Nghi lễ truyền thống trong hôn nhân của người Xtiêng ở Bình Phước

51  
CHUYÊN MỤC  
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC  
NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN  
CỦA NGƢỜI XTIÊNG Ở BÌNH PHƢỚC  
PHẠM HỮU HIẾN*  
NGÔ HÀ**  
Bài viết nghiên cứu nghi lễ truyền thống trong hôn nhân của người Xtiêng ở Bình  
Phước qua nguồn tư liệu thứ cấp và sơ cấp từ điền dã dân tộc học ở cộng đồng  
người Xtiêng Bù Lơ và người Xtiêng Bù Đek. Nghi lễ hôn nhân của người Xtiêng  
có nội dung phong phú, mang nét đặc trưng của tộc người và phản ánh văn hóa  
của cộng đồng cư dân vốn sinh sống lâu đời ở vùng Bình Phước.  
Từ khóa: nghi lễ hôn nhân, người Xtiêng  
Nhận bài ngày: 9/7/2020; đưa vào biên tập: 16/7/2020; phản biện: 13/8/2020; duyệt  
đăng: 20/8/2020  
1. GIỚI THIỆU  
huyện Đồng Xoài, Đồng Phú, Phú  
Riềng, Bù Đăng, Bù Gia Mập, Bù Đốp,  
Phước Long; người Xtiêng Bù Đek cư  
trú ở các huyện Lộc Ninh, Bình Long,  
Chơn Thành, Hớn Quản.  
Theo số liệu Tổng Điều tra dân số  
năm 2019, tỉnh Bình Phước có 96.465  
người Xtiêng(1), trong đó, đông nhất là  
huyện Bù Gia Mập, với hơn 22.000  
người, huyện ít người Xtiêng nhất là  
huyện Phước Long, khoảng hơn 400  
người. Xtiêng là dân tộc thiểu số cư  
trú lâu đời và có dân số đông nhất ở  
Bình Phước. Có nghiên cứu chia tộc  
người Xtiêng thành các nhóm: Bù  
Biếc, Bù Ác, Hạ Bạn (Phan An, 2007);  
hiện nay, có hai nhóm là Bù Lơ (vùng  
cao) và Bù Đek (vùng thấp). Người  
Xtiêng Bù Lơ sống tập trung ở các  
Cùng dân tộc, cùng lịch sử hình thành  
tộc người nhưng người Xtiêng Bù Lơ  
và người Xtiêng Bù Đek khác nhau về  
vùng cư trú, sự giao thoa tiếp biến văn  
hóa với các cộng đồng cư dân khác  
trong cùng khu vực nên đã tạo ra sự  
khác biệt trong một số loại hình văn  
hóa, thành tố văn hóa.  
Người Xtiêng Bù Đek gọi nơi cư trú là  
Wăng còn người Xtiêng Bù Lơ gọi là  
Poh; người Xtiêng Bù Đek ngoài canh  
tác nương rẫy còn có hình thức canh  
*, ** Bảo tàng tỉnh Bình Phước.  
PHẠM HỮU HIẾN - NGÔ HÀ – NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN…  
52  
tác lúa nước khá phổ biến và thuần Ninh), Bình Minh (huyện Bù Đăng),  
thục; người Xtiêng Bù Đek ngoài sử  
dụng các sản phẩm thổ cẩm còn sử  
dụng các loại trang phục áo bà ba,  
váy may kiểu váy của người Khmer...  
Phú Nghĩa, Phú Riềng (huyện Bù Gia  
Mập), Thiện Hưng, Tân Thành (huyện  
Bù Đốp), Quang Minh (huyện Chơn  
Thành), và thị xã Phước Long từ năm  
2017 đến năm 2019.  
Ngoài các lễ hội phổ biến hai cộng  
đồng đều có, như: lễ lập Wăng - Poh(3)  
mới, mừng lúa mới, cầu mưa, người  
Xtiêng Bù Đek còn có lễ Hanh T’raanh  
(còn gọi là Phá Bàu), người Xtiêng Bù  
Lơ có lễ Teh Bo’k – tương tự như lễ  
kết nghĩa; trong đan tấm trải sàn:  
người Bù Lơ dùng lá cây dứa dại,  
người Bù Đek dùng cây Run;  
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU  
Nghiên cứu cho thấy, nghi lễ trong  
hôn nhân của người Xtiêng Bù Đek có  
lễ hỏi, lễ cưới, lễ Đạp tro; người  
Xtiêng Bù Lơ có lễ hứa hôn, lễ hỏi, lễ  
cưới, lễ Trả của và lễ rước vợ về nhà.  
Lễ hỏi và lễ cưới của cư dân Bù Lơ và  
Bù Đek cũng có nhiều nội dung khác  
nhau.  
Sự khác nhau trong các loại hình văn  
hóa của hai nhánh Bù Lơ và Bù Đek  
góp phần làm phong phú, đa dạng văn  
hóa tộc người, trong đó có nghi lễ và  
trình thức lễ liên quan đến hôn nhân.  
3.1. Các nghi lễ trong hôn nhân của  
ngƣời Xtiêng Bù Đek  
3.1.1. Lễ hỏi  
Lễ được tổ chức tại nhà gái, vào đúng  
ngày đã xác định từ trước, gia đình  
nhà chàng trai cùng ông mai, người  
đại diện đến nhà gái để bàn việc thực  
hiện các bước tổ chức lễ cưới. Khi đi,  
gia đình nhà trai mang theo các vật lễ  
gồm rượu, trầu cau, một chiếc vòng  
đeo tay, một con gà, ở vùng Lộc Hòa  
(Lộc Ninh) còn có các vật lễ không thể  
thiếu là khiêng, chà gạt và lao.  
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU  
Nhóm tác giả tổng hợp nhiều nguồn  
tư liệu đã được công bố để tìm hiểu  
các vấn đề liên quan đến văn hóa của  
người Xtiêng Bình Phước, như: Hệ  
thống xã hội tộc người của người  
Stiêng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến  
năm 1975 của Phan An (2007); Vấn  
đề dân tộc ở Sông Bé của Mạc  
Đường (1985); Truyện cổ Xtiêng do Sau các bước xác định điều kiện kết  
hôn, gia đình nhà trai tiến hành trao  
cho nhà gái những vật lễ đã được  
thỏa thuận từ trước. Đồng thời, hai gia  
đình sẽ quyết định ngày cưới để hai  
Phan Xuân Viện chủ biên (2017);  
nghiên cứu về múa dân gian của  
Nguyễn Thành Đức (2004); các báo  
cáo của Bảo tàng tỉnh Bình Phước  
(2010)… Song song đó, chúng tôi bên chuẩn bị cho lễ cưới. Sau đó, nhà  
trai tiến hành trao cho nhà gái các vật  
lễ mang theo. Bà C.T.A (xã Quang  
Minh huyện Chơn Thành) cho biết,  
trong số các vật lễ nhà gái nhận từ  
thực hiện điền dã dân tộc học, kết hợp  
giữa quan sát tham dự và phỏng vấn  
sâu(2) người Xtiêng ở thành phố Đồng  
Xoài, các xã Lộc Hòa (huyện Lộc  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020  
53  
nhà trai, có một vật rất quan trọng, đó được vào làm lễ cưới. Nhà gái cử một  
ông mai ngồi sẵn trên hiên nhà sàn để  
hát đối đáp lại. Sau nghi thức hát đối  
đáp giữa hai ông mai, ông mai nhà gái  
mời gia đình nhà trai lên nhà tiến hành  
các nghi thức lễ cưới.  
là chiếc vòng đeo tay. Khi nhận, cô gái  
không sử dụng mà trao lại vật này cho  
một người anh hoặc em trai. Nếu  
không có anh em ruột thì trao lại cho  
anh em họ. Người nhận được chiếc  
vòng này được xem là vinh dự lớn,  
xem như là một kỷ vật quý giá và  
thiêng liêng, không bao giờ bán hoặc  
trao tặng cho bất kỳ ai.  
Nhà trai bày các lễ vật để trình nhà gái.  
Lễ vật ngoài những thứ đã nêu ở trên  
còn có một chiếc hộp hình chữ nhật,  
trong đó đựng một ít tiền, một ít cau,  
trầu (trong đó phải có một miếng trầu  
bị thả bung khỏi nốt têm), thuốc lá,  
một đồng tiền xu. Khi đại diện nhà trai  
soạn các lễ vật xong và thông báo cho  
nhà gái biết, đại diện nhà gái cũng  
kiểm tra xem các lễ vật có đúng, đủ  
như giao ước trước đây không. Quá  
trình đó, nhà gái sẽ phát hiện miếng  
trầu bị bung nốt têm (do nhà trai cố  
tình tạo ra) và tiến hành phạt nhà trai  
với hình thức tượng trưng, chủ yếu là  
một chai rượu hoặc một ít tiền. Sau  
nghi thức phạt và nhận phạt này, nghi  
thức trao nhận lễ vật kết thúc.  
3.1.2. Lễ cưới  
Đến ngày cưới, gia đình nhà trai mang  
theo các vật lễ đến nhà gái để tổ chức  
đám cưới. Lễ vật cơ bản có: heo đang  
sống (từ 2 con đến 3 con tùy điều kiện  
kinh tế gia đình nhà trai và sự đồng ý  
của nhà gái), cơm ống, hai nhánh  
chuối, một tấm đắp (Nđiêng hay Niêng  
Tất), một ít tiền. Các vật lễ bắt buộc là:  
chà gạt (via), lao (ta át), dao côi - mỗi  
thứ một cái, 2 chiếc gối, một chiếc en  
the’s (khiêng), một chiếc sung (rìu),  
một chiếc xá’s (thường gọi là gùi), một  
dây py nhoong (loại dây chuỗi hạt  
nhiều màu đeo ở cổ), bảy chiếc coan -  
vòng đeo tay bằng đồng (sáu chiếc  
nhỏ một chiếc lớn), một chiếc âu đồng,  
một chiếc cốc nhỏ bằng đồng dùng để  
đựng cau trầu mời cha mẹ trong lễ  
cúng thần linh, ông bà. Đặc biệt phải  
có hai chiếc en niêng pơ nô và en  
niêng pé là hai tấm vải dùng để làm  
tấm trùm đầu khi tiến hành nghi thức  
rước dâu, rước rể vào khu vực làm lễ  
cúng thần linh và chúc phúc.  
Quy trình thực hiện nghi lễ cúng thần  
linh, tổ tiên ông bà và chúc phúc cho  
đôi vợ chồng diễn ra khá dài (khoảng  
hơn 2 giờ đồng hồ) với nhiều nghi  
thức. Một vật dụng rất quan trọng và  
không thể thiếu trong lễ cúng này là  
cây nêu. Ông Đ.B (xã Lộc Hòa, huyện  
Lộc Ninh) cho biết: người Xtiêng quan  
niệm cây nêu là nơi thần linh về ở và  
chứng kiến lễ cưới của hai vợ  
chồng… là cầu nối giữa thế giới thần  
linh với con người. Tác giả Phạm Đức  
Ngự cũng cho rằng: “... Người Xtiêng  
coi cây nêu là một vật “thiêng” của lễ  
hội, là cây thần linh giữa trời và đất,  
Khi đến trước ngõ nhà gái, gia đình  
nhà trai cử ông mai và người đại diện  
mang theo vật lễ (lao, khiêng, chà gạt)  
thông báo việc nhà trai đã đến và xin  
PHẠM HỮU HIẾN - NGÔ HÀ – NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN…  
54  
nơi hội tụ nguồn sức mạnh thần bí. nơi ngủ, chú rể ngồi cách xa khu vực  
Khi lễ hội được diễn ra, người chủ lễ tiến hành nghi lễ khoảng từ 2m đến  
3m. Những cô gái, chàng trai phục vụ  
việc rước dâu, rước rể ngồi trong khu  
vực tiến hành nghi lễ cưới. Trình tự lễ  
cưới gồm: Lễ rước dâu và rước rể, lễ  
cúng tổ tiên, lễ chúc phúc.  
sẽ tiến hành nghi thức cầu khấn thần  
linh nhằm tạ ơn đến các vị thần đã  
giúp đỡ cho dân làng sức khỏe, cuộc  
sống ấm no...” (Bảo tàng tỉnh Bình  
Phước, 2010).  
Lễ rước dâu và rước rể: do hai ông  
mai chủ trì, có sự tham gia của các  
chàng trai cô gái thực hiện nghi thức,  
rước cô dâu được rước trước, chú rể  
rước sau. Khoảng cách từ khu vực tổ  
chức lễ cúng với cô dâu chỉ khoảng  
4m đến 5m, với chú rể cũng chỉ chưa  
đầy 3m. Do đó, nói là đi nhưng thực ra,  
hai ông mai ngồi lê từng bước, vừa  
“đi” vừa rót rượu mời nhau, vừa hát  
đối đáp. Theo sau hai ông mai là hai  
cô gái trong đoàn, trên tay cầm theo  
một chiếc lược, một chai dầu thơm,  
một cây nến và tấm en niêng pơ nô -  
tấm vải dùng để trùm người cô dâu  
Nhà gái bày soạn các lễ vật và vật  
dụng để thực hiện nghi lễ cúng ông bà  
và chúc phúc cho hai vợ chồng. Cây  
nêu dựng ở bên trái cửa ra vào, phía  
trước khu vực sẽ tổ chức các nghi  
thức. Chính giữa gần cửa ra vào đặt  
đầu heo (thường là ba cái, một lớn,  
hai nhỏ), tiếp đó là bốn phần cơm  
(trước đây đặt trên lá chuối, hiện nay  
đặt trong bốn chén) trong đó có thịt,  
cau trầu và một số thanh tre nhỏ, có  
chức năng sử dụng tương tự như đũa  
của người Kinh; một hộp nhỏ bằng gỗ  
đựng cau trầu, tiền, vòng đeo tay; và  
ba phần lễ đặt trong ba chiếc âu đồng,  
trong đó có gạo, một miếng cau, bốn khi rước. Khi “đoàn rước” đến chỗ cô  
lá trầu cắm xuống gạo theo hình thức dâu đang ngồi, hai cô gái làm động  
dựa vào thành âu, dựng thẳng từ đáy  
âu lên miệng âu. Chính giữa hai chiếc  
âu cắm nến, âu giữa cắm một cây nến  
hình thẳng đứng, hai âu hai bên cắm  
cây nến tượng trưng hình người.  
Ngoài ra, trên mâm lễ còn có một  
chiếc cốc nhỏ bằng đồng để đựng cau  
trầu mời người thân trong buổi lễ, một  
chai rượu.  
tác trang điểm tượng trưng (chải tóc,  
thoa dầu thơm lên tóc, lên mặt), cô gái  
cầm nến ngồi trước cô dâu, cô gái còn  
lại ngồi phía sau cô dâu, họ dùng tấm  
en niêng pơ nô trùm lên đầu cả ba  
người, rồi cùng cô dâu đứng dậy đi  
nhanh về nơi làm lễ cúng tổ tiên, cô  
dâu ngồi bên phải theo hướng nhìn ra  
cửa nhà. Nghi thức rước rể cũng  
được tiến hành tương tự, nhưng  
nhanh hơn do chú rể ở gần bàn lễ và  
hai người rước là hai chàng trai. Cô  
dâu và chú rể quỳ trên hai tấm niêng  
tất gấp thành khối, hoặc có thể là hai  
chiếc gối. Chú rể ở bên trái cô dâu,  
Nghi lễ cúng thần linh cũng là nghi lễ  
quan trọng của đám cưới, thành phần  
tham dự lễ cúng ông bà, thần linh,  
gồm cha mẹ cô dâu, chú rể, hai ông  
mai, hai người đại diện của hai bên.  
Cô dâu lúc này ngồi ở góc nhà, gần  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020  
55  
trước mặt họ lúc này là các lễ vật, Bà T.X. (xã Quang Minh huyện Chơn  
Thành), bà Đ.T.H. (xã Lộc Hòa huyện  
Lộc Ninh) cho biết: “Từ xa xưa, người  
Xtiêng cho rằng nếu làm hành vi này,  
cô dâu sẽ khó có con và khó sinh  
con”.  
trong đó gần nhất là ba chiếc âu đựng  
gạo, cau trầu.  
- Lễ cúng ông bà, thần linh: khi cô dâu  
và chú rể đã quỳ trước bàn lễ, ông  
mai nhà gái tiến hành các nghi thức  
cúng thần linh, ông bà. Trước tiên,  
ông mai nhà trai lấy chén gạo ở giữa,  
có cắm cây nến, khấn thần linh, sau  
đó lấy một ít gạo trong chén tung lên  
không gian lễ. Ông mai nhà trai rót  
một ly rượu, tiến đến cây nêu, vừa rót  
vào hai chiếc “cốc” treo trên cây nêu,  
vừa khấn mời ông bà. Tiếp theo, ông  
mai nhà gái thắp sáng cây nến trên âu  
gạo trước mặt cô dâu, đưa cho cô dâu,  
cô dâu vái lạy rồi chuyển cho chú rể.  
Chú rể nhận âu gạo từ cô dâu, lạy ba  
lạy, lấy một ít gạo trong âu tung lên rồi  
chuyển cho cô dâu. Cô dâu nhận chén  
gạo từ chú rể, thổi tắt cây nến rồi đặt  
xuống vị trí cũ. Nghi thức cúng của  
chú rể cũng tương tự. Sau đó, hai bên  
gia đình sẽ lần lượt dặn dò đôi vợ  
chồng mới cưới về những vấn đề  
trong cuộc sống, từ việc đối xử với  
cộng đồng, trách nhiệm của gia đình  
mới với cộng đồng đến việc chăm lo  
cho cuộc sống trong tương lai. Tiếp  
Sau nghi thức khấn cúng thần linh lần  
cuối, người đại diện nhà gái mang các  
chén cơm ra hiên nhà vừa khấn vừa  
mời vong linh những người đã mất về  
thụ hưởng. Cuối cùng là trình diễn  
cồng chiêng chúc mừng hai vợ chồng.  
- Lễ chúc phúc được tiến hành sau  
nghi lễ cúng ông bà, thần linh. Theo  
trình tự, ông mai cột chỉ cho cô dâu  
trước, rồi đến lượt chú rể. Tiếp theo là  
hai bà mẹ, mẹ cô dâu cột chỉ cho cô  
dâu trước và cho một ít tiền vào âu  
đồng để mừng cho vợ chồng. Mẹ chú  
rể cũng làm tương tự. Khi cha mẹ hai  
bên, ông bà nội ngoại thực hiện xong  
nghi lễ chúc phúc, những người thân,  
họ hàng có quan hệ xa, bạn bè của cô  
dâu chú rể mới được phép thực hiện  
việc chúc phúc. Người chúc phúc  
thường có một món quà tặng để chúc  
mừng cho hai vợ chồng, ngày nay quà  
tặng chủ yếu là tiền mặt, họ đặt trực  
tiếp vào âu đồng đựng chỉ chúc phúc.  
theo, cô dâu và chú rể dâng trầu cho Trong khi những người còn lại đang  
cha mẹ hai bên để tỏ lòng tôn kính, cô tiến hành lễ chúc phúc, đại diện gia  
dâu dâng trầu cho mẹ chồng và chú rể đình nhà trai cầm ba lễ vật gồm  
dâng trầu cho mẹ vợ. Kết thúc nghi lễ, khiêng, chà gạt, lao, đi đến bên cây đà  
chú rể nhận ở mẹ vợ một miếng cau, ngang của ngôi nhà để làm nghi thức  
một miếng trầu và một ly rượu, chú rể đưa lễ vật vào nhà. Hai ông mai đứng  
phải uống hết rượu, ăn trầu. Cô dâu hai bên, đại diện nhà trai tay cầm chà  
cũng nhận từ mẹ chồng tương tự và gạt làm động tác chặt tượng trưng vào  
cũng phải dùng ngay, nhưng khi uống đà ngang ba lượt, sau đó đưa qua cho  
cô dâu tuyệt đối không ói, nhổ rượu. đại diện nhà gái. Đại diện nhà gái  
PHẠM HỮU HIẾN - NGÔ HÀ – NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN…  
56  
cũng tiến hành động tác chặt tượng tay cầm bầu nước đổ vào ngón chân  
trưng ba lượt.  
cái, vừa đổ vừa làm động tác rửa  
chân tượng trưng, sau đó cô dâu nhấc  
chân lên rồi đặt xuống. Kèm theo một  
lần nhấc lên, hạ xuống là một động  
tác người dì dùng dao cắt gạt lên  
móng chân cô dâu như là biểu trưng  
để làm sạch chân. Động tác vừa rửa  
chân, vừa nhấc chân lên đạp xuống  
gọi là đạp tro, mẹ chồng là người vừa  
làm động tác rửa chân vừa đếm số  
lần đạp tro của cô dâu. Khi đạp, cô  
dâu phải đạp lần lượt hai chân, chân  
phải trước rồi đến chân trái sau, chân  
phải đạp 7 lần, chân trái đạp 8 lần. Kết  
thúc nghi thức đạp tro, cô dâu đi vào  
nhà, đặt những lễ vật mang theo trên  
chiếc chiếu làm từ cây run đã được  
cha mẹ chồng chuẩn bị sẵn và ngồi  
luôn tại đó để tiến hành nghi lễ cúng  
thần linh, ông bà.  
3.1.3. Lễ đạp tro  
Trong lễ cưới của người Xtiêng Bù  
Đek còn có lễ Đạp tro, lễ này tiến  
hành tại nhà trai. Sau lễ cưới ba ngày,  
gia đình nhà gái gồm cha, mẹ cùng cô  
dâu, chú rể và một số bà con dòng họ  
sang nhà trai để thực hiện lễ Đạp tro.  
Thực chất, lễ này chính là lễ cưới  
được tổ chức ở nhà trai để những  
người thân, họ hàng của gia đình nhà  
trai chúc phúc, tặng quà cho cô dâu  
chú rể.  
Khi đi, nhà gái phải mang theo những  
lễ vật trước đây nhà trai đã mang đến  
nhà gái trong ngày cưới, đó là: cau  
trầu, một bó mía, cơm ống, đầu heo,  
cổ heo, nội tạng của heo, một con gà;  
chiếc búa (đúng hơn là chiếc rìu -  
tiếng Xtiêng gọi là sung hoặc sul), một  
chiếc dao côi, chỉ cột tay (chỉ trắng),  
một chiếc sá (còn gọi là gùi), một  
chiếc lao, một chiếc khiên, một âu  
đồng và một chung đồng, một chiếc  
vòng đeo tay bằng bạc.  
Sau các nghi lễ cúng thần linh, bà mẹ  
chồng tiến hành cột chỉ vào cổ tay  
cho cô dâu, chúc phúc và tặng cô  
dâu một vòng đeo tay bằng bạc, một  
ít tiền. Xong nghi lễ này, chú rể ra  
ngồi cùng cô dâu, hai tay ngửa lên,  
lòng bàn tay trải một chiếc khăn, trên  
đó đặt một chiếc rìu, một cái búa. Lần  
lượt từng người trong gia đình vào  
tiến hành nghi thức khấn xin thần linh  
và chúc phúc cho hai người. Ý nghĩa  
của việc đặt búa, rìu lên chiếc khăn  
chung trong lòng bàn tay có lẽ là hàm  
ý cầu mong hai vợ chồng được sống  
Ở chân cầu thang lên nhà, gia đình  
nhà trai đặt một chiếc dềnh hang (vật  
dụng xúc cá), trong đó đựng một ít tro,  
một ít trấu, một ít lá nhao (loại lá dùng  
để nấu canh), một ít bông gòn và một  
thứ không thể thiếu là một hòn đá. Khi  
đến nhà cha mẹ chồng, cô dâu đi  
trước đến nơi đặt chiếc dềnh hang.  
Lúc này mẹ chồng cầm sẵn chiếc bầu  
hồ lô có nước, một người dì của chú vững bền, gắn kết, đồng thời nhắc  
rể cầm một chiếc dao (sau này là nhở hai vợ chồng phải siêng năng lao  
chiếc kéo) chờ sẵn. Cô dâu bước đến động để tạo ra của cải nuôi sống gia  
đặt chân phải lên viên đá, mẹ chồng đình.  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020  
57  
Người thân cũng tiến hành chúc phúc họ nhưng có mối quan hệ tình cảm  
như ở nhà gái, tuy nhiên, chỉ dành cho sâu đậm và muốn gắn bó lâu dài và  
hai gia đình đều có con nhỏ khác  
nhau về giới tính, có độ tuổi cách  
nhau không nhiều, hai gia đình sẽ tiến  
nghi thức hành hứa hôn cho hai con.  
những người chưa thực hiện nghi lễ  
này ở nhà gái. Cùng với động tác của  
người chúc phúc, cô dâu và chú rể  
cũng thực hiện động tác úp ngửa bàn  
tay có cầm các vật dụng là búa, rìu  
bảy lần. Cuối cùng, người chúc phúc  
tiến hành cột chỉ vào tay của cô dâu  
hoặc chú rể để đánh dấu sự kết thúc  
của lễ chúc phúc. Khi chúc phúc,  
những người tham gia sẽ tặng quà  
cho cô dâu chú rể. Quà tặng có thể là  
tấm niêng tất, tấm en điêng và thường  
gói trong đó một ít tiền. Khi nào không  
còn ai thực hiện nghi thức chúc phúc  
nữa, lễ Đạp tro sẽ kết thúc.  
Lễ hứa hôn được tổ chức bên nhà gái.  
Đến ngày tổ chức lễ, gia đình người  
có con trai mang qua gia đình người  
có con gái một con heo hoặc gà, một  
ít rượu, một chiếc ôi púc, một dây cế  
vích - dây thắt lưng... để làm lễ giao  
ước hôn nhân cho hai đứa trẻ. Gia  
đình có con gái sẽ nhận các lễ vật này,  
những vật lễ là đồ dùng sẽ được cất  
giữ, các vật lễ là thực phẩm thì mang  
ra chế biến để tiếp đãi nhau. Sau nghi  
lễ này, hai gia đình xem nhau như  
thông gia, hai người con coi như đã  
được định đặt hôn nhân. Đến khi đủ  
tuổi kết hôn, gia đình hai bên sẽ thông  
báo cho chàng trai và cô gái của hai  
gia đình biết việc hai bên đã có hứa  
hôn từ trước. Khi đó, nếu chàng trai  
và cô gái đồng ý lấy nhau, đám cưới  
sẽ được tổ chức. Trong trường hợp  
một trong hai người không đồng ý thì  
hôn lễ sẽ không diễn ra. Nếu chàng  
trai là người không muốn cưới cô gái  
đã được cha mẹ hứa hôn làm vợ thì gia  
đình này sẽ thông báo cho gia đình cô  
gái biết, hai bên tiến hành các nghi lễ  
để hủy hôn, gia đình chàng trai sẽ mất  
tất cả những lễ vật đã mang đi qua  
nhà gái làm đính ước. Trường hợp  
nếu cô gái không đồng ý lấy chàng trai  
Sau nghi lễ Đạp tro kết thúc, hai vợ  
chồng ở lại nhà trai bao lâu tùy ý.  
Nhưng sau đó phải quay về sinh sống  
bên nhà gái. Họ bước vào cuộc sống  
mới trong niềm hân hoan của gia đình  
hai bên và cộng đồng.  
3.2. Các nghi lễ trong hôn nhân của  
ngƣời Xtiêng Bù Lơ  
Hôn nhân của người Xtiêng Bù Lơ là  
một chuỗi các nghi lễ, trong đó có  
những nghi lễ được thực hiện từ khi  
những chàng trai cô gái còn nhỏ. Bắt  
đầu bằng lễ hứa hôn và kết thúc bằng  
lễ rước dâu về nhà cha mẹ chồng.  
3.2.1. Lễ hứa hôn  
Tục hứa hôn trong cộng đồng người  
Xtiêng Bù Lơ ngày nay tuy không phổ  
biến nhưng đã từng tồn tại.  
Khi hai gia đình nào đó ở trong Wăng đã được cha mẹ hứa hôn, gia đình cô  
- Poh hoặc ở khác Wăng - Poh, dù gái sẽ thông báo cho gia đình chàng  
không có quan hệ huyết thống, dòng  
trai biết và trả lại những vật dụng đã  
PHẠM HỮU HIẾN - NGÔ HÀ – NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN…  
58  
nhận của gia đình chàng trai trong lễ diện không kết hôn được, các nội  
hứa hôn. Các vật lễ là vật dụng thì trả dung của lễ hỏi sẽ dừng lại. Nếu hai  
người được kết hôn, những nội dung  
khác sẽ được tiếp tục bàn bạc, thực  
hiện. Trong đó, quan trọng là bàn về  
ngày cưới, bàn về lễ vật. Nghi thức  
cuối cùng của lễ hỏi là việc nhà trai  
trao cho nhà gái những vật lễ mang  
theo. Khi mọi việc đã kết thúc, gia  
đình nhà gái mời nhà trai và họ hàng  
cùng dự tiệc.  
nguyên vẹn như đã nhận từ đầu, riêng  
heo và gà, rượu... gia đình cô gái chỉ  
phải trả lại mỗi thứ một nửa. Ông Đ.C.  
(ở thôn 2, xã Bình Minh, huyện Bù  
Đăng) cho biết, trước đây, tục hứa  
hôn rất phổ biến ở vùng Bù Lơ, hiện  
nay phong tục này đã giảm đi đáng kể,  
hầu như rất ít gia đình còn duy trì tục  
hứa hôn.  
Nếu mọi việc suôn sẻ, sau lễ hỏi  
không lâu, lễ cưới sẽ được tiến hành.  
Trường hợp khi một trong hai gia đình  
có người thân (cha, mẹ, ông bà) chết,  
đám cưới buộc hoãn ít nhất một năm.  
Tuy nhiên, phong tục của người  
Xtiêng Bù Lơ cho phép hai vợ chồng  
đã tổ chức lễ hỏi được về sống chung  
với nhau cho đến ngày có thể tổ chức  
lễ cưới.  
3.2.2. Lễ hỏi  
Khi chàng trai để ý và muốn làm  
chồng cô gái nào đó, chàng trai sẽ nói  
với cha mẹ nhờ người mai mối cùng  
đi đến để xin cưới cô gái. Sau khi đến  
nhà gái, ông mai hai bên sẽ trao đổi  
những vấn đề về hôn nhân, về việc  
chàng trai muốn làm chồng cô gái.  
Nếu cô gái đồng ý, hai bên sẽ bàn bạc  
và thống nhất những vấn đề liên quan  
đến hôn nhân như: thời gian tổ chức  
lễ hỏi, các vật lễ nhà trai phải nộp cho  
nhà gái... Thời gian tổ chức lễ hỏi khá  
linh hoạt, họ có thể chọn bất kể ngày  
3.2.3. Lễ cưới  
Lễ cưới được tổ chức ở nhà gái. Đến  
ngày cưới, nhà trai mang sang nhà  
gái các vật lễ gồm: dao côi, chà gạt, tố,  
nào cũng được, không quan niệm về lao, trâu, heo với số lượng hai bên đã  
việc chọn ngày tốt xấu.  
thống nhất từ lễ hỏi. Nghi lễ gồm ba  
phần chính:  
Đến ngày tiến hành lễ hỏi, gia đình  
nhà gái chuẩn bị những ẩm thực cần  
thiết đủ để tiếp đãi khách của hai bên.  
Vật lễ nhà trai phải mang qua nhà gái  
trong lễ hỏi gồm có: hai cái tố, chà  
gạt, dao côi, mỗi thứ một cái, trâu và  
heo.  
- Phần thứ nhất: hai ông mai kể lai lịch,  
xuất thân của cha mẹ hai bên, của gia  
đình cô dâu chú rể để xem xét điều  
kiện kết hôn. Đây là bước nhắc lại  
mang tính thủ tục, vì vấn đề này đã  
được xác định tại lễ hỏi.  
Lễ hỏi được bắt đầu bằng việc xác - Phần thứ hai: bàn và thống nhất về  
định xem cô gái và chàng trai có mối việc “trả của”. Ông mai nhà gái thông  
quan hệ thân tộc, cùng dòng họ, huyết báo cho nhà trai về việc trước đây bà  
thống hay không Trong trường hợp  
hai người có quan hệ dòng họ, thuộc  
ngoại của cô dâu đã được trả của  
gồm những gì, bao nhiêu thứ, giá trị ra  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020  
59  
sao. Đồng thời xác định sau này chú Khảo sát tại một đám cưới ở xã Bình  
rể có trách nhiệm phải trả của cho mẹ Minh huyện Bù Đăng, tác giả ghi nhận  
vợ tương tự. Nếu vì lý do nào đó (kinh được những tài sản mà chàng trai và  
tế khó khăn, hoàn cảnh neo đơn) nhà gia đình nhà trai phải trả(4) cho nhà gái  
trai có thể bàn bạc và xin giảm bớt số như sau:  
lượng tài sản phải trả của. Tuy nhiên,  
các điều kiện về trả của do nhà gái  
đưa ra, đa phần gia đình chú rể đều  
phải thực hiện.  
- Heo: 12 con, trả làm nhiều lần, tại lễ  
cưới, tại lễ trả của.  
- Trâu làm lễ cưới: 1 con.  
- Trâu chặt (làm thịt đãi khách ở nhà  
- Phần thứ ba là trao vật lễ: nhà trai  
chỉ trao cho nhà gái những lễ vật quan  
trọng, có kích thước nhỏ, đó là: chà  
gạt, dao côi, lao (mỗi thứ một cái) và  
tố (hai cái). Tiếp theo cha của chú rể  
đưa cha của cô dâu ra ngoài để trao  
những vật lễ không thể trao trực tiếp  
trong nhà, là heo, trâu. Nhà gái nhận  
vật lễ, sau đó giết mổ và chế biến để  
mời khách hai bên.  
trai): 1 con.  
- Trâu kéo: 2 con (1 mẹ, 1 con).  
- Lao, chà gạt, dao côi, mỗi thứ một  
cái (đã trao tại lễ cưới).  
- Xà lung 7 mắt (loại có giá trị nhất,  
hiện nay khoảng 35 triệu đồng): 1 cái.  
- Tố 3 mắt: 3 cái.  
- Tố người Kinh(5): 1 cái.  
- Tố Gry (có giá khoảng 6 triệu đồng 1  
Những người đi tham dự lễ cưới,  
trước đây họ mang những tấm niêng  
tất, ôi puk, ôi cách, ôi zoong... để làm  
quà mừng. Cuối buổi tiệc cưới, khi  
nhà trai ra về, hai vợ chồng mang  
những món quà đã nhận được ra tặng  
lại cho các thành viên của gia đình  
nhà trai, mỗi người một món quà.  
cái): 2 cái.  
- Tố Pây Vung (khoảng 16 triệu đồng):  
1 cái.  
- Tố Vang tăng sôi (giá trị khoảng 15  
triệu đồng): 2 cái.  
- Tố Naray (giá trị khoảng 17 triệu  
đồng): 1 cái.  
Điều này theo họ là để thể hiện tấm - Tố 3 mắt (là loại gốm Bình Dương,  
lòng hiếu thảo của đôi vợ chồng đối  
với gia đình nhà trai. Hiện nay, một số  
nơi vẫn còn duy trì hình thức tặng quà  
cưới này, một số gia đình tại Bình  
Minh, Đoàn Kết, người đi dự lễ cưới  
còn sử dụng các loại chăn được sản  
xuất công nghiệp để làm quà mừng.  
mới sản xuất trong giai đoạn hiện nay,  
có giá khoảng 350.000 đồng/cái): 40  
cái.  
Lễ trả của được tổ chức bên phía nhà  
trai, chậm nhất một tháng sau lễ cưới,  
gia đình nhà trai phải tiến hành nghi lễ  
này.  
3.2.4. Lễ trả của  
Tối ngày hôm trước, gia đình nhà gái  
Lễ trả của là một trong những phong đến nhà trai để cha mẹ vợ của chú rể  
tục quan trọng không kém lễ cưới của tổ chức bữa cơm tiếp đãi sui gia.  
người Xtiêng nhánh Bù Lơ.  
Trong buổi tiếp đãi, gia đình nhà trai tổ  
PHẠM HỮU HIẾN - NGÔ HÀ – NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN…  
60  
chức trình diễn các loại hình nghệ đình như chuẩn bị các món quà tặng  
thuật dân gian để chào mừng gia đình (chăn đắp bằng thổ cẩm loại thường),  
nhà gái, để các thành viên trong Poh tất cả được để trong một chiếc xá’s để  
có điều kiện giao lưu với nhau. Sáng trao cho nhà trai.  
hôm sau, gia đình nhà trai làm thủ tục  
thông báo và giao những vật lễ dùng  
để làm thực phẩm đãi khách như trâu,  
heo cho nhà gái. Gia đình nhà gái tiếp  
nhận, nhờ những người thân tiến  
hành lễ cúng thần linh.  
- Phía nhà trai: chuẩn bị các vật lễ trao  
cho nhà gái (thường là 10 cái tố và  
một bộ ching - chiêng hoặc goong –  
cồng), một con trâu, cơm ống các loại  
thực phẩm khác để đón tiếp nhà gái  
và khách mời hai bên.  
Đến khoảng 12 giờ trưa sau khi ăn  
uống xong, gia đình nhà trai bắt đầu  
tiến hành nghi thức trả của cho nhà gái.  
Chú rể mang tất cả những vật lễ đặt  
giữa sân, trong đó lễ vật quan trong  
nhất là ché, hai chiếc tố có giá trị sẽ  
đặt thành một nhóm. Đại diện gia đình  
hai bên và ông mai của nhà gái xác  
nhận lại số vật lễ đã thống nhất trong  
lễ cưới, tiến hành kiểm tra. Sau khi đã  
trả hết của cho gia đình nhà vợ chàng  
rể có thể tổ chức rước vợ về Wăng -  
Poh của mình, nhà trai sẽ tổ chức lễ  
Cô lô Nak đón tiếp thành viên mới.  
Nơi tổ chức nghi lễ khá linh hoạt. Nếu  
nhà rộng, các hoạt động và nghi lễ  
cúng thần linh được tiến hành ở  
không gian trong nhà cha mẹ chàng  
trai. Nếu nhà không đủ rộng, nhà trai  
sẽ làm một chiếc sạp tre dài (đặt ở  
trước cửa nhà), đủ để cho các thành  
viên có liên quan ngồi trao đổi công  
việc và tiến hành lễ cúng thần linh.  
Khi gia đình nhà gái đến: cha mẹ hai  
bên, hai vợ chồng và hai ông mai bày  
soạn các lễ vật. Đại diện gia đình nhà  
gái trao đổi trước, đó là thông báo với  
gia đình họ hàng nhà trai rằng cô con  
gái trước đây đã kết hôn với chàng  
trai. Chàng trai đã thực hiện xong việc  
trả của cho cha mẹ vợ, nay gia đình  
3.2.5. Lễ rước vợ về nhà  
Lễ rước dâu về Wăng - Poh được tổ  
chức tại nhà cha mẹ của chàng trai và  
tương tự như lễ cưới. Hai gia đình đưa vợ chồng về sinh sống bên nhà  
phải chuẩn bị các lễ vật để trao cho chồng. Tiếp theo, hai bên tiến hành lễ  
nhau, chuẩn bị các lễ vật cúng thần cúng thần linh để xin phép cho cô gái  
linh, đặc biệt nhà trai phải chuẩn bị lễ được về cư trú trong gia đình chồng,  
vật để tiếp đón gia đình nhà gái và  
mời khách trong Wăng - Poh.  
trong Wăng - Poh của chồng.  
Hiện nay, người Xtiêng Bù Lơ vùng  
Bù Đăng vẫn giữ nguyên phong tục  
này, những nơi khác có sự thay đổi ít  
nhiều. Người Xtiêng ở huyện Phú  
Riềng sau lễ cưới thì tiến hành luôn lễ  
trả của bằng cách nhà trai trao cho  
nhà gái 50 triệu đồng, sau đó rước  
- Phía nhà gái: cha mẹ cô gái chuẩn bị  
cơm ống, mía, chuối, rượu, hai tấm ôi  
zoong (dành tặng riêng cho cha mẹ  
chàng trai). Đặc biệt là phải có nguyên  
một con heo nướng chín để đưa sang  
nhà trai. Những người thân trong gia  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020  
61  
con dâu về nhà trai cư trú, các nghi lễ trong đời sống, lao động sản xuất và  
rước về cũng được tiến hành một lễ hội của người Xtiêng.  
cách giản đơn. Ở vùng Bù Gia Mập,  
Về mặt khác biệt, hai nhóm cư dân có  
sau lễ cưới, gia đình nhà trai phải tổ  
nhiều nét khác nhau trong các nghi lễ  
chức lễ rước gia đình con trai về nhà  
cưới hỏi. Như đã phân tích ở trên,  
với nghi lễ như trước đây. Nhưng việc  
ngoài hai nghi lễ là hỏi và cưới cả hai  
trả của có sự thay đổi, gia đình nhà  
nhánh Bù Lơ và Bù Đek đều có thực  
trai chỉ đưa cho nhà gái một ít tiền (từ  
hành một số nghi lễ còn lại, mỗi nhóm  
hơn 10 triệu đến vài chục triệu đồng),  
cư dân đều có sự khác nhau: người  
sau đó rước con dâu về sinh sống bên  
Bù Lơ có lễ hứa hôn, lễ trả của, lễ  
gia đình, các nghi lễ và phong tục liên  
rước vợ về nhà, người Xtiêng Bù Đek  
quan đến hôn nhân của hai vợ chồng  
có lễ Đạp tro. Các nghi lễ trong hỏi,  
trẻ kết thúc.  
cưới của người Xtiêng Bù Lơ chú  
Bà T.N (thôn Bù Gia Phúc I xã Phú  
Nghĩa huyện Bù Gia Mập) cho biết,  
trước đây, lễ rước vợ về nhà rất ít  
được tổ chức do nhiều gia đình sau  
khi cưới không thể trả của cho gia  
đình vợ nên phải ở suốt bên nhà vợ.  
Ngày nay, nhờ có sự thay đổi, các gia  
đình linh hoạt hơn trong việc trả của  
(số tài sản phải trả đã được giảm bớt),  
do đó các gia đình có điều kiện để  
thực hiện trả của và rước vợ về nhà  
cha mẹ ruột để sinh sống.  
trọng đến yếu tố hội, yếu tố dân gian  
nhiều hơn, các yếu tố nghi lễ gắn với  
thế giới tâm linh khá mờ nhạt. Ngược  
lại, các nghi lễ liên quan đến thế giới  
tâm linh trong lễ hỏi, cưới của người  
Xtiêng Bù Đek đậm nét hơn; họ thực  
hành các nghi lễ cúng rất thành kính,  
công phu. Những tương đồng và khác  
biệt các nghi lễ trong hôn nhân của  
người Xtiêng ở Bình Phước, xuất phát  
từ nhiều yếu tố khác nhau. Về mặt xã  
hội, người Xtiêng Bù Đek cư trú ở khu  
vực đồng bằng, nơi có những vùng  
đất trũng rộng lớn để canh tác lúa  
nước. Người Xtiêng Bù Lơ ngoài sản  
xuất nương rẫy, cuộc sống của họ  
gắn với hoạt động khai thác tự nhiên,  
với họ rừng là môi trường sống, môi  
trường hình thành những loại hình  
văn hóa ứng xử phù hợp với cuộc  
sống của họ. Đặc biệt, trong khu vực  
cư trú, hai cộng đồng cư dân có quá  
trình giao thoa tiếp biến với các dân  
tộc trong khu vực. Người Bù Lơ cộng  
cư và giao thoa văn hóa với người  
Mnông, Mạ, những cư dân có nền văn  
3.3. Một số nhận xét về nghi lễ hôn  
nhân giữa hai nhóm Bù Lơ và Bù  
Đek  
Trong hôn nhân, người Xtiêng ở Bình  
Phước có các nghi thức, nghi lễ và  
phong tục đa dạng, phong phú. Điểm  
tương đồng trong các nghi lễ liên  
quan đến hôn nhân của người Xtiêng  
Bù Lơ và Bù Đek là những vật lễ. Cả  
hai cộng đồng đều có những vật lễ  
không thể thiếu là chà gạt, lao, vòng  
đeo tay, sản phẩm thổ cẩm... Đây là  
những vật dụng có vai trò rất quan  
trọng, có thể nói là không thể thiếu  
PHẠM HỮU HIẾN - NGÔ HÀ – NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN…  
62  
hóa mang đậm yếu tố Trường Sơn - nội dung thủ tục. Chẳng hạn, ở nhánh  
Xtiêng Bù Đek nhiều nơi, trong lễ cưới,  
họ chỉ thực hiện nghi lễ cúng thần linh  
và chúc phúc, không tổ chức nghi  
thức rước dâu, rước rể, nghi thức hát  
đối đáp trong đón tiếp và cúng thần  
linh cũng bị lược bỏ. Trong đó, người  
Xtiêng nhánh Bù Lơ, một số nơi như  
huyện Phú Riềng, huyện Bù Gia Mập,  
lễ trả của được thay đổi theo hướng  
giảm nhẹ số của cải vật chất nhà trai  
phải trả cho nhà gái, có nơi quy thành  
tiền với số tiền từ 20 triệu đến 50 triệu  
và trả một lần. Do đó, các gia đình  
nhà trai có điều kiện để thực hiện và  
cũng vì vậy, lễ rước vợ về nhà được  
thực hiện thường xuyên hơn. Một số  
nơi, nghi thức hát đối đáp trong đám  
cưới của nhánh Xtiêng Bù Đek không  
còn duy trì hoặc chỉ duy trì ở một số  
nghi lễ, nghi thức cúng thần linh. Ở  
một góc độ khác, nhiều nơi, một số  
nghi lễ, nghi thức truyền thống đã bị  
mai một. Chẳng hạn như lễ hứa hôn  
của người Xtiêng Bù Lơ; ở Hớn Quản,  
Chơn Thành, lễ Đạp tro của người  
Xtiêng Bù Đek không còn tổ chức.  
Ngoài ra, trong quá trình tổ chức lễ  
cưới, nếu người Xtiêng nhánh Bù Lơ  
vẫn tiếp đón và đãi khách theo hình  
thức truyền thống thì người Xtiêng Bù  
Đek còn tổ chức cưới theo kiểu hiện  
đại của các dân tộc khác, họ đặt tiệc  
để đãi khách tại các nhà hàng, tại  
khuôn viên rạp do dịch vụ tiệc cưới  
dựng lên. Sự thay đổi đó có những  
mặt tích cực và hạn chế nhất định.  
Việc thay đổi góp phần làm cho cuộc  
sống của các gia đình trẻ tốt hơn, đặc  
biệt là sự thay đổi thủ tục trả của theo  
Tây Nguyên. Trong khi đó, người  
Xtiêng Bù Đek cộng cư giao thoa và  
tiếp biến văn hóa với dân tộc Khmer,  
một cộng đồng cư dân sinh sống lâu  
đời ở vùng đất Bình Phước. Sự giao  
thoa và tiếp biến văn hóa giữa người  
Xtiêng với các dân tộc trong vùng cư  
trú đã tạo nên sự đa dạng phong phú  
trong văn hóa của họ, đồng thời cũng  
đã tạo ra sự khác biệt trong một số  
loại hình văn hóa, trong đó có các  
nghi lễ cưới hỏi truyền thống.  
Nội dung và quy trình của lễ hỏi, cưới  
của người Xtiêng Bình Phước bao  
hàm nhiều thành tố văn hóa có giá trị  
đặc trưng. Điều này góp phần chứng  
minh về bề dày văn hóa, lịch sử hình  
thành lâu đời của người Xtiêng trên  
vùng đất Bình Phước. Cho đến nay,  
có những nghi lễ, phong tục vẫn còn  
nguyên giá trị, tạo nên bản sắc văn  
hóa của người Xtiêng ở Bình Phước.  
Hiện nay, trong xu hướng phát triển  
chung của xã hội, các nghi lễ truyền  
thống trong hôn nhân của người  
Xtiêng Bình Phước tồn tại và biến đổi  
ở nhiều mức độ khác nhau. Ở góc độ  
bảo tồn nguyên vẹn các yếu tố cấu  
thành nghi lễ, tại các địa phương như  
xã Đoàn Kết, xã Bình Minh, xã Minh  
Hưng huyện Bù Đăng; xã Lộc Hòa  
huyện Lộc Ninh, xã Thanh Phú thị xã  
Bình Long, xã Phú Nghĩa huyện Bù  
Gia Mập, nội dung và thủ tục cưới hỏi  
vẫn duy trì tổ chức theo nghi thức  
truyền thống. Xã Bình Minh, xã Đoàn  
Kết huyện Bù Đăng vẫn còn duy trì lễ  
trả của nhưng có sự thay đổi về mặt  
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020  
63  
hướng giảm nhẹ số của cải gia đình nhân và các nghi lễ văn hóa liên quan  
nhà trai phải trả cho nhà gái giúp các đến hôn nhân của người Xtiêng ở  
Bình Phước đã có những biến đổi  
nhất định. Bên cạnh những cộng đồng  
Xtiêng bị mai một một phần các loại  
hình nghi lễ liên quan đến hôn nhân  
thì người Xtiêng ở nhiều nơi như Bình  
Minh, Đoàn Kết, Bom Bo (Bù Đăng),  
Lộc Hòa, Lộc An (Lộc Ninh), Quang  
Minh (Chơn Thành)... vẫn duy trì  
được các thành tố văn hóa truyền  
thống này. Ngoài ra, cộng đồng còn  
tiếp thu và vận dụng một cách hài hòa  
một số yếu tố mới, hiện đại vào trong  
các nội dung, hoạt động liên quan đến  
hôn nhân. Điều này vừa phản ánh sự  
thích ứng với thời đại, vừa đáp ứng  
nhu cầu hưởng thụ của cộng đồng,  
làm phong phú thêm hoạt động liên  
quan đến hôn nhân của cộng đồng cư  
dân này.  
gia đình có điều kiện để chăm lo cho  
cuộc sống. Tuy nhiên, một số nghi lễ  
giao thoa với cộng đồng khác và tiếp  
biến sẽ làm giảm đi bản sắc của cộng  
đồng người Xtiêng Bình Phước.  
4. KẾT LUẬN  
Nghi lễ cưới hỏi đóng vai trò quan  
trọng trong đời sống của cộng đồng  
dân tộc Xtiêng, thể hiện những loại  
hình di sản văn hóa (vật thể và phi vật  
thể) có giá trị tiêu biểu phản ánh đặc  
trưng văn hóa của cộng đồng có lịch  
sử cư trú lâu đời ở vùng đất Bình  
Phước nói riêng, Đông Nam Bộ nói  
chung.  
Ngày nay, do quá trình hội nhập và  
phát triển diễn ra mạnh mẽ, tác động  
nhiều mặt đến đời sống xã hội, hôn  
CHÚ THÍCH  
(1)  
Tên dân tộc này có nhiều cách viết: Stiêng, Xtiêng, cách viết của tác giả dựa vào Quyết  
định 121-TCTK/PPCĐ ngày 2/3/1979 của Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê về ban hành  
Danh mục các dân tộc Việt Nam.  
(2)  
Các cộng tác viên Châu Thị Ánh (Chơn Thành), Điểu Thị Hà (Lộc Ninh), Điểu Tử (Đồng  
Xoài), Điểu K’rươi, Điểu Mớ (Bù Đăng), Điểu Khuê (Bù Đăng), Thị Nguyệt (Bù Gia Mập) hỗ  
trợ cung cấp thông tin, giúp đỡ, phiên dịch tiếng Xtiêng ra tiếng phổ thông.  
Các cuộc phỏng vấn sâu với các già làng Điểu Grớt (Bù Đốp), Điểu Kiêu (Bù Gia Mập), Điểu  
Lên (Bù Đăng), Thị Xếp (Chơn Thành), Thị Hồng (Lộc Ninh), Điểu Srem (Đồng Xoài), Điểu  
Khuy (Phước Long)...  
(3)  
Wăng là cách để người Xtiêng Bù Đek gọi nơi cư trú của họ, còn Poh là cách gọi của  
người Xtiêng Bù Lơ, hiện nay nhiều nơi có cách gọi phổ biến là Sóc.  
(4) Ghi nhận tại đám cưới ở Thôn Bom Bo xã Bình Minh huyện Bù Đăng ngày 3/3/2020.  
(5) Thực chất đây là bình gốm Lái Thiêu, loại có kích thước lớn, cổ cao, trên thân có trang trí  
hoa văn hình rồng, có niên đại khoảng trên 100 năm.  
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN  
1. Bảo tàng tỉnh Bình Phước. 2010. Tổng điều tra di sản văn hóa phi vật thể của người  
Xtiêng Bình Phước. Báo cáo tổng hợp dự án Chương trình mục tiêu quốc gia.  
PHẠM HỮU HIẾN - NGÔ HÀ – NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN…  
64  
2. Mạc Đường. 1985. Vấn đề dân tộc ở Sông Bé. TPHCM: Nxb. Tổng hợp.  
3. Nguyễn Thành Đức. 2004. Múa dân gian tộc người Mạ, Chơ ro, Xtiêng vùng Đông  
Nam Bộ. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.  
4. Phạm Hữu Hiến. 2016. “Họ, dòng họ của người Xtiêng và văn hóa ứng xử cộng  
đồng”, Hội thảo Việt Nam Học lần thứ V, năm 2016.  
5. Phan An. 2007. Hệ thống xã hội tộc người của người Stiêng Việt Nam từ thế kỷ XIX  
đến năm 1975. TPHCM: Nxb. Đại học Quốc gia.  
6. Phan An. 2015. Từ Tây nguyên đến Đông Nam Bộ - Văn hóa tộc người. Hà Nội: Nxb.  
Khoa học Xã hội.  
7. Phạm Đức Ngự. 2018. “Cây nêu – nét độc đáo trong đời sống văn hóa người Xtiêng”.  
www.baotangbinhphuoc.org.vn, truy cập ngày 16/3/2020.  
8. Phan Xuân Viện. 2017. Truyện cổ Xtiêng – Phiên bản dành cho người nghiên cứu.  
TPHCM: Nxb. Trẻ.  
9. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Phước. 2020. Báo cáo “Kết quả phục dựng lễ  
cưới truyền thống của người Xtiêng Bù Đek”.  
10. Tỉnh ủy Bình Phước. 2015. Địa chí Bình Phước.  
pdf 14 trang baolam 22900 Free
Bạn đang xem tài liệu "Nghi lễ truyền thống trong hôn nhân của người Xtiêng ở Bình Phước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên

File đính kèm:

  • pdfnghi_le_truyen_thong_trong_hon_nhan_cua_nguoi_xtieng_o_binh.pdf