Đánh giá chất lượng dự báo nhiệt độ từ hệ thống dự báo tổ hợp hạn mùa (Vareps) của ECMWF cho khu vực Việt Nam

NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI  
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG DỰ BÁO NHIỆT ĐỘ TỪ  
HỆ THỐNG DỰ BÁO TỔ HỢP HẠN MÙA (VAREPS) CỦA  
ECMWF CHO KHU VỰC VIỆT NAM  
Võ Văn Hòa(1), Mai Văn Định(1), Dư Đức Tiến(2), Nguyễn Mạnh Linh(2)  
(1)Đài Khí tượng Thủy văn khu vực Đồng bằng Bắc Bộ  
(2)Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương  
hất lượng dự báo hạn mùa cho nhiệt độ trung bình tháng, nhiệt độ tối cao ngày  
trung bình tháng và nhiệt độ tối thấp ngày trung bình tháng từ hệ thống dự báo tổ  
C
hợp hạn mùa (VarEPS) của Trung tâm Dự báo thời tiết hạn vừa Châu Âu  
(ECMWF) được đánh giá tại 171 điểm trạm khí tượng bề mặt của Việt Nam. Các kết quả đánh  
giá cho thấy xu thế sai số tương đối rõ và sai số dự báo nhỏ hơn sai số dự báo quán tính khí hậu.  
Theo khu vực, sai số dự báo tại các khu vực đồng bằng và trung du nhỏ hơn các khu vực miền  
núi. Theo mùa, sai số dự báo trong mùa hè (6 - 8) nhỏ hơn so với mùa đông (12 - 2).  
Từ khóa: đánh giá, dự báo nhiệt độ hạn mùa, ECMWF.  
1. Mở đầu  
còn hạn chế do nhiều nguyên nhân khác nhau.  
Số liệu dự báo từ hệ thống dự báo tổ hợp hạn  
Do nhiều nguyên nhân khác nhau, công tác  
dự báo hạn mùa ở Việt Nam mới được quan tâm mùa (VarEPS) của ECMWF đang được thu thập  
đầu tư trong vài năm trở lại đây trong đó việc và khai thác TTDBTƯ tại độ phân giải 0,750 x  
nghiên ứng dụng các sản phẩm dự báo hạn mùa 0,750, hạn dự báo đến 6 tháng. Tuy nhiên, do hạn  
từ các hệ thống mô hình dự báo toàn cầu và khu chế về đường truyền và tổng dung lượng khai  
vực đã và đang được triển khai (Phan Văn Tân thác dữ liệu theo hợp đồng với ECMWF, hiện tại  
và cộng sự, 2011 [4], Vũ Thanh Hằng và Nguyễn mới chỉ thu thập các dự báo trung bình tổ hợp  
Thị Hạnh, 2014 [3], Tạ Hữu Chỉnh và cộng sự, của một số biến bề mặt như khí áp, nhiệt độ,  
2013 [1], ...). Hầu hết các nghiên cứu đã cho thấy mưa, gió, độ ẩm và trên cao gồm các biến độ cao  
việc ứng dụng các mô hình dự báo số trị để đưa địa thế vị, nhiệt độ, gió và độ ẩm tại các mực  
ra các dự báo hạn mùa có thể đem lại những đẳng áp 925, 850, 700, 500, 400, 300, 200mb.  
thông tin tham khảo hữu ích cho dự báo viên Giá trị dự báo của các biến nói trên đã được tính  
theo cả khía cạnh tham khảo hình thế cũng như toán xử lý về dạng trung bình tháng hoặc tổng  
trị số dự báo tại các điểm trạm. Để nâng cao chất trong tháng của mùa được dự báo. Dữ liệu được  
lượng dự báo hạn vừa và hạn dài tại Trung tâm lấy trên quy mô toàn cầu và được thu thập tại  
Dự báo KTTV trung ương (TTDBTƯ), các sản phiên dự báo vào ngày 9 hàng tháng. Cho đến  
phẩm và số liệu dự báo của ECMWF đã được nay, số liệu dự báo hạn mùa của ECMWF được  
đầu tư mua từ năm 2011 và tổ chức khai thác tại thu thập mới chỉ được sử dụng để tạo ra các sản  
các đơn vị dự báo ở trung ương và địa phương phẩm dự báo trường để phục vụ dự báo nghiệp  
cho đến nay. Các sản phẩm và số liệu dự báo của vụ. Chưa có nghiên cứu nào đánh giá cụ thể chất  
ECMWF đã và đang được khai thác hiệu quả và lượng dự báo hạn mùa của nguồn số liệu này.  
góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất Trong nghiên cứu này, chúng tôi tiến hành đánh  
lượng dự báo KTTV nói chung và các hiện giá chất lượng dự báo hạn mùa cho nhiệt độ  
tượng KTTV nguy hiểm nói riêng, đặc biệt là trung bình tháng, nhiệt độ tối cao ngày trung  
công tác dự báo hạn ngắn và hạn vừa. Tuy nhiên, bình tháng và nhiệt độ tối thấp ngày trung bình  
ở quy mô dự báo hạn mùa, việc khai thác vẫn tháng của ECMWF được đánh giá tại 171 điểm  
TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN  
Số tháng 12 - 2016  
20  
NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI  
trạm khí tượng bề mặt của Việt Nam dựa trên tính theo công thức như sau:  
chuỗi số liệu từ 1/2012 đến 6/2016. Chi tiết về  
171 điểm trạm được nghiên cứu có thể tham  
SS = 1 – RMSEmodel/RMSEref (1)  
Trong đó RMSEmodel là sai số quân phương  
khảo trong nghiên cứu của Võ Văn Hòa và cộng của dự báo trực tiếp từ ECMWF và RMSEref là  
sự (2016) [2]. sai số quân phương của dự báo đối chứng (dự  
2. Mô tả tập số liệu và phương pháp báo quán tính khí hậu). Nếu SS âm hoặc bằng 0,  
đánh giá  
dự báo từ ECMWF là không có kỹ năng dự báo,  
Để đánh giá được chất lượng dự báo hạn mùa ngược lại, nếu SS dương thì dự báo từ ECMWF  
từ hệ thống VarEPS của ECMWF cho khu vực có kỹ năng dự báo do có sai số nhỏ hơn sai số  
Việt Nam, các nguồn số liệu được thu thập gồm: của dự báo đối chứng. Giá trị SS càng gần 1 thì  
- Số liệu quan trắc nhiệt độ trung bình ngày kỹ năng dự báo càng cao.  
(T2m), nhiệt độ tối cao ngày (Tmax), nhiệt độ  
Không gian đánh giá được thực hiện tại từng  
tối thấp ngày (Tmin) của 171 trạm quan quan điểm trạm, cụ thể là tại 171 trạm quan trắc khí  
trắc khí tượng bề mặt [2] từ 1/1/2012 đến tượng bề mặt. Để tính giá trị sai số đặc trưng cho  
30/6/2016. Số liệu quan trắc ngày này được sử từng vùng, chuỗi số liệu đánh giá của các điểm  
dụng để tính toán các đặc trưng trung bình tháng̣ trạm trong vùng đó sẽ được gộp lại thành 1 chuỗi  
của nhiệt độ.  
số liệu để đánh giá. Các khu vực được đánh giá  
- Số liệu dự báo hạn mùa của ECMWF cho gồm Tây Bắc (TB), Việt Bắc (VB), Đông Bắc  
các yếu tố T2m, Tmax và Tmin trung bình tháng (ĐB), Đồng bằng Bắc Bộ (ĐBBB), Bắc Trung  
cho giai đoạn từ tháng 1/2012 - 6/2016. Số liệu Bộ (BTB), Trung Trung Bộ (TTB), Nam Trung  
này được cung cấp trên lưới có độ phân giải 0,75 Bộ (NTB), Tây Nguyên (TN) và Nam Bộ (NB).  
độ.  
Theo mùa, chúng tôi tiến hành đánh giá cho 4  
Để đảm bảo việc đánh giá không bị ảnh mùa gồm mùa thu (tháng 9 -11), mùa hè (tháng  
hưởng bởi sai số quan trắc, số liệu quan trắc tại 6 - 8), mùa đông (tháng 12 - 2) và mùa xuân  
các trạm khí tượng bề mặt được kiểm tra chất (tháng 3 - 5). Đối với bài toán dự báo hạn mùa,  
lượng trước khi được sao lưu vào CSDL. Các ngoài khái niệm “hạn dự báo”, người ta còn sử  
bước kiểm tra gồm kiểm tra logic, kiểm tra vật lý dụng thêm khái niệm “tháng được dự báo” (tar-  
và kiểm tra không gian theo tiêu chí 3 sigma.  
get month). Hình 1 dưới đây minh họa sơ đồ dự  
Để chỉ ra được chất lượng dự báo hạn mùa báo hạn mùa trong đó mỗi tháng có 1 dự báo cho  
của ECMWF cho khu vực Việt Nam, việc lựa đến 6 tháng tiếp theo. Như vậy, tại tháng 7 (tháng  
chọn được phương pháp đánh giá phù hợp là hết được dự báo), sẽ có các dự báo từ tháng 2, 3, 4,  
sức quan trọng. Tùy thuộc vào yếu tố cần đánh 5 và 6 có dự báo cho tháng 7 và tạo ra 5 giá trị  
giá, các phương pháp đánh giá và chỉ số đánh giá dự báo này. Tập dự báo này sẽ được sử dụng để  
khác nhau sẽ được sử dụng. Trong nghiên cứu đánh giá chất lượng dự báo cho tháng 7. Kết quả  
này, cách tiếp cận đánh giá tại điểm trạm được đánh giá theo 4 mùa nói trên sẽ dựa trên kết quả  
thực hiện. Do các biến T2m, Tmax và Tmin là đánh giá của từng tháng trong mùa.  
các biến liên tục, nên các chỉ số đánh giá gồm  
sai số trung bình (ME), sai số tuyệt đối (MAE)  
và sai số quân phương (RMSE) [2]. Để chứng  
minh dự báo hạn mùa của ECMWF có kỹ năng  
dự báo, dự báo theo quán tính khí hậu (lấy giá  
trị trung bình khí hậu của tháng để làm dự báo  
cho tháng đó) được sử dụng để làm dự báo đối  
chứng. Chỉ số SS (Skill Score) được sử dụng và  
Hình 1. Sơ đồ minh họa sơ đồ dự báo hạn mùa  
TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN  
Số tháng 12 - 2016  
21  
NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI  
Để đưa giá trị dự báo trên lưới về điểm trạm, trung bình tháng thứ 6). Nếu xem xét trên cả 6  
chúng tôi sử dụng phương pháp nội suy song tháng dự báo, Giá trị trung bình của sai số ME  
tuyến tính [2]. Phương pháp này sử dụng ô lưới đối với T2m dao động trong khoảng 1.5-30C, đối  
2 x 2 điểm nút lưới để nội suy về điểm trạm nằm với Tmax là 2-3.50C, Tmin là 2.5-4.00C. Nếu so  
bên trong theo nguyên tắc trung bình có trọng số sánh giữa 9 khu vực được đánh giá, giá trị ME  
theo khoảng cách. Để hạn chế ảnh hưởng của của các khu vực ĐBBB, BTB, TTB, NTB và NB  
hiệu ứng làm trơn gradient dọc theo bờ biển, mặt nhỏ hơn so với các khu vực còn lại. Hay nói cách  
nạ đất/biển được sử dụng để xác định xem các khác, sai số hệ thống ở các khu vực miền núi thể  
nút lưới được lựa chọn là nằm trên đất liền hay hiện rõ hơn (thông qua trị số ME) so với các khu  
trên biển. Việc sử dụng sai nút lưới để nội suy vực đồng bằng và trung du.  
có thể dẫn tới sai số lớn. Ví dụ, nếu điểm trạm  
Các hình 5, 6 và 7 lần lượt đưa ra kết quả tính  
nằm trên đất liền, trong khi các điểm nút lưới sử toán chỉ số RMSE cho dự báo T2m, Tmax và  
dụng để nội suy nằm trên biển có thể gây ra Tmin trung bình cho các tháng dự báo thứ 1, thứ  
những sai số trong dự báo nhiệt độ, độ ẩm và gió. 3 và thứ 6. Trong khi các bảng 1 và 2 tương ứng  
Hình 2 đưa ra sơ đồ minh họa cách thức sử dụng đưa ra kết quả đánh giá dựa trên chỉ số RMSE  
mặt nạ đất/biển để xác định chính xác loại nút cho từng khu vực và mùa dự báo. Từ các kết quả  
lưới cũng như điểm cần nội suy thuộc về.  
đánh giá nhận được, chúng tôi có một số nhận  
xét như sau:  
- Các khu vực ĐBBB, BTB, TTB, NTB và  
NB có sai số dự báo nhỏ hơn so với các khu vực  
TB, VB, ĐB và TN. Sai số dự báo Tmin có trị số  
RMSE lớn hơn so với sai số trong dự báo T2m  
và Tmax. Chỉ số RMSE tăng theo hạn dự báo.  
- Nếu tính theo trung bình trên toàn bộ Việt  
Nam, giá trị RMSE đối với dự báo T2m dao  
động trong khoảng 2-3.20C, đối với Tmax là 2.2-  
3.50C và Tmin là 2.5-4.50C. Nếu so với dự báo  
quán tính khí hậu (lấy giá trị trung bình khí hậu  
của tháng để làm dự báo cho tháng đó), thì rõ  
ràng dự báo hạn mùa cho T2m, Tmax và Tmin  
của ECMWF có kỹ năng dự báo (có sai số dự  
báo nhỏ hơn, xem bảng 3).  
Hình 2. Sơ đồ minh họa xác định điểm nội suy  
là trên đất liền (màu xanh lá cây) hoặc trên  
biển (màu xanh nước biển)  
3. Một số kết quả nghiên cứu  
Hình 3 đưa ra kết quả tính toán chỉ số ME  
- Sai số dự báo hạn mùa cho các yếu tố T2m,  
(hiệu giữa dự báo và quan trắc) cho các yếu tố Tmax và Tmin của ECMWF là tương đối ổn  
T2m, Tmax và Tmin trung bình trong tháng dự định, ít có đột biến do giá trị sai số MAE và  
báo đầu tiên (tháng thứ 1) tại 171 điểm trạm RMSE không có nhiều khác biệt (sự khác biệt  
được đánh giá. Từ hình 3 có thể thấy đối với dự nhiều là do xuất hiện các giá trị sai số lớn bất  
báo T2m và Tmax, dự báo hạn mùa từ ECMWF thường).  
có xu hướng thiên thấp trong khi dự báo Tmin  
- Sai số dự báo của hầu hết các yếu tố được  
có xu hướng thiên cao tại hầu hết các trạm được đánh giá trong mùa thu và mùa xuân nhỏ hơn so  
đánh giá. Xu thế sai số hệ thống giữ ổn định giữa với mùa đông và mùa hè, trong đó sai số lớn nhất  
các tháng được dự báo (nếu dự báo tháng thứ được tìm thấy vào mùa đông (do tính biến động  
nhất có xu thế thiên thấp thì các tháng còn lại lớn của các hình thế thời tiết quy mô lớn trong  
cũng có xu thế thiên thấp, xem hình 4 cho dự báo mùa này).  
TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN  
Số tháng 12 - 2016  
22  
NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI  
Hình 3. Kết quả tính toán chỉ số ME tại các điểm trạm cho dự báo T2m (trái), Tmax (giữa) và Tmin  
(phải) trung bình tháng thứ 1 từ ECMWF  
Hình 4. Tương tự hình 3 nhưng cho dự báo trung bình tháng thứ 6 từ ECMWF  
Hình 5. Kết quả tính toán chỉ số RMSE tại các điểm trạm cho dự báo T2m trung bình tháng thứ 1  
(trái), tháng thứ 3 (giữa) và tháng thứ 6 (phải) từ ECMWF  
Hình 6. Tương tự hình 5 nhưng cho dự báo Tmax từ ECMWF  
TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN  
Số tháng 12 - 2016  
23  
NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI  
Hình 7. Tương tự hình 5 nhưng cho dự báo Tmin từ ECMWF  
Bảng 1. Kết quả tính toán chỉ số RMSE trung bình cho dự báo tháng thứ 1 tại 9 khu vực nghiên cứu  
YӃu tӕ dӵ báo  
Khu vӵc  
Tây Bҳc  
T2m trung  
bình tháng  
Tmax trung Tmin trung  
bình tháng  
4,6  
bình tháng  
4,8  
4,2  
3,9  
3,6  
2,4  
2,8  
2,9  
3,4  
3,7  
2,9  
ViӋt Bҳc  
4,4  
4,7  
Ĉông Bҳc  
4,1  
4,3  
Ĉӗng bҵng Bҳc Bӝ  
Bҳc Trung Bӝ  
Trung Trung Bӝ  
Nam Trung Bӝ  
Tây Nguyên  
Nam Bӝ  
2,5  
2,8  
3,1  
3,2  
3,1  
3,2  
3,9  
4,1  
4,0  
4,2  
3,2  
3,3  
Bảng 2. Kết quả tính toán chỉ số RMSE trung bình cho các mùa dự báo đối với dự báo tháng 1 từ hệ thống  
dự báo hạn mùa của từ ECMWF  
YӃu tӕ dӵ báo  
Mùa  
T2m trung  
bình tháng  
Tmax trung Tmin trung  
bình tháng  
bình tháng  
Mùa xuân  
2,8  
3,8  
3,0  
4,0  
3,0  
3,8  
3,1  
4,1  
2,9  
3,5  
2,8  
4,0  
Mùa hè  
Mùa thu  
Mùa ÿông  
Bảng 3. Kết quả tính toán chỉ số kỹ năng dự báo (SS) trung bình cho dự báo tháng thứ 1 tại 9 khu vực  
nghiên cứu  
YӃu tӕ dӵ báo  
Khu vӵc  
T2m trung  
bình tháng  
Tmax trung Tmin trung  
bình tháng  
0,64  
bình tháng  
0,72  
Tây Bҳc  
0,65  
0,55  
0,48  
0,40  
0,52  
0,46  
0,38  
0,58  
0,35  
ViӋt Bҳc  
0,57  
0,64  
Ĉông Bҳc  
0,61  
0,56  
Ĉӗng bҵng Bҳc Bӝ  
Bҳc Trung Bӝ  
Trung Trung Bӝ  
Nam Trung Bӝ  
Tây Nguyên  
Nam Bӝ  
0,42  
0,52  
0,48  
0,52  
0,41  
0,49  
0,42  
0,46  
0,62  
0,64  
0,41  
0,48  
TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN  
Số tháng 12 - 2016  
24  
NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI  
4. Kết luận  
mùa từ ECMWF cho các yếu tố nói trên có kỹ  
Bài báo này đã đưa ra kết quả đánh giá chất năng dự báo. Do đó, việc tham khảo các sản  
lượng dự báo hạn mùa cho nhiệt độ trung bình phẩm dự báo hạn mùa của ECMWF trong  
tháng (T2m), nhiệt độ tối cao ngày trung bình nghiệp vụ là hoàn toàn khả thi. Theo khu vực,  
tháng (Tmax) và nhiệt độ tối thấp ngày trung sai số dự báo tại các khu vực đồng bằng và trung  
bình tháng (Tmin) từ hệ thống dự báo tổ hợp hạn du nhỏ hơn các khu vực miền núi. Theo mùa, sai  
mùa của ECMWF. Các kết quả đánh giá được số dự báo trong mùa hè (6-8) nhỏ hơn so với mùa  
thực hiện tại 171 điểm trạm khí tượng bề mặt của đông (12-2).  
Việt Nam dựa trên chuỗi số liệu từ 1/1/2012 đến  
Mặc dù có kỹ năng dự báo, nhưng kết quả  
30/6/2016. Các kết quả đánh giá cho thấy dự báo đánh giá cũng chỉ ra xu thế sai số hệ thống tương  
nhiệt độ trung bình tháng, nhiệt độ tối cao ngày đối rõ trong dự báo T2m, Tmax và Tmin của  
trung bình tháng có xu thế thiên thấp (lạnh hơn), ECMWF. Để tiếp tục cải tiến được chất lượng  
trong khi dự báo nhiệt độ tối thấp ngày trung dự báo các yếu tố này, chúng tôi đề xuất nghiên  
bình tháng có xu thế thiên cao (nóng hơn). Nếu cứu sử dụng các phương pháp thống kê để tiếp  
tính theo trung bình trên toàn bộ Việt Nam, giá tục hiệu chỉnh dự báo các yếu tố nhiệt độ nói  
trị sai số quân phương đối với dự báo T2m dao trên. Bên cạnh đó, để cung cấp cái nhìn toàn diện  
động trong khoảng 2-3.20C, đối với Tmax là 2.2- về chất lượng dự báo hạn mùa của ECMWF, cần  
3.50C và Tmin là 2.5-4.50C. Tuy nhiên, các kết tiếp tục đánh giá chất lượng dự báo hạn mùa cho  
quả tính toán chỉ số SS đã cho thấy dự báo hạn một số yếu tố khác như mưa, độ ẩm, gió, ...  
Lời cảm ơn: bài báo này được hoàn thành dựa trên các tài liệu và số liệu được cung cấp từ đề tài  
NCKH cấp Bộ “Nghiên cứu ứng dụng số liệu dự báo của Trung tâm Dự báo thời tiết hạn vừa Châu  
Âu để nâng cao chất lượng dự báo hạn tháng và hạn mùa cho khu vực Việt Nam” do TTDBTƯ chủ  
trì thực hiện.  
Tài liệu tham khảo  
1. Tạ Hữu Chỉnh và nnk (2013) , Nghiên cứu, xây dựng hệ thống dự báo tổ hợp hạn mùa dựa trên  
kết quả dự báo của các mô hình nghiệp vụ toàn cầu, Thuyết minh đề cương Đề tài KHCN cấp Bộ,  
mã số TNMT.05-25.  
2. Võ Văn Hòa và cộng sự (2016), Nghiên cứu ứng dụng số liệu dự báo của Trung tâm Dự báo  
thời tiết hạn vừa Châu Âu để nâng cao chất lượng dự báo hạn tháng và hạn mùa cho khu vực Việt  
Nam, Báo cáo tổng kết đề tài NCKH cấp Bộ, 129tr.  
3. Vũ Thanh Hằng và Nguyễn Thị Hạnh (2014), Thử nghiệm dự báo hạn mùa nhiệt độ trung bình  
tháng và lượng mưa tháng cho Việt Nam sử dụng mô hình clWRF, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, tập  
30, số 1 (2014), tr 31-40.  
4. Phan Văn Tân và nnk (2011), Nghiên cứu xây dựng hệ thống mô hình dự báo hạn mùa cho một  
số hiện tượng khí hậu cực đoan phục vụ phòng tránh thiên tai ở Việt Nam, Thuyết minh đề cương  
Đề tài KHCN cấp Nhà nước, mã số ĐT.NCCB-ĐHUD.2011-G/09.  
TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN  
Số tháng 12 - 2016  
25  
NGHIÊN CỨU & TRAO ĐỔI  
VALIDATION OF SEASONAL TEMPERATURE PREDICTION FROM  
VAREPS OF ECMWF OVER VIET NAM  
Vo Van Hoa (1), Mai Van Dinh (1), Du Duc Tien(2), Nguyen Manh Linh(2)  
(1)Regional hydro-meteorological Center for Nothern Delta  
(2)National center for hydro-meteorological forecasting  
Abstract: The seasonal prediction from VarEPS of European Centre for Medium Range Forecast  
(ECMWF) for month-average 2-meters temperature, month-average daily maximum temperature  
and month-average daily minimum temperature is verified at 171 surface weather stations over Viet  
Nam based on dataset of 2012-2016. The verification results points out clearily systemmatic error  
tendency and root mean square error (rmse) is smaller than it’s climatology and persistence fore-  
cast. According to verified area, the forecast quality of delta areas is better in comparison with  
moutain areas (the rmse is smaller). The rmse of summer season is smaller than it’s winter season.  
Key words: forecast verification, seasonal temperature prediction, ECMWF.  
TẠP CHÍ KHÍ TƯỢNG THỦY VĂN  
Số tháng 12 - 2016  
26  
pdf 7 trang Hứa Trọng Đạt 09/01/2024 17360 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá chất lượng dự báo nhiệt độ từ hệ thống dự báo tổ hợp hạn mùa (Vareps) của ECMWF cho khu vực Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_chat_luong_du_bao_nhiet_do_tu_he_thong_du_bao_to_ho.pdf