Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng hoa - kiểng Sa Đéc

36  
PHÂN TÍCH CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN  
CỦA LÀNG HOA – KIỂNG SA ĐÉC  
SV. Đỗ Nhựt Linh  
ThS. Hồ Thị Khánh Linh  
Tóm tắt. Làng hoa – kiểng Sa Đéc đã được người dân trong nước chú ý đến và  
tỉnh ta đang phát triển làng nghề này để trở thành điểm tham quan du lịch đồng thời  
nâng cao thu nhập cho người dân. Nhưng thực tế cho thấy việc phát triển làng hoa –  
kiểng vẫn chưa đạt được hiệu quả vì thế chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu  
định lượng để xác định những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng hoa –  
kiểng. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy điều kiện tự nhiên, con người và chính sách phát  
triển của Nhà nước là những nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng hoa – kiểng  
Sa Đéc. Nhưng mấu chốt nhất là sự nhận thức chưa đầy đủ về điều kiện kinh tế - xã hội  
trong tư duy sản xuất của nông hộ, đây chính là rào cản lớn nhất. Dựa trên kết quả này  
chúng tôi đã đề xuất giải pháp để làng hoa – kiểng Sa Đéc sớm phát triển bền vững.  
1. Đặt vấn đề  
Nền kinh tế thị trường của nước ta đang trong tiến trình hội nhập kinh tế - quốc  
tế sâu và rộng. Người dân cũng như Doanh nghiệp có nhiều điều kiện ứng dụng khoa  
học công nghệ hiện đại. Điều này đã khiến cho con người không tâm huyết nhiều với  
những ngành nghề thực hiện lao động thủ công. Đây chính là một trong những nguyên  
nhân làm cho các làng nghề truyền thống bị mai một dần. Trong số đó có làng hoa -  
kiểng Sa Đéc. Nhưng xét thấy tiềm lực kinh tế của nghề hoa – kiểng rất lớn và số  
lượng nông hộ gắn bó với nghề khá lớn nên chúng ta có một hướng đi phù hợp với  
thời đại nhằm phát triển kinh tế địa phương, tạo công ăn việc làm cho lao động, mang  
lại thu nhập cho người trồng hoa, kiểng…  
Hiện tại, làng nghề phải đối mặt với những thách thức như thị trường tiêu thụ  
bấp bênh, điều kiện tự nhiên thay đổi bất thường, sự cạnh tranh gay gắt với các sản  
phẩm trang trí khác hay vấn đề xây dựng và bảo vệ hình ảnh, thương hiệu làng hoa -  
kiểng Sa Đéc. Trước những thách thức này đã thúc giục chúng tôi thực hiện một  
nghiên cứu để giúp người dân quê tôi giải quyết những khó khăn, thách thức và phát  
huy những thế mạnh của làng nghề. Từ đó xây dựng hình ảnh quê hương Sa Đéc –  
vùng đất sen hồng, thành phố ngàn hoa trong lòng du khách, đồng thời tạo công ăn  
việc làm cho lao động địa phương gắn liền với việc mang lại thu nhập cho người trồng  
hoa – kiểng, tạo không gian xanh sạch, văn minh đô thị cho bộ mặt thành phố hoa Sa  
Đéc, giữ nguyên truyền thống trồng, thú chơi hoa – kiểng của nghệ nhân làng nghề,  
góp phần vào sự phát triển chung của đất nước. Đó là lý do nhóm thực hiện đề tài  
“Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng hoa - kiểng Sa Đéc”.  
2. Nội dung chính  
2.1. Phương pháp nghiên cứu  
a. Phương pháp định tính  
Nghiên cứu dựa trên việc phỏng vấn sâu những nông hộ có kinh nghiệm sản  
xuất hoa - kiểng tiến tiến điển hình, chủ nhiệm hợp tác xã, tổ hợp tác sản xuất để loại  
dần các nhân tố không ảnh hưởng đến sự phát triển của làng hoa - kiểng Sa Đéc. Sau  
đó đưa ra mô hình nghiên cứu cuối cùng gồm các nhân tố điều ảnh hưởng đến sự phát  
triển của làng hoa, kiểng. Nên khi chạy nhân tố EFA các nhân tố trong mô hình nghiên  
cứu không thay đổi.  
37  
b. Phương pháp chọn mẫu  
Nhóm sự dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện kết hợp với phân tầng để  
chọn 300 mẫu. Trong đó các mẫu được phân tầng theo chủng loại hoa, kiểng mà nông  
dân trồng: Kiểng hoa, kiềng lá, kiểng cổ, kiểng Bonsai. Sau khi phân tầng sẽ chọn  
thuận tiện từng đối tượng phỏng vấn để thu thập số liệu phục vụ cho nghiên cứu.  
c. Phương pháp định lượng  
Kiểm định thang đo bằng hệ số Crobach’s Alpha, để tăng độ tin cậy  
Phân tích nhân tố EFA, để khám phá nhân tố tác động thực sự  
Phân tích tương quan và tự tương quan, sự đa cộng tuyến, cho biết mối quan  
hệ giữa các biến trong mô hình.  
Phân tích hồi quy đa biến, để định lượng sự tác động của các nhân tố  
Phân tích ANOVA, T-Test, để kiểm định sự khác nhau giữa các mẫu quan  
sát khi mà điều kiện thực trạng của các mẫu là không đồng nhất.  
Thống kê mô tả, tần số, để thấy được thực trạng làng nghề.  
2.2. Mô hình nghiên cứu  
Qua nghiên cứu và phân tích tài liệu nhóm đã xây dựng được mô hình nghiên  
cứu sau với số biến độc lập 4 và 1 biến phụ thuộc, ngoài ra còn có 11 biến nhân khẩu  
và các biến liên quan dùng để phân tích sự khác biệt giữa các đối tượng nghiên cứu.  
PT_LH = F(TU_NHIEN, KT_XH, CON_NGUOI, NHA_NUOC)  
Trong đó:  
PT_LH: Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự phát triển của lảng hoa-  
kiểng Sa Đéc.  
TU_NHIEN: Nhân tố tự nhiên: đất, nước, khí hậu, vị trí địa lý,…  
KT_XH: Nhân tố kinh tế - xã hội: yếu tố đầu vào, ra, tốc độ phát triển kinh tế,…  
CON_NGUOI: Nhân tố con người: nguồn lao động, kinh nghiệm, văn hoá, tư duy,…  
NHA_NUOC: Chính sách của nhà nước: vốn vay, hỗ trợ về khoa học kỹ thuật,…  
Các biến nhân khẩu khác:  
o gioitinh: Giới tính của chủ hộ  
o loai: Chủng loại hoa - kiểng  
o thoi_gian: Thời gian trồng hoa kiểng của chủ hộ.  
o dien_tich: Diện tích đất trong và sản xuất hoa - kiểng  
o chi_phi: Tổng chhi phí đầu tư trên 1000 mết vuông  
o mua_vu: Số mùa vụ trong năm  
o thu_nhap: Thu nhập hàng năm đã trừ chi phí.  
o thanh_vien: Số lượng thành viên trong gia đình tham gia sản xuất hoa, kiểng.  
o thi_truong: Thị trường tiêu thụ chính  
o ho_tro: Sự hổ trợ vốn vay từ nhà nước  
o thoi_diem: Thời diểm tiêu thụ chính.  
38  
2.3. Giả thuyết nghiên cứu  
o H01: Nhóm nhân tố điều kiện tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn sự phát triển của  
làng Hoa - Kiểng Sa Đéc.  
o H02: Nhóm nhân tố điều kiện kinh tế xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát  
triển của làng Hoa - Kiểng Sa Đéc.  
o H03: Nhóm nhân tố con người có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của làng  
Hoa - Kiểng Sa Đéc.  
o H04: Nhóm nhân chính sách của nhà nước có ảnh hưởng rất lớn đến sự phát  
triển của làng Hoa - Kiểng Sa Đéc.  
2.4. Kết quả nghiên cứu  
2.4.1. Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng hoa- kiểng  
Sa Đéc  
a. Kết quả thống kê các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng hoa-  
kiểng Sa Đéc  
* Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng hoa- kiểng Sa Đéc  
Qua cuộc khảo sát thực tế đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của  
làng hoa- kiểng Sa Đéc, ta có bảng số liệu sau :  
Bảng 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng hoa- kiểng Sa Đéc  
Tiêu chí  
TU_NHIEN  
KT_XH  
CON_NGUOI  
NHA_NUOC  
N
Giá trị trung bình  
3.7200  
3.6300  
3.8333  
4.2200  
Độ lệch chuẩn Ý nghĩa  
300  
300  
300  
300  
0.64003  
0.85764  
0.62197  
0.48894  
Cao  
Cao  
Cao  
Cao nhất  
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ 300 bảng câu hỏi được phỏng vấn trực tiếp bằng SPSS)  
Dựa vào kết quả bảng trên và công thức giá trị khoảng cách:  
(Maximum- Minimum) /n = (5-1) / 5= 0.8  
1,00 - 1,80: Thấp nhất 1,81 - 2,60: Thấp 2,61 - 3,40: Trung bình  
3,41 - 4,20: Cao 4,21 - 5,00: Cao nhất  
Cho thấy các giá trị trung bình của các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của  
làng hoa- kiểng Sa Đéc nằm trong khoảng từ 3.63 đến 4.22 vì vậy mức độ ảnh hưởng  
của đối với các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng nghề luôn ở mức cao và  
cao nhất. Điều này có nghĩa, các nhân tố trên ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển của  
làng nghề và chấp nhận nhóm các giả thiết về các nhân tố ảnh hướng đến sự phát triển  
của làng nghề.  
b. Phân tích nhân tố khám phá (EFA)  
* Phân tích nhân tố khám phá cho các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của  
làng hoa- kiểng Sa Đéc  
- Quá trình phân tích nhân tố khám phá trải qua 2 bước :  
+ Bước 1: Tiến hành phân tích nhân tố khám phá cho các các nhân tố ảnh  
hưởng đến sự phát triển của làng hoa- kiểng Sa Đéc với 18 biến quan sát là:  
Tho_nhuong, Khi_hau, Nuoc, Vi_tri, Canh_tranh, Nguon_cung, Nhu_cau, Dan_so,  
Pt_kinhte, Nguon_ld, Nha_khoahoc, Nghiem_thuc, Van_hoa, Tu_duy, Nguon_von,  
Kh_kt, Phap_ly, Chs_dautu.  
39  
Bảng 2. Kiểm định KMO và Bartlett's đối với biến phụ thuộc  
Chỉ số KMO.  
Kiểm định Bartlett's Approx. Chi-Square  
0.757  
2160.639  
153  
Df  
Sig.  
0.000  
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ 300 bảng câu hỏi được phỏng vấn trực tiếp bằng SPSS)  
Hệ số KMO = 0.757> 0.5: Phân tích các nhân tố phù hợp với dữ liệu nghiên cứu.  
Kết quả kiểm định Bartlett's là 2160.639 với mức ý nghĩa Sig=0.000<0.05 (bác  
bỏ giả thiết H0: các biến quan sát không có tương quan với nhau trong tổng thể. Như  
vậy giả thiết mô hình nhân tố là không phù hợp, và sẽ bị bác bỏ, điều này chứng tỏ dữ  
liệu dùng để phân tích nhân tố là hoàn toàn hợp lý.  
Giá trị tổng phương sai trích Cumulative %=62.373% >50%: đạt yêu cầu; khi  
đó có thể nói rằng một nhân tố sẽ giải thích 62.373% sự biến thiên của dữ liệu.  
Giá trị của một nhân tố phải > 1, vì vậy nhìn vào cột giá trị Eigenvalues ( cột  
total) ta chỉ nhận được 4 giá trị lớn hơn 1 có nghĩa là ta có 4 nhân tố. Nên khi chạy  
nhân tố EFA ta không loại nhân tố nào trong mô hình.  
Bảng 3. Ma trận xoay hoàn chỉnh  
Nhóm nhân tố  
Biến quan sát  
1
2
3
4
nhu_cau  
nguon_cung  
dan_so  
0.833  
0.832  
0.784  
0.783  
0.737  
canh_tranh  
pt_kinhte  
Nuoc  
0.886  
0.844  
0.838  
0.813  
khi_hau  
tho_nhuong  
vi_tri  
nguon _von  
chs_dautu  
kh_kt  
0.864  
0.849  
0.790  
0.696  
phap_ly  
tu_duy  
0.783  
0.682  
0.674  
0.658  
0.648  
nguon _ld  
van_hoa  
nha_khoahoc  
nghiem_thuc  
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ 300 bảng g câu hỏi được phỏng vấn trực tiếp bằng SPSS)  
40  
Theo kết quả từ ma trận xoay ta thấy rõ có 4 nhóm nhân tố, và cách biến được  
chia theo từng nhóm: nhóm nhân tố tự nhiên, kinh tế xã hội, con người và chính sách  
của nhà nước. Đồng nghĩa với việc các nhân tố hội tụ, làm tiền đề cho các bước chạy  
tương quan và chạy hồi quy tiếp theo .  
2.4.2. Đặc điểm nhân khẩu học của các nông dân, hộ gia đình và các nghệ  
nhân sản xuất hoa kiểng tại phường tân Qui Đông, TP Sa Đéc  
Qua quá trình thu thập dữ liệu bằng cách phát mẫu hỏi trực tiếp các nông dân,  
hộ gia đình và các nghệ nhân sản xuất hoa kiểng tại phường tân Qui Đông, TP Sa Đéc,  
kết quả thu được 300 mẫu. Cụ thể như sau: tổng số mẫu hỏi phát ra là 300 mẫu, qua  
quá trình thu thập mẫu và sàng lọc đã không loại bỏ mẫu nào  
a. Theo chủng loại hoa, kiểng và diện tích trồng của nông hộ:  
104  
<1000 m2  
54  
52  
1000-2000  
m2  
30  
20  
12  
10  
9
5
4
0
0 0  
0 0 0  
Kiểng hoa  
Kiểng lá  
Kiểng cổ  
Kiểng bonsai  
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ 300 bảng câu hỏi được phỏng vấn trực tiếp bằng SPSS)  
Hình 1: Biểu đồ về chủng loại hoa, kiểng và diện tích trồng của nông hộ  
Từ kết quả trên, ta có thể thấy số lượng nông hộ sản xuất hoa lớn nhất là kiểng lá  
với 104/300 hộ sản xuất trên diện tích từ 2000-4000 mét vuông và 134/300 hộ sản xuất  
trên tất cả các nhóm diện tích. Do đặc thù của bonsai và kiểng cổ nên số lượng hộ trồng  
ít, diện tích nhỏ. Kiểng hoa cũng là chủng loại mà nông dân chọn nhiều để sản xuất trên  
nhiều diện tích 119/300 nông hộ, trong đó 9 hộ sản xuất trên diện tích dưới 1000 mét  
vuông, 52 hộ sản xuất trên diện tích 1000-2000 mét vuông, 54 hộ sản xuất trên diện tích  
từ trên 2000-4000 mét vuông, còn lại sản xuất trên diện tích >4000 mét vuông.  
b. Theo chủng loại hoa, kiểng và thu nhập bình quân hàng năm:  
134  
Dưới 50  
triệu  
50-75 triệu  
76  
Trên 75-  
100 triệu  
34  
22  
21  
7
5
1
0 0  
Kiểng hoa  
0 0  
0 0  
0 0  
0
0 0  
0
Kiểng lá  
Kiểng cổ  
Kiểng bonsai  
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ 300 bảng câu hỏi được phỏng vấn trực tiếp bằng SPSS)  
Hình 2: Biểu đồ thể hiện thông tin về chủng loại hoa, kiểng và thu nhập bình  
quân hàng năm của nông hộ  
41  
Qua kết quả trên cho thấy thu nhập cao chủ yếu rơi vào các nông hộ kiểng hoa  
và kiểng lá với mức thu nhập từ 75 đến 100 triệu. Ứng với những mức có thu nhập cao  
từ 100 đến 200 triệu thì đa số rơi vào các hộ có trồng kiểng bonsai và kiểng cổ nhưng  
số lượng nông hộ rất ít. Không có hộ nào có thu nhập trên 200 triệu trong số 300 hộ  
được chọn để phỏng vấn.  
c. Theo chủng loại hoa, kiểng và diện tích trồng của nông hộ  
Bảng 4. Mô tả thông tin về chủng loại hoa, kiểng và thị trường tiêu thụ chính  
Thị trường tiêu thụ chính  
Xã, phường  
Huyện  
Tỉnh  
Xuất khẩu  
Chủng loại hoa, kiểng  
Số lượng  
Số lượng  
Số lượng  
Số lượng  
Kiểng hoa  
Kiểng lá  
17  
10  
0
37  
43  
0
56  
59  
28  
7
9
22  
7
Kiểng cổ  
Kiểng bonsai  
0
0
5
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ 300 bảng câu hỏi được phỏng vấn trực tiếp bằng SPSS)  
Bảng 5. Mô tả thông tin về chủng loại hoa, kiểng và thời điểm tiêu thụ chính  
Thời điểm tiêu thụ chính  
Tết Nguyên Ngày Rằm Tết Đoan Lễ hội trong Quanh  
Chủng loại hoa, kiểng  
Đán  
Số lượng  
119  
lớn  
Ngọ  
năm  
năm  
Số lượng Số lượng  
Số lượng Số lượng  
Kiểng hoa  
Kiểng lá  
0
3
3
0
0
5
0
0
0
0
0
0
0
0
126  
Kiểng cổ  
20  
12  
12  
Kiểng bonsai  
0
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ 300 bảng câu hỏi được phỏng vấn trực tiếp bằng SPSS)  
Thông qua kết quả thống kê trên cho thấy thị trường tiêu thụ chính và thời điểm  
tieu thụ chính của các nông hộ chủ yếu là tiêu thụ phạm vi trong tỉnh, việc tiêu thụ  
chịu phụ thuộc nhiều vào các thương lái mà chủ yếu là dịp Tết Nguyên Đán.  
Thông qua khảo sát cho thấy có rất nhiều thị trường tiềm năng vẫn chưa được  
khai thác, nếu ta chú trọng và biết cách khai thác thì sẽ giải quyết tốt thị trường đầu ra  
và mà tạo ra khoản thu nhập rất lớn cho người dân như: thị trường nước ngoài thông  
qua xuất khẩu, thị trường liên tỉnh, thị trường tết Đoan Ngọ, các sự kiện lễ hội lớn  
trong năm…  
d. Theo thu nhập bình quân của người sản xuất hoa, kiểng.  
Bảng 6. Mô tả thông tin về thu nhập bình quân của người sản xuất hoa, kiểng:  
Thu nhập bình quân hàng năm của nông hộ  
Số lượng thành  
Dưới 50  
triệu  
50-75 Trên 75-100 Trên 100-200 >200 triệu  
viên tham gia sản  
xuất hoa, kiểng  
triệu  
triệu  
triệu  
Số lượng  
1
Số lượng Số lượng Số lượng  
18  
Số lượng  
1 thành viên  
0
4
0
42  
2 thành viên  
3 thành viên  
200  
10  
9
8
0
167  
42  
5
0
0
0
0
0
Từ 4 thành viên  
10  
24  
Theo kết quả từ bảng trên cho thấy đa số nông hộ sản xuất hoa kiểng có số lao  
động trong gia đình có tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất chỉ từ 2 đền 3 thành  
viên, đa phần lại là lao động trung niên và lớn tuổi, trong đó có phụ nữ. Vì vậy, có thể  
thấy việc duy trì làng nghề phát triển một làng nghề là rất khó, nhưng muốn phát triển  
thì càng khó hơn, lao động trẻ và kinh nghiệm đang thiếu trầm trọng. Bảng trên cũng  
cho biết thu nhập bình quân của mỗi người sản xuất hoa kiểng vào khoảng từ 50 triệu  
đến 80 triệu trên năm, cao hơn mức thu nhập bình quân đầu người của nước ta.  
2.4.3. Phân tích hồi quy đa biến giữa các biến phụ thuộc với biến đại diện trong  
việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng Hoa - Kiểng Sa Đéc.  
Bảng 7. Tổng kết các giá trị hồi quy đa biến và ANOVA  
PT_LH  
R
.872a  
R2  
R2 hiệu chỉnh  
Sig.  
1
.760  
.750  
.000  
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ 300 bảng câu hỏi được phỏng vấn trực tiếp bằng SPSS)  
Kết quả phân tích hồi quy cho thấy R2 hiệu chỉnh (Adjusted R Square) = 0.750  
và giá trị Sig < 0.05. Vậy ta có thể tiến hành các bước tiếp theo.  
Bảng 8. Bảng kết quả phân tích hồi quy  
Đã chuẩn  
Collinearity  
Statistics  
Chưa chuẩn hóa  
t
Sig.  
hóa  
Beta Std. Error  
Beta  
Tolerance VIF  
C
2.024  
.165  
.026  
0.205  
0.027  
0.020  
0.029  
0.038  
9.886 0.000  
6.154 0.000  
1.306 0.019  
4.589 0.000  
4.318 0.000  
TU_NHIEN  
KT_XH  
.315  
0.066  
0.249  
0.237  
0.946  
0.957  
0.840  
0.825  
1.057  
1.045  
1.191  
1.212  
CON_NGUOI 0.134  
NHA_NUOC 0.162  
(Nguồn: Kết quả xử lý số liệu từ 300 bảng câu hỏi được phỏng vấn trực tiếp bằng SPSS)  
Thông qua bảng 6 cho thấy hệ số VIF điều bé hơn 2, có nghĩa là mô hình hồi  
quy không bị hiện tượng đa cộng tuyến, thỏa mãn yêu cầu mà nhóm đề ra. Tiếp theo là  
hệ số Sig của tất cả các biến phụ thuộc điều nhỏ hơn 5% điều đó chỉ ra rằng các biến  
độc lập có ý nghĩa thống kế giải thích cho biến phụ thuộc là PT_LH từ đó ta có thể viết  
hàm hồi quy tuyến tính với Bêta chưa được chuẩn hóa sau:  
PT_LH = 2.204 + 0.165TU_NHIEN + 0.026KT_XH + 0.134CON_NGUOI +  
0.162NHA_NUOC+ e  
Và hàm hồi quy tuyến tính với Bêta đã dược chuẩn hóa sau:  
PT_LH = 2.204 + 0.315TU_NHIEN + 0.066KT_XH + 0.249CON_NGUOI +  
0.237NHA_NUOC+ e  
43  
Dựa vào hàm hồi quy tuyến tính mà hệ số bêta đã chuẩn hoá thì ta có thể kết  
luận như sau:  
Mô hình đã chứng minh được mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự phát  
triển của làng hoa- kiểng Sa Đéc, đặc biệt là kinh tế - xã hội là nhân tố lại có mức ảnh  
hưởng thấp nhất theo ý kiến của các nông hộ, điều này cho thấy về mặt kiến thức tầm  
quan trọng của nông dân là chưa tốt, từ đó kéo theo các hệ luỵ xấu làm ảnh hưởng  
không tốt đến quá trình phát triển của làng nghề như: đầu ra không có, sản xuất tự  
phát, manh mún, không có huy hoạch trong sản xuất, chưa phát huy hết vai trò của hợp  
tác xã và các tổ hợp tác sản xuất. Thay vì nhận ra tầm quan trọng của yếu tố kinh tế xã  
hội, các nông hộ đã cho rằng tự nhiên sẽ quyết định đến quá trình sản xuất của họ, và  
nhân tố con người, chính sách từ nhà nước cũng là yếu tố mà họ xem là ảnh hưởng lớn  
đến sự phát triển của làng nghề.  
Nhân tố tự nhiên là nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến sự phát triển của làng hoa,  
kiểng. Thậy vậy, khi khí hậu bị biến đổi ảnh hưởng đến chất lượng của hoa, cụ thể là  
hoa nở chậm, tỷ lệ thấp, màu sắc thay đổi, mau tàn,…Ngoài ra nguồn nước tưới, vị trí  
địa lý, thổ nhưỡng cũng ảnh hướng rất lớn.  
Ngoài nhân tố tự nhiên ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của làng hoa, kiểng Sa  
Đéc thì nhân tố con người và nhân tố chính sách phát triển của nhà nước cũng là một  
trong những nhân tố có mức độ ảnh hưởng lớn, điều này cho thấy để phát triển bền  
làng nghề một cách bền vững cần có sự hộ trợ từ các chình sách thiết thực của nhà  
nước về nguồn vốn, khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ cao  
trong công tác quản lý, định hướng đi mới cho làng hoa.  
3. Kết luận kiến nghị  
3.1. Kết luận  
Nghiên cứu dựa trên thực trạng hiện nay của làng nghề trong quá trình sản xuất  
hoa, kiểng Sa Đéc và đúc kết từ các nhược điểm mà những đề tài, nghiên cứu trước  
chưa đạt được, nhóm đã đưa ra mô hình nghiên cứu sự ảnh hưởng của các nhân tố đến  
sự phát triển của làng nghề. Thông qua đó nghiên cứu đã đưa ra các kết quả dựa trên  
phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp nghiên cứu định lượng và đã đạt được  
những kết quả nhất định:  
Tìm ra mức độ phù hợp và mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến mô hình.  
Tìm ra nguyên nhân dẫn đến việc người trồng hoa lại xem nhẹ sự tác động  
của tốc độ phát triển kinh tế đến việc trồng và sản xuất hoa, kiểng của họ.  
Đưa ra những giải pháp thiết thực để khắc phục sự tác động xấu của điều  
kiện tự nhiên đến quá trình sản xuất.  
Thông qua kết quả nghiên cứu nhóm sẽ định hướng cho nghiêu cứu trong  
tương lai nhằm khắc phục hạn chế mà nghiên cứu chưa đạt được, cụ thể là bổ sung  
thêm biến “bảo vệ môi trường” trong quá trình sản xuất khi và chỉ khi làng nghề trong  
giai đoạn phát triển bền vững.  
Là nghiên cứu gần như đầu tiên sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng  
về sự phát triển của làng hoa - kiểng Sa Đéc. Đây vừa là ưu điểm cũng là hạn chế của  
nghiên cứu khi mô hình chỉ xây dựng dựa trên các nghiên cứu định tính và xuất phát từ  
ý kiến thực tiễn của đa phần nông hộ.  
44  
3.2. Kiến nghị  
Nông dân cần thay đổi tư duy, phương thức tập quán sản xuất bằng việc thường  
xuyên sáng tạo, học tập kinh nghiệm thông qua các buổi tuyên truyền, hội thảo, giao  
lưu chia sẻ với nhau, cùng sản xuất cùng phát triển. Trên cơ sở học hỏi, nông dân sẽ  
tiếp thu những cái hiện đại, chọn lọc những kỹ thuật trồng, cải tạo và lai tạo nhân  
giống truyền thống, loại bỏ các tư duy lạc hậu rồi đúc kết lại thông qua hợp tác sản  
xuất, tạo đà vững chắc cho những hướng đi phát triển không ngừng trong tương lai.  
Ngoài ra, để hạn chế sự tác động của điều kiện tự nhiên đến chất lượng sản  
phẩm thì nông dân cùng các nhà khoa học trong nước cần học tập, chuyển giao một  
cách đầy đủ các phương pháp, công nghệ tiến tiến từ những quốc gia có nền nông  
nghiệp pháp triển, trong đó có Hà Lan như: trồng hoa trong nhà kính, lai tạo giống  
bằng công nghệ sinh học,…  
Nhà nước cần có chính sách đầu tư, tổ chức quy hoạch, xây dựng thương hiệu,  
tạo đầu ra cho sản phẩm, nhất là trong viêc hỗ trợ nguồn vốn vay với lãi suất ưu đãi.  
Thường xuyên cử các nhà khoa học xuống địa bàn tập huấn chia sẻ kinh nghiệm cho  
nông dân tạo cơ hội cho nông dân học hỏi kinh nghiệm nâng cao kiến thức, góp phần  
tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, tạo thu nhập cho người trồng hoa, kiểng.  
Phát huy tốt vai trò của hợp tác xã bằng việc xây dựng đội ngủ cán bộ gắn bó và  
tâm huyết với hoa kiểng, từ đó có thể quy hoạch, tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm theo  
hướng xuất khẩu là chính, quảng bá hình ảnh thương hiệu ra thế giới.  
Tài liệu tham khảo  
[1]. Ban chỉ đạo xây dựng đời sống văn hóa phường Tân Qui Đông, (2008), Đề án  
xây dựng phường văn hóa giai đoạn (2008 – 2010) phường Tân Quy Đông.  
[2]. Công ty cổ phần thông tin kinh tế đối ngoại (2008), Đồng Tháp thế và lực mới  
trong thế kỉ XXI, NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội, Hà Nội  
[3]. Nguyễn Đình Đầu, (2007), “300 năm Sa Đéc”, Tạp chí xưa và nay, số 44B, tr. 15  
[4]. Nguyễn Hữu Hiệp, (2007), “Nghiên cứu về địa danh Sa đéc của tỉnh Đồng  
Tháp”, Đồng Tháp xưa và nay, (số 21), tr. 16-17.  
[5]. Nguyễn Đình Thọ, (2014), “Phương Pháp nghiên cứu khoa học trong kinh  
doanh”, Sách giáo trình,Trường Đại học Kinh tế TP.Hồ Chí Minh, NXB Lao  
Động, TP.Hồ Chí Minh.  
[6]. Hoàng Trọng – Chu Nguyễn Mộng Ngọc, (2008), Phân tích dữ liệu nghiên cứu  
với SPSS, Sách giáo trình, Trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, NXB  
Hồng Đức.  
[7]. Trần Trọng Trí (2006), “Làng hoa kiểng Tân Quy Đông rộn rịp chào xuân  
mới”, Đồng Tháp xưa và nay, (số 16), tr. 36-37.  
pdf 9 trang baolam 25640 Free
Bạn đang xem tài liệu "Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của làng hoa - kiểng Sa Đéc", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfphan_tich_cac_nhan_to_anh_huong_den_su_phat_trien_cua_lang_h.pdf