Phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đề xuất giải pháp của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long

Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
PHÁT TRIỂN NGƯỜI THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN  
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CỦA KHU VỰC ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG  
INCREASING THE NUMBER OF PEOPLE IN VOLUNTARY  
SOCIAL SECURITY, PROPOSED SOLUTIONS  
OF THE MEKONG RIVER DELTA AREA  
NCS. Nguyễn Công Chánh1  
Tóm tắt – Bảo hiểm xã hội không chỉ giúp người dân chủ động đảm bảo bù  
đắp hoặc thay thế một phần thu nhập khi gặp rủi ro mà còn giảm sức ép đối với  
hệ thống trợ giúp xã hội. Do vậy, hầu hết các quốc gia đều nỗ lực tìm kiếm các  
giải pháp tạo điều kiện cho người dân tiếp cận, tham gia bảo hiểm xã hội, tăng  
diện bao phủ của hệ thống bảo hiểm xã hội. Bài viết đề cập đến một số vấn đề lí  
luận cơ bản đối với loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện; thực trạng công tác  
quản lí bảo hiểm xã hội của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Trong đó, loại  
hình bảo hiểm xã hội tự nguyện được đánh giá còn nhiều tiềm năng phát triển.  
Bài viết nêu lên một số nguyên do dẫn đến việc tham gia bảo hiểm xã hội tự  
nguyện chưa nhiều. Qua đó, chúng tôi đề xuất một số giải pháp trong công tác  
khai thác và phát triển loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện của khu vực Đồng  
bằng sông Cửu Long trong những năm tiếp theo.  
Từ khóa: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm tự nguyện, Đồng bằng sông Cửu Long.  
1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN  
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội trong  
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. BHXH góp phần quan trọng  
trong việc thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, đảm bảo ổn định chính trị – xã hội,  
đời sống của Nhân dân và phát triển bền vững đất nước. BHXH không chỉ có  
chức năng giúp người dân chủ động đảm bảo bù đắp hoặc thay thế một phần thu  
nhập khi gặp rủi ro mà nó còn giảm sức ép đối với hệ thống trợ giúp xã hội. Tại  
Điều 34 của Hiến pháp nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (2013) nêu rõ:  
‘Công dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội’ [1].  
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ  
đạo xây dựng và thực hiện chính sách BHXH, coi đó là động lực phát triển bền  
vững đất nước, thể hiện tính ưu việt, bản chất tốt đẹp của chế độ ta. Nghị quyết số  
1 Bảo hiểm Xã hội tỉnh Kiên Giang; Email: [email protected].vn  
218  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
21-NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của  
Đảng đối với công tác BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT) giai đoạn 2012 – 2020 [2]  
đã nêu: ‘BHXH và BHYT là hai chính sách xã hội quan trọng, là trụ cột chính của  
hệ thống an sinh xã hội, góp phần thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm  
ổn định chính trị – xã hội và phát triển kinh tế – xã hội’, ‘Phát triển hệ thống  
BHXH, BHYT đồng bộ với phát triển các dịch vụ xã hội, đáp ứng ngày càng tốt  
hơn nhu cầu của Nhân dân; tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người tham gia và thụ  
hưởng các chế độ BHXH, BHYT. Thực hiện tốt các chế độ, chính sách BHXH,  
BHYT là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội,  
doanh nghiệp và của mỗi người dân”. Quan điểm này được kế thừa và tiếp tục thể  
hiện trong Nghị quyết số 28- NQ/TW ngày 23/5/2018 của Hội nghị lần thứ Bảy  
Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam khóa XII [3]: ‘BHXH là  
một trụ cột chính của hệ thống an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định  
hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần quan trọng thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội,  
bảo đảm ổn định chính trị – xã hội, đời sống nhân dân, phát triển bền vững đất  
nước’; đồng thời, mục tiêu cụ thể là: ‘đến năm 2021 đạt khoảng 35% lực lượng  
lao động trong độ tuổi lao động tham gia BHXH (trong đó, nông dân và lao động  
khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự nguyện chiếm khoảng 1,0%); đến năm  
2025 đạt khoảng 45% (trong đó, nông dân và lao động khu vực phi chính thức  
tham gia BHXH tự nguyện chiếm khoảng 2,5%); đến năm 2030 đạt khoảng 60,0%  
(trong đó, nông dân và lao động khu vực phi chính thức tham gia BHXH tự  
nguyện chiếm khoảng 5,0%)’[4]. Như vậy, có thể thấy Đảng, Nhà nước hết sức  
quan tâm đến chính sách BHXH, coi đây là trụ cột chính của hệ thống an sinh xã  
hội; là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội,  
doanh nghiệp và của mỗi người dân.  
Việc mở rộng đối tượng tham gia BHXH có ý nghĩa to lớn không chỉ đối  
với BHXH mà còn đối với hệ thống an sinh xã hội và cả sự phát triển bền vững  
kinh tế xã hội của mỗi quốc gia.  
2. THỰC TRẠNG CỦA VIỆC PHÁT TRIỂN LOẠI HÌNH BẢO HIỂM XÃ  
HỘI TỰ NGUYỆN  
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), theo cách gọi của người dân  
Việt Nam là miền Tây, là vùng cực nam của Việt Nam. ĐBSCL có 12 tỉnh và 01  
thành phố trực thuộc Trung ương. Đây là vùng sản xuất nông nghiệp và thủy sản  
lớn nhất cả nước, có vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội.  
Với đặc thù sản xuất nông nghiệp, nông dân chiếm đa số trong cơ cấu dân số. Để  
thực hiện mục tiêu theo tinh thần Nghị quyết số 28-NQ/TW nêu trên, thời gian  
qua, BHXH đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để phát triển người tham gia  
BHXH, đặc biệt số người tham gia BHXH tự nguyện của khu vực ĐBSCL tính  
đến nay còn tương đối thấp so với lực lượng lao động ở khu vực phi chính thức  
(thời gian đầu từ năm 2010, số người tham gia BHXH tự nguyện chỉ có 13.319  
219  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
người; tính đến nay, tổng số người tham gia BHXH tự nguyện được gần 128.000  
người tham gia, tăng gần gấp 10 lần so với những năm đầu) [3].  
Xét về lợi ích đối với người lao động: BHXH tự nguyện bảo đảm thu nhập  
cho người lao động và gia đình họ khi gặp những khó khăn trong cuộc sống. Đối  
tượng tham gia là người lao động tự do, thu nhập thấp và không ổn định như nông  
dân, kinh doanh, buôn bán. Nên khi tham gia BHXH tự nguyện, người tham gia sẽ  
đảm bảo phần thu nhập của họ và gia đình khi gặp những rủi ro trong cuộc sống  
như ốm đau, tai nạn lao động, già yếu rồi chết. Ngoài ra, BHXH tự nguyện còn  
giúp người lao động nâng cao hiệu quả trong tiêu dùng cá nhân, giúp họ tiết kiệm  
được những khoản tiền nhỏ và đều đặn để có nguồn dự phòng cần thiết khi về già,  
khi mất sức lao động, góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình.  
Người lao động tham gia BHXH tự nguyện được đảm bảo về thu nhập ổn định ở  
mức độ cần thiết nên họ thường có tâm lí tự tin hơn trong cuộc sống, từ đó, cuộc  
sống của các thành viên khác trong gia đình được đảm bảo.  
Về lợi ích đối với xã hội: BHXH tự nguyện tạo ra cơ chế chia sẻ rủi ro, nâng  
cao tính cộng đồng xã hội, củng cố truyền thống đoàn kết gắn bó giữa các thành  
viên trong xã hội. BHXH tự nguyện là công cụ phân phối, sử dụng nguồn quỹ dự  
phòng hiệu quả cho việc giảm hậu quả rủi ro, tạo động lực phát triển kinh tế –  
xã hội.  
Mặc dù trong những năm vừa qua, công tác phát triển người tham gia  
BHXH tự nguyện của khu vực có tăng. Nhưng số người tham gia BHXH tự  
nguyện còn khoảng cách rất xa so với tiềm năng. Hiện nay, số người trong độ tuổi  
lao động (không tính đến đối tượng là học sinh, sinh viên từ đủ 15 tuổi trở lên)  
ước còn trên 10 triệu người chưa tham gia BHXH, nhưng số người tham gia so  
với lực lượng lao động trong độ tuổi lao động còn quá thấp. Do đó, dư địa để vận  
động người tham gia BHXH tự nguyện còn nhiều [5].  
3. NGUYÊN NHÂN NGƯỜI THAM GIA BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ  
NGUYỆN CHƯA NHIỀU  
- Hằng năm, tỉ lệ di dân từ nông thôn ra thành thị rất lớn. Điều này gây ra hệ  
luỵ cho vùng nông thôn. Do phần lớn lao động có sức khoẻ, có tri thức di cư ra  
thành phố sống nên nông thôn rơi vào tình trạng thiếu lao động. Đa số công việc ở  
nông thôn chỉ theo mùa vụ, thu nhập bấp bênh, thiếu ổn định. Vì vậy, lao động  
khó có khả năng tham gia để đảm bảo tính liên tục.  
- Một số địa bàn do người dân chủ yếu làm nghề đi biển, buôn bán nên đời  
sống kinh tế khá ổn định. Khi vận động, họ cho cho rằng điều kiện kinh tế của  
mình hoàn toàn có thể trang trải đủ tuổi già nên không cần tham gia để có lương  
về sau.  
- Người dân thuần nông, đời sống kinh tế khó khăn hơn thì rất cần và tích  
cực tham gia để về già có đồng lương hưu. Việc đời sống kinh tế của người dân  
220  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
còn gặp khó khăn không phải là nguyên nhân chính dẫn đến tỉ lệ tham gia BHXH  
tự nguyện thấp.  
- Môi trường làm việc của lao động khu vực phi chính thức không tốt như  
khu vực chính thức, sức khỏe suy giảm nhanh hơn do cường độ và thời gian làm  
việc kéo dài, đặc biệt là nguy cơ bị tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp lớn nên  
rủi ro và độ tuổi bị suy giảm khả năng lao động cao.  
- Tỉ lệ người dân được hưởng trợ giúp xã hội thấp: Mục tiêu hướng tới đảm  
bảo an sinh xã hội hiện nay chủ yếu cho nhóm người yếu thế, không có khả năng  
thu nhập và tham gia BHXH như người nghèo, người khuyết tật và bộ phận người  
già không lương từ 80 tuổi trở lên. Như vậy, mô hình an sinh xã hội của Việt Nam  
chủ yếu bao phủ ở hai nhóm chính: nhóm người nghèo và nhóm lao động trong  
khu vực chính thức có BHXH bắt buộc.  
- Một số người chưa biết thông tin về BHXH tự nguyện, kể cả việc chính  
sách BHXH tự nguyện, chưa biết quyền lợi được hưởng và chưa biết tham gia ở  
đâu, ra sao.  
- Người lao động không đủ tiền để tham gia. Việc thu nhập thấp và không  
ổn định khiến người lao động không tiếp cận đến loại hình BHXH tự nguyện này,  
nhất là đối với những người lao động làm việc ở khu vực nông thôn.  
- Quyền lợi BHXH tự nguyện theo quy định như hiện nay chưa thật sự hấp  
dẫn. Người tham gia BHXH tự nguyện chỉ có hai chế độ; trong khi đó, người  
tham gia BHXH bắt buộc thì lại có năm chế độ. Bên cạnh đó, người dân chưa  
nhận thấy được sự chia sẻ rủi ro khi tham gia BHXH tự nguyện. Họ chỉ thấy rõ sự  
chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHYT, họ có thể nhận được quyền lợi  
nhiều hơn rất nhiều lần số tiền họ bỏ ra nếu họ gặp rủi ro khi tham gia BHYT và  
quyền lợi trong chính sách BHYT đang hấp dẫn họ hơn.  
- Nhiều người lao động chưa được biết hoặc họ chưa quan tâm đến thông tin  
về việc Nhà nước hỗ trợ mức đóng BHXH tự nguyện (từ ngày 01/01/2018). Hơn  
nữa, hằng năm, việc rà soát danh sách phân loại người dân thuộc hộ nghèo, cận  
nghèo, dân có mức sống thu nhập trung bình còn chậm, chính sách hỗ trợ cho các  
nhóm đối tượng này đôi lúc chưa kịp thời.  
- Chưa có tài liệu, quy trình tuyên truyền, vận động người tham gia BHXH  
tự nguyện; chưa hướng dẫn cụ thể về phương thức tiếp cận, vận động người tham  
gia BHXH tự nguyện. Các hình thức mới chỉ dừng lại ở dạng phát tờ rơi, tờ gấp;  
kĩ năng tuyên truyền, vận động của nhân viên đại lí, cán bộ BHXH còn chưa  
chuyên nghiệp, chưa được đào tạo bài bản.  
221  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
4. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ  
NGUYỆN  
4.1. Phương pháp tiếp cận  
- Tiếp cận vòng đời: Vấn đề an sinh xã hội thì vòng đời không đơn thuần từ  
khi sinh ra cho đến khi mất đi mà phải là từ khi chưa sinh (trong bụng mẹ) đến khi  
mất đi vẫn còn thân nhân hưởng chế độ tử tuất [6].  
- Quản trị rủi ro theo phân loại rủi ro: Các rủi ro sinh học như ốm đau, thai  
sản, tuổi già; những rủi ro trong lao động như tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp,  
thất nghiệp.  
- Tiếp cận linh hoạt phù hợp với xu thế thời đại, với tiêu chuẩn quốc tế, với  
biến động của thị trường lao động trong thời kì hội nhập kinh tế quốc tế cùng với  
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 [6].  
- Tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế trong việc thiết kế và tổ chức  
thực hiện chính sách BHXH tự nguyện.  
b. Giải pháp  
- Mở rộng BHXH tự nguyện được xem như vấn đề ưu tiên:  
+ Hiệp hội an sinh xã hội quốc tế (ISSA) đặc biệt quan tâm và cho rằng: để  
mở rộng phạm vi bảo hiểm, việc quản lí và thiết kế các chương trình BHXH đóng  
góp phải tính đến các đặc điểm và hoàn cảnh đặc biệt của các nhóm khó bảo hiểm  
hoặc khó tiếp cận. Vì vậy, thách thức đối với tổ chức an sinh xã hội là phát triển  
các giải pháp hành chính phù hợp để hỗ trợ người lao động không hoạt động trong  
nền kinh tế chính thức và người lao động tự làm chủ được gia nhập hệ thống  
BHXH. Do đó, tham vọng bao phủ bảo hiểm cho toàn bộ dân số chỉ có thể đạt  
được những tiến bộ đáng kể nếu có các chiến lược hiệu quả cho nhóm lao động  
này [6], [8], [9].  
+ Bản chất và đặc điểm của người tự làm chủ khác nhau giữa các nước và  
cũng khác nhau ngay trong mỗi quốc gia. Khác nhau giữa các nhóm lao động dễ  
bị tổn thương và được trả lương thấp nhất, những người làm nghề tự do, những  
người lao động trong khu vực phi chính thức, những người trong nền kinh tế  
chính thức.  
+ Thực tế cho thấy, độ bao phủ của BHXH được mở rộng đáng kể và nhanh  
chóng khi thực hiện thành công BHXH tự nguyện. Tuy nhiên, để đạt được điều  
này, Chính phủ cần có một số biện pháp hỗ trợ bổ sung như hỗ trợ đóng, đơn giản  
hoá thủ tục tham gia, xây dựng chính sách về lợi ích và mức đóng góp phù hợp  
với người tự làm chủ.  
- Nhà nước cần phải nâng mức hỗ trợ đóng và cho phép người tham gia  
BHXH tự nguyện được hưởng đầy đủ các chế độ như khi tham gia BHXH bắt  
222  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
buộc. Kinh nghiệm của Trung Quốc có thể thu hút người lao động ở khu vực phi  
chính thức vì họ vừa giảm chi phí đóng góp vào BHXH, vừa được hưởng thêm lợi  
ích từ sự hỗ trợ của Nhà nước, nhưng điều này sẽ làm tăng gánh nặng cho ngân  
sách.  
- Một số định hướng khi triển khai:  
+ Hình thức triển khai: Tổ chức hội nghị tuyên truyền hướng tới người lao  
động ở từng nhóm độ tuổi khác nhau. Cụ thể:  
Đối với nhóm có độ tuổi từ 60 trở lên không phải là đối tượng hưởng lương  
hưu, trợ cấp mất sức lao động: Nhóm người này chỉ nên tiếp xúc thông qua người  
thân trong gia đình như con cháu hỗ trợ đóng BHXH tự nguyện tuỳ theo mức vận  
động tham gia phù hợp với khả năng tài chính hiện có của từng gia định. Từ đó,  
để gia đình có được chế độ mai táng phí và tuất 1 lần về sau. Vì đây cũng là một  
khoản chi phí để gia đình và người thân lo mai táng phí, giảm bớt gánh nặng.  
Người tham gia BHXH bắt buộc đã nghỉ mà chưa đủ 20 năm công tác và có  
tuổi đời gần đến tuổi hưởng lương hưu.  
Nhóm người có thu nhập thường xuyên như hộ kinh doanh cá thể, buôn bán,  
nghề nghiệp ổn định ở thành thị và nông thôn: Vận động họ tham gia mức đóng  
cao để được hưởng hưu trí ở mức cao.  
Nhóm người lao động khoán ở các tất cả đơn vị sự nghiệp: Họ có thu nhập  
theo hình thức khoán và thu nhập thường xuyên nên dễ có điều kiện tham gia.  
Chủ yếu bằng hình thức vận động qua chủ sử dụng (chủ quản lí) để tuyên truyền  
vận động, thuyết phục tham gia.  
Nhân viên các đại lí thu, cộng tác viên và thân nhân của họ.  
Nhóm người trong các hội đoàn thể như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Đoàn  
Thanh niên, Hội Cựu chiến binh, các hội nghề nghiệp.  
Người đồng bào dân tộc thiểu số, có đời sống kinh tế phát triển tương  
đối khá.  
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền đến vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân  
tộc thiểu số, đến tổ dân phố, cụm dân cư. Đặc biệt là phát huy vai trò của già làng,  
trưởng ấp hoặc người có uy tín, các chư vị chức sắc tôn giáo của địa phương.  
Người lao động nghỉ việc, dừng đóng BHXH nhưng chưa đến thời gian  
hưởng lương hưu và chưa nhận trợ cấp BHXH một lần; người lao động đang  
hưởng trợ cấp thất nghiệp; hộ kinh doanh cá thể, tiểu thương; công nhân, thợ thủ  
công có hợp đồng mùa vụ tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh; lao động tự do trên  
địa bàn xã, phường, thị trấn có thu nhập tương đối ổn định.  
Sự ủng hộ và tạo điều kiện của chính quyền địa phương các cấp cùng với sự  
phối hợp chặt chẽ giữa các ngành, các hội đoàn thể.  
223  
Hội thảo Khoa học  
“Các vấn đề đương đại trong lĩnh vực Kinh tế, Luật: Từ lí thuyết đến thực tiễn”  
Thường xuyên tổ chức hội nghị, hội thảo trong toàn quốc để chia sẽ mô hình  
và kinh nghiệm để nắm bắt các thông tin có cơ sở đề nghị hoàn thiện chính sách  
BHXH tự nguyện.  
Công tác tuyên truyền, hội nghị phải lựa chọn địa bàn, rà soát trước nguồn  
đối tượng tiềm năng, thời điểm thu hoạch mùa vụ của người dân.  
Tài liệu minh họa phải sống động, dùng hình ảnh quảng bá người đã được  
hưởng chế độ khi đã tham gia loại hình này.  
Các yếu tố công nghệ hỗ trợ chiến lược cho các chuyển đổi cải thiện dịch vụ  
khách hàng thông qua tương tác với cá nhân qua cổng thông tin. Cụ thể, triển khai  
hệ thống tương tác đa phương tiện với các dịch vụ: call center; chatbot; ứng dụng  
trí tuệ nhân tạo; trang mạng xã hội Fanpage; chuyên trang BHXH với các tổ chức,  
cá nhân; thanh toán điện tử; ứng dụng qua di động; tin nhắn thương hiệu; đánh giá  
sự hài lòng.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Hiến pháp Nước CHXHCN Việt Nam năm 2013.  
[2] Bộ Chính trị. Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2012 về công tác bảo hiểm  
xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2012 – 2020.  
[3] Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018  
về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội.  
[4] Bảo hiểm Xã hội Việt Nam. Báo cáo kết quả hoạt động 09 tháng đầu năm  
2020.  
[5] Chính phủ Nước CHXHCN Việt Nam. Nghị định số 134/2015/NĐ-CP, ngày  
29/12/2015 quy định chi tiết một số điều của Luật bảo hiểm xã hội về bảo  
hiểm xã hội tự nguyện.  
[6] Bùi Sỹ Tuấn. Cơ sở lý luận và thực tiễn mở rộng diện bao phủ BHXH với lao  
động khu vực phi chính thức. Tạp chí Bảo hiểm Xã hội, Bộ Lao động –  
Thương binh và Xã hội.  
[7] Bích Thủy. Tăng cường các giải pháp phát triển đối tượng tham gia BHXH tự  
nguyện. Tạp chí Bảo hiểm Xã hội. 2018.  
[8] Công ước số 102 của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) ban hành năm 1952.  
[9] Nguyễn Ngọc Toàn. Giải pháp xây dựng hệ thống BHXH đa tầng, bền vững ở  
Việt Nam. Tạp chí Bảo hiểm Xã hội, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí  
Minh.  
224  
pdf 7 trang baolam 30000 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phát triển người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đề xuất giải pháp của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphat_trien_nguoi_tham_gia_bao_hiem_xa_hoi_tu_nguyen_de_xuat.pdf