Tài liệu Công tác xã hội với người nghiện ma túy

BỘ LAO ĐỘNG THƯƠNG BINH VÀ XÃ HỘI  
TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH  
(Dành cho cán bộ xã hội cấp cơ sở)  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
Hà Nội, năm 2016  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
2
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
MỤC LỤC  
BÀI 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MA TÚY VÀ NGHIỆN MA TÚY  
6
I. CHẤT GÂY NGHIỆN  
6
1.1. Khái niệm chất gây nghiện  
6
II. KHÁI NIỆM VỀ MA TUÝ  
8
8
2.1 Khái niệm ma túy  
2.2 Các chất ma túy phổ biến ở Việt Nam  
2.3 Các hình thái sử dụng ma tuý  
8
10  
III. NGHIỆN MA TUÝ  
10  
10  
10  
12  
12  
12  
13  
3.1 Khái niệm về nghiện ma tuý  
3.2 Cơ chế nghiện  
3.3 Dấu hiệu nhận biết có thể nghiện ma tuý  
3.4 Tiêu chí chuẩn đoán nghiện (theo ICD 10)  
3.5 Nguyên nhân nghiện ma tuý  
3.6 Ảnh hưởng của nghiện ma tuý  
IV. TỔNG QUAN VỀ NGHIỆN MA TUÝ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM  
4.1 Tổng quan về nghiện ma tuý trên Thế giới  
13  
13  
14  
4.2 Tổng quan về nghiện ma tuý ở Việt Nam  
V. CÁC MÔ HÌNH VÀ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN  
5.1 Các mô hình hỗ trợ điều trị nghiện ma tuý hiện nay ở việt nam  
5.2. Hệ thống luật pháp, chính sách trong hỗ trợ điều trị nghiện  
16  
16  
17  
VI. VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA CÁN BỘ CÔNG TÁC XÃ HỘI TUYẾN XÃ/PHƯỜNG TRONG CAN THIỆP  
HỖ TRỢ NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
18  
6.1 Vai trò, nhiệm vụ của cán bộ công tác xã hội xã/phường  
18  
19  
6.2 Các hoạt động trợ giúp của cán bộ công tác xã hội trong trợ giúp người nghiện  
BÀI 2: TRUYỀN THÔNG PHÒNG, CHỐNG MA TÚY VÀ GIẢM KỲ THỊ VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
22  
I. TRUYỀN THÔNG VÀ MỤC ĐÍCH CỦA TRUYỀN THÔNG PHÒNG, CHỐNG MA TUÝ  
1.1 Truyền thông phòng, chống ma tuý là gì?  
22  
22  
22  
1.2 Mục đích truyền thông phòng, chống ma tuý  
II. CÁC BƯỚC TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG TRUYỀN THÔNG PHÒNG, CHỐNG MA TUÝ  
2.1 Bước 1: Xác định mục tiêu, lập kế hoạch truyền thông  
2.2 Bước 2: Tổ chức các hoạt động truyền thông  
23  
23  
24  
27  
2.3 Bước 3: Đánh giá kết quả các hoạt động truyền thông  
3
MỤC LỤC  
III. KỸ NĂNG TRUYỀN THÔNG TRONG PHÒNG, CHỐNG MA TÚY  
3.1 Kỹ năng sử dụng ngôn ngữ nói và viết  
27  
27  
28  
29  
29  
3.2 Kỹ năng truyền thông bằng hình ảnh trực quan  
3.3 Kỹ năng sử dụng tờ rơi /tờ gấp/ tờ bướm  
3.4 Kỹ năng sử dụng áp phích  
IV. TRUYỀN THÔNG GIẢM KỲ THỊ VÀ PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ  
30  
30  
30  
30  
33  
5.1 Khái niệm truyền thông giảm kỳ thị với người nghiện ma tuý  
5.2 Mục đích của truyền thông giảm kỳ thị, phân biệt đối xử với người nghiện ma tuý  
5.3 Nội dung truyền thông giảm kỳ thị, phân biệt đối xử với người nghiện ma tuý  
5.4 Hình thức truyền thông giảm kỳ thị và phân biệt đối xử tại xã/ phường cho người nghiện ma tuý  
Bài 3: HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
34  
I. HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TUÝ  
1.1 Khái niệm chung về điều trị nghiện ma tuý  
1.2 Nguyên tắc điều trị nghiện hiệu quả  
34  
34  
34  
II. QUY TRÌNH HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ NGHIỆN CỦA CÁN BỘ CÔNG TÁC XÃ HỘI XÃ/PHƯỜNG  
2.1 Tiếp cận và đánh giá vấn đề  
35  
35  
36  
36  
40  
2.2 Xác định mục tiêu hỗ trợ và lựa chọn nhu cầu ưu tiên  
2.3 Xây dựng và thực hiện kế hoạch hỗ trợ  
2.4. Đánh giá kết quả và kết thúc quá trình hỗ trợ  
III. TÁI NGHIỆN VÀ HỖ TRỢ DỰ PHÒNG TÁI NGHIỆN  
3.1 Khái niệm tái nghiện  
41  
41  
42  
44  
3.2 Dự phòng tái nghiện  
3.3. Một số kỹ thuật dự phòng tái nghiện  
BÀI 4: CÁC HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP HỖ TRỢ NHÓM CHO NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
50  
50  
I. TRIỂN KHAI HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC CÂU LẠC BỘ HỖ TRỢ NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY CỦA CÁN BỘ  
CÔNG TÁC XÃ HỘI TUYẾN XÃ/PHƯỜNG  
1.1 Bước 1: Lên kế hoạch và trình lãnh đạo địa phương.  
1.2 Bước 2: Tiến hành lựa chọn thành viên câu lạc bộ  
1.3 Bước 3: Hỗ trợ triển khai hoạt động câu lạc bộ tại cộng đồng  
50  
51  
51  
4
CÔNG TÁC X
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MTY  
II. HOẠT ĐỘNG CAN THIỆP GIẢM TÁC HẠI CHO NHÓM NGƯỜI NGHIỆN  
2.1 Khái niệm giảm tác hại  
52  
52  
52  
52  
2.2 Các hoạt động can thiệp giảm tác hại cho nhóm người nghiện ma tuý  
2.3. Các can thiệp ở cấp độ nhóm/mạng lưới xã hội của người sử dụng ma túy  
5
BÀI  
MỘT SỐ VẤN ĐỀ  
CHUNG VỀ MA TÚY  
VÀ NGHIỆN MA TÚY  
I. CHẤT GÂY NGHIỆN  
1.1. Khái niệm chất gây nghiện  
1.1.1. Chất gây nghiện la ggi  
Hiện nay chưa có một định nghĩa chung và hoàn chỉnh về chất gây nghiện. Theo Tổ  
chức Y tế thế giới (WHO) chất gây nghiện là“bất kỳ loại chất hóa học nào mà khi vào  
cơ thể làm thay đổi chức năng thực thể và tâm lý”  
Tại Việt Nam, Luật phòng, chống ma túy 23/2000/QH “Chất gây nghiện là chất kích  
thích hoặc ức chế thần kinh dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng”.  
Như vậy có thể thấy chất gây nghiện được hiểu rất rộng bao gồm cả chất gây nghiện  
hợp pháp như thuốc sử dụng trong điều trị, rượu bia, thuốc lá, trà và và cả chất gây  
nghiện bất hợp pháp như chất kích thích ức chế thần kinh-ma tuý.  
1.1.2. Phân loại chất gây nghiện  
Có nhiều cách phân loại chất gây nghiện tuỳ theo mục đích và tác động và tính hợp  
pháp của những chất gây nghiện này.  
- Phân theo mục đích sử dụng  
+ Thuốc chữa bệnh: Ví dụ Morphin…  
+ Không phải thuốc chữa bệnh: ví dụ ma túy tổng hợp…  
6
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
- Phân theo sự tác động lên hệ thần kinh trung ương  
+ Nhóm có tác dụng an thần: Bao gồm ethanol (có trong các loại đồ uống có  
cồn), morphine, heroin, và diazepam: Làm chậm hoạt động của hệ thần kinh  
trung ương.  
+ Nhóm có tác dụng kích thích: Bao gồm nicotine (có trong thuốc lá), caffeine  
(có trong cà phê và chè xanh), amphetamines và cocaine: Có tác dụng làm gia  
tăng các hoạt động của hệ thần kinh trung ương.  
+ Nhóm có tác dụng gây ảo giác: Bao gồm cần sa (cannabis) và LSD (lysergic acid  
diethylamide-chất gây ảo giác mạnh, không mùi, không vị và không màu) có  
thể gây ra nhiều thay đổi về giác quan (nhìn, nghe, ngửi) và dẫn tới thay đổi  
tâm trạng và suy nghĩ của người sử dụng.  
- Phân theo tính hợp pháp  
+ Ma tuý hợp pháp: Dùng để chữa bệnh phải được cơ sở y tế khám, bác sỹ  
cho đơn dùng như: Thuốc giảm đau (morphin, dorlagan); thuốc giảm lo âu  
(sedusen); methadol; các loại chất độc theo quy định của Bộ Y tế.  
+ Ma tuý bất hợp pháp: Theo nghị định của Chính phủ ban hành danh mục các  
chất ma tuý và tiền chất, ví dụ: một số loại ma tuý thông dụng như: thuốc  
phiện và các chế phẩm từ thuốc phiện; cocain, cần sa; LSD; ATS…  
Có ba hình thức sử dụng chất gây nghiện như sau:  
Qua đường hô hấp: Hút thông thường, người ta hút thuốc phiện, cần sa, (lá cây cần  
sa được cuốn thành điếu hút như điếu thuốc lá); ngửi, hít (heroin, cocain). Phương  
thức hít heroin rất đơn giản, người nghiện bỏ bột heroin lên trên giấy thiếc trong  
bao thuốc lá, kẹo cao su rồi dùng bật lửa ga đốt bên dưới cho bột heroin“thăng hoa”  
bốc khói và hít nó vào mũi, có thể người nghiện hít trực tiếp hoặc hít qua ống nhựa,  
ống tẩu. Sau khi hít xong, người nghiện phải hút thuốc lá hoặc uống cốc nước sôi  
để “hãm”, chóng “phê”và “phê”thời gian lâu hơn.  
Qua hệ tuần hoàn: Ma túy ở thể lỏng thường được đưa vào cơ thể bằng đường tiêm  
chích dưới da, bắp thịt hoặc tĩnh mạch như heroin, morphin, Dolacgan, sái thuốc  
phiện, Amphetamin. Thông thường, người nghiện đầu tiên sử dụng bằng đường  
hút, hít, sau một thời gian sẽ chuyển sang tiêm chích. Đây là nguyên nhân lây nhiễm  
HIV/AIDS, viêm gan siêu vi và các bệnh truyền nhiễm khác.  
Qua đường tiêu hoá: Người nghiện uống, nuốt các loại ma túy như thuốc phiện, các  
chế phẩm của thuốc phiện, các loại thuốc an thần, giải lo âu như Seduxen, hiện nay  
nhiều người nghiện ma túy nuốt các loại ma túy kích thích thần kinh gây ảo giác  
như Amphetamin, Ecstasy...  
7
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
II. KHÁI NIỆM VỀ MA TUÝ  
2.1 Khái niệm ma túy  
Có nhiều định nghĩa khác nhau về ma túy. Theo WHO: Ma tuý là thực thể hoá học  
hoặc thực thể hỗn hợp; khác với tất cả những cái được đòi hỏi để duy trì tình trạng  
bình thường của cơ thể người, việc sử dụng những chất đó sẽ làm thay đổi chức năng  
sinh học của con người”.  
Luật phòng, chống ma tuý được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 9/12/2000 quy  
định (điều 2) xác định: “Chất ma tuý là các chất gây nghiện, chất hướng thần được  
quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành”.  
Từ quy định của Liên Hợp quốc và pháp luật Việt Nam chúng ta có thể hiểu: Ma tuý  
là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp, khi được đưa vào cơ thể con người  
ma tuý làm thay đổi chức năng thực thể và tâm lý của người đó. Nếu lạm dụng ma  
tuý, con người sẽ bị lệ thuộc, bị tổn thương và gây ra nguy hại cho người sử dụng và  
cộng đồng.  
2.2 Các chất ma túy phổ biến ở Việt Nam  
2.2.1 Thuốc phiện (á phiện)  
Thuốc phiện là nhựa quả cây anh túc (cây thuốc phiện). Cây anh túc có thân cỏ, thẳng  
đứng, cao từ 1m đến 1m50, mọc ở nơi khí hậu mát, thích hợp với đất sét vôi. Cây có  
8 – 12 nhánh phụ, mỗi nhánh có một bông hoa đa dạng về màu sắc, từ hoa sinh ra  
quả. Nhựa thuốc phiện thường dùng để hút và có những tác động sau:  
+ Làm giảm đau, tạo trạng thái hưng cảm và gây nghiện dễ dàng;  
+ Mất nghị lực, ý chí và cảm giác;  
+ Viêm dạ dày, ruột, táo bón;  
+ Viêm phổi, mạch chậm, không đều;  
+ Hút sái rất độc cho cơ thể vì có tới 80%, 90% là mocphin.  
2.2.2 Morphin  
Morphine là một thuốc giảm đau gây nghiện (opiat), là một alcaloid có hàm lượng  
cao nhất (10%) trong nhựa khô quả cây thuốc phiện.  
+ Có tác dụng chọn lọc và trực tiếp với tế bào thần kinh trung ương, nhất là vỡ  
não, ức chế nhiều trung tâm như, trung tâm đau, trung tâm gây ho, trung tâm  
hô hấp; kích thích các trung tâm gây nôn, co đồng tử, chèn nhịp tim;  
+ Làm tăng trí tưởng tượng, mất buồn rầu và sợ hãi, mất cả cảm giác đói;  
+ Làm mắt bị phù, móng tay và môi thâm tím, rối loạn tâm lý, nói không thật, lười  
biếng, ngáp vặt, thiếu máu, sút cân, mất ngủ, nôn, run, già trước tuổi...  
+ Phụ nữ có thai có thể đẻ non, suy dinh dưỡng. Trẻ bị gù, vẹo, hen phế quản,  
bệnh gan và hen mạn tính.  
8
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
2.2.3 Heroin  
Heroin là một chất ma túy được những người nghiện dùng phổ biến, được bán  
tổng hợp từ morphin có tác dụng giảm đau mạnh hơn morphin, nhưng độc hại hơn  
nhiều, có khả năng gây nghiện rất nhanh. Heroin màu trắng, vị đắng, thường dùng  
để chích vào tĩnh mạch hoặc hít. Heroin gây ra:  
+ Cảm giác mơ nàng, khoan khoái, quên khổ đau, sầu não;  
+ Khi đói thuốc, mệt mỏi, đau xương, đau cơ, mất ngủ, tiêu chảy, nôn mửa, lạnh  
nổi da gà;  
+ Tê liệt thần kinh, hôn mê, đột tử;  
+ Con người trở nên cô độc, mất nhân tính, mất khả năng sinh dục, dễ gây tội ác.  
2.2.4 Cần sa  
Cần sa là một loại ma túy lấy từ cây dầu gai có tên là Cannabis Sativa, có thể dùng  
để chữa bệnh mất ngủ. Tuy nhiên nó cũng gây ra những tác động gây thay đổi tâm  
lý: Cười to, khóc lóc than vãn, ác mộng. Người gầy gò, ốm yếu, ủ dột, có thể loạn  
thần kinh.  
2.2.5 Cocain  
Cocain được sản xuất từ lá coca, tác dụng sảng khoái trong thời gian ngắn. Sử dụng  
liên tục có thể dẫn đến hoang tưởng, ảo giác, rối loạn tim mạch.  
2.2.6 Ma tuý tổng hợp  
Ma tuý tổng hợp từ các hoá chất gọi là tiền chất.  
- ATM: amphetamine, methamphetamine  
+ Dùng để hút, hít, uống và tiêm chích;  
+ Tác dụng mạnh và nhanh hơn các chất ma túy tự nhiên và bán tổng hợp. Mất  
dần khả năng tình dục. Dễ dẫn ảo tưởng về bản thân, có hành vi bạo lực khi sử  
dụng lâu dài;  
+ Kích thích nhất thời hệ thần kinh trung ương, gây hưng phấn và ảo giác, hoang  
tưởng. Do đó còn gọi là ma tuý điên, chất loạn thần, ma tuý bạo lực;  
+ Thiếu ngủ, chán ăn, chóng mặt, tăng huyết áp.  
- Ecstasy  
+ Dạng viên hoặc dạng con nhộng, dùng uống hoặc nuốt, gây kích thích và ảo  
giác;  
+ Ảnh hưởng đến sự phát triển thai nhi;  
+ Khi đói thuốc, bải hoải, ăn mất ngon, trầm uất. Quá liều làm tăng huyết áp, bất  
tỉnh, hôn mê.  
9
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
2.3 Các hình thái sử dụng ma tuý  
Không phải ai lần đầu tiên sử dụng ma tuý (SDMT) cũng đều nghiện cả. Một người  
SDMT sẽ trải qua nhiều giai đoạn khác nhau trước khi chuyển sang lệ thuộc thực sự  
vào ma túy. Sơ đồ sau mô tả các giai đoạn SDMT từ việc dùng thử đến nghiện.  
NGHIỆN  
DÙNG NHIỀU  
DÙNG CÓ MỤC ĐÍCH  
DÙNG THỬ  
- Đa số người sử dụng ma túy là những người chỉ dùng ma túy với mục đích dùng  
thử. Họ sử dụng ma túy không thường xuyên nếu có dịp hoặc nếu có sẵn ma túy.  
Nhiều người trong số họ sẽ tự dừng lại không tiếp tục sử dụng nữa và sẽ không  
chuyển sang hình thức dùng nhiều.  
- Một số người sử dụng ma túy để giúp học đạt được mục đích như để tỉnh táo hoặc  
để giảm đau. Họ được gọi là người sử dụng có chủ đích.  
- Khi người sử dụng chuyển sang hình thức dùng nhiều và thường xuyên hơn thì  
việc sử dụng ma túy được coi là một phần quan trọng hơn trong cuộc sống của họ,  
khả năng dung nạp bắt đầu xuất hiện cùng với những hậu quả của việc sử dụng  
nhiều như đổ vỡ quan hệ, khó khăn về tài chính và việc làm.  
- Người SDMT được coi là lệ thuộc (nghiện) khi họ chịu sự kiểm soát của ma túy cả về  
thể chất và tâm lý. Họ bắt buộc phải dùng ma túy bất chấp những hậu quả của nó.  
- Nhân viên tiếp cận cộng đồng (NVTCCĐ) cần lưu ý khách hàng có SDMT có thể  
đang ở những giai đoạn khác nhau của quá trình này, và theo thời gian họ có thể  
chuyển sang giai đoạn khác. Vì thế NVTCCĐ cần phải chuẩn bị tốt để xử trí những  
tình huống khác nhau khi hỗ trợ với những khách hàng khác nhau, hay thậm chí  
khi làm việc với cùng một khách hàng tại những thời điểm khác nhau.  
III. NGHIỆN MA TUÝ  
3.1 Khái niệm về nghiện ma tuý  
Theo WHO nghiện ma tuý là “tình trạng nhiễm độc mãn tính hay chu kỳ do sử dụng  
nhiều lần chất ma tuý”, với những đặc điểm cơ bản sau:  
- Không cưỡng lại được nhu cầu sử dụng ma tuý và sẽ tìm mọi cách để có ma tuý;  
10  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
- Liều dùng tăng dần;  
- Lệ thuộc chất ma tuý cả về thể chất và tâm thần (lệ thuộc kép).  
Viện nghiên cứu Quốc gia Hoa Kỳ về Lạm dụng ma tuý (NIDA) cho rằng nghiện “là  
một bệnh não mãn tính, tái phát làm cho người nghiện buộc phải tìm và sử dụng  
ma tuý, bất chấp hậu quả đối với họ và những người xung quanh”.  
Như vậy, nghiện ma túy là sự phụ thuộc của con người vào các chất ma túy. Nó được  
coi là bệnh làm thay đổi cấu trúc não bộ và cơ chế hoạt động của não làm cho người  
sử dụng ma tuý mất khả năng ngăn chặn sự thèm muốn sử dụng ma tuý.  
3.2 Cơ chế nghiện  
Các nghiên cứu chứng minh về cơ sở sinh học của nghiện về bản chất là một căn  
bệnh mãn tính làm thay đổi các tế bào thần kinh trong não do sử dụng ma tuý  
nhiều lần. Lý giải này cho thấy khi sử dụng ma tuý, chất ma tuý tác động trực tiếp  
hay gián tiếp lên các tế bào thần kinh và gây giải phóng Dopamine nhiều lần tạo ra  
cảm giác hưng phấn, tính táo, làm giảm đau và hết mệt mỏi một cách nhân tạo. Khi  
sử dụng ma tuý nhiều lần tạo thành phản xạ có điều kiện và gây rối loạn sản xuất  
Dopamine của não. Não bộ đáp lại với sự dư thừa giả tạo của Dopamine bằng cách  
giảm và ngừng hẳn sản xuất Dopamine. Lúc này cơ thể bị phụ thuộc hoàn toàn vào  
chất ma tuý, vì vậy cơ thể luôn thôi thúc và đòi hỏi người nghiện sử dụng ma tuý.  
Bên cạnh đó việc sử dụng ma tuý nhiều lần sẽ làm cho não bộ bị tổn thương khiến  
cho vung khoái cảm và củng cố hành vi, và vùng trí nhớ luôn luôn ghi nhớ cảm giác  
phê sướng trước đó và thôi thúc người nghiện tìm và sử dụng ma tuý. Đây cũng là  
nguyên nhân làm cho tỷ lệ người sử dụng ma tuý tái nghiện rất cao.  
Như vậy khoa học đã nghiên cứu từ cơ chế gây nghiện và xác định nghiện là một loại  
bệnh của não bộ, không phải là tệ nạn xã hội.  
3.3 Dấu hiệu nhận biết có thể nghiện ma tuý  
Dưới đây là những dấu hiệu cho chúng ta nhận biết có thể người nào đó nghiện  
ma tuý.  
Thay đổi thời gian sinh hoạt bình thường: Thức khuya hơn, dậy trễ hơn, thường xuyên  
ngủ vào ban ngày, hay ngáp vặt, ăn uống không đúng bữa, thường tụ tập bạn bè  
ồn ào.  
Quy luật đi lại thất thường: Cứ đến giờ, đến “cữ” bắt buộc họ phải đi tìm chỗ hút,  
không cưỡng lại nổi.  
Thay đổi một số hành vi: Thích ở một mình, tránh né gia đình, ngại tiếp xúc với người  
khác, kể cả người thân.  
Thể trạng: Người nghiện môi thâm đen, sụt cân, xanh xao, tiêu chảy, mệt mỏi, lừ đừ,  
không chịu lao động, bê trễ học hành.  
Nói dối: Họ luôn tìm cách nói dối gia đình về vấn đề tiền bạc, xin tiền với đủ lý do:  
Đi học thêm, mua sách vở… Nói dối về sự vắng mặt thường xuyên của mình: Đi làm  
thêm giờ, thêm ca, đi học nhóm…  
11  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
Tâm trạng bất an: Với những người mới sử dụng cần sa, họ luôn có cảm giác lo lắng,  
hốt hoảng, thần kinh bị kích thích, rối loạn suy nghĩ, dễ khóc, dễ cười.  
Dễ bị kích động: Bản thân dễ bị kích động, khoái cảm giác mạnh, sẵn sàng quậy phá,  
nói năng lung tung, mất lý trí, sẵn sàng ấu đả, đâm chém người khác.  
Nhu cầu tiêu tiền tăng: Do nhu cầu tiêu tiền tăng lên liên tục nên họ có thể làm bất cứ  
việc gì để có tiền mua ma túy sử dụng, kể cả những hành vi vi phạm pháp luật hoặc  
gây ra những nguy hiểm, thiệt hại cho người khác.  
Có dấu kim tiêm chích: Nếu sử dụng bằng đường tiêm chích, ở mu bàn tay, khuỷu  
tay…có những dấu kim tiêm để lại.  
3.4 Tiêu chí chuẩn đoán nghiện (theo ICD 10)  
Về lâm sàng: Có 3 tiêu chí trở lên trong 6 triệu chứng sau trong vòng 1 năm trở lại:  
- Thèm muốn mãnh liệt dùng các dạng thuốc phiện;  
- Mất khả năng kiểm soát dùng các dạng thuốc phiện;  
- Ngừng sử dụng các dạng thuốc phiện xuất hiện hội chứng cai;  
- Liều các dạng thuốc phiện sử dụng ngày càng tăng;  
- Sao nhãng những nhiệm vụ và thích thú khác, sử dụng ma túy cùng với việc tìm  
kiếm ma túy và làm sao để có tiền mua ma túy dần trở thành ưu tiên lớn nhất và  
sở thích hàng đầu của họ;  
- Biết tác hại mà vẫn tiếp tục sử dụng các chất dạng thuốc phiện.  
3.5 Nguyên nhân nghiện ma tuý  
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến nghiện ma tuý:  
Về nhận thức: Do thiếu hiểu biết về ma túy, nghiện ma túy và tác hại của nghiện ma  
túy. Nhiều thanh niên có tính tò mò sử dụng ma túy xem thế nào đã dẫn tới nghiện,  
có những phụ nữ quá béo đã mua loại ma túy kích thích thần kinh (Maxinton) uống  
để giảm béo, có học sinh cần thức đêm ôn thi, đã dùng thuốc kích thích thần kinh để  
thức mà không biết dẫn tới nghiện ma túy.  
Do sang chấn tinh thần trong cuộc sống: Có người thất bại trong sự nghiệp, do thất  
tình, thi trượt, bố mẹ bất hoà bỏ nhau.v..v. đã tìm tới ma túy.  
Do sự thiếu quản lý, giáo dục của gia đình, nhà trường: Gia đình quá nuông chiều,  
nhiều bố mẹ không dành thời gian quan tâm theo dõi con cái, nhà trường thiếu giám  
sát, phát hiện sớm các học sinh có nguy cơ lạm dụng ma túy và chưa có nhiều các  
hoạt động lành mạnh để thu hút học sinh tham gia.  
Môi trường còn nhiều ma túy: Bọn tội phạm tàng trữ, buôn bán và tổ chức sử dụng  
ma túy chưa được giải quyết, vì lợi ích kinh tế, chúng đã lừa gạt, lôi kéo nhiều thanh  
niên đến với ma túy.  
12  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
Dùng ma túy để chữa bệnh: Một số người đã lạm dụng ma túy để chữa một số bệnh  
như đau đầu, chữa sốt rét, phụ nữ sau khi sinh đẻ...  
3.6 Ảnh hưởng của nghiện ma tuý  
Sức khoẻ giảm sút: Khi nghiện ma túy, sức khoẻ giảm sút rất nhanh, cơ thể bị suy  
kiệt, mọi sinh hoạt bị đảo lộn “ngày ngủ, đêm ăn”, lười vệ sinh cá nhân dễ dẫn tới  
mắc các bệnh nhiễm trùng da, rối loạn dinh dưỡng, viêm đa dây thần kinh… Nhiều  
trường hợp dùng ma túy liều cao dẫn tới sốc ma túy, nếu không được cấp cứu kịp  
thời sẽ dẫn tới tử vong. Rất dễ nhiễm một số bệnh nguy hiểm đến tính mạng như  
nhiễm trùng máu, tăng huyết áp, vỡ mạch máu não (đột quỵ). Gây ra hội chứng  
trầm cảm, rối loạn tâm thần. Nguy cơ cao nhiễm HIV/AIDS, ở nước ta 70% người  
nhiễm HIV là do tiêm chích ma túy. Bên cạnh đó người SDMT cũng dễ bị lây truyền  
các bệnh truyền nhiễm khác như viêm gan B, viêm gan siêu vi, v.v.  
Gây rối loạn nhân cách hành vi: Rối loạn lối sống, nếp suy nghĩ, đạo đức bị suy thoái,  
dần dần người nghiện trở nên thờ ơ với những hứng thú bình thường như: Hoài bão  
ước mơ, học hành, vui chơi giải trí lành mạnh. Thậm chí do nhu cầu sử dụng ma túy  
ngày càng tăng, nhiều người nghiện trở nên hung hãn, mất nhân tính.  
Giảm và mất khả năng lao động: Khi nghiện ma túy, khả năng lao động giảm hoặc  
mất đi tính chăm chỉ, sự khéo léo, ý thức và kỷ luật lao động, học tập giảm sút, bê  
trễ trong công việc…  
Kinh tế sa sút, gia đình tan vỡ: 100% gia đình có người nghiện ma túy kinh tế lâm vào  
cảnh sa sút, bị phá sản, có tới 27% tan vỡ hạnh phúc, 24% thân nhân từ bỏ người  
nghiện.  
Tổn thất kinh tế cho xã hội: Hàng ngày người nghiện ma túy đã tiêu tốn một số tiền  
lớn, chỉ riêng 2 thành phố lớn: Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh mỗi ngày người nghiện tiêu  
tốn tới hàng tỷ đồng vào việc sử dụng ma túy. Nhà nước và xã hội còn bỏ ra hàng  
trăm tỷ đồng mỗi năm chi phí cho phòng, chống ma túy.  
Trật tự an toàn xã hội bị xâm phạm: 70% người nghiện ma túy liên quan đến trộm  
cắp, cướp giật, giết người, đua xe, gây rối trật tự xã hội, làm tăng tội phạm hình sự.  
Nghiện ma túy vừa là nguyên nhân, và cũng làm gia tăng các tệ nạn xã hội khá như  
mại dâm, cờ bạc, buôn lậu…  
IV. TỔNG QUAN VỀ NGHIỆN MA TUÝ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM  
4.1 Tổng quan về nghiện ma tuý trên Thế giới  
Ma túy và lạm dụng chất gây nghiện này được xem là vấn đề mang tính toàn cầu đã  
và đang làm giảm giá trị và chất lượng cuộc sống của nhiều người. Các con số thống  
kê của WHO cho thấy xu hướng gia tăng nhanh chóng số lượng người sử dụng ma  
tuý: 1985 là 48 triệu người; năm 1995 tăng lên 60 triệu người; năm 2004/2005 có  
đến 200 triệu người; và đến năm 2009/2010 ước tính từ khoảng 141 triệu đến 272  
triệu chiếm 6,1 % tổng dân số trong độ tuổi từ 15 đến 60. Theo báo cáo cập nhật  
nhất của Cơ quan phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC)  
năm 2015 tỉ lệ người sử dụng ma túy trên toàn thế giới vẫn không có nhiều xáo  
13  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
trộn. Ước tính có khoảng 246 triệu người, tương đương với khoảng hơn 5% dân số  
toàn thế giới trong độ tuổi từ 15 đến 64 đã từng sử dụng ma túy trái phép trong năm  
2013. Số người có vấn đề về sử dụng ma túy chiếm khoảng 27 triệu người, gần một  
nửa trong số họ là người tiêm chích ma túy (PWID). Nam giới sử dụng cần sa, cocain  
và anphetamin nhiều gấp ba lần nữ giới, trong khi nữ giới có xu hướng lạm dụng  
thuốc giảm đau có chứa opiods và thuốc an thần. Những số liệu cho thấy số người  
nghiện ở khu vực Châu Á nhiều nhất, sau đó đến Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Âu và  
Châu Đại dương.  
Tình hình buôn bán ma túy ở khu vực Châu Á vẫn tập trung chủ yếu là thuốc phiện và  
hêrôin, thuốc phiện sản xuất ở Châu Á chiếm hơn 99% thị phần toàn cầu. Tuy nhiên  
xu hướng gần đây cho thấy sự đáng lo ngại là lượng sản xuất ma tuý tổng hợp lại  
ngày càng gia tăng. Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp quốc  
(UNODC) cảnh báo lượng sản xuất và tiêu thụ ma tuý tổng hợp có dấu hiệu tăng  
mạnh ở các nước đang phát triển, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Điều này đồng  
nghĩa với việc số lượng người nghiện sư dụng ma tuý tổng hợp tăng.  
Nghiện ma túy gây tổn hại rất nhiều đến đời sống của con người. Thứ nhất là ảnh  
hưởng lớn đến sức khỏe. Theo UNOCD, có khoảng 1,65 triệu người tiêm chích ma  
túy đang phải sống chung với HIV trong năm 2013. Bên cạnh đó việc sử dụng chung  
bơm kim tiêm của người nghiện cũng làm gia tăng tỷ lệ mắc viêm gan C với tỷ lệ  
khoảng 50% tương đương với 8 triệu người. Số người chết liên quan đến sử dụng ma  
túy trái phép ước tính lên đến từ 104.000 đến 263.000 người mỗi năm trong đó có  
khoảng một nửa chết do sử dụng ma túy quá liều. Thứ hai, ma túy còn gây mất trật  
tự xã hội với tệ nạn buôn bán ma túy của các băng đảng tội phạm. Thứ ba, sử dụng  
ma túy cũng gây tổn thất lớn về kinh tế. Đơn cử như ở Anh năm 2010 có có hơn 13  
nghìn người nghiện ma túy, đa phần là nghiện heroin, tiêu phí khoảng 15 tỷ bảng  
Anh/năm. Nhìn chung tình hình nghiện ma tuý trên thế giới đã và đang ở mức báo  
động do số lượng người nghiện ra tăng và những ảnh hưởng của nghiện ma tuý đối  
với các cá nhân, gia đình, cộng đồng, quốc gia, khu vực và quốc tế.  
4.2 Tổng quan về nghiện ma tuý ở Việt Nam  
4.2.1 Tgnh hgnh nghiện ma tuý tại Việt Nam  
Thứ nhất, nghiện ma tuý ở Việt Nam có xu hướng gia tăng cả về số lượng, địa bàn và  
thành phần người nghiện. Tính đến tháng 9/2014 cả nước có khoảng 204.000 người  
nghiện ma túy. So với cuối năm 1994, số người nghiện ma túy đã tăng gần 4 lần với  
mức tăng xấp xỉ 7.000 người nghiện mỗi năm. Người nghiện ma túy đã có 63/63 tỉnh,  
thành phố, khoảng 90% quận, huyện, thị xã và gần 70% xã, phường, thị trấn trên cả  
nước. Người nghiện cũng đã xuất hiện ở mọi thành phần xã hội: học sinh, sinh viên,  
cán bộ công chức, người lao động... Trong tổng số người nghiện ma túy: 96% là nam  
giới, 4% là nữ giới, 74% ở độ tuổi 18-35, có 1% dưới 18 tuổi.  
Thứ hai, xu hướng chuyển từ sử dụng heroin sang ma tuý tổng hợp tăng dần. Người  
nghiện sử dụng heroin là 72% và có xu hướng giảm dần, tỷ lệ người sử dụng ma túy  
trong nhóm kích thích dạng Amphetamin (ATS) ngày càng gia tăng (2,5% năm 2005,  
14,5% đến tháng 9/2014). Tại một số địa phương, tỷ lệ học viên trong các Trung tâm  
Chữa bệnh – Giáo dục- Lao động xã hội đã từng sử dụng ma túy tổng hợp cao như:  
Đà Nẵng 74%, Tây Ninh 61%, Trà Vinh 49%. (Cuc  CTNNX năm 2014  
14  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
Như vậy, có thể thấy tình hình lạm dụng ma túy ở Việt Nam vẫn đang diễn biến phức  
tạp và có xu hướng gia tăng cùng với việc xuất hiện nhiều loại ma túy mới, hình thức  
sử dụng ma túy không an toàn làm tăng nguy cơ lây nhiễm nhiều căn bệnh xã hội.  
Đa số người nghiện ma túy có trình độ văn hóa thấp, chưa được đào tạo nghề và  
không có việc làm ổn định, thường gặp các vấn đề về sức khỏe, kinh tế khó khăn,  
nhiều người không được sự hỗ trợ của người thân, gia đình. Do vậy, việc cần thiết  
nhất là hỗ trợ điều trị nghiện nhằm giúp họ từ bỏ sự lệ thuộc ma túy, phục hồi các  
chức năng xã hội để đảm bảo hòa nhập xã hội bền vững. Hiệu quả của công tác điều  
trị nghiện ma túy phụ thuộc vào nhiều yếu tố và sự trợ giúp của toàn xã hội.  
4.2.2 Những khó khăn ma người nghiện ma tuý ở Việt Nam đang phải đối mặt  
Sau một quá trình nghiện ma tuý, đối với người nghiện sức khỏe dần dần bị suy sụp.  
Họ cũng không quan tâm chăm sóc đến sức khỏe bản thân. Bên cạnh đó, các chức  
năng của cơ quan sinh sản, hộ hấp và nội tiết của họ bị rối loạn. Hiện tượng táo bón,  
mất ngủ xảy ra thường xuyên.  
Người nghiện ma tuý thường có những biểu hiện bức xúc về mặt tâm lý muốn sử  
dụng lại chất gây nghiện, khi lên cơn nghiện, người nghiện khó có thể kiểm soát  
được suy nghĩ và hành vi của mình nên dễ dạng gây ra những tổn thương cho người  
khác hoặc gây ra những hành động làm ảnh hưởng xấu đến gia đình và người xung  
quanh.  
Đặc biệt, do sự tác động của các chất ma tuý đến hệ thần kinh nên người nghiện có  
hiện tượng loạn thần nhất định. Đặc biệt khi người nghiện sử dụng các loại ma tuý  
gây ảo giác (ma tuý đá).  
Các chức năng xã hội của người nghiện bị suy giảm. Mối quan hệ xã hội với gia đình,  
người thân bị đổ vỡ, người thân không tin tưởng, xua đuổi xa lánh. Bạn bè tốt, bạn  
bè cũ cũng không còn giữ mối liên hệ, bị mất lòng tin và xa lánh, xung quanh họ  
phần lớn là bạn sử dụng ma túy. Địa điểm thường xuyên lui tới là nơi mua ma túy và  
nơi sử dụng ma túy. Quan hệ chủ yếu với bạn bè nghiện, bị lôi kéo tiếp tục nghiện  
hơn là được giúp đỡ thoát ra.  
Khi đã nghiện ma túy, người nghiện dần trở nên ích kỷ và lười biếng. Ma túy làm  
cho họ dần bị sai lệch về quan điểm, ý thức và thái độ lao động, năng lực, kỹ năng  
về lao động dần bị mai một, thoái hóa. Người nghiện sử dụng phần lớn thời gian  
của mình để hưởng thụ cảm giác khoan khoái từ sử dụng ma túy đem lại, lâu dần  
người nghiện mất khả năng lao động. Do đó, thu nhập của họ từ lao động bị giảm  
sút hoặc không có. Thêm vào đó chi phí cho ma túy ngày càng tăng, họ luôn gặp  
khó khăn về tài chính.  
Đặc biệt, do những hành vi xấu xuất hiện ở một số người nghiện nên họ luôn vấp  
phải sự kỳ thị, xa lánh từ cộng đồng. Việc người nghiện luôn phải đối mặt với sự kỳ  
thị làm hạn chế đến việc tiếp cận các dịch vụ hỗ trợ như: Dịch vụ y tế; dịch vụ điều  
trị nghiện, các chính sách vay vốn hỗ trợ người sau cai hoà nhập cộng đồng, khó  
khăn trong tìm kiếm việc làm…  
15  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
V. CÁC MÔ HÌNH VÀ HỆ THỐNG CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐIỀU TRỊ  
NGHIỆN  
5.1 Các mô hình hỗ trợ điều trị nghiện ma tuý hiện nay ở Việt Nam  
Với chủ trương đa dạng các hình thức cai nghiện ma túy, thời gian qua tùy theo đặc  
điểm cụ thể, các địa phương đã vận dụng nhiều hình thức cai nghiện và đã thu được  
những kết quả nhất định. Hiện nay, người nghiện ma tuý cai nghiện phục hồi theo  
các mô hình sau:  
Mô hình cai nghiện bắt buộc tại cơ sở chữa bệnh: Đây là mô hình cai nghiện được áp  
dụng với các đối tượng nghiện đã cai tại gia đình, cộng đồng hoặc đã được giáo  
dục nhiều lần tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện hoặc đối tượng không có  
nơi cư trú nhất định. Tùy theo đặc điểm nhân thân, mức độ nghiện và theo qui định  
của UBND quận, huyện, thành phố mà các đối tượng được đưa vào cai nghiện tập  
trung tại cơ sở chữa bệnh với thời gian từ 1 đến 2 năm theo qui định của Luật phòng,  
chống ma túy. Trong thời gian này, người nghiện được điều trị, phục hồi toàn diện  
các mặt tâm sinh lý kết hợp với giáo dục, tư vấn, dạy nghề, lao động sản xuất. Tuy  
nhiên mô hình này đang dần xoá bỏ thay vào đó là các mô hình chăm sóc hỗ trợ  
người nghiện mang tính tự nguyện và tại cộng đồng.  
Môi hình cai nghiện tự nguyện tại cơ sở chữa bệnh, tại cộng đồng: Ngoài hình thức cai  
nghiện bắt buộc, nhiều địa phương đang áp dụng hình thức cai nghiện tự nguyện  
tại các cơ sở chữa bệnh và tại cộng đồng, thời gian cai nghiện tự nguyện từ 2 đến 6  
tháng đến một năm. Các đối tượng tự nguyện cũng được áp dụng qui trình chung  
về điều trị, phục hồi (trừ lao động, sản xuất thì tự giác tham gia).  
Mô hình cai nghiện và quản ly sau cai nghiện ma túy tại cộng đồng: Cai nghiện tại cộng  
đồng được thực hiện đa dạng hóa với các hình thức cai nghiện tại nhà, tại cơ sở của  
xã, phường, các trung tâm quận, huyện, trung tâm của các tổ chức xã hội và công  
trường 06 phù hợp với đặc điểm và điều kiện cụ thể của từng địa phương, hoàn cảnh  
của từng đối tượng. Hình thức cai nghiện này là sự kết hợp điều trị hỗ trợ bằng thuốc  
kết hợp với sử dụng liệu pháp tâm lý xã hội.  
Mô hình Câu lạc bộ giúp đỡ người nghiện cai nghiện và tái hòa nhập cộng đồng:  
hoạt động chung như vận động, giúp người nghiện đi cai nghiện, trực tiếp thăm hỏi  
động viên hàng ngày, tư vấn, tổ chức các hoạt động văn hoá, xã hội, bảo lãnh vay  
vốn, tạo việc làm cho đối tượng và gia đình vợ con họ, trợ cấp khó khăn, xin việc làm  
cho đối tượng vào các cơ sở sản xuất, họp mặt nhân các ngày lễ, tết để khen thưởng,  
động viên...  
Mô hình điều trị duy trì thay thế băng Methadone: Đây là mô hình do BộY tế chủ trì, phối  
hợp chính quyền một số tỉnh, thành phố có tỷ lệ người nghiện chích các chất ma túy  
dạng thuốc phiện cao. Mục tiêu của mô hình là góp phần làm giảm lây nhiễm HIV và  
một số bệnh có liên quan trong nhóm người nghiện các chất dạng thuốc phiện và từ  
nhóm người nghiện các chất dạng thuốc phiện ra cộng đồng, cải thiện sức khỏe và  
chất lượng cuộc sống, hỗ trợ tái hòa nhập cộng đồng cho người sau cai nghiện.  
Nhìn chung cách tiếp cận hiện nay của Việt Nam trong điều trị nghiện đã có thay đổi  
tích cực chuyển dần từ mô hình cai nghiện bắt buộc sang hình thức điều trị nghiện  
dựa và bằng chứng, tự nguyện tại cộng đồng. Điều này được thể hiện trong tinh  
16  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
thần của Đề án “Đổi mới công tác cai nghiện ma tuý ở Việt Nam đến năm 2020”.  
Sự chuyển đổi này đánh dấu một bước quan trọng trong cách nhìn nhận về quan  
điểm hỗ trợ người nghiện từ việc coi nghiện ma tuý là một tệ nạn xã hội sang điều  
trị bệnh mãn tính của não bộ. Mô hình chăm sóc này hướng đến cung cấp các dịch  
vụ chăm sóc liên tục và toàn diện đảm bảo chăm sóc ban đầu, chăm sóc đặc biệt  
và chăm sóc liên tục, bao gồm các hoạt động tiếp cận cộng đồng, tham gia các câu  
lạc bộ, nhóm hỗ trợ xã hội, đồng đẳng, hỗ trợ đào tạo nghề, chăm sóc y tế, điều trị  
methadone, cất cơn giải độc, điều trị ARVs và tư vấn điều trị nghiện.  
5.2. Hệ thống luật pháp, chính sách trong hỗ trợ điều trị nghiện  
Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến hỗ trợ những đối tượng yếu thế trong xã  
hội, vì vậy, các chính sách luật phát trong hỗ trợ điều trị nghiện được thể chế hoá  
vào Hiếp pháp, các luật và chính sách xã hội sau:  
Điều 61 Hiến pháp năm 1922 quy định: “Công dân có quyền được hưởng chế độ  
bảo vệ sức khỏe….Nhà nước quy định chế độ bắt buộc cai nghiện và chữa bệnh xã  
hội nguy hiểm…”.  
Luật phòng, chống ma túy được Quốc hội ban hành ngày 19/12/2000 và sửa đổi,  
bổ sung năm 2008 tại Điều 27 quy định: “Áp dụng chế độ cai nghiện đối với người  
nghiện ma túy, khuyến khích người nghiện ma túy tự nguyện cai nghiện; tổ chức  
các cơ sở cai nghiện bắt buộc; khuyến khích các cá nhân, gia đình, cơ quan, tổ chức  
thực hiện việc cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng được áp dụng đối với  
tất cả người nghiện ma túy. Người nghiện ma túy có thể tự nguyện đăng ký cai  
nghiện tại gia đình, cộng đồng hay tại cơ sở chữa bệnh (hay còn gọi là trung tâm  
cai nghiện). Bên cạnh khuyến khích người nghiện tự nguyện đăng ký cai nghiện  
các hình thức, Luật này đã quy định hình thức cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng  
hoặc tại cơ sở chữa bệnh đối với người nghiện ma túy không tự nguyện cai nghiện.  
Việc cai nghiện bắt buộc tại cộng đồng được thực hiện theo quyết định của Chủ  
tịch UBND xã, phường, thị trấn với người mới nghiện nhưng không tự nguyện cai  
nghiện (Điều 27). Biện pháp cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện được áp dụng  
đối với “Người nghiện ma túy từ đủ 18 tuổi trở lên đã được cai nghiện tại gia đình  
và cộng đồng hoặc đã dược giáo dục tại xã, phường, thị trấn mà vẫn còn nghiện  
hoặc người nghiện không có nơi cư trú nhất định được đưa vào cơ sở cai nghiện  
bắt buộc… Thời hạn cai nghiện bắt buộc tại cơ sở chữa bệnh từ 1 đến 2 năm (Điều  
28). Đối với người nghiện ma túy từ đủ 12 tuổi đến dưới 18 tuổi đã được cai nghiện  
tại gia đình và cộng đồng hoặc đã được giáo dục tại xã, phường, thị trấn nhiều lần  
mà vẫn còn nghiện hoặc không có nơi cư trú nhất định thì được đưa vào cơ sở cai  
nghiện bắt buộc giành riêng cho họ và điều này không coi là việc xử lý vi phạm  
hành chính (Điều 29).  
- Luật xử lý vi phạm hành chính số 15/2012/QH13 được Quốc hội ban hành ngày  
20 tháng 6 năm 2012. Theo quy định của Luật này (Điều 90), hành vi sử dụng ma  
túy trái phép không phải là tội phạm mà là hành vi vi phạm pháp luật về mặt  
hành chính và được xử lý theo pháp luật hành chính. Việc áp dụng biện pháp  
đưa vào cơ sở chữa bệnh, đưa cai nghiện bắt buộc tại trung tâm đối với người  
nghiện ma túy được tiến hành bằng các thủ tục hành chính được quy định trong  
các Điều 90, 93, 103, 104, 110, 118. Thẩm quyền ra quyết định đưa người nghiện  
đi cai nghiện bắt buộc tại trung tâm thuộc Chủ tịch UBND cấp huyện. Điểm đáng  
17  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
lưu ý trong Luật này là hướng việc xử phạt sang hình thức áp dụng biện pháp giáo  
dục tại xã, phường, thị trấn  
- Các Nghị định của Chính phủ quy định chi tiết về công tác cai nghiện, như Nghị  
định 94/2009/NĐ-CP ngày 26/10/2009 quy định chi tiết thi hành Luật sử đổi, bổ  
sung một số điều của Luật PCMT về quản lý sau cai nghiện ma túy tại nơi cư trú và  
trung tâm quản lý sau cai. Nghị định 94/2010/NĐ-CP ngày 9/9/2010 quy định về  
tổ chức cai nghiện ma túy tại gia đình và cộng đồng; Nghị định 61/2011/NĐ-CP  
ngày 26/7/2011 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 135/2004/  
NĐ-CP ngày 10/6/2004 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa  
vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử  
lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với người chưa thành niên, người tự  
nguyện vào cơ sở chữa bệnh.  
Quyết định số 2596/QĐ-TTg ngày 27 tháng 12 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ  
về việc phê duyệt Đề án “Đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm  
2020”;  
Quyết định số 2187/QĐ-TTg ngày 05/12/2014 củaThủ tướng Chính phủ về phê duyệt  
kế hoạch đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020.  
VI. VAI TRÒ, NHIỆM VỤ CỦA CÁN BỘ CÔNG TÁC XÃ HỘI TUYẾN XÃ/  
PHƯỜNG TRONG CAN THIỆP HỖ TRỢ NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
6.1 Vai trò, nhiệm vụ của cán bộ công tác xã hội xã/phường  
Cán bộ công tác xã hội (CTXH) tuyến xã/phường có vai trò và nhiệm vụ rất quan  
trọng trong quá trình hỗ trợ người nghiện trong và sau quá trình cai nghiện, đặc biệt  
là trong xu thế hiện nay các mô hình hỗ trợ người nghiện tự nguyện cai nghiện tại  
gia đình và cộng đồng. Vì vậy cán bộ ctxh xã/phường có những vai trò, nhiệm vụ sau:  
- Tham gia vào quản lý, triển khai hoạt động hỗ trợ trực tiếp cho người nghiện ma  
tuý trên địa bàn: Nắm bắt hồ sơ người nghiện; tiến hành hoạt động tham vấn  
tâm lý và tư vấn pháp luật cho người nghiện, gia đình người nghiện; hỗ trợ người  
nghiện lên kế hoạch điều trị nghiện, dự phòng tái nghiện.  
- Tham gia công tác biện hộ cho người nghiện ma tuý trong những trường hợp cần  
thiết.  
- Huy động các nguồn lực hỗ trợ người nghiện ma tuý. Đồng thời, vận động gia  
đình, cộng đồng và các tổ chức xã hội sẵn sàng hỗ trợ người nghiện cả về vật chất,  
tinh thần để điều trị nghiện và tái hoà nhập cộng đồng sau điều trị.  
- Kết nối chuyển gửi dịch vụ cho người nghiện ma tuý. Hỗ trợ người nghiện và người  
sau cai nghiện tiếp cận các dịch vụ trợ giúp (dịch vụ y tế; dịch vụ trợ giúp pháp lý;  
dịch vụ điều trị nghiện; dịch vụ dạy nghề và tìm việc làm cho người nghiện...)  
- Triển khai các hoạt động giáo dục truyền thông nâng cao nhận thức và giảm kỳ  
thị đối với người nghiện ma tuý tại cộng đồng. Các khâu từ xác định đối tượng,  
nội dung, hình thức truyền thông, địa điểm và lên kế hoạch thực hiện được cán bộ  
CTXH tuyến xã/ phường triển khai tại địa bàn.  
18  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
6.2 Các hoạt động trợ giúp của cán bộ công tác xã hội trong trợ giúp người nghiện  
Các hoạt động trợ giúp của cán bộ CTXH tuyến xã/phường với người nghiện ma tuý  
rất đa dạng từ các hoạt động hỗ trợ cá nhân người nghiện, hỗ trợ gia đình có người  
nghiện và các hoạt động với cộng đồng về nâng cao nhận thức về ma tuý, tham gia  
vào quá trình hỗ trợ người nghiện và gia đình họ.  
6.2.1. Hoạt động hỗ trợ bản thân người sử dụng ma túy  
- Tiếp xúc, gặp gỡ trao đổi với người nghiện để tìm hiểu tiền sử sử dụng ma túy,  
hoàn cảnh gia đình, công ăn việc làm, môi trường sống vv…  
- Thiết lập mối quan hệ thân thiết với người nghiện tiến hành hỗ trợ các vấn đề  
tâm lý, xã hội thông qua các hoạt động thường xuyên thăm hỏi, tạo lập mối quan  
hệ với người nghiện và cung cấp dịch vụ tham vấn, tư vấn.  
- Tìm hiểu nhu cầu của người nghiện và gắn kết hỗ trợ người nghiện với các dịch  
dịch vụ trợ giúp.  
- Cùng bàn bạc với người nghiện để lên kế hoạch, xây dựng các mục tiêu các giải  
pháp cho sự thay đổi.  
- Cung cấp thông tin, kết nối, chuyển gửi người nghiện đến các dịch vụ hỗ trợ phù  
hợp, đăc biệt là các dịch vụ điều trị ARV (với người nghiện nhiễm HIV), các dịch  
vụ xét nghiệm, dịch vụ dạy nghề, tìm việc làm.  
- Tổ chức các câu lạc bộ, các nhóm sinh hoạt dành cho người nghiện ma túy, người  
sau cai nghiện ma tuý. Triển khai sinh hoạt định kỳ, các thành viên giúp đỡ nhau  
về mặt tâm lý để vượt qua sự cám dỗ của ma túy, các hoạt động giải trí khác  
nhằm giúp người nghiện thích nghi trở lại với cuộc sống.  
6.2.2 Hoạt động hỗ trợ gia đgnh người nghiện  
- Cung cấp cho gia đình người nghiện thông tin về các loại ma túy, nghiện, cách  
phát hiện được người sử dụng hay nghiện ma túy.  
- Giúp các thành viên gia đình hiểu về quá trình cai nghiện và những khó khăn  
người nghiện gặp phải trong quá trình cai nghiện để kịp thời động viên, giúp đỡ.  
- Hướng dẫn các chăm sóc người nghiện về đảm bảo chế độ dinh dưỡng, tuân thủ  
quy trình điều trị nghiện  
- Gắn kết các thành viên trong gia đình, hỗ trợ người nghiện giải quyết các xung  
đột và xây dựng lại niềm tin. Nhấn mạnh tầm quan trọng của gia đình trong quá  
trình phục hồi để gia đình quan tâm thương yêu và tin tưởng người nghiện, gần  
gũi, dẫn dắt, nâng đỡ để người nghiện vượt qua khó khăn trong quá trình tái hoà  
nhập cộng đồng.  
- Giúp các nhóm gia đình của người nghiện trao đổi kinh nghiệm và cách thức hỗ  
trợ người nghiện.  
6.2.3 Đối với cộng đồng  
19  
CÔNG TÁC XÃ HỘI  
VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY  
- Tuyên truyền phổ biến kiến thức về tác hại của ma túy và cách phòng chống tại  
cộng đồng.  
- Cung cấp thông tin và giáo dục ý thức không kì thị và phân biệt đối xử, xa lánh  
người nghiện ma túy. Động viên mọi người có trách nhiệm nâng đỡ hỗ trợ người  
sử dụng ma túy.  
- Tạo điều kiện cho người nghiện được học tập, làm việc tại cộng đồng. Hỗ trợ tìm  
kiếm các dịch vụ y tế, dịch vụ xã hội khác trong quá trình điều trị và phục hồi.  
- Liên kết nhiều ngành, nhiều đoàn thể trong công việc chống nghiện ma túy như  
phát hiện và triệt phá các ổ tiêm chích, buôn bán ma túy.  
20  
Tải về để xem bản đầy đủ
pdf 55 trang baolam 23601 Free
Bạn đang xem 20 trang mẫu của tài liệu "Tài liệu Công tác xã hội với người nghiện ma túy", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftai_lieu_cong_tac_xa_hoi_voi_nguoi_nghien_ma_tuy.pdf