Một số vấn đề lý luận về hợp tác xã

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HỢP TÁC XÃ  
PGS.TS Phạm Thị Hồng Yến  
Ủy viên Thường trực Ủy ban Kinh tế của Quốc hội  
TÓM TẮT  
Hợp tác xã (HTX) là hình thức tổ chức kinh tế - xã hội ra đời khách quan trong  
quá trình phát triển kinh tế thị trường và ngày càng phổ biến trong nền kinh tế xã hội  
hiện đại dựa trên nền tảng “hợp tác”. Lý luận của mô hình này được hình thành cùng  
với quá trình phát triển HTX gần 200 năm qua trên thế giới. Tuy là một mô hình tiến  
bộ và ưu việt song để HTX phát triển đúng tiềm năng và thế mạnh thì có những thách  
thức cần phải vượt qua và điều kiện cần phải đạt tới.  
Từ khóa: Lý luận, Hợp tác xã  
ABSTRACT  
Cooperative is a form of socio-economic organization objectively born in the  
process of developing the market economy and is increasingly popular in the modern  
social economy based on the "cooperation" foundation. The theory of this model was  
formed along with the development of cooperatives over the past 200 years in the  
world. Although it is a progressive and superior model, in order for a cooperative to  
develop its potential and strengths, there are challenges that need to be overcome and  
conditions that must be achieved.  
Key words: theory, cooperative.  
lực chung và bao gồm từ “co”, bắt  
nguồn từ từ “cum” có nghĩa là “cùng”  
hoặc “cùng nhau” và “hành động”. Vì  
vậy, hợp tác là cùng nhau hành động,  
nỗ lực của mỗi cá nhân cùng tham gia  
vì mục tiêu chung. Hợp tác đề cập đến  
bất kỳ loại công việc hợp tác nào giữa  
cá nhân hoặc nhóm, kể cả tự nguyện  
hay theo cách khác. Thuật ngữ “hợp  
tác” thường xuyên được sử dụng trong  
tài liệu về xã hội học, kinh tế học và  
quản lý, đặc biệt trong các lĩnh vực lao  
động, tổ chức, công ty, đặc biệt khái  
niệm hợp tác phù hợp với các vấn đền  
liên quan đến hình thức tập thể. Mặc dù  
khái niệm hợp tác là “một trong những  
1. HTX dựa trên triết lý nền tảng  
là “tính hợp tác”  
Từ “hợp tác” có hai cách tiếp cận,  
theo nghĩa rộng được định nghĩa bởi  
các nhà kinh tế và xã hội học, hợp tác  
đề cập đến hoạt động phối hợp của các  
chủ thể theo đuổi các mục tiêu khác  
nhau và tìm cách thiết lập các nguyên  
tắc chung, theo nghĩa hẹp, hợp tác trong  
phong trào HTX là việc thể chế hóa các  
hoạt động thực tiễn của các HTX.  
Về thuật ngữ theo nghĩa rộng của từ  
“hợp tác”, thuật ngữ “hợp tác”  
(cooperation) xuất hiện lần đầu tiên vào  
thế kỉ XIV. Nguồn gốc từ Latinh Kito  
giáo, vào thế kỷ XV nó có nghĩa là nỗ  
1
vấn đề lớn của cả xã hội”, nhưng  
thường được sử dụng theo nghĩa ẩn.  
Những thuật ngữ như cộng tác, phối  
hợp, tham gia, tương tác và tập thể  
được sử dụng trong xã hội học trước  
đó cũng được ngầm hiểu là hợp tác.  
lượng và số lượng, mang lại lợi ích cho  
tất cả mọi người. Theo thuật ngữ của  
chủ nghĩa Marx, điều này có nghĩa là  
giảm bớt mâu thuẫn giữa quá trình sản  
xuất và quá trình chiếm đoạt giá trị  
thặng dư. “Hệ thống quản lý theo khoa  
học” của Taylor phụ thuộc vào người  
lao động và người sử dụng lao động  
thay đổi nhận thức và nhận ra rằng  
nghĩa vụ hợp tác để có thể thu được lợi  
nhuận tối đa. Tuy nhiên, người lao  
động khó thay đổi từ sự đối kháng và  
không tin tưởng thành sự hợp tác và  
giúp đỡ lẫn nhau. Không giống Marx,  
Taylor sử dụng thuật ngữ “hợp tác” đề  
cập đến tổ chức doanh nghiệp thay vì  
quá trình làm việc. Thuật ngữ “hợp tác”  
của Taylor chiếm ưu thế ngay cả khi  
không đạt được trong hệ thống quản lý  
theo khoa học của Taylor nhưng đạt  
được thông qua thỏa hiệp. Thuật ngữ  
“hợp tác” đã bị loại bỏ khi phân tích  
mối quan hệ giữa người sử dụng lao  
động và người lao động và được thay  
thế bởi một thuật ngữ chính xác khác là  
“sự thỏa hiệp”.  
Trong cuốn Tư bản, tại phần IV,  
chương XIII có tựa đề Hợp tác, Marx  
đã viết: “Khi một số người lao động  
cùng làm việc hướng tới một mục tiêu  
chung trong cùng một quá trình sản  
xuất hoặc quá trình khác nhau nhưng  
được kết nối với nhau, thì đây là hình  
thức hợp tác”. Marx đã chỉ ra những lợi  
thế của “làm việc hợp tác” và bổ sung  
thêm rằng những lợi thế này liên quan  
đến mức độ tập trung vốn: “Số lượng  
lao động làm việc hợp tác, hoặc quy mô  
hợp tác, trước hết phụ thuộc vào số vốn  
ứng trước để mua sức lao động”. Sự  
phụ thuộc khiến Marx nói rằng “nếu sự  
kiểm soát của tư bản là hai mặt, bởi vì  
bản chất hai mặt của đối tượng mà anh  
ta kiểm soát, một mặt là quá trình sản  
xuất hợp tác và mặt khác là quá trình  
chiếm đoạt giá trị thặng dư, thì hình  
thức đó nhất thiết phải là chuyên chế”.  
Vì vậy, Marx nhấn mạnh mâu thuẫn  
giữa quá trình sản xuất hợp tác, đòi hỏi  
người lao động phải đồng ý với mục  
tiêu của doanh nghiệp và việc chiếm  
đoạt thặng dư, trái với sở thích của họ.  
Nửa thế kỷ sau, Frederick Winslow  
Taylor sử dụng thuật ngữ “hợp tác” để  
mô tả mối quan hệ giữa người lao động  
và người sử dụng lao động. Taylor  
muốn phát triển một hệ thống quản lý  
công ty mà loại bỏ xung đột giữa người  
sử dụng lao động và người lao động và  
từ đó sẽ nâng cao năng suất về cả chất  
Năm 1893, Emile Durkheim xuất  
bản “Phân công lao động xã hội”. Khái  
niệm đoàn kết xã hội là trọng tâm trong  
tư tưởng của Durkheim bởi vì phân tích  
của ông theo xã hội học, không phải  
kinh tế học và thuật ngữ “đoàn kết” có  
một hàm ý đạo đức. Vào cuối thế kỷ 19,  
nghiên cứu về kinh tế học đã quay lưng  
lại với đạo đức học, để mở đường cho  
sự phát triển của xã hội học. Durkheim  
cho rằng xã hội là nơi sản sinh ra đạo  
đức. Phân công lao động tạo ra đoàn kết  
bởi vì nó “tạo ra một hệ thống quyền  
và nghĩa vụ ràng buộc con người với  
2
nhau”. Bằng cách nhấn mạnh sự đoàn  
kết, Durkheim đã đưa ra một nền tảng  
đạo đức phù hợp với phong trào HTX.  
Ông cũng đưa ra một khía cạnh tất yếu  
đi ngược lại nguyên tắc hợp tác cơ bản:  
quyền tự nguyện tham gia hoặc rời khỏi  
HTX. Sau Durkheim, gần như tất cả các  
nhà xã hội học đã phân tích sự hợp tác  
từ góc dộ chức năng, cấu trúc và/hoặc  
hệ thống. Parsons mở rộng việc sử dụng  
thuật ngữ ‘hợp tác’ bằng cách chỉ ra  
rằng mọi tổ chức xã hội là một hệ thống  
của các mối quan hệ hợp tác. Sau đó,  
khái niệm hợp tác trở nên phổ biến hơn  
trong các tác phẩm về nền dân chủ công  
nghiệp. “Chức năng tập thể dựa trên sự  
giao tiếp, biểu đạt và tập hợp sức mạnh  
của mỗi cá nhân” đã trái ngược với  
“Tính hợp lý của Thuyết Taylor” .  
Thuật ngữ “hợp tác” có thể sử dụng  
theo cách chung, được định nghĩa là  
hoạt động phối hợp của các cá nhân  
theo đuổi các mục tiêu khác nhau và  
nhằm thiết lập các nguyên tắc chung  
Về ý nghĩa cụ thể của hợp tác với  
phong trào HTX, thuật ngữ “hợp tác”  
dùng để chỉ một tổ chức kinh doanh cụ  
thể. “Hợp tác xã là một hiệp hội tự  
quản gồm những người tự nguyện tham  
gia nhằm đáp ứng nhu cầu và nguyện  
vọng kinh tế, xã hội và văn hóa chung  
của các thành viên thông qua một tổ  
chức kinh doanh thuộc sở hữu tập thể  
của họ” (Liên minh HTX quốc tế,  
1996). Do đó HTX đáp ứng được lợi  
ích tập thể của các thành viên. Thuật  
ngữ “hợp tác” theo nghĩa này liên quan  
đến làm việc tập thể của các thành viên  
có liên kết chứ không phải của một tổ  
chức việc làm, ngoại trừ trường hợp của  
HTX tạo việc làm trong đó thành viên  
là người lao động của HTX. Các nhà tư  
tưởng xã hội chủ nghĩa không tưởng  
đầu tiên đã định nghĩa hợp tác theo  
nghĩa chung. Năm 1844, Owen so sánh  
hệ thống cạnh tranh theo chủ nghĩa cá  
nhân và hệ thống hợp tác cùng nhau.  
Tuy nhiên, sự phát triển của phong trào  
HTX theo cách diễn đạt của Gide thì  
người lao động bị loại bỏ và người tiêu  
dùng trở thành thành viên duy nhất  
được liên kết, làm giảm ý nghĩa hợp tác  
đối với thành viên và được gọi là  
“thành viên” hoặc “người hợp tác”.  
Việc sử dụng thuật ngữ này có thể được  
định nghĩa theo ý nghĩa cụ thể của hợp  
tác. Theo nghiên cứu, gần đây không  
có bất kỳ nghiên cứu xã hội học nào chỉ  
ra mối liên hệ giữa hai cách tiếp cận  
trên của thuật ngữ “hợp tác”. Nguồn  
gốc thuật ngữ “hợp tác” trong các tác  
phẩm của Robert Owen chỉ ra cách tiếp  
cận rộng và tổng quát hơn để có thể  
giúp phong trào HTX xác định rõ hơn  
phạm vi hoạt động.  
Ngược lại, chúng ta có thể lập luận  
theo đó các tiếp cận hẹp do phải thỏa  
mãn các nguyên tắc của hợp tác là lý do  
tại sao kể từ Chiến tranh thế giới thứ 2,  
phong trào HTX đã tự coi nó không  
phải là một hệ thống thay thế mà là một  
hình thức khác của doanh nghiệp. Kể từ  
Chiến tranh thế giới lần thứ 2, phong  
trào HTX được coi là khu vực thứ ba  
bên cạnh khu vực tư và khu vực công,  
liên kết về mặt tổ chức trong nội bộ khu  
vực tư, khu vực công và giữa khu vực  
tư và khu vực công. Quan niệm này về  
phong trào HTX đã đạt đến giới hạn với  
quá trình phát triển thành trở thành  
3
phương thực hoạt động chính, và bắt  
đầu ảnh hưởng đến phong trào phát  
triển HTX vào cuối thể kỷ XX.  
đẹp của HTX và nguyên tắc dân chủ  
trong quản lý tổ chức, xã hội.  
2. Đặc điểm của HTX  
Có thể nói, HTX dựa trên triết lý nền  
tảng của “hợp tác”. Thành viên phải có  
nhu cầu chung, mà việc đáp ứng nhu  
cầu chung ấy thông qua quá trình hợp  
tác sẽ mang lại hiệu quả cao hơn so với  
từng thành viên đơn lẻ tự thực hiện.  
Nhu cầu chung là cái đầu tiên, căn bản  
mang lại tinh thần hợp tác thông qua  
HTX. Các thành viên vẫn giữ được sự  
độc lập, tự chủ của mình trong quá trình  
hợp tác. HTX thỏa mãn cái Chung cho  
mọi thành viên, nhưng không triệt tiêu  
cái Riêng-tức thành viên.  
Về góc độ kinh tế, HTX là tổ chức  
kinh tế cơ bản và quan trọng nhất của  
kinh tế tập thể. Đặc trưng của HTX là  
hình thức sở hữu tập thể và dựa trên sở  
hữu của các thành viên HTX, từ đó phát  
sinh quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ  
phân phối tương ứng. HTX là một hình  
thức của quan hệ kinh tế hợp tác tự  
nguyện, phối hợp hỗ trợ, giúp đỡ lẫn  
nhau giữa các chủ thể kinh tế, kết hợp  
sức mạnh của tập thể để giải quyết tốt  
hơn những vấn đề của sản xuất kinh  
doanh cũng như đời sống kinh tế và  
mục tiêu xa hơn là nâng cao hiệu quả  
hoạt động và lợi ích của mỗi thành  
viên. Việc xác định HTX là một tổ  
chức kinh tế tạo điều kiện cho HTX  
bình đẳng trước pháp luật với các loại  
hình doanh nghiệp và đảm bảo quyền  
lợi vật chất chính đáng của các thành  
viên HTX.  
Tính “hợp tác” trong HTX được phát  
triển dần trong quá trình phát triển  
HTX. HTX mới thành lập có thể chưa  
phát huy ngay lập tức và đầy đủ tinh  
thần, giá trị, nguyên tắc HTX, mà đòi  
hỏi quá trình phát triển lâu dài để thu  
hút ngày càng nhiều thành viên tham  
gia HTX và ngày càng có nhiều nhu  
cầu chung của thành viên được HTX  
đáp ứng để: cùng chia sẻ lợi ích và từ  
đó góp phần tăng cường sự đoàn kết xã  
hội; tặng sự hợp tác có hiệu quả giữa  
các cơ sở sản xuất-kinh doanh tự chủ,  
đồng thời giảm bớt áp lực cạnh tranh  
thị trường không cần thiết; tạo ra 2  
kênh tăng trưởng kinh tế: của bản thân  
HTX và nâng cao chất lượng, hiệu quả  
tăng trưởng của kinh tế thành viên, vừa  
phát huy được kinh tế cá thể/kinh tế tự  
chủ của từng thành viên, vừa khuyến  
khích phát triển cộng đồng kinh tế tập  
thể; gắn kết chặt chẽ hơn về lợi ích  
giữa người sản xuất và người tiêu  
dùng; ngày càng lan tỏa các giá trị tốt  
Về góc độ xã hội, HTX mang tính  
chất xã hội sâu sắc. Tính xã hội của  
HTX thể hiện trong toàn bộ nguyên tắc  
tổ chức và hoạt động của HTX. Với  
việc tạo điều kiện cho người lao động,  
những người sản xuất nhỏ chẳng những  
có thể trụ vững trong nền kinh tế thị  
trường cạnh tranh mà còn đẩy mạnh sự  
phát triển, xóa bớt gánh nặng về thất  
nghiệp… cho xã hội.  
Về góc độ pháp lý, HTX là một tổ  
chức kinh tế có tư cách pháp nhân.  
HTX là tổ chức kinh tế được thành lập  
theo thủ tục pháp lý nhất định, có đăng  
ký hoạt động tại cơ quan nhà nước có  
thẩm quyền, có cơ cấu tổ chức chặt chẽ,  
4
có tài sản tách biệt với tài sản của thành  
viên, có thẩm quyền nhân danh tham  
gia các quan hệ pháp luật. Tuy nhiên có  
một số đặc trưng khác so với loại hình  
doanh nghiệp khác như sau: loại hình  
HTX được quyết định không phải số  
vốn góp mà là yếu tố thành viên HTX,  
nhằm giúp đỡ lẫn nhau trong sản xuất  
kinh doanh, không thuần túy để thu lợi  
nhuận trên số vốn góp. Mọi quyết định  
cuối cùng và cao nhất của HTX là  
quyết định của tập thể đa số thành viên  
theo tính đối nhân, mỗi người một  
phiếu biểu quyết, bất kể góp vốn nhiều  
hay ít.  
lợi nhuận được để lại nhằm một mặt để  
mở rộng sản xuất kinh doanh, mặt khác  
tạo nên phúc lợi công cộng cho mọi  
thành viên trong HTX được hưởng  
chung; kết hợp chặt chẽ giữa lợi ích cá  
nhân và lợi ích tập thể, giữa lợi trước  
mát và lợi ích lâu dài.  
3. Nguyên tắc HTX  
Các nguyên tắc HTX được hình  
thành trong quá trình lâu dài cùng với  
lịch sử. Liên minh HTX quốc tế (ICA)  
có công lao to lớn trong việc truyền bá  
tư tưởng HTX, làm tư tưởng HTX được  
lan rộng một cách tương đối nhất quán,  
đưa các nước khác nhau, châu lục khác  
nhau tiến dần đến nhận thức thống nhất  
về bản chất, nguyên tắc HTX. Liên  
minh HTX quốc tế đã đưa ra 7 nguyên  
tắc hoạt động của HTX, bao gồm:  
Về tổ chức quản lý, HTX hoạt động  
trên nguyên tắc tự chủ, tự chịu trách  
nhiệm. Các thành viên của HTX cùng  
kinh doanh, cùng làm các dịch vụ và  
phân phối lợi nhuận theo nguyên tắc  
“lời ăn, lỗ chịu”. Các thành viên trong  
HTX được nhà nước đảm bảo quyền tự  
chủ trong sản xuất, kinh doanh và dịch  
vụ, nhưng pháp luật cũng yêu cầu họ  
phải tự chịu trách nhiệm về các hoạt  
động của mình. Nguyên tắc bầu cử và  
biểu quyết được thực hiện bình đẳng,  
mỗi thành viên một phiếu bầu, không  
phân biệt vốn góp ít hay nhiều.  
- Nguyên tắc thành viên tự nguyện và  
mở rộng: Theo nguyên tắc này thì cá  
nhân, hộ gia đình, pháp nhân tự nguyện  
thành lập, gia nhập, ra khỏi HTX. Tự  
họ sẽ quyết định việc nên gia nhập hay  
không nên gia nhập HTX. Mặt khác,  
sau một thời gian tham gia vào sản  
xuất, kinh doanh chung trong HTX, nếu  
thấy hiệu quả kinh tế - xã hội mà HTX  
đem lại không như mong muốn, người  
lao động, các hộ gia đình hay các pháp  
nhân cũng có quyền ra khỏi HTX.  
Về phân phối, HTX thực hiện phân  
phối theo vốn góp và mức độ tham gia  
dịch vụ của mỗi thành viên. Việc phân  
phối trong HTX không chỉ dựa trên  
nguyên tắc vốn góp mà còn tùy thuộc  
mức độ sử dụng dịch vụ của HTX. Đa  
dạng các loại hình thức phân phối thu  
nhập là động lực khuyến khích thành  
viên HTX hăng say làm việc, gắn bó  
với HTX. Trong quán trình phân phối,  
các HTX tạo ra quỹ không chia từ phần  
- Nguyên tắc kiểm soát dân chủ bởi  
các thành viên: Theo nguyên tắc này thì  
các thành viên có quyền bình đẳng,  
biểu quyết ngang nhau không phụ thuộc  
vốn góp trong việc quyết định tẻ chức,  
quản lý và hoạt động của HTX.  
- Nguyên tắc về sự tham gia kinh tế  
của thành viên HTX: Thành viên góp  
vốn và quản lý dân chủ vốn góp của  
5
HTX, ít nhát là phần vốn góp phải được  
dùng làm tải sản chung của HTX. Khi  
hoạt động kinh tế của HTX tạo ra lợi  
nhuận, thành viên có quyền và nghĩa vụ  
tham gia quyết định việc phân chia  
phần lợi nhuận đó.  
4. Ưu điểm của HTX  
4.1 Hợp tác xã là phương thức hình  
thái tổ chức kinh tế - xã hội tiến bộ, ưu  
việt do tính bình đẳng và dân chủ đối với  
các thành viên tham gia HTX và trong  
quản lý HTX  
- Nguyên tắc độc lập và tự chủ: Hợp  
tác xã tự chủ, tự chịu trách nhiệm về  
hoạt động của mình trước pháp luật. Tự  
chủ, tự chịu trách nhiệm vừa là quyền  
vừa là nghĩa vụ của hợp tác xã, liên  
hiệp hợp tác xã. Tự chủ, tự chịu trách  
nhiệm về việc tổ chức hoạt động sản  
xuất, kinh doanh trước pháp luật và  
trước hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã,  
trước thành viên hợp tác xã và cộng  
đồng xã hội.  
HTX đa dạng về thành phần tham  
gia, không phân biệt vị thế của họ khác  
nhau như thế nào. HTX không thủ tiêu  
tính tự chủ sản xuất, kinh doanh của các  
thành viên mà chỉ làm những gì mỗi  
thành viên riêng lẻ không làm được  
hoặc làm không hiệu quả. Như vậy,  
HTX là mô hình tổ chức kinh tế mà có  
thể thu hút được nhiều thành viên tham  
gia, tạo điều kiện phát triển cho việc  
sản xuất, kinh doanh của những cá thể  
riêng lẻ, thể hiện tính xã hội cao.  
- Nguyên tắc về giáo dục, đào tạo và  
thông tin: Theo nguyên tắc này thì HTX  
quan tâm giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng  
cho thành viên HTX, cán bộ quản lý,  
người lao động trong HTX và thông tin  
về bản chất, lợi ích của HTX.  
Việc quản lý HTX được thực hiện  
trên nguyên tắc dân chủ và bình đẳng.  
Mối quan hệ trong HTX và thành viên  
là quan hệ bình đẳng thỏa thuận, tự  
nguyện, cùng có lợi và cùng chịu rủi ro  
trong sản xuất, kinh doanh. Hoạt động  
sản xuất, kinh doanh của HTX không  
nhất thiết bao trùm toàn bộ hoạt động,  
mà có thể chỉ diễn ra ở từng khâu công  
việc, từng công đoạn, nhằm hỗ trợ phát  
triển thế mạnh của từng viện và do đó  
phát huy quyền làm chủ của thành viên.  
Thành viên tham gia quyết định những  
công việc quan trọng của HTX.  
Nguyên tắc bầu cử và biểu quyết được  
thực hiện bình đẳng, mỗi thành viên  
một phiếu bầu, không phân biệt vốn  
góp ít hay nhiều. HTX tạo điều kiện  
phát huy dân chủ cơ sở thông qua việc  
thực hiện nguyên tắc quản lý dân trong  
nội bộ HTX, phát huy tính cộng đồng  
của dân chủ.  
- Nguyên tắc về sự hợp tác giữa các  
HTX: HTX phục vụ các thành viên của  
mình một cách hiệu quả và tăng cường  
phong trào HTX bằng cách hợp tác với  
nhau trên bình diện địa phương, vùng,  
quốc gia và quốc tế, theo chuyên ngành  
hoặc dưới hình thức hiệp hội. HTX sẽ  
mạnh và hiệu quả hơn nếu được liên  
kết với nhau trên cơ sở đáp ứng hiệu  
quả hơn nhu cầu của HTX thành viên.  
- Nguyên tắc quan tâm đến cộng  
đồng Theo nguyên tắc ngày thì HTX  
chăm lo phát triển bền vững cộng đồng  
thành viên HTX và hợp tác với nhau  
nhằm phát triển phong trào HTX trên  
quy mô địa phương, vùng, quốc gia và  
quốc tế.  
6
4.2 HTX hoạt động linh hoạt, đa  
dạng với mọi hình thức, đặc điểm vùng  
miền, ngành, lĩnh vực; thực hiện phân  
phối công bằng, cùng có lợi, theo vốn  
và công sức đóng góp cũng như mức độ  
sử dụng sản phẩm, dịch vụ  
được các quỹ không chia, một mặt để  
mở rộng sản xuất, mặt khác tạo nên  
phúc lợi công cộng cho mọi thành viên  
trong HTX, kết hợp chặt chẽ giữa lợi  
ích cá nhân và lợi ích tập thể, giữa lợi  
ích ngắn hạn và lợi ích dài hạn.  
Mô hình HTX linh hoạt, đa dạng về  
hình thức, phù hợp với đặc điểm của  
từng vùng, từng ngành; với nhiều trình  
độ phát triển, từ thấp đến cao, từ làm  
dịch vụ đầu vào, đầu ra phục vụ cho  
hoạt động sản xuất, kinh doanh của các  
thành viên, đến mở mang ngành nghề,  
vươn lên kinh doanh tổng hợp và hình  
thành các doanh nghiệp của mình (Luật  
doanh nghiệp cho phép HTX được  
thành lập công ty TNHH một thành  
viên); từ HTX phát triển thành các Liên  
hiệp HTX.  
4.3 HTX là giải pháp giúp khắc  
phục các khuyết tật của thị trường và  
chỉ phát triển thành công trong kinh tế  
thị trường  
Các khuyết tật kinh niên của kinh tế  
thị trường là khủng hoảng, thất nghiệp,  
độc quyền… đều được mô hình HTX  
hóa giải do đặc điểm cốt lõi của HTX là  
vì con người, lấy con người là trung  
tâm, tối đa hóa lợi ích của con người nên  
sức chống chịu, tự cường của HTX rất  
bền bỉ; HTX là mô hình tạo việc làm  
hiệu quả, đồng thời với số lượng thành  
viên lớn tạo ra một thế lực về thị trường  
trong cả bên cung và bên cầu, hình  
thành cả lực lượng sản xuất và lực lượng  
tiêu dùng – qua đó khủng khoảng, thất  
nghiệp, độc quyền… gần như ít xẩy ra  
đối với các doanh nghiệp HTX.  
Hình thức phân phối được thực hiện  
trên nguyên tắc công bằng, cùng có lợi,  
chủ yếu theo công sức lao động đóng  
góp của thành viên hoặc theo mức độ  
sử dụng sản phẩm, dịch vụ của thành  
viên, HTX thành viên. Phần còn lại  
được chia theo vốn góp theo quy định  
trong điều lệ của HTX. Người lao động  
là thanh viên, ngoài tiền công được  
nhận theo số lượng và chất lượng lao  
động, được nhận lãi chia theo vốn góp  
và mức độ tham gia dịch vụ; lợi nhuận  
và vốn góp càng lớn, mức độ tham gia  
dịch vụ càng nhiều, thì thu nhập càng  
cao. Như vậy việc phân chia lợi nhuận  
trong mô hình HTX sẽ là động lực  
khuyến khích người lao động hăng say  
làm việc, gắn bó với HTX. Trong quá  
trình phân phối, các HTX còn tạo ra  
HTX chỉ phát triển thành công trong  
kinh tế thị trường do kinh tế thị trường  
hiện thực hóa lợi thế về quy mô, với số  
lượng nhu cầu mua hay bán càng lớn  
thì lợi ích thu về lại càng cao, từ đó lợi  
ích của thành viên cũng ngày được đảm  
bảo. HTX cũng là mô hình đảm bao an  
sinh xã hội, chính tại các nước tư bản  
phát triển ở Châu Âu do yêu cầu của  
các HTX mà thời gian làm việc được  
sắp xếp để đảm bảo người lao động có  
thời gian cân bằng hơn lo cho gia đình  
và cộng đồng.  
7
đến quản lý kém hiệu quả, hoạt động  
kém và khó đạt được các mục tiêu phát  
triển của HTX.  
5. Hạn chế và thách thức trong  
hoạt động của HTX  
5.1 Các yếu tố như vốn, kỹ năng  
quản lý, không phát huy được động lực  
của thành viên HTX đôi khi là những  
điểm hạn chế HTX phát triển  
Một HTX được hình thành vì lợi ích  
chung của các tất cả thành viên và nếu  
lợi ích riêng của các thành viên không  
được đáp ứng đầy đủ thì HTX khó phát  
triển do không tạo ra mối liên hệ trực  
tiếp giữa nỗ lực và phần thưởng cho  
thành viên, dẫn đến thành viên không  
có xu hướng nỗ lực làm việc tối đa  
trong HTX.  
Mô hình HTX phát triển trên cơ chế  
bình đẳng nên khó thu hút thành viên  
có nhiều vốn. Nguyên tắc “một người  
một phiếu” không khuyến khích các  
thành viên đầu tư số vốn lớn cho HTX.  
Do đó, khi HTX đối mặt với tình trạng  
thiếu vốn, không có khả năng huy động  
đủ vốn cho các hoạt động sản xuất-kinh  
doanh quy mô lớn sẽ khiến các HTX  
khó tuyển dụng được những lao động  
chất lượng cao, hạn chế khả năng tiếp  
thu công nghệ mới nhất hoặc áp dụng  
các phương thức quản lý hiện đại.  
5.2 Đôi khi dân chủ cũng làm cho  
HTX khó phát triển  
Dân chủ là một đặc trưng cơ bản của  
các HTX. Kiểm soát dân chủ bởi thành  
viên thể hiện ở hai mặt: (1) Thành viên  
HTX có quyền bình đẳng, biểu quyết  
ngang nhau không phụ thuộc vào vốn  
góp trong việc quyết định tổ chức quản  
lý và hoạt động của HTX. Các thành  
viên được bình đẳng trong quyết định  
về tổ chức, quản lý, điều hành, hoạt  
động, chiến lược, kế hoạch phát triển và  
phân phối… không phụ thuộc vào trình  
độ góp vốn, vị trí trong HTX. (2) Hạn  
chế không cho phép những người  
không góp vốn tham gia vào hội đồng  
quản trị. Việc kiểm soát dân chủ của  
HTX có những hạn chế ảnh hưởng tới  
sự phát triển của HTX như sau:  
Hiệu quả kinh doanh của HTX chưa  
cao nếu duy trì HTX ở quy mô nhỏ. Rõ  
ràng quy mô HTX quy mô nhỏ thì khả  
năng thương lượng tập thể càng yếu khi  
cạnh tranh với các chủ thế khác trên thị  
trường. Hơn nữa, HTX sẽ khó khăn để  
có một “vị thế cao” trên thị trường cạnh  
tranh rộng lớn. Nói cách khác, HTX có  
quy mô càng lớn thì càng tốt trong việc  
nắm bắt thị trường cạnh tranh.  
Các HTX được quản lý bởi hội đồng  
quản trị HTX do các thành viên trong  
HTX sẽ khó phát triển nếu các thành  
viên trong hội đồng quản trị không có  
trình độ chuyên môn, kỹ năng, hoặc  
kinh nghiệm cần thiết. Đội ngũ cán bộ  
quản lý HTX khi không được đào tạo  
bồi dưỡng chuyên sâu, còn hoạt động  
theo kinh nghiệm tự phát, thiếu khoa  
học, chưa quan tâm sâu sắc đến lợi ích  
tập thể, thiếu kỹ năng quản lý sẽ dẫn  
Về hạn chế trong quyền biểu quyết  
bình đẳng  
Phân bổ quyền biểu quyết trong một  
HTX ngăn cản tập trung quyền kiểm  
soát HTX trong tay của những người có  
phần góp vốn nhiều. Những người ủng  
hộ phong trào HTX lý giải cho việc  
giới hạn này với lý do là chúng “ngăn  
chặn sự thống trị của tư bản trong  
8
HTX”. Tuy nhiên, phân tán quyền bỏ  
phiếu làm tăng khả năng của phần lớn  
thành viên chỉ đóng góp một lượng vốn  
ít có thể khai thác lợi ích từ những  
người góp vốn lớn. Việc khai thác lợi  
ích như vậy có thể gây ra hạn chế cho  
HTX bởi có thể các thành viên lớn có  
thể rút lại sự bảo hộ của họ và chuyển  
hoạt động kinh doanh đi nơi khác. Khai  
thác những người có vốn góp nhiều của  
đa số người góp vốn ít sẽ ít khả thi hơn  
ở thị trường tiềm năng đang cạnh tranh  
gay gắt (bao gồm cả khả năng các thành  
viên không hài lòng tự thành lập công ty  
của riêng họ) so với ở HTX có độc quyền  
địa phương.  
đồng quản trị, giám đốc của HTX thông  
qua các các kênh không chính thức.  
Khi ra bất cứ quyết định nào, HTX  
cần xem xét tác động tổng thể của  
quyết định đối với HTX và tất cả thành  
viên. Kết quả là các HTX có thể có ít  
khả năng phản ứng nhanh với các cơ  
hội từ thị trường hơn các công ty cạnh  
tranh. Các HTX ủy quyền cho hội đồng  
quản trị ra quyết định bởi vì như vậy  
HTX có thể có khả năng cạnh tranh với  
các đối thủ, mặc dù sẽ có ít thành viên  
tham gia ra quyết định hơn. Khi giao  
quyền quyết định cho hội đồng quản trị,  
thành viên HTX phải cân đối giữa việc  
giảm chi phí giao dịch với rủi ro quản lý  
và hội đồng quản trị có thể ra quyết định  
trái với mong muốn của thành viên.  
Về hạn chế trong giới hạn người  
không góp vốn tham gia vào hội đồng  
quản trị  
Điều nguy hiểm hơn có thể xảy ra là  
chất lượng từ quyết định của hội đồng  
quản trị HTX có thể bị ảnh hưởng do  
việc phân bổ quyền biểu quyết. Nếu các  
thành viên hội đồng quản trị tin rằng họ  
đang phụ thuộc vào sự bầu chọn lại của  
những thành viên góp vốn ít, là những  
người chỉ có một phần nhỏ trong quyết  
định của HTX, hội đồng quản trị có thể  
ra quyết định một cách ung dung hơn là  
nếu quyền bỏ phiếu tương đương với số  
vốn góp. Hạn chế trong việc biểu quyết  
không theo vốn góp có thể đưa quyền  
kiểm soát danh nghĩa của HTX vào tay  
của những người không phải chịu hậu  
quả lớn từ những quyết định của họ, ít  
nhất là trong ngắn hạn. HTX thường  
đưa ra các quyết định khiến thành viên  
không muốn đóng góp quyền bảo trợ  
tối đa cho HTX và lượng vốn cho HTX  
có thể bị mất đi đóng góp của những  
thành viên này. Ngoài ra, những người  
góp vốn nhiều có thể đặc biệt thành  
thạo trong việc gây tác động đến hội  
Trong nỗ lực đảm bảo “thành viên  
kiểm soát”, hầu hết các HTX đều không  
cho những người không có vốn góp  
tham gia trong hội đồng quản trị. Thành  
viên hội đồng quản trị là người sử dụng  
dịch vụ của HTX, do đó họ có hai mối  
quan tâm: mối quan tâm của chủ sở  
hữu và của người dùng. Mối quan tâm  
của chủ sở hữu xoay quanh vấn đề bảo  
mật và lợi nhuận từ đầu tư của họ vào  
HTX. Mối quan tâm của người sử  
dụng bao gồm các vấn đề về chất  
lượng sản phẩm và giá thành dịch vụ.  
Bởi vì các giới hạn trong việc chi trả  
cổ tức và các thành viên không có khả  
năng thu được lợi nhuận từ vốn trong  
một hợp tác xã, nên các mối quan tâm  
của người sử dụng rất được hội đồng  
quản trị chú trọng.  
9
Bởi vì các thành viên của hội đồng  
quản trị là người sử dụng dịch vụ của  
HTX, họ có thể mang lại một số kiến  
thức kĩ thuật về các dịch vụ của HTX  
cho hội đồng quản trị. Tuy nhiên, nếu  
các hoạt động của HTX phức tạp hơn  
hoạt động tại các trang trại thì các giám  
đốc trang trại có thể thiếu chuyên môn  
về marketing, sản xuất hoặc bán lẻ mà  
giám đốc thuê ngoài có thể cung cấp.  
Điều này dẫn đến một vấn đề khó xử  
trong HTX: Người nông dân tham gia  
vào vai trò lãnh đạo trong hội đồng  
quản trị có thể đưa ra các quyết định và  
quản lý kém hiệu quả.  
6. Kết luận  
Lý luận về mô hình HTX là một  
khoa học; khoa học ấy dựa trên thực  
tiễn phát triển của HTX một cách sinh  
động phong phú hơn hai thế kỷ qua trên  
thế giới, có sự phát triển, đổi mới; cần  
được học tập, nghiên cứu một cách có  
hệ thống.  
Các nguyên tắc, giá trị của HTX vừa  
bao hàm yếu tố kinh tế vừa mang đậm  
tính đạo đức, chính trị, xã hội và văn  
hóa, có những mặt thống nhất đồng thời  
có mặt mâu thuẫn, cần phải được nhận  
thức sâu sắc để phát triển HTX, đảm  
bảo các giá trị và nguyên tắc ấy.  
Hạn chế tư cách thành viên hội đồng  
quản trị có thể hạn chế tiềm năng quản  
lý. Trong các HTX nhỏ, nguồn lao động  
chất lượng cao của thành viên hội đồng  
quản trị có thể bị hạn chế đến mức khó  
để thành lập hội đồng quản trị có thể  
giám sát hiệu quả. Khi HTX lớn hơn,  
đội ngũ lao động chất lượng cao có thể  
được mở rộng, cho phép lựa chọn một  
hội đồng quản trị có thể đóng vai trò  
tích cực hơn trong việc ra quyết định  
của HTX. Tuy nhiên, HTX có thể trở  
nên lớn hơn và phức tạp hơn đến mức  
không có hội đồng quản trị nào có thể  
giám sát hành vi quản lý.  
HTX là một hình thức pháp lý về tổ  
chức, vì vậy, vấn đề quan trọng và cấp  
bách hiện nay là phải nhận thức đúng  
bản chất tổ chức HTX, xác định đúng  
và cụ thể mô hình tổ chức HTX, định  
hình chuẩn về khung khổ pháp luật tạo  
điều kiện thuận lợi cho HTX ra đời và  
phát triển. Có như vậy HTX, phong trào  
HTX mới phát triển bền vững, tiến kịp  
đà đổi mới, đóng góp ngày càng quan  
trọng và tích cực cho phát triển kinh tế -  
xã hội của đất nước.  
10  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
[1]. Liên Minh HTX Việt Nam (2020), Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Liên  
minh HTX Việt Nam khóa V, tại Đại hội Đại biểu toàn quốc Liên minh HTX Việt Nam  
khóa VI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Hà Nội  
[2]. Nguyễn Minh Tú (2011), Mô hình tổ chức hợp tác xã kiểu mới góp phần xây dựng  
xã hội hợp tác, đoàn kết, cùng chia sẻ sự thịnh vượng và quản lý một cách dân chủ.  
NXB Khoa học và kỹ thuật.  
[3]. Nguyễn Ngọc Bích (2012), HTX dich vụ nông nghiệp ở Hà nội. Luận văn thạc sĩ  
Đại học Quốc gia Hà Nội.  
[4]. Nguyễn Văn Biên và Nguyễn Đắc Thắng (2004), Một số vấn đề cơ bản về HTX.  
Hà Nội: NXB Lao động – xã hội.  
[5]. Quốc hội (2012), Luật HTX 2012  
[6]. Marx, K., Le capital, vol. 1, PUF, La Pléiade, (first edition, 1867).  
[7]. Owen R., The New Moral World, 1844. Textes choisis, Editions sociales, 1963.  
[8]. Draperi, J.F, From cooperative theory to cooperative practive, 2006.  
[9]. Taylor, F.W, The principles of scientific management, Dunod, 1957 (first edition  
1911).  
11  
pdf 11 trang baolam 14380 Free
Bạn đang xem tài liệu "Một số vấn đề lý luận về hợp tác xã", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfmot_so_van_de_ly_luan_ve_hop_tac_xa.pdf