Nghi lễ truyền thống trong hôn nhân của người Xtiêng ở Bình Phước
51
CHUYÊN MỤC
SỬ HỌC - KHẢO CỔ HỌC - DÂN TỘC HỌC
NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN
CỦA NGƢỜI XTIÊNG Ở BÌNH PHƢỚC
PHẠM HỮU HIẾN*
NGÔ HÀ**
Bài viết nghiên cứu nghi lễ truyền thống trong hôn nhân của người Xtiêng ở Bình
Phước qua nguồn tư liệu thứ cấp và sơ cấp từ điền dã dân tộc học ở cộng đồng
người Xtiêng Bù Lơ và người Xtiêng Bù Đek. Nghi lễ hôn nhân của người Xtiêng
có nội dung phong phú, mang nét đặc trưng của tộc người và phản ánh văn hóa
của cộng đồng cư dân vốn sinh sống lâu đời ở vùng Bình Phước.
Từ khóa: nghi lễ hôn nhân, người Xtiêng
Nhận bài ngày: 9/7/2020; đưa vào biên tập: 16/7/2020; phản biện: 13/8/2020; duyệt
đăng: 20/8/2020
1. GIỚI THIỆU
huyện Đồng Xoài, Đồng Phú, Phú
Riềng, Bù Đăng, Bù Gia Mập, Bù Đốp,
Phước Long; người Xtiêng Bù Đek cư
trú ở các huyện Lộc Ninh, Bình Long,
Chơn Thành, Hớn Quản.
Theo số liệu Tổng Điều tra dân số
năm 2019, tỉnh Bình Phước có 96.465
người Xtiêng(1), trong đó, đông nhất là
huyện Bù Gia Mập, với hơn 22.000
người, huyện ít người Xtiêng nhất là
huyện Phước Long, khoảng hơn 400
người. Xtiêng là dân tộc thiểu số cư
trú lâu đời và có dân số đông nhất ở
Bình Phước. Có nghiên cứu chia tộc
người Xtiêng thành các nhóm: Bù
Biếc, Bù Ác, Hạ Bạn (Phan An, 2007);
hiện nay, có hai nhóm là Bù Lơ (vùng
cao) và Bù Đek (vùng thấp). Người
Xtiêng Bù Lơ sống tập trung ở các
Cùng dân tộc, cùng lịch sử hình thành
tộc người nhưng người Xtiêng Bù Lơ
và người Xtiêng Bù Đek khác nhau về
vùng cư trú, sự giao thoa tiếp biến văn
hóa với các cộng đồng cư dân khác
trong cùng khu vực nên đã tạo ra sự
khác biệt trong một số loại hình văn
hóa, thành tố văn hóa.
Người Xtiêng Bù Đek gọi nơi cư trú là
Wăng còn người Xtiêng Bù Lơ gọi là
Poh; người Xtiêng Bù Đek ngoài canh
tác nương rẫy còn có hình thức canh
*, ** Bảo tàng tỉnh Bình Phước.
PHẠM HỮU HIẾN - NGÔ HÀ – NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN…
52
tác lúa nước khá phổ biến và thuần Ninh), Bình Minh (huyện Bù Đăng),
thục; người Xtiêng Bù Đek ngoài sử
dụng các sản phẩm thổ cẩm còn sử
dụng các loại trang phục áo bà ba,
váy may kiểu váy của người Khmer...
Phú Nghĩa, Phú Riềng (huyện Bù Gia
Mập), Thiện Hưng, Tân Thành (huyện
Bù Đốp), Quang Minh (huyện Chơn
Thành), và thị xã Phước Long từ năm
2017 đến năm 2019.
Ngoài các lễ hội phổ biến hai cộng
đồng đều có, như: lễ lập Wăng - Poh(3)
mới, mừng lúa mới, cầu mưa, người
Xtiêng Bù Đek còn có lễ Hanh T’raanh
(còn gọi là Phá Bàu), người Xtiêng Bù
Lơ có lễ Teh Bo’k – tương tự như lễ
kết nghĩa; trong đan tấm trải sàn:
người Bù Lơ dùng lá cây dứa dại,
người Bù Đek dùng cây Run;
3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu cho thấy, nghi lễ trong
hôn nhân của người Xtiêng Bù Đek có
lễ hỏi, lễ cưới, lễ Đạp tro; người
Xtiêng Bù Lơ có lễ hứa hôn, lễ hỏi, lễ
cưới, lễ Trả của và lễ rước vợ về nhà.
Lễ hỏi và lễ cưới của cư dân Bù Lơ và
Bù Đek cũng có nhiều nội dung khác
nhau.
Sự khác nhau trong các loại hình văn
hóa của hai nhánh Bù Lơ và Bù Đek
góp phần làm phong phú, đa dạng văn
hóa tộc người, trong đó có nghi lễ và
trình thức lễ liên quan đến hôn nhân.
3.1. Các nghi lễ trong hôn nhân của
ngƣời Xtiêng Bù Đek
3.1.1. Lễ hỏi
Lễ được tổ chức tại nhà gái, vào đúng
ngày đã xác định từ trước, gia đình
nhà chàng trai cùng ông mai, người
đại diện đến nhà gái để bàn việc thực
hiện các bước tổ chức lễ cưới. Khi đi,
gia đình nhà trai mang theo các vật lễ
gồm rượu, trầu cau, một chiếc vòng
đeo tay, một con gà, ở vùng Lộc Hòa
(Lộc Ninh) còn có các vật lễ không thể
thiếu là khiêng, chà gạt và lao.
2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nhóm tác giả tổng hợp nhiều nguồn
tư liệu đã được công bố để tìm hiểu
các vấn đề liên quan đến văn hóa của
người Xtiêng Bình Phước, như: Hệ
thống xã hội tộc người của người
Stiêng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến
năm 1975 của Phan An (2007); Vấn
đề dân tộc ở Sông Bé của Mạc
Đường (1985); Truyện cổ Xtiêng do Sau các bước xác định điều kiện kết
hôn, gia đình nhà trai tiến hành trao
cho nhà gái những vật lễ đã được
thỏa thuận từ trước. Đồng thời, hai gia
đình sẽ quyết định ngày cưới để hai
Phan Xuân Viện chủ biên (2017);
nghiên cứu về múa dân gian của
Nguyễn Thành Đức (2004); các báo
cáo của Bảo tàng tỉnh Bình Phước
(2010)… Song song đó, chúng tôi bên chuẩn bị cho lễ cưới. Sau đó, nhà
trai tiến hành trao cho nhà gái các vật
lễ mang theo. Bà C.T.A (xã Quang
Minh huyện Chơn Thành) cho biết,
trong số các vật lễ nhà gái nhận từ
thực hiện điền dã dân tộc học, kết hợp
giữa quan sát tham dự và phỏng vấn
sâu(2) người Xtiêng ở thành phố Đồng
Xoài, các xã Lộc Hòa (huyện Lộc
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020
53
nhà trai, có một vật rất quan trọng, đó được vào làm lễ cưới. Nhà gái cử một
ông mai ngồi sẵn trên hiên nhà sàn để
hát đối đáp lại. Sau nghi thức hát đối
đáp giữa hai ông mai, ông mai nhà gái
mời gia đình nhà trai lên nhà tiến hành
các nghi thức lễ cưới.
là chiếc vòng đeo tay. Khi nhận, cô gái
không sử dụng mà trao lại vật này cho
một người anh hoặc em trai. Nếu
không có anh em ruột thì trao lại cho
anh em họ. Người nhận được chiếc
vòng này được xem là vinh dự lớn,
xem như là một kỷ vật quý giá và
thiêng liêng, không bao giờ bán hoặc
trao tặng cho bất kỳ ai.
Nhà trai bày các lễ vật để trình nhà gái.
Lễ vật ngoài những thứ đã nêu ở trên
còn có một chiếc hộp hình chữ nhật,
trong đó đựng một ít tiền, một ít cau,
trầu (trong đó phải có một miếng trầu
bị thả bung khỏi nốt têm), thuốc lá,
một đồng tiền xu. Khi đại diện nhà trai
soạn các lễ vật xong và thông báo cho
nhà gái biết, đại diện nhà gái cũng
kiểm tra xem các lễ vật có đúng, đủ
như giao ước trước đây không. Quá
trình đó, nhà gái sẽ phát hiện miếng
trầu bị bung nốt têm (do nhà trai cố
tình tạo ra) và tiến hành phạt nhà trai
với hình thức tượng trưng, chủ yếu là
một chai rượu hoặc một ít tiền. Sau
nghi thức phạt và nhận phạt này, nghi
thức trao nhận lễ vật kết thúc.
3.1.2. Lễ cưới
Đến ngày cưới, gia đình nhà trai mang
theo các vật lễ đến nhà gái để tổ chức
đám cưới. Lễ vật cơ bản có: heo đang
sống (từ 2 con đến 3 con tùy điều kiện
kinh tế gia đình nhà trai và sự đồng ý
của nhà gái), cơm ống, hai nhánh
chuối, một tấm đắp (Nđiêng hay Niêng
Tất), một ít tiền. Các vật lễ bắt buộc là:
chà gạt (via), lao (ta át), dao côi - mỗi
thứ một cái, 2 chiếc gối, một chiếc en
the’s (khiêng), một chiếc sung (rìu),
một chiếc xá’s (thường gọi là gùi), một
dây py nhoong (loại dây chuỗi hạt
nhiều màu đeo ở cổ), bảy chiếc coan -
vòng đeo tay bằng đồng (sáu chiếc
nhỏ một chiếc lớn), một chiếc âu đồng,
một chiếc cốc nhỏ bằng đồng dùng để
đựng cau trầu mời cha mẹ trong lễ
cúng thần linh, ông bà. Đặc biệt phải
có hai chiếc en niêng pơ nô và en
niêng pé là hai tấm vải dùng để làm
tấm trùm đầu khi tiến hành nghi thức
rước dâu, rước rể vào khu vực làm lễ
cúng thần linh và chúc phúc.
Quy trình thực hiện nghi lễ cúng thần
linh, tổ tiên ông bà và chúc phúc cho
đôi vợ chồng diễn ra khá dài (khoảng
hơn 2 giờ đồng hồ) với nhiều nghi
thức. Một vật dụng rất quan trọng và
không thể thiếu trong lễ cúng này là
cây nêu. Ông Đ.B (xã Lộc Hòa, huyện
Lộc Ninh) cho biết: người Xtiêng quan
niệm cây nêu là nơi thần linh về ở và
chứng kiến lễ cưới của hai vợ
chồng… là cầu nối giữa thế giới thần
linh với con người. Tác giả Phạm Đức
Ngự cũng cho rằng: “... Người Xtiêng
coi cây nêu là một vật “thiêng” của lễ
hội, là cây thần linh giữa trời và đất,
Khi đến trước ngõ nhà gái, gia đình
nhà trai cử ông mai và người đại diện
mang theo vật lễ (lao, khiêng, chà gạt)
thông báo việc nhà trai đã đến và xin
PHẠM HỮU HIẾN - NGÔ HÀ – NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN…
54
nơi hội tụ nguồn sức mạnh thần bí. nơi ngủ, chú rể ngồi cách xa khu vực
Khi lễ hội được diễn ra, người chủ lễ tiến hành nghi lễ khoảng từ 2m đến
3m. Những cô gái, chàng trai phục vụ
việc rước dâu, rước rể ngồi trong khu
vực tiến hành nghi lễ cưới. Trình tự lễ
cưới gồm: Lễ rước dâu và rước rể, lễ
cúng tổ tiên, lễ chúc phúc.
sẽ tiến hành nghi thức cầu khấn thần
linh nhằm tạ ơn đến các vị thần đã
giúp đỡ cho dân làng sức khỏe, cuộc
sống ấm no...” (Bảo tàng tỉnh Bình
Phước, 2010).
Lễ rước dâu và rước rể: do hai ông
mai chủ trì, có sự tham gia của các
chàng trai cô gái thực hiện nghi thức,
rước cô dâu được rước trước, chú rể
rước sau. Khoảng cách từ khu vực tổ
chức lễ cúng với cô dâu chỉ khoảng
4m đến 5m, với chú rể cũng chỉ chưa
đầy 3m. Do đó, nói là đi nhưng thực ra,
hai ông mai ngồi lê từng bước, vừa
“đi” vừa rót rượu mời nhau, vừa hát
đối đáp. Theo sau hai ông mai là hai
cô gái trong đoàn, trên tay cầm theo
một chiếc lược, một chai dầu thơm,
một cây nến và tấm en niêng pơ nô -
tấm vải dùng để trùm người cô dâu
Nhà gái bày soạn các lễ vật và vật
dụng để thực hiện nghi lễ cúng ông bà
và chúc phúc cho hai vợ chồng. Cây
nêu dựng ở bên trái cửa ra vào, phía
trước khu vực sẽ tổ chức các nghi
thức. Chính giữa gần cửa ra vào đặt
đầu heo (thường là ba cái, một lớn,
hai nhỏ), tiếp đó là bốn phần cơm
(trước đây đặt trên lá chuối, hiện nay
đặt trong bốn chén) trong đó có thịt,
cau trầu và một số thanh tre nhỏ, có
chức năng sử dụng tương tự như đũa
của người Kinh; một hộp nhỏ bằng gỗ
đựng cau trầu, tiền, vòng đeo tay; và
ba phần lễ đặt trong ba chiếc âu đồng,
trong đó có gạo, một miếng cau, bốn khi rước. Khi “đoàn rước” đến chỗ cô
lá trầu cắm xuống gạo theo hình thức dâu đang ngồi, hai cô gái làm động
dựa vào thành âu, dựng thẳng từ đáy
âu lên miệng âu. Chính giữa hai chiếc
âu cắm nến, âu giữa cắm một cây nến
hình thẳng đứng, hai âu hai bên cắm
cây nến tượng trưng hình người.
Ngoài ra, trên mâm lễ còn có một
chiếc cốc nhỏ bằng đồng để đựng cau
trầu mời người thân trong buổi lễ, một
chai rượu.
tác trang điểm tượng trưng (chải tóc,
thoa dầu thơm lên tóc, lên mặt), cô gái
cầm nến ngồi trước cô dâu, cô gái còn
lại ngồi phía sau cô dâu, họ dùng tấm
en niêng pơ nô trùm lên đầu cả ba
người, rồi cùng cô dâu đứng dậy đi
nhanh về nơi làm lễ cúng tổ tiên, cô
dâu ngồi bên phải theo hướng nhìn ra
cửa nhà. Nghi thức rước rể cũng
được tiến hành tương tự, nhưng
nhanh hơn do chú rể ở gần bàn lễ và
hai người rước là hai chàng trai. Cô
dâu và chú rể quỳ trên hai tấm niêng
tất gấp thành khối, hoặc có thể là hai
chiếc gối. Chú rể ở bên trái cô dâu,
Nghi lễ cúng thần linh cũng là nghi lễ
quan trọng của đám cưới, thành phần
tham dự lễ cúng ông bà, thần linh,
gồm cha mẹ cô dâu, chú rể, hai ông
mai, hai người đại diện của hai bên.
Cô dâu lúc này ngồi ở góc nhà, gần
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020
55
trước mặt họ lúc này là các lễ vật, Bà T.X. (xã Quang Minh huyện Chơn
Thành), bà Đ.T.H. (xã Lộc Hòa huyện
Lộc Ninh) cho biết: “Từ xa xưa, người
Xtiêng cho rằng nếu làm hành vi này,
cô dâu sẽ khó có con và khó sinh
con”.
trong đó gần nhất là ba chiếc âu đựng
gạo, cau trầu.
- Lễ cúng ông bà, thần linh: khi cô dâu
và chú rể đã quỳ trước bàn lễ, ông
mai nhà gái tiến hành các nghi thức
cúng thần linh, ông bà. Trước tiên,
ông mai nhà trai lấy chén gạo ở giữa,
có cắm cây nến, khấn thần linh, sau
đó lấy một ít gạo trong chén tung lên
không gian lễ. Ông mai nhà trai rót
một ly rượu, tiến đến cây nêu, vừa rót
vào hai chiếc “cốc” treo trên cây nêu,
vừa khấn mời ông bà. Tiếp theo, ông
mai nhà gái thắp sáng cây nến trên âu
gạo trước mặt cô dâu, đưa cho cô dâu,
cô dâu vái lạy rồi chuyển cho chú rể.
Chú rể nhận âu gạo từ cô dâu, lạy ba
lạy, lấy một ít gạo trong âu tung lên rồi
chuyển cho cô dâu. Cô dâu nhận chén
gạo từ chú rể, thổi tắt cây nến rồi đặt
xuống vị trí cũ. Nghi thức cúng của
chú rể cũng tương tự. Sau đó, hai bên
gia đình sẽ lần lượt dặn dò đôi vợ
chồng mới cưới về những vấn đề
trong cuộc sống, từ việc đối xử với
cộng đồng, trách nhiệm của gia đình
mới với cộng đồng đến việc chăm lo
cho cuộc sống trong tương lai. Tiếp
Sau nghi thức khấn cúng thần linh lần
cuối, người đại diện nhà gái mang các
chén cơm ra hiên nhà vừa khấn vừa
mời vong linh những người đã mất về
thụ hưởng. Cuối cùng là trình diễn
cồng chiêng chúc mừng hai vợ chồng.
- Lễ chúc phúc được tiến hành sau
nghi lễ cúng ông bà, thần linh. Theo
trình tự, ông mai cột chỉ cho cô dâu
trước, rồi đến lượt chú rể. Tiếp theo là
hai bà mẹ, mẹ cô dâu cột chỉ cho cô
dâu trước và cho một ít tiền vào âu
đồng để mừng cho vợ chồng. Mẹ chú
rể cũng làm tương tự. Khi cha mẹ hai
bên, ông bà nội ngoại thực hiện xong
nghi lễ chúc phúc, những người thân,
họ hàng có quan hệ xa, bạn bè của cô
dâu chú rể mới được phép thực hiện
việc chúc phúc. Người chúc phúc
thường có một món quà tặng để chúc
mừng cho hai vợ chồng, ngày nay quà
tặng chủ yếu là tiền mặt, họ đặt trực
tiếp vào âu đồng đựng chỉ chúc phúc.
theo, cô dâu và chú rể dâng trầu cho Trong khi những người còn lại đang
cha mẹ hai bên để tỏ lòng tôn kính, cô tiến hành lễ chúc phúc, đại diện gia
dâu dâng trầu cho mẹ chồng và chú rể đình nhà trai cầm ba lễ vật gồm
dâng trầu cho mẹ vợ. Kết thúc nghi lễ, khiêng, chà gạt, lao, đi đến bên cây đà
chú rể nhận ở mẹ vợ một miếng cau, ngang của ngôi nhà để làm nghi thức
một miếng trầu và một ly rượu, chú rể đưa lễ vật vào nhà. Hai ông mai đứng
phải uống hết rượu, ăn trầu. Cô dâu hai bên, đại diện nhà trai tay cầm chà
cũng nhận từ mẹ chồng tương tự và gạt làm động tác chặt tượng trưng vào
cũng phải dùng ngay, nhưng khi uống đà ngang ba lượt, sau đó đưa qua cho
cô dâu tuyệt đối không ói, nhổ rượu. đại diện nhà gái. Đại diện nhà gái
PHẠM HỮU HIẾN - NGÔ HÀ – NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN…
56
cũng tiến hành động tác chặt tượng tay cầm bầu nước đổ vào ngón chân
trưng ba lượt.
cái, vừa đổ vừa làm động tác rửa
chân tượng trưng, sau đó cô dâu nhấc
chân lên rồi đặt xuống. Kèm theo một
lần nhấc lên, hạ xuống là một động
tác người dì dùng dao cắt gạt lên
móng chân cô dâu như là biểu trưng
để làm sạch chân. Động tác vừa rửa
chân, vừa nhấc chân lên đạp xuống
gọi là đạp tro, mẹ chồng là người vừa
làm động tác rửa chân vừa đếm số
lần đạp tro của cô dâu. Khi đạp, cô
dâu phải đạp lần lượt hai chân, chân
phải trước rồi đến chân trái sau, chân
phải đạp 7 lần, chân trái đạp 8 lần. Kết
thúc nghi thức đạp tro, cô dâu đi vào
nhà, đặt những lễ vật mang theo trên
chiếc chiếu làm từ cây run đã được
cha mẹ chồng chuẩn bị sẵn và ngồi
luôn tại đó để tiến hành nghi lễ cúng
thần linh, ông bà.
3.1.3. Lễ đạp tro
Trong lễ cưới của người Xtiêng Bù
Đek còn có lễ Đạp tro, lễ này tiến
hành tại nhà trai. Sau lễ cưới ba ngày,
gia đình nhà gái gồm cha, mẹ cùng cô
dâu, chú rể và một số bà con dòng họ
sang nhà trai để thực hiện lễ Đạp tro.
Thực chất, lễ này chính là lễ cưới
được tổ chức ở nhà trai để những
người thân, họ hàng của gia đình nhà
trai chúc phúc, tặng quà cho cô dâu
chú rể.
Khi đi, nhà gái phải mang theo những
lễ vật trước đây nhà trai đã mang đến
nhà gái trong ngày cưới, đó là: cau
trầu, một bó mía, cơm ống, đầu heo,
cổ heo, nội tạng của heo, một con gà;
chiếc búa (đúng hơn là chiếc rìu -
tiếng Xtiêng gọi là sung hoặc sul), một
chiếc dao côi, chỉ cột tay (chỉ trắng),
một chiếc sá (còn gọi là gùi), một
chiếc lao, một chiếc khiên, một âu
đồng và một chung đồng, một chiếc
vòng đeo tay bằng bạc.
Sau các nghi lễ cúng thần linh, bà mẹ
chồng tiến hành cột chỉ vào cổ tay
cho cô dâu, chúc phúc và tặng cô
dâu một vòng đeo tay bằng bạc, một
ít tiền. Xong nghi lễ này, chú rể ra
ngồi cùng cô dâu, hai tay ngửa lên,
lòng bàn tay trải một chiếc khăn, trên
đó đặt một chiếc rìu, một cái búa. Lần
lượt từng người trong gia đình vào
tiến hành nghi thức khấn xin thần linh
và chúc phúc cho hai người. Ý nghĩa
của việc đặt búa, rìu lên chiếc khăn
chung trong lòng bàn tay có lẽ là hàm
ý cầu mong hai vợ chồng được sống
Ở chân cầu thang lên nhà, gia đình
nhà trai đặt một chiếc dềnh hang (vật
dụng xúc cá), trong đó đựng một ít tro,
một ít trấu, một ít lá nhao (loại lá dùng
để nấu canh), một ít bông gòn và một
thứ không thể thiếu là một hòn đá. Khi
đến nhà cha mẹ chồng, cô dâu đi
trước đến nơi đặt chiếc dềnh hang.
Lúc này mẹ chồng cầm sẵn chiếc bầu
hồ lô có nước, một người dì của chú vững bền, gắn kết, đồng thời nhắc
rể cầm một chiếc dao (sau này là nhở hai vợ chồng phải siêng năng lao
chiếc kéo) chờ sẵn. Cô dâu bước đến động để tạo ra của cải nuôi sống gia
đặt chân phải lên viên đá, mẹ chồng đình.
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020
57
Người thân cũng tiến hành chúc phúc họ nhưng có mối quan hệ tình cảm
như ở nhà gái, tuy nhiên, chỉ dành cho sâu đậm và muốn gắn bó lâu dài và
hai gia đình đều có con nhỏ khác
nhau về giới tính, có độ tuổi cách
nhau không nhiều, hai gia đình sẽ tiến
nghi thức hành hứa hôn cho hai con.
những người chưa thực hiện nghi lễ
này ở nhà gái. Cùng với động tác của
người chúc phúc, cô dâu và chú rể
cũng thực hiện động tác úp ngửa bàn
tay có cầm các vật dụng là búa, rìu
bảy lần. Cuối cùng, người chúc phúc
tiến hành cột chỉ vào tay của cô dâu
hoặc chú rể để đánh dấu sự kết thúc
của lễ chúc phúc. Khi chúc phúc,
những người tham gia sẽ tặng quà
cho cô dâu chú rể. Quà tặng có thể là
tấm niêng tất, tấm en điêng và thường
gói trong đó một ít tiền. Khi nào không
còn ai thực hiện nghi thức chúc phúc
nữa, lễ Đạp tro sẽ kết thúc.
Lễ hứa hôn được tổ chức bên nhà gái.
Đến ngày tổ chức lễ, gia đình người
có con trai mang qua gia đình người
có con gái một con heo hoặc gà, một
ít rượu, một chiếc ôi púc, một dây cế
vích - dây thắt lưng... để làm lễ giao
ước hôn nhân cho hai đứa trẻ. Gia
đình có con gái sẽ nhận các lễ vật này,
những vật lễ là đồ dùng sẽ được cất
giữ, các vật lễ là thực phẩm thì mang
ra chế biến để tiếp đãi nhau. Sau nghi
lễ này, hai gia đình xem nhau như
thông gia, hai người con coi như đã
được định đặt hôn nhân. Đến khi đủ
tuổi kết hôn, gia đình hai bên sẽ thông
báo cho chàng trai và cô gái của hai
gia đình biết việc hai bên đã có hứa
hôn từ trước. Khi đó, nếu chàng trai
và cô gái đồng ý lấy nhau, đám cưới
sẽ được tổ chức. Trong trường hợp
một trong hai người không đồng ý thì
hôn lễ sẽ không diễn ra. Nếu chàng
trai là người không muốn cưới cô gái
đã được cha mẹ hứa hôn làm vợ thì gia
đình này sẽ thông báo cho gia đình cô
gái biết, hai bên tiến hành các nghi lễ
để hủy hôn, gia đình chàng trai sẽ mất
tất cả những lễ vật đã mang đi qua
nhà gái làm đính ước. Trường hợp
nếu cô gái không đồng ý lấy chàng trai
Sau nghi lễ Đạp tro kết thúc, hai vợ
chồng ở lại nhà trai bao lâu tùy ý.
Nhưng sau đó phải quay về sinh sống
bên nhà gái. Họ bước vào cuộc sống
mới trong niềm hân hoan của gia đình
hai bên và cộng đồng.
3.2. Các nghi lễ trong hôn nhân của
ngƣời Xtiêng Bù Lơ
Hôn nhân của người Xtiêng Bù Lơ là
một chuỗi các nghi lễ, trong đó có
những nghi lễ được thực hiện từ khi
những chàng trai cô gái còn nhỏ. Bắt
đầu bằng lễ hứa hôn và kết thúc bằng
lễ rước dâu về nhà cha mẹ chồng.
3.2.1. Lễ hứa hôn
Tục hứa hôn trong cộng đồng người
Xtiêng Bù Lơ ngày nay tuy không phổ
biến nhưng đã từng tồn tại.
Khi hai gia đình nào đó ở trong Wăng đã được cha mẹ hứa hôn, gia đình cô
- Poh hoặc ở khác Wăng - Poh, dù gái sẽ thông báo cho gia đình chàng
không có quan hệ huyết thống, dòng
trai biết và trả lại những vật dụng đã
PHẠM HỮU HIẾN - NGÔ HÀ – NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN…
58
nhận của gia đình chàng trai trong lễ diện không kết hôn được, các nội
hứa hôn. Các vật lễ là vật dụng thì trả dung của lễ hỏi sẽ dừng lại. Nếu hai
người được kết hôn, những nội dung
khác sẽ được tiếp tục bàn bạc, thực
hiện. Trong đó, quan trọng là bàn về
ngày cưới, bàn về lễ vật. Nghi thức
cuối cùng của lễ hỏi là việc nhà trai
trao cho nhà gái những vật lễ mang
theo. Khi mọi việc đã kết thúc, gia
đình nhà gái mời nhà trai và họ hàng
cùng dự tiệc.
nguyên vẹn như đã nhận từ đầu, riêng
heo và gà, rượu... gia đình cô gái chỉ
phải trả lại mỗi thứ một nửa. Ông Đ.C.
(ở thôn 2, xã Bình Minh, huyện Bù
Đăng) cho biết, trước đây, tục hứa
hôn rất phổ biến ở vùng Bù Lơ, hiện
nay phong tục này đã giảm đi đáng kể,
hầu như rất ít gia đình còn duy trì tục
hứa hôn.
Nếu mọi việc suôn sẻ, sau lễ hỏi
không lâu, lễ cưới sẽ được tiến hành.
Trường hợp khi một trong hai gia đình
có người thân (cha, mẹ, ông bà) chết,
đám cưới buộc hoãn ít nhất một năm.
Tuy nhiên, phong tục của người
Xtiêng Bù Lơ cho phép hai vợ chồng
đã tổ chức lễ hỏi được về sống chung
với nhau cho đến ngày có thể tổ chức
lễ cưới.
3.2.2. Lễ hỏi
Khi chàng trai để ý và muốn làm
chồng cô gái nào đó, chàng trai sẽ nói
với cha mẹ nhờ người mai mối cùng
đi đến để xin cưới cô gái. Sau khi đến
nhà gái, ông mai hai bên sẽ trao đổi
những vấn đề về hôn nhân, về việc
chàng trai muốn làm chồng cô gái.
Nếu cô gái đồng ý, hai bên sẽ bàn bạc
và thống nhất những vấn đề liên quan
đến hôn nhân như: thời gian tổ chức
lễ hỏi, các vật lễ nhà trai phải nộp cho
nhà gái... Thời gian tổ chức lễ hỏi khá
linh hoạt, họ có thể chọn bất kể ngày
3.2.3. Lễ cưới
Lễ cưới được tổ chức ở nhà gái. Đến
ngày cưới, nhà trai mang sang nhà
gái các vật lễ gồm: dao côi, chà gạt, tố,
nào cũng được, không quan niệm về lao, trâu, heo với số lượng hai bên đã
việc chọn ngày tốt xấu.
thống nhất từ lễ hỏi. Nghi lễ gồm ba
phần chính:
Đến ngày tiến hành lễ hỏi, gia đình
nhà gái chuẩn bị những ẩm thực cần
thiết đủ để tiếp đãi khách của hai bên.
Vật lễ nhà trai phải mang qua nhà gái
trong lễ hỏi gồm có: hai cái tố, chà
gạt, dao côi, mỗi thứ một cái, trâu và
heo.
- Phần thứ nhất: hai ông mai kể lai lịch,
xuất thân của cha mẹ hai bên, của gia
đình cô dâu chú rể để xem xét điều
kiện kết hôn. Đây là bước nhắc lại
mang tính thủ tục, vì vấn đề này đã
được xác định tại lễ hỏi.
Lễ hỏi được bắt đầu bằng việc xác - Phần thứ hai: bàn và thống nhất về
định xem cô gái và chàng trai có mối việc “trả của”. Ông mai nhà gái thông
quan hệ thân tộc, cùng dòng họ, huyết báo cho nhà trai về việc trước đây bà
thống hay không Trong trường hợp
hai người có quan hệ dòng họ, thuộc
ngoại của cô dâu đã được trả của
gồm những gì, bao nhiêu thứ, giá trị ra
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020
59
sao. Đồng thời xác định sau này chú Khảo sát tại một đám cưới ở xã Bình
rể có trách nhiệm phải trả của cho mẹ Minh huyện Bù Đăng, tác giả ghi nhận
vợ tương tự. Nếu vì lý do nào đó (kinh được những tài sản mà chàng trai và
tế khó khăn, hoàn cảnh neo đơn) nhà gia đình nhà trai phải trả(4) cho nhà gái
trai có thể bàn bạc và xin giảm bớt số như sau:
lượng tài sản phải trả của. Tuy nhiên,
các điều kiện về trả của do nhà gái
đưa ra, đa phần gia đình chú rể đều
phải thực hiện.
- Heo: 12 con, trả làm nhiều lần, tại lễ
cưới, tại lễ trả của.
- Trâu làm lễ cưới: 1 con.
- Trâu chặt (làm thịt đãi khách ở nhà
- Phần thứ ba là trao vật lễ: nhà trai
chỉ trao cho nhà gái những lễ vật quan
trọng, có kích thước nhỏ, đó là: chà
gạt, dao côi, lao (mỗi thứ một cái) và
tố (hai cái). Tiếp theo cha của chú rể
đưa cha của cô dâu ra ngoài để trao
những vật lễ không thể trao trực tiếp
trong nhà, là heo, trâu. Nhà gái nhận
vật lễ, sau đó giết mổ và chế biến để
mời khách hai bên.
trai): 1 con.
- Trâu kéo: 2 con (1 mẹ, 1 con).
- Lao, chà gạt, dao côi, mỗi thứ một
cái (đã trao tại lễ cưới).
- Xà lung 7 mắt (loại có giá trị nhất,
hiện nay khoảng 35 triệu đồng): 1 cái.
- Tố 3 mắt: 3 cái.
- Tố người Kinh(5): 1 cái.
- Tố Gry (có giá khoảng 6 triệu đồng 1
Những người đi tham dự lễ cưới,
trước đây họ mang những tấm niêng
tất, ôi puk, ôi cách, ôi zoong... để làm
quà mừng. Cuối buổi tiệc cưới, khi
nhà trai ra về, hai vợ chồng mang
những món quà đã nhận được ra tặng
lại cho các thành viên của gia đình
nhà trai, mỗi người một món quà.
cái): 2 cái.
- Tố Pây Vung (khoảng 16 triệu đồng):
1 cái.
- Tố Vang tăng sôi (giá trị khoảng 15
triệu đồng): 2 cái.
- Tố Naray (giá trị khoảng 17 triệu
đồng): 1 cái.
Điều này theo họ là để thể hiện tấm - Tố 3 mắt (là loại gốm Bình Dương,
lòng hiếu thảo của đôi vợ chồng đối
với gia đình nhà trai. Hiện nay, một số
nơi vẫn còn duy trì hình thức tặng quà
cưới này, một số gia đình tại Bình
Minh, Đoàn Kết, người đi dự lễ cưới
còn sử dụng các loại chăn được sản
xuất công nghiệp để làm quà mừng.
mới sản xuất trong giai đoạn hiện nay,
có giá khoảng 350.000 đồng/cái): 40
cái.
Lễ trả của được tổ chức bên phía nhà
trai, chậm nhất một tháng sau lễ cưới,
gia đình nhà trai phải tiến hành nghi lễ
này.
3.2.4. Lễ trả của
Tối ngày hôm trước, gia đình nhà gái
Lễ trả của là một trong những phong đến nhà trai để cha mẹ vợ của chú rể
tục quan trọng không kém lễ cưới của tổ chức bữa cơm tiếp đãi sui gia.
người Xtiêng nhánh Bù Lơ.
Trong buổi tiếp đãi, gia đình nhà trai tổ
PHẠM HỮU HIẾN - NGÔ HÀ – NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN…
60
chức trình diễn các loại hình nghệ đình như chuẩn bị các món quà tặng
thuật dân gian để chào mừng gia đình (chăn đắp bằng thổ cẩm loại thường),
nhà gái, để các thành viên trong Poh tất cả được để trong một chiếc xá’s để
có điều kiện giao lưu với nhau. Sáng trao cho nhà trai.
hôm sau, gia đình nhà trai làm thủ tục
thông báo và giao những vật lễ dùng
để làm thực phẩm đãi khách như trâu,
heo cho nhà gái. Gia đình nhà gái tiếp
nhận, nhờ những người thân tiến
hành lễ cúng thần linh.
- Phía nhà trai: chuẩn bị các vật lễ trao
cho nhà gái (thường là 10 cái tố và
một bộ ching - chiêng hoặc goong –
cồng), một con trâu, cơm ống các loại
thực phẩm khác để đón tiếp nhà gái
và khách mời hai bên.
Đến khoảng 12 giờ trưa sau khi ăn
uống xong, gia đình nhà trai bắt đầu
tiến hành nghi thức trả của cho nhà gái.
Chú rể mang tất cả những vật lễ đặt
giữa sân, trong đó lễ vật quan trong
nhất là ché, hai chiếc tố có giá trị sẽ
đặt thành một nhóm. Đại diện gia đình
hai bên và ông mai của nhà gái xác
nhận lại số vật lễ đã thống nhất trong
lễ cưới, tiến hành kiểm tra. Sau khi đã
trả hết của cho gia đình nhà vợ chàng
rể có thể tổ chức rước vợ về Wăng -
Poh của mình, nhà trai sẽ tổ chức lễ
Cô lô Nak đón tiếp thành viên mới.
Nơi tổ chức nghi lễ khá linh hoạt. Nếu
nhà rộng, các hoạt động và nghi lễ
cúng thần linh được tiến hành ở
không gian trong nhà cha mẹ chàng
trai. Nếu nhà không đủ rộng, nhà trai
sẽ làm một chiếc sạp tre dài (đặt ở
trước cửa nhà), đủ để cho các thành
viên có liên quan ngồi trao đổi công
việc và tiến hành lễ cúng thần linh.
Khi gia đình nhà gái đến: cha mẹ hai
bên, hai vợ chồng và hai ông mai bày
soạn các lễ vật. Đại diện gia đình nhà
gái trao đổi trước, đó là thông báo với
gia đình họ hàng nhà trai rằng cô con
gái trước đây đã kết hôn với chàng
trai. Chàng trai đã thực hiện xong việc
trả của cho cha mẹ vợ, nay gia đình
3.2.5. Lễ rước vợ về nhà
Lễ rước dâu về Wăng - Poh được tổ
chức tại nhà cha mẹ của chàng trai và
tương tự như lễ cưới. Hai gia đình đưa vợ chồng về sinh sống bên nhà
phải chuẩn bị các lễ vật để trao cho chồng. Tiếp theo, hai bên tiến hành lễ
nhau, chuẩn bị các lễ vật cúng thần cúng thần linh để xin phép cho cô gái
linh, đặc biệt nhà trai phải chuẩn bị lễ được về cư trú trong gia đình chồng,
vật để tiếp đón gia đình nhà gái và
mời khách trong Wăng - Poh.
trong Wăng - Poh của chồng.
Hiện nay, người Xtiêng Bù Lơ vùng
Bù Đăng vẫn giữ nguyên phong tục
này, những nơi khác có sự thay đổi ít
nhiều. Người Xtiêng ở huyện Phú
Riềng sau lễ cưới thì tiến hành luôn lễ
trả của bằng cách nhà trai trao cho
nhà gái 50 triệu đồng, sau đó rước
- Phía nhà gái: cha mẹ cô gái chuẩn bị
cơm ống, mía, chuối, rượu, hai tấm ôi
zoong (dành tặng riêng cho cha mẹ
chàng trai). Đặc biệt là phải có nguyên
một con heo nướng chín để đưa sang
nhà trai. Những người thân trong gia
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020
61
con dâu về nhà trai cư trú, các nghi lễ trong đời sống, lao động sản xuất và
rước về cũng được tiến hành một lễ hội của người Xtiêng.
cách giản đơn. Ở vùng Bù Gia Mập,
Về mặt khác biệt, hai nhóm cư dân có
sau lễ cưới, gia đình nhà trai phải tổ
nhiều nét khác nhau trong các nghi lễ
chức lễ rước gia đình con trai về nhà
cưới hỏi. Như đã phân tích ở trên,
với nghi lễ như trước đây. Nhưng việc
ngoài hai nghi lễ là hỏi và cưới cả hai
trả của có sự thay đổi, gia đình nhà
nhánh Bù Lơ và Bù Đek đều có thực
trai chỉ đưa cho nhà gái một ít tiền (từ
hành một số nghi lễ còn lại, mỗi nhóm
hơn 10 triệu đến vài chục triệu đồng),
cư dân đều có sự khác nhau: người
sau đó rước con dâu về sinh sống bên
Bù Lơ có lễ hứa hôn, lễ trả của, lễ
gia đình, các nghi lễ và phong tục liên
rước vợ về nhà, người Xtiêng Bù Đek
quan đến hôn nhân của hai vợ chồng
có lễ Đạp tro. Các nghi lễ trong hỏi,
trẻ kết thúc.
cưới của người Xtiêng Bù Lơ chú
Bà T.N (thôn Bù Gia Phúc I xã Phú
Nghĩa huyện Bù Gia Mập) cho biết,
trước đây, lễ rước vợ về nhà rất ít
được tổ chức do nhiều gia đình sau
khi cưới không thể trả của cho gia
đình vợ nên phải ở suốt bên nhà vợ.
Ngày nay, nhờ có sự thay đổi, các gia
đình linh hoạt hơn trong việc trả của
(số tài sản phải trả đã được giảm bớt),
do đó các gia đình có điều kiện để
thực hiện trả của và rước vợ về nhà
cha mẹ ruột để sinh sống.
trọng đến yếu tố hội, yếu tố dân gian
nhiều hơn, các yếu tố nghi lễ gắn với
thế giới tâm linh khá mờ nhạt. Ngược
lại, các nghi lễ liên quan đến thế giới
tâm linh trong lễ hỏi, cưới của người
Xtiêng Bù Đek đậm nét hơn; họ thực
hành các nghi lễ cúng rất thành kính,
công phu. Những tương đồng và khác
biệt các nghi lễ trong hôn nhân của
người Xtiêng ở Bình Phước, xuất phát
từ nhiều yếu tố khác nhau. Về mặt xã
hội, người Xtiêng Bù Đek cư trú ở khu
vực đồng bằng, nơi có những vùng
đất trũng rộng lớn để canh tác lúa
nước. Người Xtiêng Bù Lơ ngoài sản
xuất nương rẫy, cuộc sống của họ
gắn với hoạt động khai thác tự nhiên,
với họ rừng là môi trường sống, môi
trường hình thành những loại hình
văn hóa ứng xử phù hợp với cuộc
sống của họ. Đặc biệt, trong khu vực
cư trú, hai cộng đồng cư dân có quá
trình giao thoa tiếp biến với các dân
tộc trong khu vực. Người Bù Lơ cộng
cư và giao thoa văn hóa với người
Mnông, Mạ, những cư dân có nền văn
3.3. Một số nhận xét về nghi lễ hôn
nhân giữa hai nhóm Bù Lơ và Bù
Đek
Trong hôn nhân, người Xtiêng ở Bình
Phước có các nghi thức, nghi lễ và
phong tục đa dạng, phong phú. Điểm
tương đồng trong các nghi lễ liên
quan đến hôn nhân của người Xtiêng
Bù Lơ và Bù Đek là những vật lễ. Cả
hai cộng đồng đều có những vật lễ
không thể thiếu là chà gạt, lao, vòng
đeo tay, sản phẩm thổ cẩm... Đây là
những vật dụng có vai trò rất quan
trọng, có thể nói là không thể thiếu
PHẠM HỮU HIẾN - NGÔ HÀ – NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN…
62
hóa mang đậm yếu tố Trường Sơn - nội dung thủ tục. Chẳng hạn, ở nhánh
Xtiêng Bù Đek nhiều nơi, trong lễ cưới,
họ chỉ thực hiện nghi lễ cúng thần linh
và chúc phúc, không tổ chức nghi
thức rước dâu, rước rể, nghi thức hát
đối đáp trong đón tiếp và cúng thần
linh cũng bị lược bỏ. Trong đó, người
Xtiêng nhánh Bù Lơ, một số nơi như
huyện Phú Riềng, huyện Bù Gia Mập,
lễ trả của được thay đổi theo hướng
giảm nhẹ số của cải vật chất nhà trai
phải trả cho nhà gái, có nơi quy thành
tiền với số tiền từ 20 triệu đến 50 triệu
và trả một lần. Do đó, các gia đình
nhà trai có điều kiện để thực hiện và
cũng vì vậy, lễ rước vợ về nhà được
thực hiện thường xuyên hơn. Một số
nơi, nghi thức hát đối đáp trong đám
cưới của nhánh Xtiêng Bù Đek không
còn duy trì hoặc chỉ duy trì ở một số
nghi lễ, nghi thức cúng thần linh. Ở
một góc độ khác, nhiều nơi, một số
nghi lễ, nghi thức truyền thống đã bị
mai một. Chẳng hạn như lễ hứa hôn
của người Xtiêng Bù Lơ; ở Hớn Quản,
Chơn Thành, lễ Đạp tro của người
Xtiêng Bù Đek không còn tổ chức.
Ngoài ra, trong quá trình tổ chức lễ
cưới, nếu người Xtiêng nhánh Bù Lơ
vẫn tiếp đón và đãi khách theo hình
thức truyền thống thì người Xtiêng Bù
Đek còn tổ chức cưới theo kiểu hiện
đại của các dân tộc khác, họ đặt tiệc
để đãi khách tại các nhà hàng, tại
khuôn viên rạp do dịch vụ tiệc cưới
dựng lên. Sự thay đổi đó có những
mặt tích cực và hạn chế nhất định.
Việc thay đổi góp phần làm cho cuộc
sống của các gia đình trẻ tốt hơn, đặc
biệt là sự thay đổi thủ tục trả của theo
Tây Nguyên. Trong khi đó, người
Xtiêng Bù Đek cộng cư giao thoa và
tiếp biến văn hóa với dân tộc Khmer,
một cộng đồng cư dân sinh sống lâu
đời ở vùng đất Bình Phước. Sự giao
thoa và tiếp biến văn hóa giữa người
Xtiêng với các dân tộc trong vùng cư
trú đã tạo nên sự đa dạng phong phú
trong văn hóa của họ, đồng thời cũng
đã tạo ra sự khác biệt trong một số
loại hình văn hóa, trong đó có các
nghi lễ cưới hỏi truyền thống.
Nội dung và quy trình của lễ hỏi, cưới
của người Xtiêng Bình Phước bao
hàm nhiều thành tố văn hóa có giá trị
đặc trưng. Điều này góp phần chứng
minh về bề dày văn hóa, lịch sử hình
thành lâu đời của người Xtiêng trên
vùng đất Bình Phước. Cho đến nay,
có những nghi lễ, phong tục vẫn còn
nguyên giá trị, tạo nên bản sắc văn
hóa của người Xtiêng ở Bình Phước.
Hiện nay, trong xu hướng phát triển
chung của xã hội, các nghi lễ truyền
thống trong hôn nhân của người
Xtiêng Bình Phước tồn tại và biến đổi
ở nhiều mức độ khác nhau. Ở góc độ
bảo tồn nguyên vẹn các yếu tố cấu
thành nghi lễ, tại các địa phương như
xã Đoàn Kết, xã Bình Minh, xã Minh
Hưng huyện Bù Đăng; xã Lộc Hòa
huyện Lộc Ninh, xã Thanh Phú thị xã
Bình Long, xã Phú Nghĩa huyện Bù
Gia Mập, nội dung và thủ tục cưới hỏi
vẫn duy trì tổ chức theo nghi thức
truyền thống. Xã Bình Minh, xã Đoàn
Kết huyện Bù Đăng vẫn còn duy trì lễ
trả của nhưng có sự thay đổi về mặt
TẠP CHÍ KHOA HỌC XÃ HỘI số 8 (264) 2020
63
hướng giảm nhẹ số của cải gia đình nhân và các nghi lễ văn hóa liên quan
nhà trai phải trả cho nhà gái giúp các đến hôn nhân của người Xtiêng ở
Bình Phước đã có những biến đổi
nhất định. Bên cạnh những cộng đồng
Xtiêng bị mai một một phần các loại
hình nghi lễ liên quan đến hôn nhân
thì người Xtiêng ở nhiều nơi như Bình
Minh, Đoàn Kết, Bom Bo (Bù Đăng),
Lộc Hòa, Lộc An (Lộc Ninh), Quang
Minh (Chơn Thành)... vẫn duy trì
được các thành tố văn hóa truyền
thống này. Ngoài ra, cộng đồng còn
tiếp thu và vận dụng một cách hài hòa
một số yếu tố mới, hiện đại vào trong
các nội dung, hoạt động liên quan đến
hôn nhân. Điều này vừa phản ánh sự
thích ứng với thời đại, vừa đáp ứng
nhu cầu hưởng thụ của cộng đồng,
làm phong phú thêm hoạt động liên
quan đến hôn nhân của cộng đồng cư
dân này.
gia đình có điều kiện để chăm lo cho
cuộc sống. Tuy nhiên, một số nghi lễ
giao thoa với cộng đồng khác và tiếp
biến sẽ làm giảm đi bản sắc của cộng
đồng người Xtiêng Bình Phước.
4. KẾT LUẬN
Nghi lễ cưới hỏi đóng vai trò quan
trọng trong đời sống của cộng đồng
dân tộc Xtiêng, thể hiện những loại
hình di sản văn hóa (vật thể và phi vật
thể) có giá trị tiêu biểu phản ánh đặc
trưng văn hóa của cộng đồng có lịch
sử cư trú lâu đời ở vùng đất Bình
Phước nói riêng, Đông Nam Bộ nói
chung.
Ngày nay, do quá trình hội nhập và
phát triển diễn ra mạnh mẽ, tác động
nhiều mặt đến đời sống xã hội, hôn
CHÚ THÍCH
(1)
Tên dân tộc này có nhiều cách viết: Stiêng, Xtiêng, cách viết của tác giả dựa vào Quyết
định 121-TCTK/PPCĐ ngày 2/3/1979 của Tổng Cục trưởng Tổng cục Thống kê về ban hành
Danh mục các dân tộc Việt Nam.
(2)
Các cộng tác viên Châu Thị Ánh (Chơn Thành), Điểu Thị Hà (Lộc Ninh), Điểu Tử (Đồng
Xoài), Điểu K’rươi, Điểu Mớ (Bù Đăng), Điểu Khuê (Bù Đăng), Thị Nguyệt (Bù Gia Mập) hỗ
trợ cung cấp thông tin, giúp đỡ, phiên dịch tiếng Xtiêng ra tiếng phổ thông.
Các cuộc phỏng vấn sâu với các già làng Điểu Grớt (Bù Đốp), Điểu Kiêu (Bù Gia Mập), Điểu
Lên (Bù Đăng), Thị Xếp (Chơn Thành), Thị Hồng (Lộc Ninh), Điểu Srem (Đồng Xoài), Điểu
Khuy (Phước Long)...
(3)
Wăng là cách để người Xtiêng Bù Đek gọi nơi cư trú của họ, còn Poh là cách gọi của
người Xtiêng Bù Lơ, hiện nay nhiều nơi có cách gọi phổ biến là Sóc.
(4) Ghi nhận tại đám cưới ở Thôn Bom Bo xã Bình Minh huyện Bù Đăng ngày 3/3/2020.
(5) Thực chất đây là bình gốm Lái Thiêu, loại có kích thước lớn, cổ cao, trên thân có trang trí
hoa văn hình rồng, có niên đại khoảng trên 100 năm.
TÀI LIỆU TRÍCH DẪN
1. Bảo tàng tỉnh Bình Phước. 2010. Tổng điều tra di sản văn hóa phi vật thể của người
Xtiêng Bình Phước. Báo cáo tổng hợp dự án Chương trình mục tiêu quốc gia.
PHẠM HỮU HIẾN - NGÔ HÀ – NGHI LỄ TRUYỀN THỐNG TRONG HÔN NHÂN…
64
2. Mạc Đường. 1985. Vấn đề dân tộc ở Sông Bé. TPHCM: Nxb. Tổng hợp.
3. Nguyễn Thành Đức. 2004. Múa dân gian tộc người Mạ, Chơ ro, Xtiêng vùng Đông
Nam Bộ. Hà Nội: Nxb. Văn hóa Dân tộc.
4. Phạm Hữu Hiến. 2016. “Họ, dòng họ của người Xtiêng và văn hóa ứng xử cộng
đồng”, Hội thảo Việt Nam Học lần thứ V, năm 2016.
5. Phan An. 2007. Hệ thống xã hội tộc người của người Stiêng Việt Nam từ thế kỷ XIX
đến năm 1975. TPHCM: Nxb. Đại học Quốc gia.
6. Phan An. 2015. Từ Tây nguyên đến Đông Nam Bộ - Văn hóa tộc người. Hà Nội: Nxb.
Khoa học Xã hội.
7. Phạm Đức Ngự. 2018. “Cây nêu – nét độc đáo trong đời sống văn hóa người Xtiêng”.
8. Phan Xuân Viện. 2017. Truyện cổ Xtiêng – Phiên bản dành cho người nghiên cứu.
TPHCM: Nxb. Trẻ.
9. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Phước. 2020. Báo cáo “Kết quả phục dựng lễ
cưới truyền thống của người Xtiêng Bù Đek”.
10. Tỉnh ủy Bình Phước. 2015. Địa chí Bình Phước.
Bạn đang xem tài liệu "Nghi lễ truyền thống trong hôn nhân của người Xtiêng ở Bình Phước", để tải tài liệu gốc về máy hãy click vào nút Download ở trên
File đính kèm:
nghi_le_truyen_thong_trong_hon_nhan_cua_nguoi_xtieng_o_binh.pdf

