Đánh giá sự phân hóa giàu nghèo của cộng đồng dân cư miền núi Tỉnh Bình định dưới góc độ địa lí kinh tế - xã hộ

HNUE JOURNAL OF SCIENCE  
DOI: 10.18173/2354-1067.2021-0033  
Social Sciences, 2021, Volume 66, Issue 2, pp. 133-141  
ĐÁNH GIÁ SỰ PHÂN HÓA GIÀU NGHÈO CỦA CỘNG ĐỒNG  
DÂN CƯ MIỀN NÚI TỈNH BÌNH ĐỊNH DƯỚI GÓC ĐỘ ĐỊA LÍ KINH TẾ - XÃ HỘI  
Nguyễn Đức Tôn*1 và Nguyễn Thành Trung2  
1Khoa Khoa học Tự nhiên, Trường Đại học Quy Nhơn  
2Khoa Sư phạm, Trường Đại học Quy Nhơn  
Tóm tắt. Phân hóa giàu nghèo có tác động rất lớn đến việc khai thác nguồn “vốn con  
người”, nhằm đảm bảo sinh kế, nâng cao mức sống, hơn thế nữa là hướng đến công bằng  
trong hưởng thụ các nhu cầu vật chất và tinh thần trong đời sống thường ngày. Bằng  
phương pháp phân tích, so sánh và thống kê toán học, bài báo đánh giá sự phân hóa giàu  
nghèo của cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định dựa vào chỉ tiêu thu nhập bình quân  
đầu người/tháng và được cụ thể thành các tiêu chí là Hệ số GINI, Tiêu chuẩn “40%” và  
chênh lệch 20% thu nhập nhóm cao nhất và thấp nhất. Kết quả đánh giá cho thấy sự phân  
hóa giàu nghèo giai đoạn 2010 - 2018 đạt mức tương đối công bằng (theo chuẩn của Ngân  
hàng thế giới – WB) và có xu hướng tăng lên, hơn nữa qua phương pháp phân nhóm thống  
kê không đều và đánh giá thang điểm, đã xác định mức độ phân hóa giàu nghèo của địa  
phương được chia thành 3 nhóm rõ rệt. Đây là cơ sở quan trọng để địa phương thực hiện  
các chương trình hành động, chính sách giảm nghèo, ổn định sinh kế góp phần nâng cao  
mức sống, hạn chế sự phân hóa giàu nghèo trong thời gian tới.  
Từ khóa: Phân hóa giàu nghèo, thu nhập bình quân đầu người/tháng, hệ số GINI, cộng  
đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định.  
1. Mở đầu  
Hiện nay, trong thời kì hội nhập cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kĩ thuật và  
công nghệ là yếu tố quyết định cho sự phát triển trí tuệ, sáng tạo và đổi mới. Quá trình kinh tế  
mở này dẫn đến những thay đổi rõ rệt trên tất cả khía cạnh trong đời sống thường ngày. Gắn với  
nền sản xuất xã hội này thì sự phân công lao động xã hội với những đặc trưng riêng biệt của các  
thành phần, tầng lớp là một quá tất yếu, chính hiện tượng này đã làm nảy sinh sự chênh lệch về  
nguồn lực phát triển kinh tế và các kết quả đi kèm hay nói cách khác đó chính là sự phân hóa  
giàu nghèo giữa cộng đồng dân cư, lãnh thổ.  
Cộng đồng dân cư miền núi ở Việt Nam là lãnh thổ rất khó khăn, hạn chế về nguồn lực  
phát triển kinh tế - xã hội, điển hình như cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kĩ thuật, trình độ lao động  
sản xuất… và hơn nữa đây là địa bàn tập trung nhiều người nghèo, cộng đồng các dân tộc ít người  
và rất dễ bị tổn thương trước nhưng sự thay đổi của tự nhiên, xã hội. Theo báo cáo của Bộ Lao  
động – Thương bình và Xã hội và Ủy ban Dân tộc, vùng nghèo nhất nước ta hiện nay là ở các địa  
phương miền núi phía tây các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Bình Định, Quảng Nam và Quảng Ngãi;  
tỉ lệ hộ nghèo đa chiều của dân tộc thiểu số lên đến 55,0% tổng số hộ nghèo cả nước [1].  
Ngày nhận bài: 2/3/2021. Ngày sửa bài: 29/4/2021. Ngày nhận đăng: 10/5/2021.  
Tác giả liên hệ: Nguyễn Đức Tôn. Địa chỉ e-mail: [email protected]  
133  
Nguyễn Đức Tôn* và Nguyễn Thành Trung  
Cùng chung với những đặc điểm của cộng đồng dân cư miền núi của Việt Nam và các tỉnh,  
để nâng cao đời sống người dân, giúp cải thiện sinh kế và giảm nghèo, ở tỉnh Bình Định đã áp  
dụng triển khai và thực hiện Chương trình 135, 134, 30a, nông thôn mới và đã đạt được một số  
kết quả nhất định như: Thu nhập bình quân đầu người/tháng tăng lên (trong giai đoạn 2010 –  
2018 tăng lên gần 2,0 lần), tỉ lệ hộ nghèo giảm (giảm gần 6% giai đoạn 2016-2018), nhiều hộ  
dân thoát nghèo vươn lên phát triển kinh tế, sinh kế dần được chuyển đổi theo hướng tích cực,  
mức sống dần được nâng cao [2]. Ngược lại với hình ảnh này, là sự thiếu hụt, khó khăn về thu  
nhập, chi tiêu trong đời sống của một số hộ dân, nhóm dân cư khác trên địa bàn, sinh kế không  
ổn định và các hộ dân rơi vào trình trạng nghèo của địa phương, mức sống thấp [2], [3].  
Dưới góc độ Địa lí kinh tế - xã hội, bài báo tiến hành đánh giá sự phân hóa giàu nghèo của  
cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định theo lãnh thổ cấp huyện dựa vào chỉ tiêu Thu nhập  
bình quân đầu người/tháng, ở chỉ tiêu này đã phân thành 5 nhóm dân cư (ngũ phân vị) theo  
Tổng cục Thống kê và đây cũng chính là khách thể nghiên cứu chính của bài báo này. Sở dĩ tác  
giả lựa chọn chỉ tiêu TNBQĐN/tháng để phân tích sự phân hóa giàu nghèo vì đây là chỉ tiêu có  
vai trò quan trọng và quyết định đến mức sống của cộng đồng dân cư, nó không chỉ phản ánh  
được mức tích lũy của người dân mà còn ảnh hưởng đến các chỉ tiêu khác như: Y tế, giáo dục,  
điều kiện sống về sử dụng điện, nhà ở, phương tiện thiết bị trong gia đình… và hơn nữa phản  
ánh khá rõ rệt hướng tiếp cận nghèo đa chiều giai đoạn 2016 – 2020 và 2021 – 2025 của Bộ Lao  
động, Thương bình và xã hội [4], [5], [6], [7], [8].  
Từ chỉ tiêu TNBQĐN/tháng tác giả xác định Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập  
(GINI), Tiêu chuẩn “40%”, Chênh lệch 20% nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất, các tiêu chí  
được đánh giá theo 5 nhóm dân cư và so sánh theo lãnh thổ cấp huyện và được đánh giá, xếp  
hạng tương ứng với chuẩn của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố hàng năm.  
2. Nội dung nghiên cứu  
2.1. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu  
2.1.1. Dữ liệu nghiên cứu  
Nguồn dữ liệu chủ yếu để nghiên cứu này đươc thực hiện là Kết quả báo cáo về phát triển  
KT – XH, thu nhập hàng năm ở các huyện miền núi tỉnh Bình Định [2], Dữ liệu mức sống dân  
cư của địa phương trong các báo cáo thống kê [15]… Các kết quả được phân tích, so sánh với  
dữ liệu toàn tỉnh và có kế thừa với Kết quả khảo sát mức sống dân cư hàng năm của Tổng Cục  
thống kê [6], [8]. Hơn nữa, để có thể làm rõ hơn các nhận định qua dữ liệu thứ cấp này, nhóm  
tác giả tiến hành khảo sát, thực địa và tiến hành phỏng vấn nhanh các hộ dân trên địa bàn để đưa  
ra những kết luận khoa học và có ý nghĩa.  
2.1.2. Phương pháp nghiên cứu  
Trên cơ sở đối tượng nghiên cứu, nhóm tác giả đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu  
đặc trung của Địa lí như thu thập, phân tích, xử lí dữ liệu thứ cấp; phương pháp khảo sát, thực  
địa; phương pháp phỏng vấn nhanh; phương pháp bản đồ - biểu đồ.  
Ngoài ra, phương pháp phân nhóm thống kê có khoảng cách không đều [10], [12] kết hợp  
với phương pháp đánh giá thang điểm Error! Reference source not found. được áp dụng để so  
sánh sự phân hóa giàu nghèo theo lãnh thổ nhằm phân hạng mức độ phân hóa giàu nghèo theo  
các huyện.  
a. Xác định nhóm và điểm các nhóm  
Tác giả lựa chọn 3 tiêu chí để phân bố thống kê (1) Hệ số GINI, (2) Tiêu chuẩn “40%”, (3)  
Chênh lệch 20% nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất (tiêu chí thu nhập bình quân đầu  
người/tháng không được lựa chọn vì nó chỉ phản ánh giá trị trung bình cho cộng đồng dân cư  
mà chưa phản ánh được sự phân hóa). Các tiêu chí được phân thành 3 nhóm: Nhóm Thấp,  
134  
Đánh giá sự phân hóa giàu nghèo của cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định…  
Nhóm Trung bình và Nhóm Cao. Điểm số tương ứng mỗi nhóm là 1, 2 và 3 (riêng tiêu chí (2)  
Tiêu chuẩn “40%” có điểm số ngược lại 3, 2, 1 vì giá trị càng cao thì sự phân hóa giàu nghèo  
càng thấp).  
b. Phân hạng mức độ phân hóa giàu nghèo  
Sau khi xác định các nhóm và điểm tương ứng của các tiêu chí, tổng điểm từ các tiêu chí  
phản ánh mức độ phân hóa giàu nghèo theo lãnh thổ cấp huyện, theo đó tổng điểm càng cao  
chứng tỏ sự phân hóa giàu nghèo so với các huyện còn lại sâu sắc hơn.  
2.2. Thực trạng phân hóa giàu nghèo cộng đồng dân cư các huyện miền núi tỉnh  
Bình Định giai đoạn 2010 - 2018  
2.2.1. Khái quát mức thu nhập bình quân đầu người/tháng và tỉ lệ hộ nghèo  
a. Thu nhập bình quân đầu người/tháng  
Cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định gồm các huyện An Lão, Hoài Ân, Vĩnh Thạnh,  
Tây Sơn và Vân Canh. Tổng diện tích là 3.663,4 km2 (chiếm 60,3% diện tích toàn tỉnh) và 293,2  
nghìn người (chiếm 19,1% dân số toàn tỉnh), mật độ dân số trung bình 80 người/km2 (thấp hơn  
3 lần trung bình toàn tỉnh). Đây là địa bàn có quy mô đất đai, nguồn thủy lợi dồi dào tạo cơ hội  
lớn cho phát triển nông, lâm nghiệp. Giá trị sản xuất các ngành kinh tế chỉ chiếm hơn 10% toàn  
tỉnh và mức thu nhập bình quân đầu người ở mức thấp so với tình và cộng đồng dân cư đồng  
bằng, ven biển và có chiều hướng tăng lên.  
Hình 1. Thu nhập bình quân đầu người/tháng của cộng đồng dân cư miền núi  
tỉnh Bình Định giai đoạn 2010 – 2018 (nghìn đồng) [2], [3]  
Năm 2010, TNBQĐN/tháng chỉ đạt 762 nghìn đồng, bằng 66,0% TB toàn tỉnh và 44,2%  
cộng đồng dân cư đồng bằng, ven biển. Đến năm 2018 tăng lên 2.032 nghìn đồng (tăng hơn 2,6  
lần so với năm 2010), tương ứng bằng 64,8% và 59,1%. Tốc độ tăng trưởng đạt 13,1%/năm.  
Cùng với sự tăng lên chung của vùng, TNBQĐN/tháng của các đơn vị hành chính cấp huyện ở  
cộng đồng dân cư này cũng có xu hướng tăng lên, tuy nhiên có sự phân hóa rõ rệt về giá trị và  
tốc độ tăng trưởng.  
135  
Nguyễn Đức Tôn* và Nguyễn Thành Trung  
Tốc độ tăng trưởng TB đạt cao nhất là cộng đồng dân cư huyện Vân Canh với 16,5%, thấp  
nhất là ở Hoài Ân với 11,1%/năm. So với TB toàn tỉnh, trên địa bàn chỉ có An Lão và Vân Canh  
đạt tốc độ cao hơn (TB tỉnh 13,4%), các địa phương còn lại đạt thấp hơn.  
Bảng 1. TNBQĐN/tháng và tốc độ tăng trưởng TNBQĐN/tháng  
phân theo huyện của cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định giai đoạn 2010 – 2018  
TNBQĐN/tháng (nghìn đồng)  
Tốc độ tăng trưởng  
STT  
Lãnh thổ  
TB (%)  
2010  
492  
2012  
856  
2014  
1.004  
1.505  
1.307  
2.041  
1.689  
2016  
1.224  
1.775  
1.543  
2.283  
1.958  
2018  
1.668  
1.882  
1.819  
2.634  
2.258  
1
2
3
4
5
An Lão  
16,5  
Vĩnh Thạnh  
Vân Canh  
Tây Sơn  
687  
1.027  
958  
13,3  
641  
13,9  
1.317  
976  
1.496  
1.306  
12,6  
Hoài Ân  
11,1  
Nguồn: Xử lí từ [2]  
Qua khảo sát có thể lí giải nguyên nhân chính làm cho TNBQĐN/tháng và tốc độ tăng  
trưởng TB ở đây tăng nhanh là do người dân luôn nhận được hỗ trợ vốn từ các chương trình,  
chính sách giúp đỡ các vùng miền núi khó khăn, đặc biệt là chương trình 30a, chương trình xây  
dựng nông thôn mới, cho vay vốn lãi suất thấp để người dân tham gia sản xuất… đồng thời  
chính sách giao đất, giao rừng cho từng hộ dân quản lí cũng đạt hiệu quả cao, chính vì vậy,  
người dân yên tâm sản xuất, ổn định cuộc sống…  
b. Tỉ lệ hộ nghèo  
Năm 2010, tỉ lệ hộ nghèo của cộng đồng dân cư miền núi Bình Định là là 27,8%, năm 2014  
là 18,5%. Xét theo chuẩn nghèo đa chiều, năm 2016 là 25,9% và giảm còn 19,0% năm 2018. Tỉ  
lệ giảm nghèo đa chiều đạt 6,9%. Ngoài ra, số xã, thôn ĐBKK vùng dân tộc thiểu số, miền núi ở  
đây chiếm đại đa số tỉnh với 42 xã và 193 thôn đặc biệt khó khăn.  
2.2.2. Thực trạng phân hóa giàu nghèo theo các tiêu chí đánh giá  
a. Hệ số bất bình đẳng trong phân phối thu nhập (GINI)  
Hệ số GINI được tính bằng cách lấy 1 trừ đi thương của tích giữa 2 số phần trăm cộng dồn  
TNBQĐN/tháng của 2 nhóm kế tiếp nhau (sắp xếp TNBQĐN/1 tháng tương ứng 5 nhóm từ 1  
đến 5 tức là nghèo nhất đến giàu nhất) và hiệu số phần trăm cộng dồn của chính hai nhóm đó  
(Hệ số GINI có giá trị dao động từ 0 đến 1,0. Theo tiêu chuẩn của WB, hệ số GINI càng tiến về  
0 chứng tỏ mức bình đẳng càng cao và có 3 bậc xếp hạng bất bình đẳng: Bậc 1 (bất bình đẳng  
thấp): < 0,4, Bậc 2 (bất bình đẳng vừa): 0,4 – 0,5, Bậc 3 (bất bình đẳng cao): > 0,5.).  
Bảng 2. Hệ số GINI của cộng đồng dân cư miền núi Bình Định giai đoạn 2010 – 2018  
Năm  
2010  
2012  
2014  
2016  
2018  
0,345  
Hệ số GINI  
0,351  
0,350  
0,350  
0,342  
Xử lí từ [2], [9]  
Trên địa bàn, hệ số này có xu hướng giảm dần và xếp ở mức bất bình đẳng thấp trong cả  
giai đoạn, năm 2010, đạt 0,351 đến năm 2018 giảm còn 0,345, hệ số này cao hơn mức TB của  
tỉnh, tương ứng là 0,342 và 0,337.  
Ở cộng đồng dân cư các huyện, hệ số GINI ít có sự thay đổi và đều xếp ở mức bất bình  
đẳng thấp. Theo đó, cao nhất ở Hoài Ân với mức 0,346 và thấp nhất ở Tây Sơn 0,341, các  
huyện còn lại đều có mức 0,344 – 0,345 và đều cao hơn mức TB của tỉnh tương ứng là 0,335  
(năm 2018).  
136  
 
Đánh giá sự phân hóa giàu nghèo của cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định…  
Bảng 3. Hệ số GINI phân theo huyện của cộng đồng dân cư miền núi  
tỉnh Bình Định giai đoạn 2010 – 2018  
STT  
Lãnh thổ  
An Lão  
2010  
0,347  
0,359  
0,357  
0,350  
0,352  
2012  
0,333  
0,339  
0,329  
0,340  
0,326  
2014  
0,343  
0,336  
0,338  
0,338  
0,339  
2016  
0,345  
0,343  
0,342  
0,341  
0,342  
2018  
0,345  
0,344  
0,345  
0,341  
0,346  
1
2
3
4
5
Vĩnh Thạnh  
Vân Canh  
Tây Sơn  
Hoài Ân  
Nguồn: Xử lí từ [2], [9]  
Xét về sự thay đổi hệ số GINI trong giai đoạn 2010 – 2018, mức thay đổi cao nhất ở cộng  
đồng dân cư Vĩnh Thạnh (giảm 0,015), trong khi đó ở An Lão giảm chậm nhất (chỉ 0,002),  
tương ứng ở Vân Canh 0,012, Tây Sơn 0,009 và Hoài Ân 0,006 hệ số.  
b. Tiêu chuẩn “40%”  
Tiêu chuẩn “40%” được xác định dựa vào tỉ trọng thu nhập của 40% dân số có thu nhập  
thấp nhất trong tổng thu nhập của toàn bộ dân cư (tức là tỉ trọng tổng thu nhập của nhóm 1 và 2  
so với tổng thu nhập của 5 nhóm) – Theo WB, có 3 bậc xếp hạng của Tiêu chuẩn 40%: Bậc 1  
(Tương đối bình đẳng): > 17,0%, Bậc 2 (bất bình đẳng vừa): 12,0 – 17,0%, Bậc 3 (bất bình đẳng  
cao): < 12,0%.  
Ở cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định, tiêu chuẩn “40%” biến động và có xu hướng  
giảm trong cả giai đoạn. Năm 2010, chiếm 17,7%, tăng lên 17,8 năm 2012 và giảm còn 17,6%  
năm 2018, trong đó năm 2016 đạt cao nhất với 17,9%. Xét theo tiêu chuẩn WB, tiêu chuẩn  
“40%” này được xếp ở bậc 1 – Tương đối bình đẳng. So với cộng đồng dân cư toàn tỉnh và dân  
cư đồng bằng ven biển, tiêu chí này ở cộng đồng dân cư miền núi luôn thấp hơn, tương ứng là  
0,7% và 0,9%, qua đây cho thấy sự phân hóa giàu nghèo ở đây cao hơn so với các lãnh thổ khi  
so sánh.  
Bảng 4. Tiêu chuẩn “40%” phân theo huyện của cộng đồng dân cư miền núi  
tỉnh Bình Định giai đoạn 2010 – 2018 [2]  
STT  
Lãnh thổ  
An Lão  
2010  
17,9  
18,0  
17,5  
17,7  
17,6  
2012  
18,4  
18,6  
18,5  
18,1  
18,8  
2014  
18,3  
18,5  
18,4  
18,5  
18,5  
2016  
17,7  
17,9  
17,9  
18,1  
17,9  
2018  
17,9  
18,1  
17,3  
17,6  
17,4  
1
2
3
4
5
Vĩnh Thạnh  
Vân Canh  
Tây Sơn  
Hoài Ân  
Nguồn: Xử lí từ [2]  
Ở các huyện trong cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định, tiêu chí này đều xếp ở mức  
tương đối bình đẳng theo WB và có mức tăng giảm không ổn định, nhìn chung có xu hướng  
giảm dần qua đây cho thấy sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc khi thu nhập tăng và mức  
sống dần được nâng cao.  
c. Chênh lệch 20% thu nhập của nhóm giàu nhất và nghèo nhất  
Chênh lệch 20% nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất là thương giữa mức thu nhập nhóm 5 và  
nhóm 1 trong cộng đồng dân cư. Khoảng cách càng lớn chứng tỏ sự phân hóa ngày càng sâu sắc.  
Mức chênh lệch của cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định có xu hướng tăng nhưng  
không ổn định. Năm 2010 là 6,7 lần đến năm 2014 tăng lên 7,0 lần, tuy nhiên đến 2018 chỉ còn  
137  
 
Nguyễn Đức Tôn* và Nguyễn Thành Trung  
6,8 lần và năm 2018 tăng lên 6,9 lần, cao hơn 0,3 lần TB tỉnh Bình Định và 0,6 lần cộng đồng  
dân cư đồng bằng, ven biển phía Đông. Có thể nói, ở chỉ tiêu này, cho thấy sự phân hóa giàu  
nghèo ở các huyện miền núi tỉnh Bình Định cao hơn hẳn các lãnh thổ còn lại.  
Bảng 5. Chênh lệch 20% thu nhập của nhóm giàu nhất và nghèo nhất  
của cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định giai đoạn 2010 – 2018 (lần)  
Năm  
2010  
2012  
2014  
2016  
2018  
Chênh lệch 20%  
6,7  
6,7  
7,0  
6,8  
6,9  
Nguồn: Xử lí từ [2], [3]  
Ở lãnh thổ cấp huyện, tiêu chí này ngày càng tăng dần trong giai đoạn 2010 – 2018, đến  
năm 2018 mức chênh lệch cao nhất là huyện Vân Canh với 7,3 lần, tiếp đến là Hoài Ân 7,0 (cao  
hơn TB toàn vùng và tỉnh Bình Định), các huyện còn lại ở mức 6,8 – 6,9 lần, thấp nhất là huyện  
Tây Sơn với 6,8 lần.  
Bảng 6. Chênh lệch 20% thu nhập của nhóm giàu nhất và nghèo nhất phân theo huyện  
của cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định giai đoạn 2010 – 2018 (lần)  
STT  
Lãnh thổ  
An Lão  
2010  
6,8  
6,7  
6,9  
6,6  
6,7  
2012  
6,7  
6,8  
6,7  
6,6  
6,8  
2014  
6,9  
2016  
7,1  
2018  
6,9  
1
2
3
4
5
Vĩnh Thạnh  
Vân Canh  
Tây Sơn  
6,9  
6,9  
6,9  
7,3  
6,9  
7,3  
6,9  
6,4  
6,8  
Hoài Ân  
6,8  
6,8  
7,0  
Nguồn: Xử lí từ [2], [3]  
Mức chênh lệch có xu hướng tăng lên, đây là điều tất yếu khi sự tăng trưởng và phát triển  
kinh tế của địa phương cùng với mức sống dân cư ngày được cải thiện.  
2.2.3. Đánh giá sự biến đổi sự phân hóa giàu nghèo theo các tiêu chí giai đoạn 2010 – 2018  
Đánh giá sự biến đổi các tiêu chí phản ánh sự phân hóa giàu nghèo theo lãnh thổ của một  
giai đoạn cụ thể giúp chúng ta nhận thấy được hiệu quả của việc thực hiện các giải pháp đẩy  
mạnh sản xuất, tăng trưởng kinh tế, phát triển sinh kế và ổn định đời sống người dân. Hơn nữa,  
qua việc đánh giá này phần nào cho ta biết được sự cải thiện mức độ phân hóa giữa các địa  
phương có ổn định và tiến bộ hay không? Cũng như là việc hướng đến đảm bảo một mức sống,  
ổn định, bền vững hay chưa.  
- Ở cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định: Gắn với xu hướng chung của nền sản  
xuất xã hội, tất cả tiêu chí phản ánh sự phân hóa giàu nghèo toàn khu vực có sự biến động, có  
xu hướng tăng lên, tức là sự phân hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc. Mặc dù tiêu chí Hệ số  
GINI toàn giai đoạn có xu hướng giảm nhẹ nhưng từ năm 2016 đến 2018 đã tăng dần lên [Bảng  
2], Tiêu chuẩn 40% giảm dần (tức là thu nhập của 2 nhóm nghèo nhất chiếm tỉ lệ ngày càng  
giảm trong tổng thu nhập [Bảng 4]; Chênh lệch 20% nhóm thu nhập giàu nhất và nghèo nhất  
ngày càng tăng (tức là khoảng cách nhóm giàu nhất và nghèo nhất mở rộng) [Bảng 5].  
- Đánh giá theo lãnh thổ cấp huyện: Cùng với xu hướng chung của toàn vùng, sự phân  
hóa giàu nghèo ngày càng sâu sắc, các tiêu chí đánh giá có sự biến đổi gần như tương đồng  
với địa bàn cộng đồng dân cư miền núi tỉnh. Tuy nhiên, điểm nổi trội có thể nhận thấy là ở  
Tiêu chuẩn 40% của địa phương Vĩnh Thạnh, An Lão tăng dần (tức là giảm dần sự chênh lệch  
của 2 nhóm thấp nhất so với các nhóm còn lại) [Bảng 4], các địa phương còn lại thì giảm  
xuống. Mức độ biến đổi của các tiêu chí này nhanh nhất ở huyện Vĩnh Thạnh, Tây Sơn và  
chậm nhất ở An Lão.  
138  
 
Đánh giá sự phân hóa giàu nghèo của cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định…  
2.2.4. Đánh giá tổng hợp sự phân hóa giàu nghèo ở cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình  
Định năm 2018  
a. Xác định nhóm và điểm từng nhóm  
Bảng 7. Phân nhóm và điểm từng nhóm theo các tiêu chí đánh giá  
TT  
Tiêu chí  
Phân nhóm  
Thấp: < 0,344  
Điểm  
Lãnh thổ  
1
2
3
3
2
1
1
2
3
Tây Sơn  
Hệ số bất bình  
đẳng trong phân TB: 0,344 đến 0,345  
phối thu nhập  
1
Vĩnh Thạnh, An Lão, Vân Canh.  
Hoài Ân  
Cao: > 0,345  
Thấp: < 17,5%  
Tiêu chuẩn “40% TB: 17,5 – 17,8%  
Cao: > 17,8%  
Vân Canh, Hoài Ân  
Tây Sơn  
2
3
An Lão, Vĩnh Thạnh  
Tây Sơn  
Chênh lệch 20% Thấp: < 6,9 lần  
thu nhập của  
TB: 6,9 – 7,0 lần  
nhóm cao nhất và  
An Lão, Vĩnh Thạnh, Hoài Ân  
Vân Canh  
thấp nhất  
Cao: > 7,0 lần  
(Nguồn: Tác giả)  
b. Đánh giá tổng hợp các tiêu chí  
Bảng 8. Kết quả đánh giá tổng hợp mức độ phân hóa giàu nghèo phân theo huyện  
của cộng đồng dân cư các huyện miền núi tỉnh Bình Định năm 2018  
Tiêu chí  
STT  
Huyện  
Tây Sơn  
Tổng  
Xếp hạng  
(1)  
1
(2)  
2
(3)  
1
1
2
3
4
5
4
5
5
8
8
PHGN Thấp (< 5 điểm)  
PHGN Trung bình (5-7 điểm)  
PHGN Trung bình (5-7 điểm)  
PHGN Cao (> 7 điểm)  
PHGN Cao (> 7 điểm)  
(Nguồn: Tác giả)  
An Lão  
2
1
2
Vĩnh Thạnh  
Vân Canh  
Hoài Ân  
2
1
2
2
3
3
3
3
2
Qua kết quả đánh giá sự phân hóa giàu nghèo của cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình  
Định theo cấp huyện, có thể nhận thấy sự phân hóa mức độ PHGN thành 3 nhóm [Bảng 8].  
Theo đó, huyện Vân Canh và Hoài Ân có sự PHGN cao nhất địa bàn, các tiêu chí đều ở  
nhóm 2 trở lên, trong đó Tiêu chuẩn 40% cả 2 địa phương đều ở nhóm 1 – Thấp.  
Huyện An Lão và Vĩnh Thạnh thuộc nhóm có mức độ PHGN trung bình, các tiêu chí xếp ở  
nhóm 2, trong đó Tiêu chuẩn 40% ở nhóm 3 – Cao, điều này cho thấy sự tiến bộ trong công tác  
xóa đói, giảm nghèo, chăm lo phát triển kinh tế, ổn định sinh kế ở địa phương của chính quyền  
cho 2 nhóm dân cư có thu nhập thấp.  
Huyện Tây Sơn, xét về trình độ phát triển kinh tế đây là địa phương đạt cao nhất, khi so  
sánh về mức độ PHGN thì đây là huyện có sự vượt trội, đạt mức PHGN thấp, trong đó Hệ số  
GINI và Chênh lệch 20% ở nhóm thấp, Tiêu chuẩn 40% ở nhóm trung bình.  
139  
 
Nguyễn Đức Tôn* và Nguyễn Thành Trung  
3. Kết luận  
Cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định có vị trí chiến lược quan trọng, khi đây là cửa  
ngỏ phía tây và giáp vùng kinh tế Tây Nguyên, tiềm năng về tự nhiên khá phong phú, tuy nhiền  
đây là vùng tập trung nhiều dân tộc thiểu số, nguồn lực phát triển kinh tế - xã hội còn nhiều hạn  
chế nên cần được đầu tư, khai thác trong quá trình phát triển KT - XH. Trong giai đoạn 2010 –  
2018, nền kinh tế của địa phương có những bước tiến trong việc nâng cao mức sống người dân,  
giảm nghèo, tuy nhiên vẫn là vùng nghèo, trình độ thấp và có sự phân hóa giàu nghèo giữa các  
nhóm hộ dân cư và các lãnh thổ rõ nét.  
Qua cách tiếp cận đánh giá dựa TNBQĐN/tháng cùng các tiêu chí Hệ số GINI, Tiêu chuẩn  
“40%” và Chênh lệch 20% nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất đã xác định được mức độ phân  
hóa giàu nghèo của địa phương ở mức tương đối công bằng và có xu hướng tăng lên. Đồng thời,  
bài báo còn đánh giá mức độ phân hóa giàu nghèo theo lãnh thổ cấp huyện, dựa vào phương  
pháp phân nhóm thống kê và thang điểm tổng hợp đã xác định 3 mức phân hóa giàu nghèo trên  
địa bàn (Thấp, trung bình và cao) cùng điểm số tương ứng.  
Từ kết quả phân tích đã đánh giá sự thay đổi các tiêu chí gắn với mục tiêu và yêu cầu của  
sự bền vững thì cho thấy địa phương cần phải thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ về kinh tế  
(phát triển mô hình kinh tế gắn với ổn định sinh kế, giảm nghèo, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng,  
nâng cao trình độ văn hóa giáo dục cho cộng đồng dân cư…) để có thể đảm bảo sự ổn định về  
tốc độ tăng trưởng và sự cải thiện ở các tiêu chí.  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
[1] Bảo Ngọc, 2019. Chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn. Nguồn: https://tuoitre.vn/chenh-  
[2] Nguyễn Đức Tôn, 2020. “Sự phân hóa mức sống dân cư theo tiểu vùng ở Bình Định”. Tạp  
chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, tập 65, số 5 (2020), tr.93 – 107).  
[3] UBND các huyện miền núi tỉnh Bình Định, 2010 - 2020. Báo cáo tổng kết tình hình phát  
triển KT - XH từ năm 2010 đến năm 2018.  
[4] Đỗ Thiên Kính, 2015. “Xu hướng bất bình đẳng về mức sống ở Việt Nam và khu vực nông  
thôn trong giai đoạn 1992 – 2012”. Tạp chí Nghiên cứu con người số 5 (80), 3 - 18.  
[5] Bộ Lao động, Thương bình và Xã hội, 2019. Quyết định Công bố kết quả rà soát hộ nghèo,  
hộ cận nghèo năm 2018 theo chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 –  
2020, Số: 1052/QĐ-LĐTBXH, Hà Nội, 7/2019.  
[6] Tổng cục thống kê Việt Nam, Kho dữ liệu mức sống hộ gia đình, 2019. Nhóm chỉ tiêu về  
đói nghèo - Hệ số GINI, Hà Nội, http://portal.thongke.gov.vn/KhodulieuMS/  
[7] Nguyễn Đức Tôn, 2020. “Sự phân hóa giàu nghèo trong mức sống dân cư ở tỉnh Bình Định  
giai đoan 2010 – 2016”. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Sư phạm TP. Hồ Chí Minh, tập  
17, số 1 (2020), tr.130 – 139.  
[8] Tổng cục thống kê Việt Nam, 2013, 2015, 2017, 2019, 2021. Kết quả Khảo sát mức sống  
dân cư năm 2010, 2012, 2014, 2016, 2018. Nxb Thống kê.  
[9] Nguyen Duc Ton, Nguyen Minh Tue, Truong Van Tuan, 2019. Research on inequality  
coefficient in income distribution (GINI) in Binh Dinh province, Proceedings international  
symposium on “Geography Sciences in the Context of the Fourth Industrial Revolution:  
Opportunities and Challenges”, pp.39 – 50, VNU – HCM press, 11/2019.  
140  
                   
Đánh giá sự phân hóa giàu nghèo của cộng đồng dân cư miền núi tỉnh Bình Định…  
[10] Cao Tấn Bình, 2019. Nguyên lí thống kê kinh tế (với sự hỗ trợ của SPSS). Nxb Đại học  
Quốc gia.  
[11] Brian Keeley, 2015. Income inequality – The gap between Rich and Poor, OECD Insights,  
[12] Mai Văn Nam, 2005. Nguyên lí thống kê kinh tế. Nxb Văn hóa thông tin.  
[13] Nguyễn Đình Tấn, 2005. Cơ cấu xã hội và phân tầng xã hội. Nxb Lí luận Chính trị, Hà Nội.  
[14] Nguyễn Đình Tấn, 2016. Phân tầng xã hội và phân hóa giàu nghèo trong quá trình phát  
triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế. Viện Xã hội học.  
[15] Cục thống kê tỉnh Bình Định, 2020. Dữ liệu mức sống dân cư tỉnh Bình Định giai đoạn  
2010 – 2018.  
[16] Nguyen Duc Ton, 2020. “Developing indicators and methods for evaluation of the  
people’s living standards in Binh Dinh province”. Social Sciences Hanoi National  
University Education, Vol 65, Issue 11, pp.188 – 203.  
ABSTRACT  
Assessment the gap between rich and poor of the community population  
in the mountain of Binh Dinh province under Geographical Socio-economic perspective  
Nguyen Duc Ton*1 and Nguyen Thanh Trung2  
1Department of Natural Sciences, Quy Nhon University  
2Department of Education, Quy Nhon University  
The gap between rich and poor has a great influence on the exploitation of “human  
capital”, in order to ensure livelihoods, improve living standards, and moreover towards equity  
in enjoying needs in everyday life. By analyzing, comparing and using mathematical statistics,  
the article assessing the gap between rich and poor the community population in the  
mountainous of Binh Dinh province based on the average income per capita/ month and is  
detailed into the criteria are the GINI coefficient, the standard “40%” and the gap 20% of the  
richest household quintile and 20% the poorest income. The assessment results show that the  
gap between rich and poor in the period 2010 - 2018 reaches a relatively fair level (according to  
World Bank - WB standards) and tends to increase. Moreover, through the method of uneven  
statistical grouping and scoring assessment, the local rich and poor differentiation is divided into  
3 distinct groups. This is an important basis for the locality to implement action programs and  
policies to reduce poverty and stabilize livelihoods, contributing to improving living standards  
and limiting the the gap between rich and poor in the future.  
Keywords: The gap between rich and poor, the average income per capita/month, GINI  
coefficient, the community population in the mountainous of Binh Dinh province.  
141  
     
pdf 9 trang baolam 22640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Đánh giá sự phân hóa giàu nghèo của cộng đồng dân cư miền núi Tỉnh Bình định dưới góc độ địa lí kinh tế - xã hộ", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfdanh_gia_su_phan_hoa_giau_ngheo_cua_cong_dong_dan_cu_mien_nu.pdf