Giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế của Việt Nam
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1 (269) 2021
12
GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ
GIỮA HỢP TÁC VÀ ĐẤU TRANH
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
PHẠM XUÂN THIÊN*
Hội nhập quốc tế là xu thế phát triển khách quan, tuy nhiên, đối với mỗi quốc gia,
hội nhập quốc tế luôn là một quá trình phức tạp, vừa mang đến những cơ hội
phát triển vừa mang đến những thách thức với nhiều vấn đề cần phải giải quyết.
Bài viết phân tích, luận giải những vấn đề đang đặt ra đối với việc giải quyết mối
quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế của Việt Nam và một
số nội dung liên quan nhằm góp phần thúc đẩy quá trình chủ động, tích cực hội
nhập quốc tế của Việt Nam.
Từ khóa: hội nhập quốc tế, hợp tác và đấu tranh, cơ hội, đấu tranh
Nhận bài ngày: 9/10/2020; đưa vào biên tập: 11/12/2020; phản biện: 17/12/2020;
duyệt đăng: 6/1/2021
1. DẪN NHẬP
quyết số 07-NQ/TW “Về hội nhập kinh
tế quốc tế”. Ngày 14/3/2002, Thủ
tướng Chính phủ ký Quyết định số
37/2002/QĐ-TTg, ban hành Chương
trình hành động của Chính phủ thực
hiện Nghị quyết số 07-NQ/TW của Bộ
Chính trị về hội nhập kinh tế quốc tế.
Từ đó đến nay, đường lối hội nhập
quốc tế của Việt Nam thực hiện nhất
quán theo nghị quyết. Văn kiện Đại hội
đại biểu toàn quốc lần thứ XII của
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016) tiếp
tục khẳng định: “Thực hiện nhất quán
đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,
hòa bình, hợp tác và phát triển, đa
phương hóa, đa dạng hóa quan hệ,
chủ động và tích cực hội nhập quốc tế;
là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có
trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế,
vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một
Hiện nay, thuật ngữ “Hội nhập quốc
tế” được sử dụng khá phổ biến. Mặc
dù có nhiều cách tiếp cận khác nhau
nhưng nhìn chung các nhà nghiên
cứu đều thừa nhận hội nhập quốc tế
là một xu hướng phát triển tất yếu
khách quan, xuất phát từ sự phát triển
của lực lượng sản xuất với tính chất
xã hội hóa và phân công lao động
ngày càng sâu sắc vượt khỏi biên giới
quốc gia, mở rộng ra khu vực và toàn
cầu.
Trước xu thế phát triển của hội nhập
quốc tế, ngày 27/11/2001, Bộ Chính trị
Ban chấp hành Trung ương Đảng
Cộng sản Việt Nam đã ban hành Nghị
* Trường Chính trị tỉnh Hải Dương.
PHẠM XUÂN THIÊN – GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA HỢP TÁC…
13
nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu kinh tế - xã hội. Hội nhập quốc tế,
mạnh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, không chỉ từ các quốc gia có GDP
2016: 235-236).
hàng ngàn tỷ USD(1), mà còn có nhiều
quốc gia với DP rất thấp(2). Hội nhập
quốc tế tạo cơ hội tiếp cận nguồn vốn
lớn, tiếp cận những thành tựu khoa
học và công nghệ hiện đại; tiếp cận
nguồn nhân lực chất lượng cao; cơ
hội mở rộng thị trường để thúc đẩy
thương mại và các quan hệ kinh tế
quốc tế khác... Song, với những quốc
gia đang phát triển hội nhập quốc tế
làm gia tăng sự phụ thuộc của nền
kinh tế quốc gia vào kinh tế khu vực
và thế giới; hội nhập càng sâu rộng thì
những tác động, nhất là những tác
động tiêu cực từ bên ngoài ngày càng
nhanh và nặng nề, nền kinh tế có thể
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, mối
quan hệ và sự phụ thuộc lẫn nhau
giữa các quốc gia trở nên phổ biến và
không ngừng mở rộng. Theo Phạm
Quốc Trụ (2011) “Hội nhập quốc tế
được hiểu như là quá trình các nước
tiến hành các hoạt động tăng cường
sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự
chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị,
nguồn lực, quyền lực (thẩm quyền
định đoạt chính sách) và tuân thủ các
luật chơi chung trong khuôn khổ các
định chế hoặc tổ chức quốc tế”. Có
thể thấy, không giống sự hợp tác quốc
tế thông thường, hội nhập quốc tế đã
mang ý nghĩa rộng lớn và sâu sắc khó kiểm soát và dễ bị tổn thương...
hơn, đòi hỏi tính kỷ luật cao của các
chủ thể tham gia. Hội nhập quốc tế đòi
hỏi sự tham gia chủ động, tích cực
của các quốc gia vào đời sống quốc tế
nhằm khai thác hiệu quả những lợi thế
quốc gia và lợi thế quốc tế cho sự
phát triển, đồng thời thực hiện các
nghĩa vụ quốc gia đối với các cam kết
quốc tế, luật pháp quốc tế mà quốc
gia dân tộc đã ký kết hoặc tham gia.
Bên cạnh đó, các quốc gia, vùng lãnh
thổ có xu hướng kéo lợi ích về phía
mình, đẩy rủi ro sang các nước đang
phát triển; hơn nữa, sự gia tăng áp
lực cạnh tranh có thể làm cho những
khó khăn, thách thức càng trầm trọng
hơn. Mặc dù vậy, với những quốc gia
giải quyết tốt mối quan hệ giữa cơ hội
và thách thức; “vừa hợp tác vừa đấu
tranh” thì thực tế lợi ích vẫn lớn hơn.
2. TÍNH HAI MẶT CỦA HỘI NHẬP
QUỐC TẾ - VỪA HỢP TÁC VỪA
ĐẤU TRANH
“Vừa hợp tác vừa đấu tranh” không
phải là sự kết hợp cơ học, chiết trung,
mà là sự thống nhất biện chứng, được
hình thành trên cơ sở kinh tế, chính
trị - xã hội và lịch sử - văn hóa... Thực
tiễn cho thấy, mọi hoạt động của con
người, suy cho cùng, là nhằm tìm
Hội nhập quốc tế diễn ra với quy mô,
phương thức, cấp độ khác nhau, song
xu hướng chung là các quốc gia tăng
cường liên kết; thúc đẩy hợp tác trên
nhiều lĩnh vực nhằm phát huy tốt nhất kiếm lợi ích hoặc những điều kiện để
thực hiện những lợi ích khác nhau. C.
Mác và Ph. Ăngghen (1995: 141) viết:
các nguồn lực, tạo động lực, môi
trường phát triển nhanh các lĩnh vực
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1 (269) 2021
14
“Lịch sử - không làm gì hết, nó „không hợp tác là kết quả của đấu tranh và
có tính phong phú vô cùng tận nào cả‟, đấu tranh là nhằm thúc đẩy hợp tác
nó „không chiến đấu ở những trận nào lên một tầm cao mới với những nội
cả‟! Không phải „lịch sử‟, mà chính con dung và hình thức mới. Đồng thời, dù
người, con người thực sự, con người ở mức độ nào và trên lĩnh vực gì thì
sống mới là kẻ làm ra tất cả những cái đấu tranh cũng không loại trừ hoàn
đó, có tất cả những cái đó và chiến toàn mọi cơ hội của hợp tác. Thực
đấu cho tất cả những cái đó. „Lịch sử‟ tiễn lịch sử đương đại chứng minh
không phải là một nhân cách đặc thù rằng, không có bạn bè hay kẻ thù vĩnh
nào đó sử dụng con người làm viễn, chỉ có lợi ích quốc gia là vĩnh
phương tiện đạt tới các mục đích của viễn (Vũ Văn Hiền, 2020).
mình. Lịch sử chẳng qua chỉ là hoạt
động của con người theo đuổi mục
đích của bản thân mình”.
Trong một thế giới “phẳng” đa dạng,
đầy biến động khó lường ngày nay thì
việc giành lấy lợi ích cơ bản lại có thể
được thực hiện từng bước thông qua
việc giành những lợi ích không cơ bản.
Điều ấy cũng có nghĩa là, việc giành
lấy lợi ích quốc gia chỉ có thể được
thực hiện thông qua hợp tác và đấu
tranh để thực hiện hàng loạt những lợi
ích của các cá nhân, tổ chức, doanh
nghiệp... Hợp tác và đấu tranh trong
hội nhập quốc tế có mối quan hệ biện
chứng, “phản ánh sự thống nhất và
mâu thuẫn về lợi ích giữa các cá nhân,
các tổ chức kinh tế, các quốc gia dân
tộc…; trong đó, hợp tác, thống nhất về
lợi ích là điều kiện cho đấu tranh, còn
đấu tranh, giải quyết mâu thuẫn thúc
đẩy hợp tác phát triển” (Phạm Xuân
Thiên, 2015: 37). Hiện nay, các chủ
thể có xu hướng liên kết, hợp tác để
thực hiện lợi ích có hiệu quả hơn.
Điều này làm cho hợp tác có phần nổi
trội và về hình thức như là sự tự
nguyện, nhưng về thực chất đó là sự
ràng buộc, sự phụ thuộc và quy định
lẫn nhau. Trong quá trình hợp tác,
Trong hội nhập quốc tế, lợi ích (đặc
biệt là lợi ích quốc gia) trở thành cơ
sở xác lập mối quan hệ giữa hợp tác
và đấu tranh. Xuất phát từ những lợi
ích khác nhau mà quan hệ giữa con
người với con người và ngay cả quốc
gia với quốc gia vừa thống nhất, vừa
mâu thuẫn. Hợp tác được thực hiện
khi các bên chủ thể lợi ích “cùng có
lợi”. Tất nhiên, trong khi hợp tác để
thực hiện lợi ích, sự khác biệt, mâu
thuẫn có thể dần dần bộc lộ. Những
mâu thuẫn về lợi ích ấy chỉ có thể
được giải quyết thông qua con đường
đấu tranh. Cũng thông qua quá trình
đấu tranh, sự khác biệt, mâu thuẫn
được giải quyết; những lợi ích “giống
nhau”, những điều kiện “tương đồng”
lại xuất hiện và mở ra cơ hội cho hợp
tác.
Với ý nghĩa đó, “hợp tác” và “đấu
tranh” không tồn tại chung chung, trừu
tượng mà luôn được xác định trong
những mối quan hệ cụ thể với những
điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Trong đó, mâu thuẫn giữa các chủ thể kinh tế có
PHẠM XUÂN THIÊN – GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA HỢP TÁC…
15
thể nảy sinh từ sự khác nhau trong đấu tranh cần có tư duy biện chứng,
nắm bắt nhanh nhạy, kịp thời, đúng
bản chất và tính hai mặt của hội nhập
quốc tế đang diễn ra sinh động, với
các biểu hiện phong phú, phức tạp,
khó lường; từ đó có thể đưa ra được
những chủ trương, giải pháp đúng
đắn, phù hợp, hiệu quả. Đồng thời,
cần hiểu sâu sắc rằng, hội nhập kinh
tế quốc tế là một xu hướng tất yếu
khách quan; song, rất cần đảm bảo
cho nền kinh tế quốc gia phát triển
đúng mục tiêu, định hướng; độc lập,
tự chủ; hội nhập quốc tế không tách
rời mà nằm trong quan hệ biện chứng
với mục tiêu, định hướng phát triển
của quốc gia. Đặc biệt, là những vấn
đề lợi ích quốc gia; độc lập chủ quyền
và toàn vẹn lãnh thổ...
việc phân chia lợi ích. Khi sự khác
nhau đó không làm ảnh hưởng đến lợi
ích cơ bản thì hợp tác được duy trì.
Còn khi sự khác nhau đó đã làm cho
lợi ích cơ bản không thực hiện được
sẽ xuất hiện mâu thuẫn và đấu tranh.
3. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI
VỚI VIỆC GIẢI QUYẾT MỐI QUAN
HỆ GIỮA HỢP TÁC VÀ ĐẤU TRANH
TRONG HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA
VIỆT NAM
Tính chất hai mặt “vừa hợp tác vừa
đấu tranh” của hội nhập quốc tế làm
cho các quốc gia đang phát triển,
trong đó có Việt Nam, rơi vào nhóm
các quốc gia yếu thế, chịu nhiều rủi
ro... Việc giải quyết mối quan hệ giữa
hợp tác và đấu tranh trong hội nhập
quốc tế của Việt Nam và chìa khóa
thành công của hội nhập đang phụ
thuộc lớn vào việc nhận thức và giải
quyết những vấn đề sau:
Về năng lực, chủ thể cần có bản lĩnh
chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, khả năng thực
hiện, trình độ ngoại ngữ, kỹ năng giao
tiếp, ứng xử, phương pháp tiếp cận,
có năng lực sáng tạo trong giải quyết
những vấn đề xuất phát và nảy sinh
trong hội nhập quốc tế một cách linh
hoạt, mềm dẻo phù hợp với tập quán
và nhu cầu của từng loại đối tác.
Vấn đề thứ nhất, mâu thuẫn giữa yêu
cầu ngày càng cao của thực tiễn hội
nhập quốc tế với những hạn chế, bất
cập của chủ thể giải quyết mối quan
hệ giữa hợp tác và đấu tranh.
Chủ thể giải quyết mối quan hệ giữa
hợp tác và đấu tranh trong hội nhập
quốc tế của Việt Nam (sau đây gọi
chung là chủ thể) là công dân, tổ chức,
doanh nghiệp, quốc gia... Và suy cho
cùng, chủ thể là những con người. Hội
nhập quốc tế càng sâu rộng thì những
yêu cầu đối với chủ thể ngày càng cao.
Về cơ cấu, số lượng và chất lượng,
chủ thể giải quyết mối quan hệ giữa
hợp tác và đấu tranh cần đảm bảo
tính toàn diện và đồng bộ. Trong đó,
coi trọng đội ngũ trí thức khoa học cơ
bản, khoa học và công nghệ, khoa
học quản lý...
Những yêu cầu nêu trên ngày càng
Về phương pháp tư duy, chủ thể giải cao, nhưng chủ thể giải quyết mối
quyết mối quan hệ giữa hợp tác và quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1 (269) 2021
16
trong hội nhập quốc tế của Việt Nam cạnh tranh của hàng hóa và doanh
nghiệp nói riêng thấp; khả năng chiếm
lĩnh thị trường của các doanh nghiệp
và hàng hóa yếu, thậm chí nhiều hàng
hóa và doanh nghiệp có nguy cơ bị
„thua‟ ngay trên sân nhà.
còn bộc lộ những hạn chế, chưa đáp
ứng được những nhu cầu thực tiễn.
Cụ thể: phương pháp tư duy siêu hình
từ cá nhân đến tổ chức còn khá phổ
biến, quá tập trung trong việc giải
quyết những tình huống cụ thể, những
giải pháp tình thế. Năng lực dự báo,
tầm nhìn của chủ thể còn hạn chế, „chỉ
thấy cây mà không thấy rừng‟; trong
nhiều trường hợp không thấy được
mối quan hệ biện chứng giữa hợp tác
và đấu tranh. Điều này dẫn đến kết
quả: khi hợp tác thì lơ là, mất cảnh
giác; khi đấu tranh thì cực đoan. Mặt
khác, việc xác định nội lực, lợi ích của
các chủ thể trong hội nhập quốc tế
cũng chưa rõ ràng. Khi giải quyết mối
quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh
thường quan tâm những lợi ích trước
mắt, tuyệt đối hóa một mặt nên không
tránh khỏi những khó khăn, lúng túng;
những kinh nghiệm có được lại thiên
về trực quan, cảm tính, không thể áp
dụng đại trà hoặc có áp dụng nhưng
không hiệu quả.
Vấn đề thứ hai, mâu thuẫn giữa yêu
cầu xây dựng nền kinh tế độc lập, tự
chủ với việc gắn kết nền kinh tế quốc
gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và
toàn cầu.
Hội nhập quốc tế ngày càng thể hiện
không chỉ là một quá trình kinh tế - kỹ
thuật mà còn là một quá trình mang
đậm màu sắc chính trị. Vì vậy, việc
xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ
là một yêu cầu khách quan, là một
trong những nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu mang ý nghĩa “sống còn”
của mỗi quốc gia. Xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ chính là nền tảng để
giữ vững độc lập, chủ quyền quốc gia.
Ngày nay, quan hệ quốc tế đã có
nhiều thay đổi, những quan hệ lợi ích
phức tạp, đan xen dẫn đến trong quan
hệ giữa các quốc gia nổi lên xu hướng
chung là sự tập hợp lực lượng đan
xen, lỏng lẻo, nhất thời, tùy theo lợi
ích. Vì vậy, vấn đề xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ càng cần được
quan tâm hơn bao giờ hết. Điều này
đặc biệt có ý nghĩa đối với các quốc
gia đang phát triển, vì sự phụ thuộc về
kinh tế sẽ có thể mang đến những hậu
quả khôn lường về chính trị. Mặt khác,
cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đã
và đang làm cho những mối quan hệ
kinh tế mang tính toàn cầu, các nền
kinh tế gắn kết và “xích lại” gần nhau
Bên cạnh đó, chất lượng chủ thể còn
hạn chế nhiều mặt. Những tác động
tiêu cực của kinh tế thị trường đã làm
cho không ít người không đứng vững
trước những cám dỗ vật chất, vụ lợi,
chạy theo lợi ích cá nhân mà quên đi
lợi ích của cộng đồng, quốc gia...
Nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất
là nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý,
đội ngũ doanh nhân phát triển chậm
càng làm trầm trọng thêm những “thua
kém” về vốn và công nghệ. Sức cạnh
tranh của nền kinh tế nói chung, sức
PHẠM XUÂN THIÊN – GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA HỢP TÁC…
17
hơn. Điều này làm cho những quan Với những tác động đó, hội nhập kinh
niệm truyền thống về chủ quyền, biên tế quốc tế có thể làm thể giới “phẳng”
giới quốc gia dường như bị lu mờ.
Trong bối cảnh đó, xây dựng nền kinh
tế độc lập, tự chủ và tích cực, chủ
động hội nhập kinh tế quốc tế vừa
thống nhất, vừa mâu thuẫn:
hơn, làm mờ nhạt biên giới giữa các
không gian kinh tế quốc gia và dần
dần hình thành những không gian kinh
tế rộng lớn, bao gồm nhiều quốc gia
và vùng lãnh thổ. Các nền kinh tế
quốc gia sẽ mất dần tính độc lập, tự
chủ tương đối và trở thành những
thực thể kinh tế giống như là những
bộ phận của "nền kinh tế toàn cầu".
Điều này trên lý thuyết sẽ đem lại
thuận lợi cho các quốc gia đang phát
triển. Tuy nhiên trên thực tế, sự phụ
thuộc về kinh tế sẽ kéo theo sự phụ
thuộc về chính trị. Đồng thời, những
nền kinh tế bị phụ thuộc sẽ chịu nhiều
rủi ro và ảnh hưởng trầm trọng hơn
bởi những tác động tiêu cực từ bên
ngoài.
- Hội nhập kinh tế quốc tế càng sâu
rộng càng làm tăng sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa các quốc gia trên nhiều
phương diện, đặc biệt là về kinh tế.
Từ đó có thể làm suy giảm hay hạn
chế sự độc lập, tự chủ về kinh tế của
mỗi nước theo quan niệm truyền
thống.
- Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng
sâu rộng thì sự phân công lao động
quốc tế ngày càng theo hướng mỗi
quốc gia chỉ cần và chỉ có thể tập
trung vào một số ngành, lĩnh vực. Do
vậy, nếu quốc gia nào ít quan tâm
hoặc “bỏ rơi” những ngành, lĩnh vực
kinh tế có lợi thế so sánh, mà chỉ tập
trung vào những ngành, lĩnh vực yêu
cầu về vốn ít, công nghệ không cao...
thì đương nhiên hiệu quả kinh tế thấp
và sẽ ngày càng phụ thuộc hơn vào
nền kinh tế của các quốc gia khác.
Vấn đề thứ ba, mâu thuẫn giữa những
hạn chế, bất cập về cơ chế, chính
sách, pháp luật quốc gia với những
quy định và luật pháp quốc tế.
Theo Quy định tại Điều XVI, khoản 4,
Hiệp định Marrakesh về thành lập
WTO: “Mỗi nước thành viên sẽ đảm
bảo sự thống nhất các luật, quy định
và những thủ tục hành chính với
những nghĩa vụ của mình được quy
định trong các hiệp định.”(3). Như vậy,
việc gắn kết mang tính thể chế giữa
các nền kinh tế yêu cầu các quốc gia
không chỉ mở cửa và thúc đẩy tự do
hóa kinh tế; mà còn góp phần xây
dựng các thể chế kinh tế quốc tế. Gia
nhập WTO nói riêng và hội nhập quốc
tế nói chung là tham gia một “sân
chơi” với những “luật chơi” cụ thể. Khi
- Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng
sâu rộng làm gia tăng sự lưu chuyển
của các nguồn vốn mà chính phủ rất
khó kiểm soát. Hiện nay, FDI chủ yếu
do các công ty xuyên quốc gia cung
cấp, đó là những thế lực hùng mạnh.
Từ đó, các công ty xuyên quốc gia có
thể can thiệp, làm “khuynh đảo” kinh
tế và chính trị của nhiều quốc gia,
nhất là những quốc gia đang phát
triển.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1 (269) 2021
18
tham gia vào “sân chơi” ấy, các quốc tiễn nên chỉ được xem như những giải
gia rất cần xây dựng và hoàn thiện hệ pháp tình thế. Chính vì ít xuất phát từ
thống cơ chế, chính sách, pháp luật tính thống nhất và đồng bộ của cơ
quốc gia đảm bảo thực hiện đồng bộ, chế, chính sách và pháp luật đã dẫn
phù hợp với các quy định và luật pháp đến tình trạng nhiều văn bản pháp luật
quốc tế. Những cam kết của quốc gia không ổn định, mâu thuẫn... Bên cạnh
đối với quốc tế thực chất là những đó, một số vấn đề cấp bách lại chậm
ràng buộc pháp luật quốc gia với các được luật hóa; không ít quy định
quy định và luật pháp quốc tế. Đồng quan trọng nằm trong các văn bản
thời, sự phát triển nhanh và đa dạng dưới luật với giá trị pháp lý không
của các quan hệ quốc tế cũng đòi hỏi cao. Điều này dẫn đến hiệu quả điều
quốc gia phải xây dựng hệ thống cơ chỉnh của hệ thống pháp luật bị hạn
chế chính sách, pháp luật đồng bộ để chế. Một số quy định pháp luật trong
duy trì các mối quan hệ trong “vòng hội nhập quốc tế chưa cụ thể dẫn
trật tự”, cũng như tạo điều kiện thuận đến việc áp dụng pháp luật không
lợi cho sự phát triển.
nhất quán, chưa mang tính hệ thống
nên không những không bảo vệ được
lợi ích quốc gia, mà thậm chí còn vi
phạm những quy định và luật pháp
quốc tế.
Trước yêu cầu của thực tiễn hội nhập
quốc tế, Việt Nam đã nỗ lực hoàn
thiện hệ thống cơ chế chính sách,
pháp luật. Tuy nhiên, hệ thống cơ chế,
chính sách, pháp luật của Việt Nam - Việc xây dựng hệ thống cơ chế,
còn đang thiếu đồng bộ, chưa theo kịp chính sách và pháp luật cũng như sự
những biến đổi nhanh chóng của thực
tiễn. Đặc biệt, không ít nội dung còn
khác biệt, mâu thuẫn với những quy
định và luật pháp quốc tế. Từ đó đặt
ra những vấn đề:
vận hành cơ chế, chính sách, pháp
luật chưa tuân thủ theo một trình tự
khoa học, vì vậy, thiếu tính chặt chẽ,
chưa hiệu quả. Bản thân các cơ chế,
chính sách, pháp luật nảy sinh từ nhu
cầu điều chỉnh của các quan hệ xã hội
nhưng có những văn bản còn xa rời
thực tế, dựa vào ý muốn chủ quan
nên chưa phản ánh kịp sự vận động,
phát triển của các quan hệ kinh tế - xã
hội...
- Cần bổ sung xây dựng và hoàn thiện
hệ thống cơ chế, chính sách, pháp
luật của quốc gia theo hướng khắc
phục triệt để những hạn chế của cơ
chế cũ; loại bỏ những kẽ hở pháp luật
dẫn đến hành vi gây ảnh hưởng
nghiêm trọng lợi ích quốc gia.
- Việc chấp hành cơ chế, chính sách,
pháp luật của các tổ chức và cá nhân
chưa nghiêm; công tác kiểm tra, giám
sát và đánh giá hiệu quả chưa được
coi trọng. Có mâu thuẫn giữa trình độ,
năng lực của chủ thể nắm quyền lực
- Cần xây dựng hệ thống cơ chế,
chính sách pháp luật đồng bộ, thống
nhất và đổi mới. Tuy nhiên, ở Việt
Nam nhiều văn bản pháp luật được
ban hành từ tính cấp bách của thực
PHẠM XUÂN THIÊN – GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA HỢP TÁC…
19
nhà nước với yêu cầu xây dựng, quản công việc”, công việc thành công hay
thất bại là do cán bộ tốt hay kém;
huấn luyện cán bộ là công việc gốc
của Đảng.
lý, giám sát hoạt động của nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa, vừa
mâu thuẫn với các quy định và luật
pháp quốc tế.
Hơn bao giờ hết, các ngành chức
năng cần nâng cao chất lượng các cơ
sở đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khoa
học và công nghệ có liên quan đến hội
nhập kinh tế quốc tế; chủ động tuyển
chọn, đưa người đi đào tạo ở các
trường có uy tín trên thế giới; tích cực
trao đổi chuyên gia trong và ngoài
nước. Đẩy mạnh phát triển giáo dục -
đào tạo góp phần tạo động lực thúc
đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Quan tâm phát triển đội ngũ doanh
nhân, cán bộ, nhân viên… trực tiếp
tham gia vào quá trình hội nhập quốc
tế. Từng bước đổi mới nội dung và
phương pháp đào tạo; trang bị tri thức
chuyên ngành cho đội ngũ cán bộ,
doanh nhân ngay từ trong các trường
đại học. Đối với đội ngũ doanh nhân,
trong điều kiện nhất định có thể từng
bước được bổ sung, khắc phục sự
thiếu hụt về tri thức thông qua hợp tác,
song cần nâng cao những giá trị
chuẩn mực đạo đức của dân tộc, yêu
nước, yêu chủ nghĩa xã hội, phê phán
sự làm ăn gian dối, bất nhân tạo ra sự
nguy hại cho cả cộng đồng.
4. GIẢI PHÁP CƠ BẢN GIẢI QUYẾT
MỐI QUAN HỆ GIỮA HỢP TÁC VÀ
ĐẤU TRANH TRONG HỘI NHẬP
QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM
Để giải quyết hiệu quả mối quan hệ
giữa hợp tác và đấu tranh trong hội
nhập quốc tế, Việt Nam cần thực hiện
đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó tập
trung vào những giải pháp cơ bản sau
đây:
Thứ nhất, nâng cao chất lượng nguồn
nhân lực giải quyết mối quan hệ giữa
hợp tác và đấu tranh trong hội nhập
kinh tế quốc tế.
Trước hết, các chủ thể cần nhận thức
đúng đắn tính hai mặt hợp tác và đấu
tranh của quá trình hội nhập quốc tế;
tầm quan trọng của việc giải quyết tốt
mối quan hệ giữa hợp tác và đấu
tranh trong môi trường cạnh tranh
khắc nghiệt và những tác động trực
tiếp của kinh tế thị trường... Hội nhập
quốc tế đòi hỏi cán bộ, công chức và
người lao động phải làm chủ khoa
học - kỹ thuật; giỏi chuyên môn,
nghiệp vụ, có năng lực sáng tạo cao;
có tính chuyên nghiệp trong hoạt động
kinh tế đối ngoại. Bên cạnh đó, mỗi
người cần nghiêm túc tu dưỡng, rèn
luyện để có phẩm chất đạo đức tốt;
quán triệt sâu sắc quan điểm: con
người là nhân tố quyết định sự phát
triển của xã hội, là nguồn lực của mọi
nguồn lực; “cán bộ là gốc của mọi
Để nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực giải quyết mối quan hệ giữa hợp
tác và đấu tranh, Việt Nam cần đổi
mới cơ chế, chính sách; đãi ngộ thỏa
đáng trong lĩnh vực hội nhập quốc tế
theo nguyên tắc: căn cứ hiệu quả
thực hiện công việc, thỏa đáng, công
bằng và minh bạch, đúng người, đúng
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1 (269) 2021
20
việc nhằm phát huy nguồn lực con - Việc bổ sung, hoàn thiện hệ thống
người, khơi dậy tiềm năng sáng tạo chính sách về hội nhập kinh tế quốc tế
của họ.
cần thực hiện theo đúng lộ trình;
thường xuyên tổng kết, rút kinh
nghiệm để tiếp tục chỉnh sửa, bổ sung
hoàn thiện. Đẩy nhanh việc thể chế
hóa các quan điểm, đường lối, chủ
trương của Đảng thành pháp luật và
các chính sách cụ thể của Nhà nước.
Tích cực nghiên cứu, học tập kinh
nghiệm hội nhập kinh tế quốc tế của
các quốc gia phát triển, đi trước và
vận dụng vào điều kiện cụ thể của
Việt Nam trên cơ sở giữ vững sự ổn
định chính trị, độc lập, chủ quyền quốc
gia và định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ hai, bổ sung, hoàn thiện hệ thống
cơ chế, chính sách, pháp luật, tạo cơ
sở pháp lý vững chắc cho việc giải
quyết mối quan hệ giữa hợp tác và
đấu tranh trong hội nhập kinh tế quốc
tế của Việt Nam hiện nay
Việt Nam cần bổ sung, hoàn thiện hệ
thống chính sách đồng bộ và toàn
diện để tạo điều kiện thuận lợi cho
việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng
và phát triển kinh tế, giải quyết hiệu
quả mối quan hệ giữa hợp tác và đấu
tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Để có được hệ thống chính sách đồng
- Nghiên cứu sự khác biệt của pháp
bộ, phù hợp với những nguyên tắc và luật Việt Nam với pháp luật của các
luật pháp quốc tế, cần thực hiện tốt quốc gia là đối tác của Việt Nam.
những vấn đề sau:
Từng bước điều chỉnh, bổ sung
những chính sách kinh tế, cơ chế
quản lý kinh tế của Nhà nước, xây
dựng hệ thống pháp luật phù hợp với
pháp luật của các nước có trao đổi
thương mại và luật pháp quốc tế để
hạn chế những tranh chấp thương
mại có thể xảy ra. Đặc biệt, cần tạo
môi trường pháp lý thông thoáng,
thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế
theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tôn
trọng các nguyên tắc ứng xử quốc tế;
thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế
về mở cửa thị trường, dỡ bỏ hàng rào
thuế quan... Đồng thời, cần cảnh giác,
khôn khéo trong ứng xử quốc tế, kiên
quyết đấu tranh bảo vệ lợi ích của Việt
Nam, trên cơ sở nhận thức đối tác,
đối tượng để có những phương pháp
đấu tranh phù hợp.
- Bổ sung, hoàn thiện hệ thống cơ chế,
chính sách, pháp luật đồng bộ, phù
hợp với các nguyên tắc của các tổ
chức kinh tế và luật pháp quốc tế. Rà
soát lại hệ thống cơ chế, chính sách
phát triển kinh tế - xã hội nói chung và
những chính sách liên quan đến hội
nhập kinh tế quốc tế nói riêng, để tìm
ra những vấn đề cần khắc phục. Việc
rà soát này cần kết hợp với việc
nghiên cứu thực tiễn hội nhập quốc tế
một cách nghiêm túc. Trước mắt, cần
ưu tiên vào việc nghiên cứu, bổ sung
và ban hành những chính sách liên
quan trực tiếp đến hội nhập kinh tế
quốc tế như: chính sách về thuế quan
và phi thuế quan; về thương mại, đầu
tư; về xuất khẩu, nhập khẩu; về đất
đai...
PHẠM XUÂN THIÊN – GIẢI QUYẾT MỐI QUAN HỆ GIỮA HỢP TÁC…
21
Thứ ba, xây dựng môi trường chính bộ nhân dân và những yếu tố có thể
trị - xã hội ổn định, kết hợp chặt chẽ tạo cớ cho các thế lực thù địch can
kinh tế với quốc phòng - an ninh, nâng
cao thế và lực của Việt Nam trong hội
nhập quốc tế.
thiệp.
Đặc biệt, trong bối cảnh có những thế
lực lợi dụng hội nhập quốc tế, khoác
tấm áo hợp tác, đầu tư nhưng thực
chất là chống phá công cuộc xây
Có thể khẳng định, hòa bình, ổn định
là khát vọng và là cơ hội để các quốc
gia dân tộc phát triển. Việc giữ vững dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam, cần
ổn định chính trị - xã hội góp phần to kết hợp chặt chẽ hội nhập kinh tế với
lớn củng cố, nâng cao uy tín, thế và hội nhập trên các lĩnh vực quốc phòng,
an ninh và đối ngoại. Kết hợp kinh tế
với quốc phòng - an ninh, quốc
phòng - an ninh với kinh tế trong từng
chiến lược, quy hoạch, kế hoạch,
chính sách phát triển kinh tế - xã hội,
từng vùng, từng địa phương
lực của Việt Nam trong việc giải quyết
mối quan hệ giữa hợp tác và đấu
tranh trong hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện nay, tình hình quốc tế có những
biến đổi nhanh chóng, khó lường.
Trong vài thập niên tới, hòa bình, hợp
tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn,
nhưng xung đột sắc tộc và tôn giáo,
tranh giành tài nguyên và lãnh thổ,
nạn khủng bố và tội phạm xuyên quốc
gia có thể gia tăng cùng với những
vấn đề toàn cầu khác như đói nghèo,
dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm
họa thiên nhiên,… buộc các quốc gia
phải có chính sách phối hợp hành
động. Thực tiễn phát triển đất nước
đã khẳng định sự cần thiết phải có
độc lập, tự chủ và bảo vệ chủ quyền
quốc gia, giữ vững ổn định chính trị -
xã hội trước sự phát triển với tốc độ,
quy mô, hình thức chưa từng thấy
của hội nhập quốc tế. Việt Nam cần
tranh thủ những điều kiện quốc tế
thuận lợi để giữ vững hòa bình, độc
lập và chủ quyền quốc gia, giữ vững
ổn định chính trị - xã hội, phát triển
kinh tế, thu hút đầu tư nước ngoài.
Cần nắm vững và bám sát những diễn
biến của tình hình trong nước và quốc
tế. Những diễn biến ấy không chỉ tạo
cơ hội to lớn, mà còn làm xuất hiện
những thách thức không nhỏ trong
thực hiện các mục tiêu phát triển kinh
tế - xã hội và bảo vệ độc lập, chủ
quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ.
Mỗi chiến lược, chương trình, kế
hoạch phát triển kinh tế và quốc
phòng - an ninh cần hướng tới mục
tiêu chung là phát triển kinh tế nhanh,
bền vững, hội nhập kinh tế quốc tế
hiệu quả và bảo vệ vững chắc nước
Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Phát huy sức mạnh tổng hợp của đất
nước trong hoạt động đối ngoại, tích
cực quảng bá hình ảnh Việt Nam ra
thế giới. Thực hiện đường lối đối
ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp
tác cùng phát triển, sẵn sàng là bạn
Các địa phương không để xuất hiện và là đối tác tin cậy của tất cả các
những mâu thuẫn, xung đột trong nội nước, là thành viên tích cực và có
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 1 (269) 2021
22
trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. của Việt Nam là vấn đề phức tạp, đòi
Tích cực đẩy mạnh toàn diện hoạt hỏi sự thận trọng và nghiêm túc từ
động đối ngoại; tập trung nâng cao
hiệu quả công tác đối ngoại góp phần
làm cho thế giới ngày càng hiểu đúng,
đầy đủ về đất nước con người Việt
Nam. Để tạo được sức mạnh tổng
hợp, nâng cao hiệu quả công tác đối
ngoại, vì lợi ích quốc gia dân tộc, cần
đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của
Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà
nước, tăng cường phối hợp, đẩy
mạnh một cách toàn diện ngoại giao
Đảng, Nhà nước, ngoại giao nhân dân.
nhận thức đến hành động. Đồng thời,
cần có quá trình với những quy trình
và biện pháp chắc chắn và hiệu quả.
Những nội dung trên, đặc biệt là việc
nhận thức đầy đủ những vấn đề đặt
ra đối với việc giải quyết mối quan hệ
giữa hợp tác và đấu tranh trong hội
nhập quốc tế của Việt Nam có ý
nghĩa rất quan trọng trong thực hiện
đường lối chủ động tích cực hội nhập
quốc tế, mở rộng con đường phát
triển đất nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa, vì mục tiêu “dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn
minh”.
5. KẾT LUẬN
Giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác
và đấu tranh trong hội nhập quốc tế
CHÚ THÍCH
(1)
,
(2) Theo Ngân hàng Thế giới (2018), “ DP (current US$)”. World Development Indicators.
World Bank. Tổng sản phẩm quốc nội DP (danh nghĩa): Hoa Kỳ: 20.494.100 triệu USD;
Trung Quốc: 13.608.152 triệu USD; Việt Nam: 244.948 triệu USD; Tonga (thành viên WTO):
450 triệu USD.
(3)
lap-to-chuc-Thuong-mai-The-gioi-14945.aspx.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Đảng Cộng sản Việt Nam. 2016. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Hà
Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.
2. C. Mác và Ph. Ăngghen. 1995. Toàn tập, tập 2. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.
3. Phạm Quốc Trụ. 2011. “Hội nhập quốc tế: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”.
4. Phạm Xuân Thiên. 2015. Mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập kinh
tế quốc tế của Việt Nam hiện nay. Hà Nội: Nxb. Chính trị Quốc gia.
congsan.org.vn/web/guest/the-gioi-van-de-su-kien/-/2018/815791/xung-dot-va-thoa-hiep-
trong-quan-he-quoc-te.aspx, ngày 14/01/2020.
6. World Bank (Ngân hàng Thế giới). 2018. “ DP (current US$)”. The World Bank,
Bạn đang xem tài liệu "Giải quyết mối quan hệ giữa hợp tác và đấu tranh trong hội nhập quốc tế của Việt Nam", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
giai_quyet_moi_quan_he_giua_hop_tac_va_dau_tranh_trong_hoi_n.pdf

