% cụ có biết và phần lớn ở độ  
tuổi 60-69. Qua đây cho thấy, việc  
tuyên truyền và phổ biến chính sách  
người cao tuổi tại địa phương là cần  
thiết để người cao tuổi hiểu biết được  
những quyền lợi của mình.  
Kết quả khảo sát trên cho thấy nhu  
cầu tham gia hoạt động kinh tế và  
việc làm của người cao tuổi rất lớn.  
Trong quá trình hoạt động kinh tế,  
sản xuất bản thân các cụ đã gặp  
nhiều khó khăn, đặc biệt là nguồn  
vốn, nhưng người cao tuổi lại không  
được tiếp cận các nguồn vốn ưu đãi  
từ chính sách nhà nước. Trong Luật  
Người cao tuổi năm 2009 tại khoản đ  
Điều 3 có quy định người cao tuổi  
“được tạo điều kiện làm việc phù hợp  
với sức khỏe, nghề nghiệp và các  
điều kiện khác để phát huy vai trò của  
người cao tuổi”. Tuy nhiên, các xã  
Phú Lâm và Bình Minh không có  
chính sách này (do cơ quan hữu  
quan cho rằng người cao tuổi khi vay  
vốn sẽ không làm sinh lãi và không  
thể hoàn vốn).  
2.2. Vai trò chăm sóc gia đình  
2.2.1. Chăm sóc các thành viên nhỏ  
tuổi trong gia đình  
Trong gia đình Việt Nam hiện nay  
phần lớn người cao tuổi vẫn sống  
chung cùng con cháu và giữ một vai  
trò nhất định. Đối với người cao tuổi,  
được phụ giúp con cháu là niềm vui,  
niềm an ủi trong cuộc sống và để  
truyền đạt kinh nghiệm sống, thuần  
phong mỹ tục, các giá trị nhân văn cho  
con cháu của mình. Ngoài việc tham  
gia vào hoạt động kinh tế tạo ra thu  
nhập, có thể thấy người cao tuổi còn  
làm các công việc gia đình khác. Khi  
con cái đi làm thì hằng ngày họ trông  
nhà, giữ cháu, làm nội trợ. Có thể thấy  
rằng ông bà vẫn giúp làm một lượng  
công việc nhà đáng kể để con cháu có  
thể tập trung vào công việc riêng của  
mình.  
Hộp 2.  
Mình ra xã vay vốn để về chăn nuôi  
heo, nhưng trên xã họ không cho vay,  
họ sợ mình lớn tuổi rồi mình làm  
không được và không trả được nợ.  
Nhưng hai ông bà tôi vẫn còn sức  
khỏe lắm, bà vẫn buôn bán lặt vặt ở  
ngoài chợ, còn trước đây thì tôi đi làm  
thợ hồ, giờ sức khỏe thấy cũng xuống  
không đi làm hồ nữa mà muốn về ở  
nhà chăn nuôi có thêm thu nhập và  
phụ giúp con cái cho đỡ vất vả. Mình  
cảm thấy vẫn còn làm được nhưng  
giờ vay không được nên mình không  
Mặt khác, ông bà còn là chỗ dựa tinh  
thần cho con cháu. Trong khi cha mẹ  
đi làm, thường xuyên vắng nhà vai trò  
của người cao tuổi càng thể hiện một  
cách rõ rệt trong việc chăm sóc trẻ  
LÊ THẾ VỮNG – VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TRONG…  
24  
Bảng 4. Người cao tuổi chăm sóc cháu, chắt nhỏ dưới 10 tuổi chia theo nhóm tuổi (%  
tính trên những người có cháu, chắt)  
Nhóm tuổi  
60 - 69 70 - 79 80 - 89 90 trở lên  
Tổng  
61  
Tần số  
Tỷ lệ  
36  
45  
81  
17  
24  
41  
6
36  
42  
2
15  
17  
Có  
44,4  
55,6  
100  
41,5  
58,5  
100  
14,3  
85,7  
100  
11,8  
88,2  
100  
33,7  
66,3  
100  
Tần số  
Tỷ lệ  
120  
181  
Có chăm sóc cháu  
chắt dưới 10 tuổi  
Không  
Tổng  
Tần số  
Tỷ lệ  
Nguồn: Lê Thế Vững, 2017.  
nhỏ. Đây không chỉ là một hình thức Kết quả khảo sát của chúng tôi cho  
lao động nặng nhọc mà còn là một thấy, các cụ chăm sóc cháu chắt trong  
loại hình lao động phức tạp đòi hỏi  
phải có nhiều kinh nghiệm. Trong  
khảo sát của chúng tôi có 33,7% các  
cụ có chăm sóc cháu, chắt. Việc chăm  
sóc cháu, chắt chủ yếu ở các cụ tuổi  
từ 60-79, còn các cụ lớn hơn thì ít  
tham gia vào việc này hơn (xem Bảng  
4). Xét về góc độ giới tính thì không  
có sự khác biệt giữa cụ ông (33,8%)  
và cụ bà (33,6%) trong việc chăm sóc  
cháu chắt.  
suốt 12 tháng liền chiếm tỷ lệ rất lớn  
với 78,7% và thời gian chăm sóc ít  
nhất là 2 tháng trong một năm chỉ có  
tỷ lệ là 1,6%.  
Hộp 3.  
Cô có 2 đứa cháu nội, 2 đứa cháu  
ngoại, 2 đứa 5 tuổi, còn 2 đứa đang  
chơi đây thì 2 tuổi, một ngoại một nội.  
Các cháu từ nhỏ mới sinh là do bà  
chăm sóc, cha mẹ các cháu đi làm, tối  
về chơi với các cháu chút rồi cho đi  
ngủ. Cháu ngoại thì nhà cũng ở sát  
bên đây. Bà lo mọi thứ. Từ tắm rửa  
cho đến cho ăn. Đôi khi chúng nó  
tranh giành nhau đồ chơi cãi nhau Bà  
lại phải đứng ra phân xử làm trọng tài.  
Nói chung canh chừng chúng nó  
nhiều khi cũng cảm thấy mệt nhưng  
mà cũng thấy vui, nhiều khi các cháu  
vắng nhà lại cảm thấy buồn và nhớ  
chúng lắm. Có chúng nó thì mình cảm  
thấy vui hơn (PVS cô Ng.T.T nữ 63  
tuổi, xã Phú Lâm).  
Lý do chủ yếu các cụ phải chăm sóc  
cháu, chắt là do cha mẹ các cháu đi  
làm xa, lý do này chiếm tỷ lệ tới 83,6%;  
lý do cha mẹ không đủ tiền lo cho con  
cái nên phải gửi cho ông bà chỉ có  
16,4%. Do nhu cầu kinh tế và sự  
chuyển biến kinh tế - xã hội ở Việt  
Nam trong hai thập kỷ gần đây, ngày  
nay cha mẹ các cháu phải đi làm ăn  
xa hoặc đi làm cả ngày, thời gian  
dành cho con cái cũng ít đi. Chính vì  
vậy, ông bà trở thành người chăm sóc  
và nuôi dạy chính. Thời gian (số tháng)  
mà các cụ bỏ ra chăm sóc các cháu,  
chắt là tương đối lớn trong một năm.  
Tôi có 3 đứa cháu nội ở chung nhà,  
đứa lớn nay 10 tuổi đang học lớp 4  
còn đứa nhỏ mới vào lớp 1, đứa nhỏ  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
25  
nhất mới 3 tuổi. Cha mẹ chúng nó đi  
làm suốt ngày tối mới về nên phó thác  
chúng nó cho ông bà. Hai đứa lớn  
sáng đi học tôi phải chở nó đi trưa đón  
về cho ăn cơm xong chiều lại chở nó  
đi học tiếp rồi chiều lại đón về. Cứ  
ngày nào cũng làm 4 cuốc như vậy  
cũng cảm thấy cực vì giờ mình cũng  
có tuổi rồi chạy xe nhiều mà đường  
này nó lại đông xe nữa nên cũng áp  
lực lắm. Còn bà nhà tôi ở nhà thì  
trông đứa nhỏ, dọn dẹp nhà cửa lo  
cơm nước cho con cái đi làm về nó  
ăn. Thấy vất vả vậy, nhưng con cái nó  
phải đi làm kiếm tiền nên mình phải  
phụ giúp nó thôi chứ giờ biết sao giờ.  
Với lại mình cảm thấy đỡ nó được  
phần nào thì đỡ chứ mình ngồi không  
đâu có được (PVS cụ L.V.C nam 71  
tuổi, xã Bình Minh).  
để đo lường sự vất vả cho thấy, tỷ lệ  
cảm nhận vất vả một chút chiếm  
34,4%; tỷ lệ cho rằng tương đối vất vả  
là 34,4%, chỉ có 4,9% cho rằng rất vất  
vả.  
Có thể thấy ông bà vẫn đóng vai trò  
rất quan trọng trong việc chăm sóc  
dạy dỗ các cháu trong gia đình. Phần  
lớn những gia đình trẻ hiện nay, cha  
mẹ đi làm cả ngày và việc chăm sóc  
con cái đều nhờ ông bà giúp, thậm chí  
phó thác toàn bộ cho ông bà, vì vậy  
ông bà là người gần gũi, nuôi dạy các  
cháu nhiều hơn cả cha mẹ.  
2.2.2. Làm các công việc trong gia  
đình  
Ngoài việc chăm sóc các thành viên  
nhỏ tuổi của gia đình như đã phân tích  
ở trên, người cao tuổi còn làm các  
công việc nhà khác. Kết quả khảo sát  
cho thấy có tới 81,5% người cao tuổi  
có làm các công việc nhà, chỉ có 15%  
là không làm các công việc này. Tỷ lệ  
người cao tuổi làm việc nhà giảm dần  
theo độ tuổi, độ tuổi càng cao tỷ lệ  
tham gia làm việc nhà càng thấp (Biểu  
đồ 1).  
Việc chăm sóc các thành viên nhỏ  
tương đối vất vả, nhất là đối với các  
cụ lớn tuổi. Có tới 74,8% các cụ cho  
rằng có vất vả trong việc chăm sóc  
cháu chắt, chỉ có 26,2% cho rằng  
không hề vất vả tí nào, chủ yếu thuộc  
về nhóm tuổi từ 60-79. Chia nhỏ hơn  
Biểu đồ 1. Tỷ lệ người cao tuổi làm việc nhà giảm dần theo độ tuổi  
Nguồn: Lê Thế Vững, 2017.  
LÊ THẾ VỮNG – VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TRONG…  
26  
Xét theo góc độ giới tính thì không có Kết quả nghiên cứu trên cho thấy  
sự khác biệt nhiều giữa các cụ ông  
(80,5%) và cụ bà (82,1%) trong việc  
tham gia làm việc nhà. Điều đó cũng  
cho thấy rằng khi lớn tuổi thì sự phân  
biệt giới trong làm việc nhà trong gia  
đình không nhiều, các cụ đều tham  
gia như nhau. Tuy nhiên, khi chúng tôi  
hỏi thêm các cụ về người làm chính  
các công việc nhà thì lại có sự khác  
biệt lớn về giới tính. Các cụ bà khẳng  
định mình làm công việc nhà là chính  
với tỷ lệ là 84,2% cao hơn rất nhiều so  
với các cụ ông, chỉ có 30,6%. Mặc dù  
phần lớn các cụ ông khẳng định mình  
có tham gia làm công việc nhà nhưng  
họ chỉ là người phụ giúp, còn thực  
chất các cụ bà vẫn là người đảm nhận  
chính các công việc này.  
người cao tuổi tham gia công việc  
nhà là rất phổ biến. Có sự khác biệt  
về giới trong sự phân công làm các  
công việc nhà. Các cụ bà có xu  
hướng làm các công việc liên quan  
đến nội trợ, còn các cụ ông thì có xu  
hướng làm các công việc nặng nhọc  
hơn.  
2.3. Các rào cản ảnh hưởng đến  
người cao tuổi thực hiện các vai trò  
của mình  
Ngoài việc tìm hiểu thực trạng lao  
động của người cao tuổi, nghiên cứu  
của chúng tôi cũng khảo sát một số  
yếu tố có thể tác động đến việc tham  
gia lao động, đóng góp vào đời sống  
gia đình, xã hội của người cao tuổi.  
Dưới đây là một số kết quả.  
Người cao tuổi ngoài tham gia làm  
các công việc nhà còn giúp sửa chữa  
dọn dẹp ngôi nhà đang ở. Kết quả  
khảo sát cho thấy có 63% người cao  
tuổi khẳng định mình có giúp đỡ trong  
việc sửa chữa/chăm sóc ngôi nhà  
đang ở. Có 83,1% các cụ ông tham  
gia sửa chữa, chăm sóc ngôi nhà  
đang ở cao hơn so với các cụ bà  
(50,4%) (Biểu đồ 2).  
2.3.1. Sức khỏe  
Hạn chế về sức khỏe là một rào cản  
lớn cho người cao tuổi khi muốn tham  
gia vào các hoạt động kinh tế, xã hội.  
Qua khảo sát người cao tuổi tự đánh  
giá về sức khỏe của mình có tới 61%  
cho rằng yếu và rất yếu; 31% là bình  
thường và chỉ có 8% cho rằng là sức  
khỏe tốt. Đối với các cụ tuổi càng cao  
tỷ lệ đánh giá sức  
Biểu đồ 2. Tỷ lệ người cao tuổi giúp sửa chữa ngôi nhà đang ở  
khỏe của mình yếu  
càng cao, điều này  
cũng  
là  
bình  
thường theo quy  
luật sinh học lão  
hóa như người xưa  
vẫn nói “Khôn đâu  
đến trẻ, khỏe đâu  
đến già”.  
Nguồn: Lê Thế Vững, 2017.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
27  
Bảng 5. Sức khỏe của người cao tuổi chia theo giới tính  
Giới tính  
Nữ  
Nam  
Tổng  
Tần số  
Tỷ lệ  
7
31  
30  
9
9
16  
Rất yếu  
Yếu  
9,1  
7,3  
8,0  
Tần số  
Tỷ lệ  
75  
32  
106  
62  
40,3  
39,0  
11,7  
100  
61,0  
26,0  
5,7  
53,0  
31,0  
8,0  
Tần số  
Tỷ lệ  
Tự đánh giá sức khỏe  
của mình hiện nay  
Bình thường  
Tốt  
Tần số  
Tỷ lệ  
7
16  
Tần số  
Tỷ lệ  
77  
123  
200  
Tổng  
100  
100  
Nguồn: Lê Thế Vững, 2017.  
Sự cảm nhận và đánh giá về sức Văn Ngọc Lan (2008: 43) khi nghiên  
khỏe của bản thân có sự khác biệt cứu người cao tuổi ở nông thôn khu  
giữa cụ ông và cụ bà. Các cụ bà cho vực Đồng bằng sông Cửu Long:  
rằng sức khỏe của mình yếu và rất “Những bệnh thường gặp ở người  
yếu với tỷ lệ là 68,3%; trong khi đó tỷ cao tuổi là cao huyết áp, đái tháo  
lệ này ở các cụ ông chỉ có 49,4%. đường, thiếu máu cơ tim, phổi mãn  
Ngược lại các cụ ông cho rằng sức tính… Khu vực nông thôn chúng tôi  
khỏe của mình bình thường và tốt thấy tập trung nhiều ở hai nhóm bệnh  
chiếm tỷ lệ 50,7% cao hơn so với các (khớp, cột sống và tim mạch, huyêt  
cụ bà có tỷ lệ chỉ là 31,7% (xem Bảng áp). Tuy nhiên số người cho biết họ bị  
5).  
bệnh khớp chiếm tỷ lệ cao hơn”.  
Khi chúng tôi hỏi thăm về các loại Ngoài đánh giá sức khỏe yếu và mắc  
bệnh (được bác sĩ, cơ sở y tế chuẩn các loại bệnh phổ biến trên, người cao  
đoán là có bệnh chứ không phải là tuổi còn có các vấn đề về thị giác,  
cảm nhận của họ về bệnh) hiện nay thính giác. Kết quả khảo sát cho thấy  
người cao tuổi đang mắc phải, phần khi không đeo kính có tới 59% người  
lớn các cụ ghi nhận có 3 loại bệnh cao tuổi mắt nhìn bị kém và rất kém,  
phổ biến chiếm tỷ lệ nhiều nhất: (1) là chỉ có 41% mắt nhìn bình thường và  
bệnh huyết áp chiếm tỷ lệ tới 44%; (2) tốt. Các cụ bà có ảnh hưởng về mắt  
là bệnh liên quan đến dạ dày chiếm  
nhiều hơn (60%) một chút so với các  
tỷ lệ là 42,5%; và (3) là bệnh viêm cụ ông (56%). Đối với vấn đề nghe khi  
khớp với tỷ lệ là 32%. Còn lại một số không đeo thiết bị hỗ trợ được các cụ  
bệnh khác có tỷ lệ ghi nhận thấp hơn cảm nhận tương đối tốt hơn so với  
như bệnh tim 14% và bệnh liên quan nhìn, có tới 77% nghe bình thường và  
đến phổi là 10,5%. Kết quả này cũng tốt, chỉ có 23% cho rằng là nghe kém  
gần tương đồng với nghiên cứu của và rất kém (xem Biểu đồ 3).  
LÊ THẾ VỮNG – VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TRONG…  
28  
đến mối quan hệ và  
Biểu đồ 3. Người cao tuổi tự đánh giá về nghe và nhìn  
tinh thần của người  
cao tuổi, kết quả cho  
thấy, hầu hết thành  
viên trong gia đình  
đều tôn trọng và đối  
xử tốt với người cao  
tuổi. Tuy nhiên, vẫn  
có một bộ phận nhỏ  
đối xử không tốt  
chẳng hạn như hành  
Nguồn: Lê Thế Vững, 2017.  
vi nói nặng lời có 20  
trường hợp ghi nhận,  
Qua những đánh giá ở trên chúng ta  
thấy người cao tuổi phần lớn gặp các  
vấn đề sức khỏe kém, cộng với sự  
suy giảm khả năng nghe, nhìn. Đó là  
một trong những điều cản trở các cụ,  
nhất là các cụ tuổi tác khá cao, tham  
gia hiệu quả các hoạt động kinh tế, lao  
động trong gia đình cũng như ngoài  
xã hội.  
từ chối nói chuyện là 3 trường hợp,  
đánh đập, đe dọa là 4 trường hợp, và  
không tham khảo ý kiến người cao  
tuổi trước khi ra quyết định quan trọng  
được ghi nhận tương đối cao với 56  
trường hợp. Mặc dù được ghi nhận  
với tỷ lệ rất nhỏ nhưng những hành vi  
từ chối nói chuyện, đe dọa, đánh đập  
cũng phần nào nói lên được sự không  
tôn trọng, đối xử không tốt và bạo  
hành với người cao tuổi ở trong gia  
đình.  
2.3.2. Quan hệ gia đình  
Mối quan hệ gia đình, sự tôn trọng,  
chia sẻ, động viên và chăm sóc người  
cao tuổi ở trong gia đình cũng phần  
nào ảnh hưởng tới đời sống tinh thần  
và việc phát huy sức khỏe lao động  
của các cụ. Bởi lẽ, mối quan hệ trong  
gia đình không tốt đẹp sẽ không tạo  
được sự hứng khởi, động lực cho các  
cụ tham gia vào các hoạt động của gia  
đình cũng như của xã hội.  
Sự đối xử không tốt này không có  
khác biệt về giới tính và nhóm tuổi.  
Tuy nhiên, có khác biệt lớn về giới và  
nhóm tuổi khi được các thành viên hỏi  
ý kiến trước khi ra các quyết định  
quan trọng. Xu hướng các cụ ông  
được hỏi và các thành viên nghe theo  
ý kiến có tỷ lệ 77,9% cao hơn so với  
các cụ nữ có tỷ lệ là 68,3%; có 20,3%  
các cụ bà không bao giờ được các  
thành viên trong gia đình hỏi ý kiến,  
trong khi đó tỷ lệ này ở các cụ ông là  
14,3%. Qua đó có thể thấy sự định  
Khi chúng tôi hỏi các cụ về thành viên  
trong gia đình đối xử với mình như thế  
nào thông qua các hành vi (nói nặng  
lời, từ chối nói chuyện, đánh đập - đe  
dọa, tham khảo ý kiến khi ra quyết  
định quan trọng) có thể ảnh hưởng kiến giới vẫn còn tồn tại nhiều trong  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
29  
Biểu đồ 4. Khi ra các quyết định quan trọng các thành viên trong gia đình có hỏi ý kiến  
của người cao tuổi  
Nguồn: Lê Thế Vững, 2017.  
gia đình nông thôn. Xét về nhóm tuổi,  
gì cũng phải hỏi và nghe theo chú,  
với các cụ trong độ tuổi 60-69 tỷ lệ  
các thành viên gia đình hỏi ý kiến và  
làm theo rất cao, với 87,8%; với nhóm  
tuổi 70-79, tỷ lệ này là 76,7%; độ tuổi  
80-89 là 47,6% và độ tuổi 90 trở lên  
chỉ có 29,4% (xem Biểu đồ 4). Điều đó  
chứng tỏ các cụ còn tương đối trẻ tuổi  
thì vẫn còn có “uy” đối với các thành  
viên trong gia đình.  
nếu nó mà không nghe chú đâu cho  
nó làm và chú sẽ từ mặt nó ngay. Dù  
gì thì trong gia đình mình vẫn là trụ  
cột chứ, mình không làm trụ cột về  
kinh tế nhưng mọi chuyện mình là  
người lớn hơn chúng nó, mình có  
kinh nghiệm hơn nên mình chỉ bảo  
chúng nó làm ăn, mọi chuyện mình  
phải quyết định (PVS. N.V.K nam 68  
tuổi, xã Bình Minh).  
Khi chúng tôi hỏi các cụ về trạng thái  
tinh thần trong một tuần qua đối với 4  
trạng thái chính (cảm giác ăn không  
ngon miệng; cảm thấy buồn, thất vọng;  
cảm thấy khó ngủ; và cảm thấy cô  
đơn) kết quả ghi nhận như sau: với  
cảm giác ăn không ngon miệng có tới  
40% diễn ra một vài lần trong tuần,  
13% diễn ra hầu như cả tuần, 47% ghi  
nhận không có cảm giác này.  
Bây giờ mình già rồi, có làm ăn được  
gì đâu nên chúng nó cũng ít hỏi ý kiến  
mình. Giờ chúng nó làm ăn buôn bán,  
chúng nó trẻ chúng nó có kiến thức,  
hiểu biết hơn mình nên chúng nó đâu  
cần hỏi mình. Mà hỏi mình thì mình  
cũng không biết nên không có tham  
gia với chúng nó được. Mình chỉ có  
căn dặn chúng nó là làm ăn phải tính  
toán cẩn thận, tích cóp mà lo cho gia  
đình thôi (PVS. H.T.G nữ, 85 tuổi, xã  
Phú Lâm).  
Hộp 4.  
Đối với chú thì mặc dù mình không  
đủ sức khỏe để làm ăn như trước  
nhưng con cái trong gia đình nhất  
mực phải nghe theo chú. Muốn làm cái  
Khác biệt giữa các thế hệ về tâm lý,  
lối sống và kiến thức cũng đang làm  
giảm đi thái độ kính trọng của con cái  
LÊ THẾ VỮNG – VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TRONG…  
Biểu đồ 5. Trạng thái tinh thần của người cao tuổi qua một tuần  
30  
đối với cha mẹ  
già: “Thái độ ứng  
xử của các con,  
cháu đối với cha  
mẹ, ông bà có  
khác trước. Ngày  
xưa con, cháu quý  
trọng và tôn trọng  
một cách đúng  
mức, không bao  
Nguồn: Lê Thế Vững, 2017.  
không muốn ăn, cảm thấy buồn, thất  
giờ có chuyện cãi lại hoặc nói này nọ.  
Nhưng bây giờ có những trường hợp  
cha mẹ, ông bà góp ý mà không vừa ý  
với con cháu là nhiều khi nó bật lại  
ngay, thậm chí có những lời nói hỗn  
láo, vì nó không muốn mình góp ý với  
chúng nó. Nó làm thế nào nào thì  
mình biết thế thôi, chứ cha mẹ, ông bà  
nói thì nó cho là lắm điều và không  
hiểu biết gì” (Nam, 79 tuổi, xã Bình  
Minh).  
vọng, cảm thấy khó ngủ, cảm thấy cô  
đơn) của người cao tuổi trong một  
tuần qua, kết quả có 67,5% các cụ có  
cảm giác khó ngủ, 53% có cảm giác  
không muốn ăn, 39,5 cảm thấy buồn,  
thất vọng và 29% cảm thấy cô đơn  
(xem Biểu đồ 5).  
Xét ở góc độ giới thì các cụ bà cảm  
thấy buồn, thất vọng có tỷ lệ là 45,6%  
cao hơn so với các cụ ông có tỷ lệ là  
29,9%. Tương tự như vậy, với cảm  
giác cô đơn thì các cụ bà cũng có tỷ  
lệ (36,6%) cao hơn so với các cụ ông  
(16,9%). Còn với hai cảm giác không  
muốn ăn và khó ngủ thì không có sự  
khác biệt nhiều giữa cụ ông và cụ bà.  
Sự khác biệt này nếu không được  
điều chỉnh, mỗi bên cứ theo cách của  
mình thì rất dễ dẫn đến mâu thuẫn và  
xung đột giữa con cháu và cha mẹ,  
ông bà. Mâu thuẫn, xung đột và nhất  
là bạo hành đối với người cao tuổi có  
thể gây ra những hệ quả nghiêm trọng  
đối với người cao tuổi. Phổ biến nhất,  
hiện tượng này khiến người cao tuổi  
dễ rơi vào tình trạng trầm cảm, buồn  
chán, thậm chí ảnh hưởng đến sức  
khỏe thể chất.  
Khi các cụ có trạng thái tinh thần  
không tốt như vậy thì nguồn động viên  
chia sẻ với các cụ cũng không nhiều.  
Có đến 37,9% các cụ không chia sẻ  
được với ai, trong đó các cụ bà không  
có nguồn chia sẻ chiếm tỷ lệ cao hơn  
một chút 41,4% so với các cụ ông  
32,4%. Nguồn động viên chia sẻ lớn  
nhất là người bạn đời (vợ/chồng) của  
các cụ với tỷ lệ là 37,4%; kế đến là  
con gái và con trai có tỷ lệ lần lượt là  
24,7% và 19,5%, tiếp theo là hàng  
xóm, bạn bè có tỷ lệ 11,6%, và chia sẻ  
Những hành vi đối xử không tốt trên  
ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống  
tinh thần và động lực muốn đóng góp  
vào sự phát triển gia đình và xã hội  
của người cao tuổi. Khi chúng tôi hỏi  
về trạng thái tinh thần (cảm giác  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 3 (271) 2021  
31  
Biểu đồ 6. Mức độ hài lòng về mối quan hệ gia đình và sự tôn trọng của các thành viên  
đối với người cao tuổi  
Nguồn: Lê Thế Vững, 2017.  
với con rể là 10%. Chia sẻ với người  
bạn đời thì các cụ ông chia sẻ nhiều  
hơn so với các cụ bà với tỷ lệ 59,5%  
so với 23,3%. Điều này được lý giải vì  
các cụ bà tại địa bàn khảo sát có tình  
trạng hôn nhân góa chồng nhiều hơn  
rất nhiều (43,9%) so với các cụ ông  
góa vợ (14,3%). Từ đó các cụ bà lựa  
chọn chia sẻ với con gái (27,6%) và  
con rể (13,8%) nhiều hơn so với các  
cụ ông là (20,3% và 4,1%).  
Xét về góc độ giới thì không có sự  
khác biệt nhiều về mức độ hài lòng  
với gia đình và cuộc sống nói chung.  
Tuy nhiên, khi phân tích với độ tuổi thì  
thấy sự khác biệt khá rõ giữa các độ  
tuổi khác nhau. Mức độ không hài  
lòng với mối quan hệ trong gia đình ở  
độ tuổi càng cao thì càng lớn, các cụ  
từ 80 đến 89 tuổi có mức độ không  
hài lòng với tỷ lệ là 31,7%, trong khi  
đó ở độ tuổi 60-69 chỉ là 11,2%.  
Tương tự như vậy, đối với sự tôn  
trọng của các thành viên trong gia  
đình mức độ không hài lòng của các  
cụ từ 80 đến 89 tuổi chiếm tỷ lệ  
40,5%, tỷ lệ này ở các cụ từ 60 đến  
69 tuổi chỉ có 6,1% (xem Biểu đồ 6).  
Khi chúng tôi hỏi về mức độ hài lòng  
của các cụ đối với mối quan hệ trong  
gia đình cũng như về cuộc sống nói  
chung được các cụ cho biết mức độ  
hài lòng chiếm tỷ lệ rất cao. Đối với  
mối quan hệ gia đình các cụ hài lòng –  
rất hài lòng có tỷ lệ là 83%; tỷ lệ không  
hài lòng chỉ có 17%; đối với sự tôn  
trọng của các thành viên trong gia  
đình, tỷ lệ hài lòng là 84,5%, chỉ có  
3. MỘT VÀI NHẬN XÉT  
Vai trò và nhu cầu đóng góp của  
người cao tuổi vào hoạt động kinh tế  
và thu nhập của hộ gia đình tại các địa  
15,5% không hài lòng với điều này; bàn khảo sát là rất lớn. Mặc dù các cụ  
đến tuổi nghỉ ngơi nhưng vẫn muốn  
tham gia sản xuất, kinh doanh tạo thu  
nhập, đặc biệt là các cụ từ 60 đến 69  
tuổi. Hoạt động kinh tế chủ yếu vẫn là  
nông nghiệp và các cụ ông làm nhiều  
đánh giá chung về mức độ hài lòng  
trong cuộc sống có tỷ lệ hài lòng thấp  
hơn một chút 67,5% và tỷ lệ không hài  
lòng với cuộc sống nói chung là  
32,5%.  
LÊ THẾ VỮNG – VAI TRÒ CỦA NGƯỜI CAO TUỔI TRONG…  
32  
hơn các cụ bà, ngược lại trong các gánh một lượng lớn công việc gia  
hoạt động phi nông nghiệp thì các cụ đình cho các thành viên còn lại. Việc  
bà tham gia nhiều hơn. Các cụ ông  
tham gia hoạt động kinh tế và đóng  
góp vào thu nhập của hộ gia đình  
nhiều hơn các cụ bà.  
chăm sóc các thành viên nhỏ và các  
công việc nội trợ thì cụ bà làm nhiều  
hơn cụ ông. Tuy nhiên, với những  
việc nặng nhọc như sửa chữa, chăm  
sóc nhà ở thì các cụ ông lại làm nhiều  
hơn các cụ bà. Sự phân công công  
việc trong hộ gia đình với người cao  
tuổi vẫn mang hàm ý định kiến giới.  
Khi người cao tuổi gặp khó khăn, đặc  
biệt là nguồn vốn trong hoạt động kinh  
tế thì không có nguồn trợ giúp từ xã  
hội, nhất là từ phía chính quyền và  
các hội đoàn thể. Người cao tuổi tại  
địa phương thường không được tiếp  
cận các nguồn vay vốn ưu đãi hỗ trợ  
cho sản xuất mặc dù theo Luật Người  
cao tuổi họ được tạo điều kiện để tiếp  
tục làm việc theo sức khỏe của mình.  
Sức khỏe yếu đặc biệt là các cụ lớn  
tuổi cộng với sự chăm sóc, động viên,  
chia sẻ đời sống tinh thần và mối  
quan hệ gia đình không tốt là những  
yếu tố có thể ảnh hưởng đến sự đóng  
góp của người cao tuổi trong gia đình.  
Do đó, gia đình và xã hội cần có sự  
thông hiểu, tạo điều kiện để người cao  
tuổi có thể tiếp tục cống hiến theo sức  
lực của mình.  
Vai trò chăm sóc gia đình của người  
cao tuổi là rất lớn, đặc biệt là chăm  
sóc các thành viên nhỏ và làm các  
công việc trong gia đình. Có thể thấy  
người cao tuổi tại địa bàn khảo sát đã  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bùi Thế Cường. 2000. “Ba nguồn lực vật chất cơ bản của tuổi già ở Đồng bằng sông  
Hồng”. Tạp chí Xã hội học, số 1.  
2. Lê Ngọc Lân. 2011. “Một số cơ sở thực tiễn cần quan tâm trong xây dựng, điều chỉnh  
chính sách chăm sóc người cao tổi ở Việt Nam”. Tạp chí Nghiên cứu Giới và Gia đình,  
số 5.  
3. Lê Thế Vững. 2017. Vai trò của người cao tuổi trong hộ gia đình ở nông thôn tỉnh  
Đồng Nai. Đề tài cơ sở cấp Viện 2017.  
4. Quốc hội. 2009. “Luật Người cao tuổi”. http://www.vanban.chinhphu.vn, truy cập ngày  
05/3/2021.  
5. Văn Thị Ngọc Lan. 2008. “Người cao tuổi với vấn đề chăm sóc sức khỏe”. Tạp chí  
Khoa học Xã hội, số 12.  
pdf 14 trang baolam 21380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Vai trò của người cao tuổi trong gia đình nông thôn tỉnh Đồng Nai", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfvai_tro_cua_nguoi_cao_tuoi_trong_gia_dinh_nong_thon_tinh_don.pdf