Tìm hiểu nhận thức về thực hành chăm sóc sức khỏe của cư dân vạn chài sông Lô ở Tuyên Quang dưới góc nhìn nhân học y tế

TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
107  
TÌM HIỂU NHẬN THỨC Vꢀ THỰC HꢀNH CHĂM SÓC SỨC KHỎE  
CỦA CƯ DÂN VẠN CHꢀI SÔNG LÔ Ở TUYÊN QUANG  
DƯỚI GÓC NHÌN NHÂN HỌC Y TẾ  
Nguyễn Thị Tám1  
Viện Dân tộc học  
Tóm tắt: Bài viết chỉ ra những thay đổi trong nhận thức về sức khỏe và các phương pháp  
chăm sóc sức khỏe của dân thủy cư sông Lô ở Tuyên Quang. Nhận thức về nguyên nhân  
gây bệnh liên quan đến thần linh, ma quỷ... đã giảm dần; chế độ dinh dưỡng và làm việc,  
sự thay đổi thời tiết... cũng được coi là các nguyên nhân ảnh hưởng đến sức khỏe. Bên  
cạnh việc vẫn chữa bệnh theo cách truyền thống như sử dụng thuốc nam, cúng bái... như  
trước đây, dân vạn chài hiện nay cũng đã sử dụng các dịch vụ y tế hiện đại. Có sự chuyển  
biến đó, một phần do tác động từ các chính sách chăm sóc sức khỏe cho người nghèo của  
Nhà nước; sự phát triển kinh tế - xã hội nói chung và đời sống của dân chài sông Lô nói  
riêng, còn phải kể đến những thay đổi trong nhận thức của chính đối tượng này.  
Từ khoá: Chăm sóc sức khoẻ, làng chài, dân chài, sông Lô, Tuyên Quang, nhân học y tế.  
1. MỞ ĐẦU  
Ở Tuyên Quang hiện có một bộ phận cư dân vạn chài đang sinh sống trên dòng sông  
Lô. Trước sự thay đổi nhanh chóng về kinh tế - xã hội và môi trường những năm gần đây,  
họ đang phải đối mặt với những khó khăn, thách thức, nhất là về giáo dục và y tế.  
Việc nghiên cứu thực trạng đời sống và sức khỏe của cư dân vạn chài hiện nay vẫn  
còn là một vấn đề khá mới mẻ. Đây không chỉ là đối tượng nghiên cứu cần thiết của nhân  
học y tế, mà còn của các lĩnh vực khoa học liên ngành khác. Là một chuyên ngành của  
Nhân học, mục đích của Nhân học y tế là tìm hiểu các cảm nhận của đối tượng nghiên cứu  
về thân thể, sức khỏe và bệnh tật của họ cũng như các hành động của họ liên quan đến vấn  
đề này [2, tr.53]. Theo định nghĩa của Foster và Anderson: “Nhân học y tế là một chuyên  
ngành văn hóa sinh học nghiên cứu đến cả hai khía cạnh sinh học và văn hóa xã hội của  
hành vi loài người, đặc biệt nghiên cứu những cách thức mà hai khía cạnh này tương tác  
1
Nhận bài ngày 21.05.2016; gửi phản biện và duyệt đăng ngày 20.08.2016  
Liên hệ tác giả: Nguyễn Thị Tám; Email: [email protected]  
108  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
với nhau trong suốt lịch sử của nhân loại để ảnh hưởng lên sức khỏe và bệnh tật” [5, tr.3].  
Ở bài viết này, dựa trên quan điểm của nhân học y tế, chúng tôi tiếp cận theo hai khía cạnh  
sinh thái và văn hóa. Khía cạnh sinh thái nhấn mạnh việc tìm hiểu sự liên quan giữa các  
yếu tố môi trường và sinh thái với sức khỏe và bệnh tật của con người. Khía cạnh văn hóa  
thể hiện ở niềm tin và sự hiểu biết của người dân đối với bệnh tật trên nền tảng văn hóa của  
họ: các giá trị của những nhận thức, kiêng kỵ và thói quen liên quan đến sức khỏe... Theo  
cách tiếp cận này, bài viết tìm hiểu mối liên hệ giữa các quan niệm về bệnh tật, ốm đau và  
các hành vi tự chăm sóc sức khỏe của người dân vạn chài Tuyên Quang trên sông Lô.  
2. NỘI DUNG  
2.1. Đặc điểm dân vạn chài sông Lô  
Theo lời kể của các bậc cao niên ở vạn chài sông Lô, dân chài trước cách mạng tháng  
Tám năm 1945 gồm có dân bản địa xuống sông đánh cá, chở đò, sống thành từng vạn và  
dân tứ xứ về cư ngụ thành làng, lấy nghề chài lưới làm sinh kế chính cùng các nghề phụ,  
họ tự gọi mình là dân nhà bè. Họ tập trung thành từng vạn phân chia theo loại hình ngư cụ,  
chẳng hạn: có vạn chuyên câu chăng, vạn chuyên chài lưới, vạn chuyên câu xẻo... Thành  
phần dân cư rất đa dạng, một số vạn theo Công giáo. Những ngôi nhà bè được cắm ở vị trí  
dọc hai bên bờ sông Lô, mỗi ngôi nhà tương ứng với một gia đình có thể gồm một hay hai,  
ba thế hệ trong đó. Mỗi nhà có một vài chiếc thuyền. Họ xa lạ với mọi chuyện trên bờ, sinh  
con ở trên thuyền, ốm đau ở trên thuyền, đến khi chết thì gửi xác vào bờ. Họ ít được học  
hành, sinh đẻ nhiều, con cái 15 - 17 tuổi đã lo dựng vợ gả chồng và cho ra ở riêng một  
thuyền. Vừa sắm cho con lớn tấm lưới, chiếc thuyền, đã phải lo cho đứa thứ hai. Có thể  
nói, trước cách mạng tháng Tám, dân chài là một trong những thành phần nghèo khổ nhất.  
Về sau, những người dân chài gốc bản địa khi có điều kiện đã chuyển lên bờ làm ăn sinh  
sống, số còn lại vẫn gắn bó với những mái nhà bè trên sông.  
Từ sau năm 1954, dân ở các vùng sông khác lần lượt di chuyển về đây lập nghiệp. Có  
thể với nhiều người, mảnh đất này không hoàn toàn là một khu vực lý tưởng để cư trú,  
nhưng với những người không “tấc đất cắm dùi” này thì đó lại chính là trạm dừng chân yên  
ổn cuối cùng trong những năm tháng phiêu dạt. Hiện nay số cư dân nhà bè dọc theo hai bờ  
sông ở thành phố Tuyên Quang có 52 hộ, 152 nhân khẩu [4, tr.23].  
2.2. Nhận thức của người dân vạn chài sông Lô về sức khỏe và bệnh tật  
Quan niệm về sức khỏe, bệnh tật và nguyên nhân gây bệnh là một phần của hệ thống  
chăm sóc sức khỏe cũng như hệ thống văn hóa [ 1, tr.23]. Với những người dân vạn chài,  
nguyên nhân gây bệnh được lý giải theo nhiều cách khác nhau.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
109  
Những người dân chài giải thích hiện tượng ốm đau bằng nhận thức và kinh nghiệm  
mà họ thu nhận được từ những thế hệ đi trước và từ trong cộng đồng. Những giải thích về  
tình trạng bệnh tật của họ thường được thể hiện thông qua quan niệm truyền thống về cơ  
chế gây bệnh, chủ yếu là mối liên hệ giữa hai yếu tố nóng và lạnh, do sự mất cân bằng giữa  
cơ thể và môi trường. Thời tiết khí hậu thay đổi đột ngột cũng có thể là nguyên nhân gây  
bệnh cho người, nhất là vào thời điểm chuyển giao mùa, người già, trẻ con hoặc những  
người thể trạng yếu rất dễ bị các bệnh liên quan đến đầu, bụng, tay, chân, hoặc những bệnh  
liên quan đến đường hô hấp.  
Hiện nay, người dân cho rằng chế độ dinh dưỡng và làm việc, phụ nữ sau khi sinh  
không kiêng cữ đủ... cũng là nguyên nhân gây ra bệnh tật. Nhiều người phải làm việc vất  
vả, quá sức trong thời gian dài cộng thêm chế độ ăn uống thiếu chất nên dễ mắc các bệnh  
như suy nhược cơ thể, đau người. Trẻ em ăn uống thiếu chất cũng dễ bị suy dinh dưỡng và  
thường mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa như tiêu chảy, táo bón, rối loạn đường  
ruột do uống nước lã, ăn phải thức ăn hỏng... Đặc biệt, điều kiện sống của các hộ gia đình,  
nhất là các hộ nghèo tại vạn chài, còn nhiều bất cập gây ảnh hưởng bất lợi đến tình trạng  
bệnh tật và sức khỏe.  
Các tai nạn, sự thiếu cẩn trọng trong lao động, nhất là khi chèo thuyền đi đánh bắt cá  
nếu sơ sẩy cũng dễ làm con người bị tổn thương hoặc mắc bệnh tật, trong một số trường  
hợp còn gây nguy hiểm đến tính mạng của dân chài.  
Thông qua các cuộc vận động tuyên truyền của cán bộ y tế cấp thành phố, cấp xã về  
phòng chống dịch bệnh, người dân chài đã biết được các loài côn trùng như muỗi, vắt,  
gián, chuột... là những loài mang mầm bệnh có thể lây nhiễm sang con người. Hiện nay  
người dân đã hạn chế ăn thịt những loại gia súc, gia cầm bị chết do dịch tai xanh, lở mồm  
long móng, tụ huyết trùng, cá chết hàng loạt... vì họ đã nhận thức được các loài vật nuôi  
chết do dịch bệnh rất có thể mang mầm bệnh gây nguy hiểm cho con người.  
Trước kia, số trẻ em sinh ra bị dị tật, dị dạng và thiểu năng trí tuệ ở khu vạn chài là  
vấn đề đáng lo ngại. Nguyên nhân của hiện tượng này được cán bộ y tế ở các phường chỉ  
ra là do đa số những phụ nữ chuẩn bị kết hôn hoặc trước khi sinh, sống và lao động trong  
môi trường nước sông... chưa được tư vấn và khám để ngăn ngừa những yếu tố nguy cơ  
cao ảnh hưởng trực tiếp đến sự mang thai và chất lượng bào thai; trẻ sơ sinh chưa được  
phát hiện và can thiệp điều trị sớm các bệnh lý chuyển hoá, di truyền... Như vậy, chế độ  
làm việc trong môi trường chứa đựng nguy cơ ô nhiễm và không được tiếp cận với các  
dịch vụ chăm sóc sức khỏe cũng có thể là nguyên nhân gây ra các bệnh phụ khoa của phụ  
nữ, làm ảnh hưởng đến chất lượng con cái của các gia đình vạn chài.  
110  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
Những người phụ nữ nghèo đã chia sẻ trở ngại trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch  
vụ y tế hiện đại bởi những bất bình đẳng giới diễn ra ngay trong gia đình của họ: nam giới  
sử dụng thu nhập của hộ gia đình cho các hoạt động giải trí của bản thân (uống bia rượu,  
cờ bạc) hơn là dành cho chăm sóc sức khỏe của các thành viên trong gia đình, nhất là với  
phụ nữ. Những người phụ nữ phải làm việc trong nước nhiều giờ và không có nhiều thời  
gian để chăm sóc thân thể và sức khỏe của bản thân. Quan niệm về giới trong cộng đồng  
thường gắn phụ nữ với vai trò chăm lo sức khỏe cho các thành viên trong gia đình, vì vậy  
mà phụ nữ thường cân nhắc, tính toán, chấp nhận sự thiệt thòi đối với bản thân để dành sự  
chăm sóc cho người thân... Vai trò quyết định của nam giới trong sử dụng thu nhập hộ gia  
đình cũng có thể gây hạn chế cho phụ nữ trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe. Những  
khó khăn trong cuộc sống khiến họ không đủ chi trả cho các dịch vụ y tế đắt tiền hoặc để  
điều trị một số bệnh nan y.  
Ngoài ra, sự lan tràn các tệ nạn xã hội trong hơn chục năm trở lại đây cũng là nguyên  
nhân gây ra bệnh tật và những vấn đề liên quan đến sức khỏe cho một số dân chài [3,  
tr.61]. Một số dân chài cho biết, thi thoảng họ vẫn gặp các thi thể người lạ trôi sông. Đó có  
thể là những người chết do tự tử hoặc tai nạn sông nước. Họ cho rằng, nếu những người  
yếu vía nhìn thấy hiện tượng đó, về nhà ngủ mơ hoặc ám ảnh trong đầu thì rất dễ sinh ra  
ốm đau. Bên cạnh đó, họ cũng quan niệm những người chết trôi như vậy thì hồn vẫn trú  
ngụ ở dưới lòng sông, trở thành ma đói, ma khát, trong nhiều trường hợp có thể làm hại  
con người. Bởi thế, khi đi đánh cá ban đêm, người dân vạn chài vẫn thường mang theo bó  
hương để khi đến những khu nước hiểm hoặc qua những nơi đã từng có người chết thì họ  
thắp vài nén hương khấn vái.  
2.3. Các loại bệnh tật  
Kết quả phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm cho thấy, nếu so với các nhóm xã hội cùng  
độ tuổi khác thì tỷ lệ người có sức khỏe yếu ở nhóm dân số này là khá cao. Do đặc thù của  
lao động cũng như hạn chế của điều kiện lao động nên người dân chài thường mắc các  
bệnh sau:  
- Đối với trẻ em: Trẻ em thường mắc các bệnh: Viêm phế quản, viêm họng, viêm tai  
giữa, cảm cúm, tiêu chảy.  
- Đối với người già: các bệnh thường gặp ở người già là đau mắt đỏ, đau đầu, huyết  
áp, đau tim, thấp khớp...  
- Đối với người lao động: dạ dày, sốt rét, ho khan, thận, suy nhược thần kinh, đau  
lưng, thoái hóa cột sống...  
- Phụ nữ thường mắc một số bệnh phụ khoa.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
111  
Qua mô hình bệnh tật của cư dân vạn chài sông Lô, chúng ta thấy điều kiện sinh hoạt,  
môi trường sống và lao động là những tác nhân quan trọng gây ra bệnh tật cho con người.  
Do vậy, để giảm thiểu được những rủi ro từ bệnh tật liên quan đến môi trường sống, trước  
hết cần phải giúp người dân có những hiểu biết khoa học về vấn đề này, từ đó giúp họ thay  
đổi nhận thức và có các hành vi cụ thể, thiết thực để phòng ngừa bệnh tật.  
2.4. Thực hành chăm sóc sức khỏe ở cư dân vạn chài  
2.4.1. Nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân vạn chài hiện nay  
Ngành y tế thành phố Tuyên Quang trong những năm qua đã có nhiều đóng góp trong  
việc chăm sóc sức khỏe cho người dân, đặc biệt là công tác chăm lo đến đời sống của  
những người dân chài thuộc sự quản lý của các phường trong thành phố. Tuy nhiên, khi  
phỏng vấn cán bộ y tế phường, theo những gì họ phản ánh, thì công tác chăm lo sức khỏe  
cho những người dân chài hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn, trong đó tài chính được đánh  
giá là một trong những trở ngại lớn. Từ đó, nảy sinh nhiều hệ lụy khác liên quan đến chế  
độ dinh dưỡng của phụ nữ mang thai, trẻ em... như thai nhi chậm phát triển ngay từ trong  
bụng mẹ, trẻ em dễ bị còi xương... hoặc khi mắc bệnh nhưng không có đủ tiền chạy chữa.  
Đối với cư dân vạn chài, nhu cầu về chăm sóc sức khỏe rất đa dạng. Chúng xuất phát  
từ những trở ngại thực tế mà họ phải gánh chịu. Từ những nhu cầu về cơ sở vật chất, trang  
thiết bị cứu chữa ở trạm y tế được đầy đủ hơn đến mong muốn cán bộ y tế được đào tạo  
chuyên sâu hơn để có thể khám và điều trị một số loại bệnh phổ biến của dân vạn chài.  
Điều đó góp phần quan trọng trong việc giảm bớt gánh nặng tài chính cho những người  
dân chài khi họ phải đi chữa bệnh ở các tuyến điều trị cao hơn.  
Nếu như bình thường, những người dân vạn chài cất giấu những trăn trở, nỗi niềm nơi  
con thuyền, bến nước thì khi chúng tôi đến và chia sẻ, họ đã bộc bạch những nhu cầu  
tưởng chừng như nhỏ bé nhưng rất thiết thực trong công tác chăm sóc sức khỏe. Bản thân  
những người dân chài rất mong mỏi trong số những con em họ đang được đi học sẽ có một,  
hai cháu sau này học nghề y rồi về địa phương công tác. Bởi theo họ, những đứa trẻ sinh ra  
ở làng chài sẽ hiểu thấu hơn cuộc sống và những thiệt thòi mà cha mẹ, anh chị và bản thân  
chúng phải đối diện. Từ đó, chúng sẽ quan tâm hơn và chăm lo hơn đến vấn đề sức khỏe  
của người dân chài.  
Có thể thấy rằng, nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho những người dân chài có tầm quan  
trọng rất lớn bởi họ là những người đa phần lao động trong ngành thủy sản, góp phần tạo ra  
sản lượng thủy sản đánh bắt và nuôi trồng tương đối cao cho thành phố Tuyên Quang. Họ  
đang phải sống trực tiếp trên những con thuyền, nhà bè gặp muôn vàn khó khăn như thiếu  
nước sạch, thiếu phương tiện xử lý chất thải sinh hoạt, thường xuyên phải đối diện với  
112  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
nguy cơ ô nhiễm môi trường ngày càng gia tăng kéo theo một số dịch bệnh phổ biến liên  
quan đến đường tiêu hóa, hô hấp, tim mạch... Như vậy, giải quyết nhu cầu chăm sóc sức  
khỏe cho dân chài hiện nay đang trở thành vấn đề đáng được quan tâm của các ngành, các  
cấp ở thành phố Tuyên Quang.  
2.4.2. Các lựa chọn phương pháp chữa bệnh của người dân vạn chài  
Trước đây do đặc thù sinh sống trên thuyền, nay đây mai đó khắp các đoạn sông để  
đánh bắt cá, không ở một nơi cố định, không có đăng ký hộ khẩu thường trú nên khi bị ốm  
đau, bệnh tật, lựa chọn phương pháp chữa bệnh đầu tiên của người dân chài thường là các  
liệu pháp chữa bệnh dân gian. Đó có thể là cách sử dụng thuốc nam, chữa mẹo...  
Đối với những loại bệnh hoặc ốm đau mà người dân quan niệm do yếu vía, họ thường  
phòng bệnh, chữa bệnh bằng các hình thức tín ngưỡng. Dân chài ở đây có tục thờ thủy  
thần, họ cho rằng có thờ có thiêng, có kiêng có lành nên việc thờ cúng này sẽ giúp họ tránh  
được một số rủi ro trong công việc đánh bắt và thu hoạch được nhiều cá trong năm. Bên  
cạnh đó, những kiêng kỵ và thờ cúng liên quan đến thủy thần cũng là một cách để họ bảo  
vệ sức khỏe cho mình trong điều kiện tiếp cận đến các dịch vụ y tế còn hạn chế. Về sau,  
khi đã sống cố định tại đoạn sông Lô thuộc thành phố Tuyên Quang, người dân vạn chài  
được đăng ký hộ khẩu thường trú theo các đơn vị hành chính trên bờ nên việc chữa bệnh  
được người dân lựa chọn chủ yếu dựa vào các dịch vụ y tế địa phương. Việc trở thành  
những công dân chính thức của thành phố Tuyên Quang đã giúp người dân có điều kiện  
được tiếp cận tới hệ thống y tế và các hoạt động chăm sóc sức khỏe. Công tác tuyên truyền  
của cán bộ y tế đã góp phần nâng cao nhận thức cho người dân vạn chài. Bởi vậy, khi bị  
đau ốm, thay bằng việc tự chữa, nhờ thầy lang, cúng bái, nay họ đã tìm đến các cơ sở y tế  
để khám, chữa bệnh.  
2.4.3. Hoạt động chăm sóc sức khỏe  
2.4.3.1. Điều kiện chăm sóc sức khỏe của cư dân vạn chài  
Ở Tuyên Quang có một bệnh viện đa khoa cấp tỉnh thực hiện trách nhiệm chữa bệnh  
theo tuyến hoặc tiếp nhận các bệnh nhân ở vùng gần với bệnh viện. Dưới là các trung tâm  
y tế cấp huyện hoặc thành phố có nhiệm vụ quản lý về sức khỏe cho nhân dân trong huyện,  
thành phố. Bệnh viện tuyến huyện, thành phố gồm một phòng xét nghiệm, đơn vị chăm sóc  
sức khỏe bà mẹ trẻ em và kế hoạch hóa gia đình. Bệnh viện cấp huyện / thành phố là cơ sở  
đào tạo cho các cán bộ y tế làm việc ở các phòng khám đa khoa khu vực và các trạm y tế  
phường. Các trạm y tế phường chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban  
đầu, gồm công tác y tế dự phòng, điều trị nội trú, ngoại trú, chuyển các trường hợp phức  
tạp lên tuyến trên.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
113  
Kết quả khảo sát cho thấy, mỗi trạm y tế phường có từ 5 - 6 cán bộ dưới sự lãnh đạo  
của trạm trưởng. Trạm trưởng có thể là bác sĩ học chuyên tu hoặc y sĩ. Các trạm đều được  
xây dựng đủ các phòng chức năng như: phòng sản, phòng cho bệnh nhân lưu trú, phòng  
khám, phòng tiêm.Trạm y tế có vai trò rất quan trọng, một mặt là điểm tiếp xúc đầu tiên  
của người dân với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, mặt khác làm nhiệm vụ thực hiện trực  
tiếp các hoạt động dự phòng như chương trình tiêm chủng cho trẻ em, cung cấp thuốc,  
vitamin A, tuyên truyền, giáo dục sức khỏe và dinh dưỡng. Việc tư vấn chăm sóc sức khỏe  
ban đầu và tuyên truyền các chương trình của Nhà nước được thực hiện thông qua hình  
thức: truyền thông qua phương tiện thông tin đại chúng, tổ chức các chiến dịch truyền  
thông và tư vấn trực tiếp. Những người tổ trưởng tổ dân phố làm nhiệm vụ tuyên truyền  
thông báo đến các hộ gia đình vạn chài về các chương trình y tế. Khi có hoạt động khám  
sức khỏe thì tập hợp dân cư thành nhóm để cán bộ y tế trạm thực hiện các hoạt động chăm  
sóc sức khỏe. Hàng năm, cán bộ y tế phát cho mỗi hộ gia đình vạn chài số lượng phèn nhất  
định để tẩy chất bẩn trong nước sinh hoạt của người dân, vận động dân chài ăn chín uống  
sôi để tránh một số bệnh liên quan đến đường tiêu hóa.  
Ngoài các dịch vụ chăm sóc sức khỏe thuộc lĩnh vực nhà nước, tại thành phố Tuyên  
Quang xuất hiện các dịch vụ y tế tư nhân. Đó là các phòng khám tự do một số bác sĩ mở tại  
nhà. Trên địa bàn các phường có một số cửa hiệu bán thuốc Đông y và Tây y. Trong chợ  
Tam Cờ có nhiều ki ốt bán thuốc nam, thuốc bắc đáp ứng nhu cầu chữa bệnh cho người  
dân trong thành phố. Những gói thuốc này được biết là nhập từ nhiều nguồn khác nhau, từ  
các thầy lang ở Na Hang, Chiêm Hóa hoặc nhập từ trên tỉnh Hà Giang.  
2.4.3.2. Các loại hình chăm sóc sức khỏe của người dân vạn chài  
Thông qua việc phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm, chúng tôi thấy xuất hiện 3 loại hình  
chăm sóc sức khỏe mà người dân vạn chài sông Lô ở thành phố Tuyên Quang thường áp  
dụng. Trước tiên là mô hình sử dụng dịch vụ y tế tại trạm y tế phường: Đội ngũ cán bộ y tế  
phường trực tiếp đảm nhận việc khám chữa bệnh cho người dân, tuy nhiên loại hình này  
chỉ đáp ứng nhu cầu giải quyết những bệnh nhẹ, phổ biến như: cảm cúm, đau đầu, đau mắt,  
rối loạn tiêu hóa hoặc công tác đỡ đẻ...  
Điều đáng lưu ý ở đây là mức độ quan tâm chăm sóc sức khỏe sinh sản cho phụ nữ  
vạn chài được đánh giá theo nhiều ý kiến khác nhau. Theo trưởng trạm y tế phường Minh  
Xuân thì việc chăm sóc sức khỏe cho dân chài được tiến hành định kỳ 3-4 lần/năm cùng  
chung với cư dân trên bờ. Đó là các công tác: tiêm vắc xin cho trẻ em, khám sức khỏe cho  
bà mẹ, phụ nữ mang thai, tuyên truyền kế hoạch hóa gia đình... Từ những năm 2010, trạm  
đã cử một số cán bộ y tế xuống tận nhà bè để khám chữa bệnh cho các hộ và thực hiện  
công tác tuyên truyền vận động người dân giữ vệ sinh ăn uống và sinh hoạt.  
114  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
Tuy nhiên, chính những người dân vạn chài lại phản ánh những thông tin khác về việc  
cán bộ y tế xuống thuyền khám chữa bệnh: “Có mấy cô ở trạm y tế xuống phát cho chúng  
tôi phèn để lọc nước cộng thêm mấy gói dung dịch vệ sinh phụ nữ, làm được đâu 2 năm thì  
chẳng thấy tăm hơi các cô ấy đâu nữa. Việc khám chữa bệnh chỉ thực hiện ở một số hộ  
nghèo của làng chài thôi, chúng tôi cũng khó khăn lắm nhưng chưa đến lượt được cái sổ  
hộ nghèo nên không được khám chữa bệnh” (Phỏng vấn bà Lê T L, nhà bè tổ 4, phường  
Tân Quang, TP Tuyên Quang). Khi khảo sát một số hộ dân chài khác, chúng tôi cũng thu  
được quan điểm tương tự, đó là việc chăm sóc sức khỏe cho dân chài của cán bộ y tế  
phường chỉ được thực hiện trong vài năm đầu, hầu hết chỉ chú trọng vào những hộ nghèo.  
Thứ hai, loại hình dịch vụ y tế ngoài cộng đồng, bệnh viện huyện, tỉnh đối với các  
trường hợp bệnh nặng. Với cư dân vạn chài, tài sản của họ thường thấp hơn những gia đình  
làm nông nghiệp trên bờ và trước những chi phí y tế, họ thường lựa chọn giải pháp: đau  
ốm nhẹ thì tự chữa hoặc để dần dần bệnh sẽ khỏi, trong trường hợp bệnh nặng thì mới đến  
các cơ sở y tế điều trị. Với người dân chài ở đây, họ có thể lên trạm y tế phường hoặc bệnh  
viện đa khoa tỉnh Tuyên Quang để chạy chữa, cách khu vạn chài khoảng 4 - 5 km. Với  
khoảng cách như vậy cũng phần nào tiết kiệm chi phí đi lại cho người dân, họ có thể di  
chuyển bằng phương tiện tự có như thuyền, xe đạp, xe máy.  
Cuối cùng, chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian: Người dân thường đi đánh cá ở  
những vùng xa, có khi đậu tại một chỗ hàng tháng trời, những lúc như thế mà đột nhiên  
ngã bệnh thì họ không đủ thời gian cập thuyền vào bến để tìm thầy chữa trị. Bởi vậy, họ  
tích luỹ được nhiều bài thuốc dân gian đơn giản được chế bằng những cây thuốc vốn gần  
gũi, mọc ngay trên núi gần khu vực họ đánh cá để có thể kịp thời ứng cứu người bệnh.  
Chẳng hạn, trên thuyền có người đột nhiên bị tiêu chảy, người ta tìm lộc lá ổi nhai, nuốt  
lấy nước sau vài tiếng sẽ khỏi. Khi kéo lưới, bị cá đuối đốt thì dùng dây buộc chặt phần  
trên chỗ bị đốt để ngăn chất độc lan ra cơ thể, sau đó dùng gạo nếp nhai đắp vào vết  
thương, hoặc có thể dùng ngay dây quai chèo (bằng chạc thừng hoặc dây chuối khô) nấu  
lấy nước nhúng vào chỗ bị đốt. Bị bong gân, trẹo chân dùng lá náng vò nát rồi lấy nước  
tiểu của cha hay mẹ trộn vào nấu lên đắp vào vết thương hoặc lấy lá náng hơ vào lửa rồi  
cuốn vào vị trí bị bong gân. Phụ nữ bị băng huyết, người dân chài thường dùng lá của cây  
huyết dụ sắc lấy nước uống... Hình thức cúng bái chữa bệnh hiện nay không còn phổ biến  
nhưng đối với một số trường hợp bệnh nặng đi chữa ở bệnh viện không khỏi hoặc không  
đủ tiền để chữa trị triệt để, người dân chài cũng tiến hành các lễ cúng giải hạn cho người  
bệnh. Biện pháp này giống như một sự an ủi, xoa dịu cơn đau cho người bệnh, giúp trấn an  
tâm lý để họ có nghị lực chữa trị tiếp.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
115  
2.4.3.3. Tác động của các loại hình chăm sóc sức khỏe đến đời sống của người dân  
vạn chài  
Hiện nay, các phương pháp chữa bệnh theo kinh nghiệm dân gian của người dân chài  
vẫn được thực hành nhưng không còn phổ biến như trước. Nhờ sự tuyên truyền của cán bộ  
y tế địa phương nên nhận thức của người dân dần thay đổi. Từ đó, họ đã tìm đến các cơ sở  
y tế và sử dụng các phương pháp khám chữa bệnh của y học hiện đại. Trong nghiên cứu  
này, các hộ dân chài chủ yếu chọn cơ sở khám chữa bệnh là trạm y tế xã hoặc tự đi mua  
thuốc đối với các trường hợp bệnh nhẹ như cảm cúm, đau đầu, sốt,... còn trong trường hợp  
bệnh nặng thì người bệnh được đề nghị chuyển lên tuyến cao hơn hoặc người dân tự đi  
khám chữa ở bệnh viện huyện, tỉnh. Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp chữa bệnh của y  
học hiện đại còn phụ thuộc rất nhiều vào mức sống của người dân. Nhóm hộ khá giả chọn  
hướng điều trị tuyến thành phố trở lên, nhóm hộ trung bình, hộ nghèo lựa chọn cơ sở trạm  
y tế, trong trường hợp bị bệnh nặng mà bệnh viện trả về hoặc chữa trị mất quá nhiều tiền  
thì họ tìm đến các thầy lang ở trong tỉnh để xin thuốc nam, cúng giải hạn hoặc không chữa  
trị gì.  
Những thay đổi trong quan niệm về bệnh tật, ốm đau và lựa chọn phương pháp chữa  
bệnh đã góp phần cải thiện sức khỏe của người dân chài hiện nay. Trẻ em mới sinh đã  
được bố mẹ đưa đến trạm y tế phường tiêm vắc xin theo định kỳ, nhờ vậy, đã giảm thiểu  
được nguy cơ mắc các dịch bệnh như sởi, viêm gan B, viêm màng não, ho gà, uốn ván,  
viêm não Nhật Bản... Việc ăn uống hợp vệ sinh, mắc màn khi ngủ, thường xuyên lau dọn  
bể nước và quanh khu vực cư trú đã phần nào đẩy lùi được dịch sốt rét vốn phổ biến trước  
đây. Đối với phụ nữ có thai, họ đã đi khám định kỳ theo hướng dẫn của cán bộ y tế thành  
phố để theo dõi tiến trình phát triển của thai nhi. Khi sắp trở dạ, sản phụ được đưa đến cơ  
sở y tế phường hoặc thành phố. Việc làm này có thể đảm bảo sự an toàn cho người mẹ và  
trẻ sơ sinh, giảm thiểu những rủi ro do sinh đẻ tại thuyền như trước kia. Ngoài ra, người  
dân hầu hết được cấp thẻ bảo hiểm y tế để khám sức khỏe thường xuyên theo thông báo  
của trung tâm y tế thành phố và được tiến hành ở từng phường / xã. Thông qua những lần  
khám sức khỏe, người dân có thể phát hiện sớm bệnh tật để kịp thời cứu chữa, hạn chế việc  
tốn kém chi phí và nguy hiểm đến tính mạng. Hiện nay, người dân thường kết hợp giữa  
chữa bệnh bằng phương pháp y học hiện đại với chữa thuốc nam. Sự kết hợp này nhằm tạo  
ra hiệu quả và rút ngắn thời gian cứu chữa cho bệnh nhân, góp phần nâng cao sức khỏe để  
người bệnh có thể tham gia lao động trở lại. Thêm vào đó, nhiều phương thuốc bổ giúp  
người dân tăng cường sức đề kháng, nâng cao chất lượng lao động, tăng sức sản xuất, đóng  
góp nguồn thu nhập cho gia đình.  
116  
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ ĐÔ Hꢀ NỘI  
Rõ ràng, sự thay đổi trong quan niệm về sức khỏe và liệu pháp chữa bệnh đã tạo ra  
những hiệu quả tích cực trong việc chăm sóc sức khỏe cho người dân chài. Tuy nhiên, bên  
cạnh những mặt tích cực đã đạt được từ việc sử dụng phương pháp y học hiện đại trong  
chăm sóc sức khỏe, dân vạn chài cũng đối diện với nhiều trở ngại, trong đó chi phí chữa  
bệnh là một vấn đề đáng chú ý. Theo ông Lê Trọng T (sinh năm 1946, nhà bè tổ 14 phường  
Minh Xuân) cách đây 5 năm đã phát hiện ra mình đau dạ dày và bệnh thận, khi đi khám  
sức khỏe tại trung tâm y tế của thị xã. Bệnh ngày càng nặng thêm, ông đã phải bán 2 lồng  
cá chiên được 16 triệu đồng năm 2010 để chữa bệnh. Hai lần đi trung tâm y tế thành phố,  
hai lần đi bệnh viện tỉnh chữa bệnh hết 12 triệu đồng. Mặc dù có bảo hiểm y tế nhưng việc  
đi lại, ăn ở, thuốc men và một số khoản phát sinh, gia đình ông vẫn phải tự chi. Chi phí  
chữa bệnh đã làm gia đình ông sa sút về của cải, sau khi chữa ở bệnh viện, ông về nhà hỏi  
người quen lấy thuốc nam chữa lâu dài (Kết quả phỏng vấn sâu, 2015).  
Như vậy, đau ốm, bệnh tật với cư dân vạn chài sông Lô ở thành phố Tuyên Quang  
thực sự là một trở ngại lớn trong cuộc sống của họ. Với những gia đình có của ăn của để,  
khi gặp đau ốm cũng đã khó khăn, huống chi với các gia đình nghèo, phải kiếm ăn từng  
bữa. Bài toán về ốm đau, bệnh tật và việc chăm sóc sức khỏe cho bản thân quả là nan giải  
đối với họ. Trong cuộc sống hàng ngày, người dân vạn chài không thể dự tính trước được  
khi nào sẽ đau ốm và càng không thể dự trù được chi phí cho khám chữa bệnh hết bao  
nhiêu. Với những cư dân nghèo, những rủi ro về sức khỏe kéo theo rất nhiều hệ lụy khác,  
chẳng hạn, họ không chỉ tốn kém chi phí cho việc tiếp cận dịch vụ y tế mà thu nhập thường  
ngày của gia đình còn giảm sút do thiếu nhân lực lao động cộng thêm gánh nặng bệnh tật.  
Dường như trong cuộc sống của họ, nghèo đói tỉ lệ thuận với nguy cơ đau ốm, bệnh tật.  
3. KẾT LUẬN  
Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy hiện nay đã có những chuyển biến đáng kể trong  
quan niệm, nhận thức về sức khỏe, bệnh tật và việc quan tâm, chăm sóc sức khỏe của  
người dân vạn chài sông Lô ở Tuyên Quang. Việc kết hợp chữa bệnh theo các cách thức  
truyền thống với tiếp cận các phương pháp điều trị, phòng ngừa bệnh tật của y học hiện đại  
đã tạo nên những thay đổi đáng kể trong đời sống, sinh hoạt của cộng đồng này. Để có thể  
chăm sóc tốt sức khỏe cho mọi người, từng bước nâng cao chất lượng đời sống cho mọi  
người nói chung, cư dân vạn chài sông Lô nói riêng, rất cần đến sự quan tâm, hỗ trợ thiết  
thực của mọi cấp, ngành, trong đó, có ngành y tế Tuyên Quang.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC − SỐ 7/2016  
117  
TÀI LIỆU THAM KHẢO  
1. Trần Hồng Hạnh (2002), “Tri thức địa phương trong sử dụng thuốc Nam của người Dao đỏ  
(Nghiên cứu ở xã Tả Phìn, huyện Sa Pa, tỉnh Lào Cai)”, Tạp chí Dân tộc học, số 5/2002.  
2. Hanne O. Mogensen, Tine Gammeltoft và cộng sự (2005), Nhập đề về nhân học xã hội trong  
bối cảnh Việt Nam: Nghiên cứu về giới và sức khoẻ sinh sản ở khu vực ven biển miền Bắc  
trung bộ, Nxb Thống kê, Hà Nội.  
3. Nguyễn Thị Tám (2014), “Những thách thức về đời sống của dân thủy cư sông Lô (Nghiên  
cứu ở khu vực Thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang)”, Tạp chí Dân tộc học, số 5/2014,  
Hà Nội.  
4. Nguyễn Thị Tám (2014), Một số vấn đề về dân số và sức khỏe của cư dân vạn chài sông Lô,  
Luận văn tập sự, Viện Dân tộc học, Hà Nội.  
5. Nguyễn Thị Thanh Vân (2013), “Nhân học y tế - hướng tiếp cận nghiên cứu về chăm sóc sức  
khỏe cộng đồng ở vùng các tộc người thiểu số Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Kỷ yếu  
Tọa đàm khoa học “Nhân học trong bối cảnh toàn cầu hóa”, Trường Đại học Khoa học Xã  
hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.  
LEARNING AWARENESS AND PRACTICING HEALTH CARE  
OF LO RIVER FISHERMEN AT TUYEN QUANG PROVINCE  
THROUGH MEDICAL ANTHROPOLOGY PERSPECTIVES  
Abstract: This article points out the changes in the concept of health care methods of Lo  
Rive fishermen in Tuyen Quang: The conception about cause of the disease related to  
gods, ghosts... were descending, instead, the other factors such as diet, work, and weather  
change can also be affected to health. Besides the popular application of traditional  
healing methods such as traditional medicine use, spiritual worship... fishermen also use  
modern health services. In order to have this change, partly due to the impact of the State  
policies in the field of health care to poor communities. In addition, due to the impact of  
economic - social factors, fishermen's life has improved and their awareness has raised  
dramatically than before.  
Keywords: health care, fishing village, fishermen, Lo River, Tuyen Quang Province,  
Medical, Anthropology.  
pdf 11 trang baolam 23420 Free
Bạn đang xem tài liệu "Tìm hiểu nhận thức về thực hành chăm sóc sức khỏe của cư dân vạn chài sông Lô ở Tuyên Quang dưới góc nhìn nhân học y tế", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdftim_hieu_nhan_thuc_ve_thuc_hanh_cham_soc_suc_khoe_cua_cu_dan.pdf